Pháp Môn Một Đời Thành Tựu

Pháp Môn Một Đời Thành Tựu

Chỉ nương pháp niệm Phật sẽ được qua biển sinh tử.

Kinh Đại Tập nói rằng: ”Thời đại mạt pháp hàng trăm triệu người tu hành, ít có một người đắc đạo, chỉ nương niệm Phật sẽ qua được biển sinh tử”.Thời đại mạt pháp, căn khí chúng sinh ngu si yếu đuối. Không nương tựa vào sức đại từ, đại nguyện của đức Phật A Di Đà mà có thể đời này thành tựu sự giải thoát sinh tử, trong ức ức vạn người khó có một. Vậy hãy cẩn thận tuân theo lời chỉ dạy của đức Phật. Xin khuyên các vị hãy thành thật niệm Phật, một cửa thâm nhập, bằng không thì khó lo xong việc lớn sinh tử!

Chẳng biết tốt xấu

Thời mạt pháp nếu bỏ đi pháp môn niệm Phật thì không có bất cứ pháp môn nào có thể giải thoát được sinh tử. Bạn chẳng biết được tốt xấu, chẳng biết mình là phàm phu ngã mạn, trí tuệ mờ tối, chướng sâu, phước mỏng, nghiệp dày. Không chịu căn cứ vào lời dạy của đức Phật, thành thật tu hành nương nhờ sức Phật cứu giúp. Pháp môn niệm Phật không thể nghĩ bàn. Lại theo ý riêng tu hành các pháp môn khác thì không có cách gì đạt được lợi ích và thọ dụng chân thật, lại không thể giải thoát khổ đau sinh tử trong đời này!

Nguyên nhân Như Lai ra đời

Đại sư Thiện Đạo nói rằng: ”Nguyên nhân Như Lai ra đời chỉ nói bản nguyện của Phật A Di Đà“. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại đời ác năm trược nói pháp 49 năm, điều quan trọng nhất là dạy chúng ta niệm Phật một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, giới thiệu cho chúng ta pháp môn Tịnh Độ thù thắng, có thể một đời thành tựu việc giải thoát sinh tử.

Người niệm Phật có đại phước báo

Người có thể nghe và tin đến được một câu Nam Mô A Di Đà Phật này, họ đã nhiều đời nhiều kiếp đến nay tích lũy bao nhiêu nhân duyên căn lành phước đức, mới có thể đời nay gặp nghe và thọ trì pháp môn Tịnh Độ. Vì thế, người hay niệm Phật đều có phước báo lớn.

Phước báo trời, người

Đời nay nếu không niệm Phật cầu vãng sinh, tất cả sự nỗ lực chỉ là phước báo nhân thiên, không có cách gì đời nay thoát khỏi sinh tử, vẫn còn trở lại luân hồi nơi sáu đường, quả thật đáng tiếc.

Tro tàn

Tro tuy đã tàn nhưng hơi nóng vẫn còn ngấm ngầm bên trong, chỉ cần một làn gió thoảng qua cũng làm nó lóe sáng lên, rồi sau đó trở lại nguội như trước. Tâm của người tu hành cũng nên tập như đống tro tàn, không sinh thêm chuyện phiền phức, khởi tâm phân biệt phải trái. Chỉ cần một câu A Di Đà Phật giữ vững đến cùng!

Thiền thâm diệu vô thượng

Kinh Đại Tập nói rằng: ”Người tu hành chỉ niệm A Di Đđà Phật, đó gọi là thiền thâm diệu vô thượng. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chính là thiền, mà thiền này lại là vô cùng sâu xa”.

Thần chú thật đơn giản và chân thật

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chính là mật. Sáu chữ hồng danh này y theo phạn văn, chưa phiên dịch một chữ, nên sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật là thần chú rất đơn giản và chân thật.

Niệm Phật bằng với việc tụng hết thảy Kinh

Trọn bộ kinh Đại Bát Nhã cô đọng lại chính là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Lại còn nói thêm rằng: ”Tam tạng mười hai bộ kinh gói gọn trong một câu Nam Mô A Di Đà Phật”. Vì thế, niệm Phật liền bằng với tụng hết Tam tạng kinh điển.

Niệm Phật không thể nghĩ bàn

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật đã là thiền, là mật rồi, lại còn tổng quát hết Tam tạng kinh điển. Nên pháp môn niệm Phật thật không thể nghĩ bàn.

Niệm Phật là hạnh chánh

Kinh Di Đà nói rằng: ”Không thể dùng chút ít nhân duyên căn lành phước đức mà được sinh về cõi Cực Lạc”. Nên người niệm Phật phải thường niệm Phật để làm hạnh chánh, lấy sáu độ và vạn hạnh làm phụ thêm. Không nên để tâm phan duyên. Đối với các duyên xấu cần phải hết sức tránh xa, đối với các duyên tốt cần phải nỗ lực tùy duyên mà làm. Nhưng cần phải có trí tuệ cân nhắc và có chừng mực. Không nên bỏ gốc theo ngọn, các hạnh chánh và hạnh phụ lộn xộn. Chỉ đuổi theo phước báu trời người mà quên mất việc lớn giải thoát sinh tử của chính mình.

Một môn thâm nhập

Thời đại mạt pháp, người học Phật nên dùng tâm thành thật niệm Phật làm phép tắc. Duy chỉ dùng một môn trì danh niệm Phật để thâm nhập. Khởi phát phải dính dáng tới quán tưởng hay quán tượng Phật. Nhân vì chúng sinh thời mạy pháp căn cơ chậm lụt, nên việc quán tưởng và quán tượng chẳng phải người thượng căn thì không thể thành tựu. Chỉ có hết lòng chân thật tụng một câu Thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” sẽ vô cùng bảo đảm.

Niềm tin sâu

Chúng ta là những người tu học theo pháp môn Tịnh Độ. Đối với thế giới Cực Lạc ở Tây phương, không những chỉ có niềm tin mà cần phải tin cho thật sâu. Đối với thế giới Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà và pháp trì danh hiệu Phật, có được niềm tin sâu sẽ vãng sanh không nghi. Dù cho bất kỳ sự cản trở phỉ báng nào, đều không dao động đến tín tâm, cầu sinh Tịnh Độ của chúng ta. Được vậy mới gọi là người có niềm tin sâu.

Nguyện cấp thiết

Chúng ta đã tin sâu lòng đại từ đại bi không bờ bến của đức Phật A Di Đà. Chúng ta nên phát nguyện cầu sinh về thế giới Cực Lạc. Không chỉ là nguyện thôi, mà phải nguyện cấp thiết. Trong tâm phải hết lòng thiết thực chán chia lìa cái khổ vô cùng của thế giới Ta Bà, vui mừng cầu cái vui vô cùng của thế giới Cực Lạc. Lập nên nguyện rộng lớn, chắc chắn cầu sinh về cõi Cực Lạc ở phương Tây. Dù cho bất cứ tiếng tăm và lợi dưỡng nào, hoặc bệnh khổ hành hạ đều không thể thay đổi tâm nguyện cầu sinh Tịnh độ của chúng ta. Được vậy mới gọi là người có nguyện tha thiết.

Tự hỏi lương tâm

Nếu hiện tại đức Phật A Di Đà hiện thân trước mặt chúng ta, mở rộng cánh cửa của thế giới Cực Lạc ở phương Tây để tiếp dẫn chúng ta đi về với Ngài, ngay tại đây, người có nguyện đi ít lại càng ít. Đây là do người tu học pháp môn Tịnh Độ có niềm tin nhưng không được sâu, có nguyện nhưng nguyện không tha thiết, có thực hành nhưng thực hành không đủ sức, y như cứ quyến luyến cõi Ta Bà. Đối với danh lợi thế tục, tình duyên con cái nhiều thứ ràng buộc. Vẫn còn nhiều duyên không buông xuống. Mọi người tự hỏi lương tâm mình. Đối với thế giới Cực Lạc, ba món tư lương “Tín, Nguyện và Hạnh” của các bạn đầy đủ được bao nhiêu? Đối với danh lợi trần duyên của thế giới Ta Bà, bạn đã buông bỏ được bao nhiêu?

Thành thật niệm Phật

Chân thật niệm Phật chính là thành thật đem một câu A Di Đà Phật làm “bổn mạng nguyên thần” của chính mình. Cần phải rành mạch, rõ ràng, miên mật, khít khao mà trì niệm. Tuyệt đối không vì bất cứ phương pháp huyền diệu, thần kỳ nào hay bất cứ người có danh vọng học vấn làm cho dao động.

Sống chuyển thành chín, chín chuyển thành sống

Người hành trì pháp môn niệm Phật cần phải thực hành hai nguyên tắc lớn “chỗ sống chuyển thành chín, chỗ chín chuyển thành sống”, nghĩa là phải đem một câu Nam Mô A Di Đà Phật niệm cho thật nhiều. Luôn thúc giục chính mình trong bốn oai nghi đi đứng, nằm ngồi; luôn để khởi một câu Phật hiệu. Lâu ngày dài tháng niệm thành thói quen tốt niệm Phật. Đến phút lâm chung rất quan trọng, Phật hiệu tự nhiên liền có thể đề khởi lên được, lúc này nguyện vãng sinh đã có phần nắm chắc trong tay.

Tức một tức ba

Niệm Phật chính là tịnh, là thiền mà cũng chính là mật. Một tức ba, ba tức một. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật bao gồm tất cả tinh hoa mà Thế Tôn thuyết pháp trong 49 năm. Niệm Phật đích thực là không thể nghĩ bàn. Hãy hết lòng thành thật, đem một câu Nam Mô A Di Đà niệm liên tục đều đặn. Tất cả tinh túy của Phật giáo trọn ở trong đó.

Nương tự lực hay nương Phật lực?

Học thiền, mật sở dĩ khó thành tựu là do nương tựa ở sức mình. Điều đó chỉ có căn cơ bậc thượng mới có thể thành tựu. Nguyên nhân niệm Phật dễ thành tựu là biết nương vào sức Phật. Đức Phật A Di Đà có đại từ, đại bi. Hãy nương vào bổn nguyện tiếp dẫn chúng sinh của Ngài. Đã nương vào sự gia hộ của Phật, các bậc thượng, trung, hạ căn đều được nhiếp thọ. Cắt ngang sinh tử hèn hạ, một đời thành tựu vượt phàm vào thánh.

Niệm Phật mới là chân chánh cứu cảnh, lại còn bủa khắp cả ba căn thượng, trung, hạ. Không có hạng nào không thu nhiếp. Thử xem kinh Hoa Nghiêm, ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 53 lần tham học, về sau ngài Bồ Tát Phổ Hiền còn dạy lấy mười Đại Nguyện Vương dẫn dắt quay về Cực Lạc. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm là vô thượng kinh vương. Sau khi Thế Tôn thành đạo, vì 41 vị pháp thân Đại sĩ ở nơi hội Hoa Tạng Hải, dạy dỗ và dẫn dắt, đều khuyên Đại Bồ Tát niệm Phật cầu sinh Tây Phương để viên mãn Phật quả. Chúng ta là hạng phàm phu, lại coi thường niệm Phật, cho niệm Phật là cạn cợt, bảo đó là chỗ hành trì của hành nam nữ ngu si. Chúng ta thật quá ngu si mê muội, thật đáng thương không thể cứu được!

Bí quyết niệm Phật

Bí quyết niệm Phật không gì lạ, chính là cần nhiều niệm. Niệm từ lúc thô sơ cho đến khi thuần thục, nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật. Đem một câu Nam Mô A Di Đà Phật hết lòng cung kính niệm, ứng dụng vào các việc như ăn mặc, đi đứng thường ngày. Lâu ngày như thế, tự mình có thể biết được sự mầu nhiệm trong câu niệm Phật.

Niệm Phật lớn tiếng

Khi niệm Phật nếu vong niệm dấy khởi liên miên, tâm thức tạp loạn, không thể chuyên chú, ắt cần phải niệm lớn tiếng để nhiếp tâm. Dùng tai lắng nghe có thể trừ được vọng niệm. Kinh Nghiêp Báo Sai Biệt nói rằng: ”Niệm Phật lớn tiếng có 12 thứ công đức. Một, có thể trừ bệnh ngủ gật. Hai, thiên ma kinh sợ. Ba, tiếng biến khắp mười phương. Bốn, dứt khổ trong ba đường ác. Năm, âm thanh bên ngoài không lọt vào tai. Sáu, tâm chẳng toán loạn. Bảy, tinh tấn dũng mãnh. Tám, Chư Phật hoan hỷ. Chín, Tam Muội hiện tiền. Mười, vãng sinh Tịnh Độ”.

(Tam muội: Còn gọi là Tam Ma Đề hoặc Tam Ma Địa. Trung Hoa dịch là Chánh Định, tức là lìa các tà niệm, tâm trụ một chỗ không các tà niệm).

Cách hành trì của người học Phật

Điều tối quan trọng trong cách hành trì của người học Phật là cần phải thâm nhập một môn, thành thật chấp trì Thánh hiệu A Di Đà Phật. Dù cho biển động, núi tan hoặc trải qua thời gian lâu dài, tuyệt không hề thay đổi. Mọi hành vi trong cuộc sống đều không nên sát sinh, ăn chay làm đầu cho hạnh đoạn các điều ác. Lấy việc chuộc mạng phóng sinh làm trước cho hạnh làm các điều thiện.

Nội công và ngoại công

Phần nội công và ngoại công của người học Phật cần phải song song và được coi trọng. Nội công chấp trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật đến chết giữ không quên. Khi đi đứng, nằm ngồi luôn nhớ niệm. Ngoại công là Lục độ vạn hạnh, đoạn ác tu thiện, không sát sinh, ăn chay, phóng sinh và giúp đỡ mọi người. Nội công là chính, ngoại công là phụ. Nội công là chủ, ngoại công là kẻ tùy tùng. Tiếc cho người đời chỉ trọng ngoại công mà quên nội công, bỏ gốc theo ngọn, ngu si điên đảo thật đáng tiếc lắm vậy!

Khó hành đạo – dễ hành đạo

Ước muốn được thành Phật, chúng ta chọn pháp tu như Thiền tông, Mật tông hay Luật tông đều phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, ròng ra tu hành mới có thể thành công, bởi chỉ nương vào tự lực nên rất khó. Khi chọn tu pháp môn Tịnh Độ, chúng ta nương vào một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, liền có thể một đời thành tựu vượt phàm vào Thánh. Nguyên do là chúng ta nương tựa vào sức bổn nguyện của Ngài sẽ được Ngài gia hộ cho nên dễ dàng thành tựu.

Đại sư Liên Trì dạy: ”Giúp cha mẹ giải thoát sinh tử, mới tròn bổn phận làm đạo con”. Hạnh hiếu lớn nhất ở thể gian không gì hơn khuyên cha mẹ niệm Phật, phát nguyện vãng sanh thế giới Cực Lạc. Giả sử chúng ta cúng dường cha mẹ rất nhiều vàng ngọc châu báu, xây nhà cao đẹp lộng lẫy cho cha mẹ ở, nhưng lúc già chết đến, cha mẹ không thể mang theo được. Trong cuộc sống dẫu nhiều năm được gần gũi bên cha mẹ, ân cần thăm hỏi với tâm mến thương, tất cả đều chỉ là hư giả, tạm thời. Chỉ có khuyên cha mẹ thường niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật mới tròn đạo hiếu thảo. Đây mới thật sự mời đón cha mẹ đến chỗ hoàn toàn lợi ích. Nguyện khắp thiện hạ, những người con có tâm hiếu thảo, cố gắng phụng dưỡng và báo đáp công ơn cha mẹ với tâm hiếu thảo này.

Tự thanh tịnh ý mình

Giáo nghĩa chư Phật dạy không ngoài 16 chữ “việc ác chớ làm, siêng làm việc lành, thanh tịnh ý mình, lời chư Phật dạy”. Trong 16 chữ ấy quan trọng nhất là bốn chữ “thanh tịnh ý mình”. Với người niệm Phật để thanh tịnh được ý mình, phải bền vững nắm chắc một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Dùng nhất tâm niệm Phật để chặt đứt và hàng phục muôn vàn vọng niệm, thanh tịnh từ tâm. Nếu niệm Phật không gián đoạn, sẽ hiện rõ tánh Phật xưa nay có sẵn nơi mỗi chúng ta.

Chỉ và quán

Có người nói rằng: Thế nào gọi là Chỉ và Quán? Quả thật chỉ niệm một câu A Di Đà Phật chính là chỉ và quán rồi. Có thể chuyên niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đến khi không còn khởi niệm, vọng niệm không sinh gọi là chỉ. Khi niệm danh hiệu Phật thường biết từng niệm, từng niệm rõ ràng đều đặn gọi là quán. Có thể nương vào chương đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm: ”Thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Chân thật chấp trì danh hiệu Phật chính là Chỉ và Quán vậy.

Tức tâm tịnh độ

Dù bạn dốc sức nghiên cứu các pháp môn Chỉ Quán, có thể nơi giáo chỉ tông Thiên Thai đã dung hội và quán thông. Thậm chí còn có thể tụng thuộc làu làu Tam tạng kinh điển, đều không có chỗ dùng. Bạn vẫn là kẻ phàm phu còn trói buộc trong vòng luân hồi sinh tử. Muốn thành Phật phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp. Tuy cái gì bạn cũng không biết, nhưng chỉ cần bạn thành thật chấp trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật với lòng tin sâu xa và tâm nguyện tha thiết cầu sinh về cõi Cực Lạc, là có thể thành tựu việc giải thoát sinh tử một đời, sẽ vượt phàm vào thánh. Pháp môn niệm Phật thật không thể nghĩ bàn. Xin khuyên tất cả Phật tử hãy biết tâm mình là cõi Tịnh Độ, nên an tâm niệm Phật chớ để thời gian qua suông, vì mạng người có hạn!

Thời mạt pháp niệm Phật dễ thành tựu

Đức Phật là bậc thông suốt Tam Giới. Ngài dạy rằng: ”Thời đại chánh pháp giải thoát thành tựu. Thời đại tượng pháp thiền định thành tựu. Thời đại mạt pháp niệm Phật thành tựu”. Những lời này chúng ta đã hiểu biết rõ ràng. Thời đại mạt pháp ngày càng xa cách Thánh nhân. Vận mạng pháp môn ngày càng suy giảm. Căn cơ chúng sinh ngày càng châm lụt, phước báo mong manh, trí tuệ thô thiển, tội nghiệp sâu nặng, không đủ tư cách để nói đến trì giới và thiền định. Chỉ còn nương tựa vào nguyên lực đại từ đại bi của đức A Di Đà. Nương tựa vào một câu Thánh hiệu hết sức cao thượng, hết sức đơn giản và chân thật, mới có thể vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi

Niệm Phật càng về sau càng quan trọng

Thời mạt pháp tương lai sẽ đến đoạn cuối cùng. Pháp môn niệm Phật nhất định càng về sau càng quan trọng. Chúng sinh đời vị lai phước báu mỏng dần, nghiệp chướng nặng thêm. Như ngày này một bộ kinh điển quý báu, để mặc cho hư hết, không xem tới. Có thể đến cuối cùng, Phật giáo tại thế gian còn lưu truyền một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Chúng sinh đã quá đau khổ, nương tựa một câu Phật hiệu là nương tựa vào sức thệ nguyện đại từ đại bi của Phật A Di Đà. Chỉ cần đơn giản chấp trì danh hiệu Phật, tin và nguyện vãng sinh, liền có thể nương nhờ sức Phật cứu vớt thoát khỏi biển khổ sinh tử. Như đây có thể thấy một câu Nam Mô A Di Đà Phật thật tinh hoa vô cùng trong Tam tạng kinh điển của Phật giáo.

Thành thật niệm Phật

Đại sư Liên Trì là bậc Tổ sư của tông Tịnh độ vào đời nhà Minh. Trước khi vãng sinh Cực Lạc đại chúng cầu thỉnh để lại lời di chúc. Đại sư dạy rằng ”Thành thật niệm Phật”. Tổ sư một đời tu hành chỉ để lại bốn chữ đơn giản, nhưng bốn chữ ấy đã nhiếp tất cả cương lĩnh của người tu hành thật sự bên trong. Vào thời mạt pháp, ma mạnh pháp yếu, chúng tà đầy dẫy. Chúng ta chỉ cần nắm chắc bốn chữ “thành thật niệm Phật” này làm nguyên tắc cho việc tu hành thì không bị tất cả tà ma ngăn trở, mê hoặc điên đảo.

Đệ tử Phật chân chánh

Tất cả việc tu hành không nên xa rời pháp niệm Phật, tất cả sự hành trì không nên trái với sự thành thật. Không niệm Phật, tu hành không thể thành tựu; không thành thật, tu hành không thể được đắc lực. Nhớ kỹ lời giáo huấn để lại của Đại sư Liên Trì; “Thành thật niệm Phật”. Chúng ta chỉ có thành thật trì danh hiệu Phật mới đúng là đệ tử chân chánh của Ngài.

Học Phật chân chánh

Nếu chúng ta đã chân chánh học Phật thì càng học càng đạt đến chỗ đơn giản và thuần thục, càng học nhất định càng khiêm tốn và luôn biết hổ thẹn. Đơn giản và thuần thục đến mức trong sinh hoạt chỉ là một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật tràn ngập trong tâm; tâm khiêm tốn đến lúc chỉ thấy tất cả mọi người đều là Bồ Tát, duy chỉ có mình ta là phàm phu. Lòng hổ thẹn nên tất cả việc tốt chỉ hướng cho người khác, nếu có việc xấu, lỗi lầm mình nhận lấy hết. Người có tâm lượng cao cả này trên đường học Phật sẽ đạt được thành tựu chân chánh.

Đầy đủ lòng tin và tâm nguyện

Đại sư Ngẫu Ích trong “Di đà yếu giải” giảng rất rõ ràng: ”Được sinh Cực Lạc hay không, phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn do nơi niệm Phật sâu hay cạn”. Người niệm Phật chỉ cần đầy đủ niềm tin và tâm nguyện, khiến khi lâm chung mười niệm cũng quyết được vãng sinh. Nhưng sao hiện nay người niệm Phật rất nhiều mà người vãng sinh thì rất ít? Then chốt chính là niềm tin và tâm nguyện không rõ ràng, sự tu hành quá thô thiển không cố gắng tới cùng.

Một câu niệm Phật nhiếp hết tất cả

Đại sư Ngẫu Ích nói: ”Niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật thuần thục, thì tất cả tinh hoa của Tam tạng kinh điển đều ở trong ấy. Một ngàn bảy trăm công án, các cơ quan hướng thượng cũng ở bên trong, ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Tam tụ tịnh giới cũng ở trong ấy”. Một danh hiệu Phật đầy đủ tất cả thiền, giáo, mật chú và tất cả phương pháp tu hành. Một danh hiệu Phật đầy đủ tất cả Giới, Định, Tuệ pháp môn Tịnh độ đích thực không thể nghĩ, không thể bàn!

Niệm Phật chính là thiền

Bạn nghĩ cần phải học thiền ư? Hãy niệm Phật đi! Vì trong kinh Đại Tập dạy chúng ta rằng: ”Niệm Phật chính là thiền vô thượng thậm thâm vi diệu”.

Niệm Phật chính là mật

Bạn nghĩ cần phải học mật tông ư? Hãy niệm Phật đi! Bởi một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, sáu chữ hồng danh này nương vào Phạn văn chưa phiên dịch một chữ. Đó là mật chú đơn giản, chân thật nhất.

Niệm Phật chính là giáo

Bạn nghĩ cần phải học kinh giáo ư? Hãy niệm Phật đi! Vì niệm Phật chính là tụng hết thảy kinh. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là tinh hoa cô đọng của ba tạng kinh điển.

Niệm Phật chính là Giới, Định, Tuệ

Giải thích và phát huy hết ý nghĩa của ba tạng kinh điển chẳng qua chỉ có ba chữ Giới, Định, Tuệ mà thôi. Nhưng một câu Nam Mô A Di Đà Phậtđầy đủ và viên mãn phước đức và trí tuệ. Nói hết tất cả lời tốt trong thiên hạ chẳng bằng không nói một lời mà chỉ thầm niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Làm hết tất cả việc tốt trong thiên hạ chẳng bằng không làm gì, chỉ chuyên niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Học hết tất cả học vấn của thế gian không bằng không biết một chữ, chuyên niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật.

Đại Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền đều niệm Phật

Trong kinh Quán Phật Tam muội, ngài Bồ Tát Văn Thù nói kệ rằng:

Nguyện tôi khi mạng chung,
Diệt hết các chướng ngại.
Đối diện Phật Di Đà,
Sinh về nước Cực Lạc.

Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện kinh Hoa Nghiêm, ngài Bồ Tát Phổ Hiền nói kệ:

Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung
Trừ sạch tất cả các chướng ngại.
Mắt thấy rõ đức Phật Di Đà,
Tức được sinh về nước Cực Lạc.

Đến như những bậc đại Bồ Tát như Ngài Văn Thù, Phổ Hiền còn niệm Phật, nguyện cầu sinh về thế giới Cực Lạc. Ngày nay không ít người coi thường việc niệm Phật phát nguyện vãng sinh. Thật đáng tiếc! Đáng thương thay! Bạn tự cho mình là hạng người gì? Đức Phật chỉ dạy, khuyên bảo chúng sinh sinh về cõi Cực Lạc Phương Tây, bạn lại không chịu nghe lời Phật dạy. Đem “giá trị Liên Thành” vô giá đổi một văn tiền có giá trị vứt bỏ bên đống rác. Đáng trách bạn không biết tốt hay xấu. Có mắt không tròng, nên nhìn không thấy Thái Sơn, nghiệp chướng quá nặng, phước báu lại mong manh!

Pháp môn đặc biệt

Đại sư Ấn Quang tán thán pháp môn Tịnh độ: ”Chín cõi chúng sinh lìa pháp môn này không thể viên thành quả Phật, mười phương chư Phật bỏ pháp môn này dưới không thể lợi khắp các hạng chúng sinh”. Niệm Phật là pháp môn đặc biệt. Đức Phật một đời chỉ dạy, căn cơ thượng, trung và hạ đều được lợi ích. Tất cả chúng sinh trong pháp giới đều nên tu tập. Trên đến Bồ Tát Đẳng Giác, dưới đến kẻ buôn bán nhỏ, hạng đầy tớ thấp hèn, chỉ cần chịu niệm Phật đều giống như nhau; thừa cơ nương vào sức Phật cứu độ, chót vót vượt phàm vào Thánh thoát khỏi sinh tử. Niệm Phật là pháp môn vô thượng, rất cao siêu, huyền diệu không thể nghĩ bàn, chỉ trong một đời là thành tựu.

Bình thường rất cao, thành thật rất diệu

Tâm bình thường thì đạo càng cao, lòng thành thật thì pháp phật mầu nhiệm. Pháp môn tu hành cao siêu, mầu nhiệm chính là giữ tâm rất bình thường. Tu hành và học vấn sâu xa chính là hết lòng thành thật. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật rất bình thường nhưng rất cao siêu và mầu nhiệm. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật rất thành thật nhưng rất sâu xa. Chúng ta có thể giữ tâm như ngu, nhưng bình thường và thành thật, thường niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Từ thủy đến chung, vĩnh viễn không thay đổi, chính là hạng người bậc nhất trong số người tu tập Phật pháp.

Tu pháp niệm Phật là vững vàng nhất

Thiền sư Bách Trượng nói rằng: ”Tu hành, dùng pháp môn niệm Phật là vững vàng nhất”. Đây là một trong 20 điều phép tắc. Thiền sư Bách Trượng là bậc cao đức trong Thiền Tông, vì dạy dỗ đệ tử mà đề xuất ra. Pháp niệm Phật là con đường tu hành rất an ổn, vì niệm Phật được nương vào sức đại từ đại bi của Phật A Di Đà và sẽ được Ngài nhiếp thọ. Đây là con đường tu hành thành công tuyệt đối có bảo chứng. Tham thiền, học giáo và các pháp môn khác chỉ nương tựa vào sức mình. Chúng sinh thời mạt pháp căn cơ ngu đần và yếu đuối, nghiệp chướng sâu nặng, không nương sức bồn nguyện của Phật làm sao mà hành cho thông!

Hãy nhanh quay về niệm Phật

Quá trình lịch sử là một tấm gương. Bao nhiêu thí dụ về sự tu hành của chư vị cổ đức đều để cảnh giác chúng ta. Hiện tại, người tri thức về học vấn rất thích tham thiền và nghiên cứu giáo lý, lại coi rẻ việc niệm Phật, xem niệm Phật là cạn cợt, là pháp môn của kẻ nam nữ ngu si. Xin những người này hãy tự hỏi lại lương tâm. Trí tuệ của quý vị có sánh được Thiền sư Bách Trượng, Đại sư Liên Trì, Triệt Ngộ hay không? Sự tu hành tinh tấn của quý vị có vượt trội như chư vị cổ đức hay không? Chư vị cổ đức với nghị lực và trí tuệ hơn người, đã tiêu phí tâm huyết hơn mấy mươi năm đều không có cách gì ở trong tham thiền đạt được thành tựu. Quý vị tự cho mình là hạng người gì, còn lớn tiếng không thẹn thùng, chỉ muốn tham thiền không nguyện niệm Phật? Có thể nói rõ với quý vị, tất cả sự nỗ lực đều phí tổn tâm huyết mà thôi, tuyệt không có cách gì thành công được. Hãy nhanh quay về niệm Phật đi, chớ nên coi thường việc này. Rất mong! Rất mong!

Phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng

Nghĩ muốn tiêu trừ nghiệp chướng phải cần nội công và ngoại công song hành, hạnh chánh và hạnh phụ gồm tu. Nội công là hạnh chánh, đó là niệm Phật lễ Phật . Niệm Phật trong sinh hoạt phải luôn nhớ thầm niệm một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Dùng nhất niệm vạn đức hồng danh chí tôn vô thượng để trung hoà tất cả vọng niệm và thói xấu tham, sân, si từ vô thủy kiếp đến nay. Những nghiệp chướng nặng nề này sẽ dung hòa vào một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, và được đức Phật A Di Đà đại từ đại bi và tất cả chư Phật trong mười phương hộ niệm, che chở và bao bọc, giúp tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình. Lạy Phật chính là kính lễ chư Phật để sám hối nghiệp chướng của chúng ta. Mỗi ngày lễ 88 vị Phật hoặc chuyên lạy Phật A Di Đà để sám hối. Trong quá trình lễ lạy, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh nương vào sức bồn thệ nguyện của chư Phật, dùng sức mạnh sám hối để diệt trừ tội lỗi và tiêu trừ nghiệp chướng. Ngoại công là hạnh phụ có thể giúp thành tựu đạo nghiệp của chúng ta. Ngoại công chính là ăn chay và phóng sinh. Chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày không nên làm điều ác, nhớ phải tu nghiệp lành. Việc cực ác chính là ăn thịt và giết hại. Vì thế, muốn dứt điều ác trước hết phải ăn chay. Việc thiện lớn nhất là chuộc mạng phóng sinh. Vì thế, muốn tu điều thiện, trước phải lo chuộc mạng phóng sinh. Ăn chay và phóng sinh là hai bài tập quan trọng nhất của người tu Phật

Nếu như có thể nội công và ngoại công cùng tu, thì dùng nội công niệm Phật, lạy Phật làm chính; lấy hạnh ăn chay và phóng sinh làm phụ. Cần phải hết lòng chí kính nỗ lực tinh tấn thì sẽ thành tựu nhanh chóng.

Một câu danh hiệu Phật

Trong Phật giáo, pháp tu đơn giản nhất chính là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Pháp tu sâu xa nhất cũng là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Rất đơn giản chỉ dành cho hạng người buôn bán nhỏ, người bình dân, kẻ tôi tớ. Quá sâu xa thì trên đất Bồ Tát Đẳng giác cũng không thể hiểu hết. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật cũng rất đơn giản, rất sâu xa, tột cùng viên mãn những thuần thục, hết sức bình thường nhưng huyền diệu, dễ hành trì nhưng cũng khó giải thích. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là mục đích chủ yếu mà Phật thị hiện nơi cõi đời ô trược này cũng là đại pháp vô thượng thông suốt bổn nguyện của đức Phật. Đó cũng là tinh hoa trí tột của ba tạng giáo điển. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật vượt lên tất cả pháp Giáo, Thiền, Mật và Luật học, nhiếp hết tất cả pháp môn.

Trích Liên Trì Cảnh Sách
Việt dịch: Thích Quảng Ánh

0

17 Phúc đáp

  1. thích thánh lực

    a di đà phật con xin hỏi tại sao lại niệm a di đà phật mà không niệm nam mô a di đà phật

    0
    • Đặng Đức Hòa

      Bạn niệm “Nam mô A Di Đà Phật” hay chỉ “A Di Đà Phật” đều được, bạn đừng có chấp trước. Đó chỉ là phương tiện thôi mà. Tôi cũng thường khuyên mọi người niệm “Nam mô A Di Đà Phật” nhưng bản thân tôi chỉ niệm “A Di Đà Phật” thôi, vì A Di Đà đã là bố của tôi, mà bố con thì thường xuyên trong cùng một nhà, từ sáng đến tối lúc nào mà chả gặp nhau nên cần gì phải ” Con kính chào bố” suốt ngày nữa ? Chỉ người ngoài mới phải Nam mô (Quy kính) thôi chứ. Hơn nữa A Di Đà là ở trong tâm tôi chứ đâu phải có hình tướng ở ngoài nữa.Do đó bạn niệm thế nào cũng được. Chúc bạn tinh tấn, tu hành viên mãn, vị lai vãng sanh về với Đức Từ phụ A Di Đà nhé !

      0
  2. LOAN

    CON CHÂN THÀNH CÁM ƠN CHƯƠNG TRÌNH ĐÃ ĐĂNG BÀI VIẾT NÀY, CÀNG ĐỌC CON CÀNG THẤY ẤM LÒNG, CÀNG TINH TẤN TRONG PHÁP MÔN NIỆM PHẬT MÀ CON ĐANG TRÌ CÔNG HÀNG NGÀY, CÀNG GIÚP CON PHẢI CỐ GẮNG THẬT NHIỀU, RẤT NHIỀU CHO TÂM ĐẦY BỤI BẨN CỦA CON TRONG CÕI TA BÀ NÀY.

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

    0
  3. Nguyen

    Triệt Ngộ Đại Sư dạy:

    “Sáu chữ Di Đà phải khắc ghi
    Đứng bờ vực thẳm gắng từng ly,
    Cảnh trần như ngựa qua song cửa
    Tịnh Độ không còn lệ rớm mi”.

    THẬT VÌ SANH TỬ PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
    DÙNG TÍN – NGUYỆN SÂU – TRÌ DANH HIỆU PHẬT

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

    0
  4. Tu lien hoa

    Nam mô A Di Đà Phật! Con xin hỏi Tịnh Độ Tông và Thiền tông khác nhau như thế nào ạ? Con muốn thờ Phật thì con nên thờ bức tượng vị Phật nào : ví dụ đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Phật Tổ Như Lai. , Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay 3 Pho Tam Thế Phật ạ? Con thấy rất lung tung trong ý nghĩ dù con biết rằng trong tam tượng của người tu hành thì một vị cũng đại diện cho cac vị Phật khác. Nhưng con vẫn ko tỉnh ngộ được và thấy đầu óc vẫn cố chấp rằng mỗi vị tượng thờ có vai trò khác nhau. Con xin cám ơn và nhờ Đại sư chỉ bảo ạ

    0
    • LH Huệ Tịnh

      Tịnh Độ Tông và Thiền tông khác nhau ở điểm “lâm mạng chung thời”.

      ===========================================

      Phút lâm chung, nỗi khổ của cái chết bức bách, thân thể chịu vô lượng thống khổ, giống như trăm nghìn lưỡi dao đâm vào. Mắt mũi bỗng nhiên mờ mịt, muốn thấy cũng không thể thấy. Miệng lưỡi co cứng, muốn nói cũng không nói được.

      Đây là tứ khổ trong tám sự khổ của kiếp người, dù người tu Niệm Phật, tin Bổn Nguyện, cầu vãng sinh chăng nữa cũng khó tránh khỏi nỗi khổ nầy. Nhưng dù mờ mịt, đến khi tắt thở, do Nguyện Lực của Đức Phật A Di Đà, sẽ thành chánh niệm mà vãng sinh.

      Sát na lâm chung dễ như cắt sợi tơ, điều nầy người khác không biết được, chỉ có Phật và người tu Niệm Phật biết được mà thôi.

      Người Niệm Phật mà có lòng cầu vãng sinh và không nghi A Di Đà Phật Bổn Nguyện thì khi lâm chung không bị điên đảo. Sở dĩ được như vậy là nhờ Phật lai nghinh.

      Phật lai nghinh là để người tu Niệm Phật lúc lâm chung được chánh niệm, chứ không phải lúc lâm chung cần phải chánh niệm thì Phật mới lai nghinh.

      Người không biết nghĩa nầy đều cho rằng lúc lâm chung cần phải chân chánh niệm Phật, Phật mới lai nghinh. Kiến giải như vậy là không tin vào Phật Nguyện và cũng không hiểu kinh văn nữa.

      (Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân)

      Nam Mô A Di Đà Phật.

      0
  5. trường

    Giúp Con Giải Câu
    Tâm bình thế giới an bình
    Nguyện cầu tin chủ phứơc sinh huệ dày

    0
    • Thiện Nhân

      A Di Đà Phật

      Bạn Trường thân mến,

      Câu hỏi của bạn rất ý nghĩa. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn Tổ Huệ Năng dạy:

      Tâm bình không nhọc giữ giới
      Hạnh thẳng không cần tu thiền

      Tâm bình là gì? Tâm là chân tâm; Bình là tự tánh. Tâm bình là chân tánh tịnh lặng hay còn gọi là Phật tâm của mỗi chúng sanh. Vậy nhưng tại sao chúng ta không thấy chân tâm của mình hiển lộ? Bởi chúng ta vốn thường sống trong điên đảo, vọng tưởng: tham, sân, si, mạng, phân biệt, chấp trước=gộp lại là phiền não. Vì thế Phật nói chúng ta phải tu hành (phải trì giới) thì chân tánh mới có ngày hiển lộ.

      Hạnh thẳng là gì? Hạnh là đức hạnh của người tu đạo nói chung chứ không để chỉ riêng người xuất gia như không ít người thường nghĩ. Muốn có đức hạnh người tu đạo phải luôn giữ và trì giới. Ví thử 5 giới của người tại gia: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không bia rượu. 5 giới này người tu xuất xa cũng đều phải giữ. Nếu khai triển rộng thì đó là Tam nghiệp tịnh giới và cũng chính là Thập Thiện Nghiệp:

      Thân nghiệp: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
      Khẩu nghiệp: không nói đâm thọc, không nói lưỡng thiệt, không nói dối, không nói lời sân hận.
      Ý nghiệp: Không tham, không sân, không si.

      Như vậy nếu ai luôn giữ được thập thiện nghiệp=người đó luôn đoạn hết các việc ác và đang làm hết thảy việc thiện. Trong đạo gọi đó là trì giới chân chánh – giữ được đức hạnh ngay thẳng. Nhờ trì giới chân chánh nên tâm sanh định, do có định mà khai thông trí tuệ.

      Do vậy hai câu nói trên là để nhằm tới bậc đại triệt, đại ngộ (Bồ tát tái lai) nhưng với người phàm phu chúng ta muốn có tâm bình, bắt buộc phải giữ giới; muốn có hạnh thẳng, bắt buộc phải tu thiền. Thiền hiểu đúng nghĩa chính là trì giới nghiêm mật. Nhờ trì giới – tâm sanh định – tương hợp với chân tánh của chính mình, nhờ sanh định mà huệ được khai thông. Nên giới-định-huệ chính là thiền, tuy nói là 3 nhưng kết lại chỉ là một.

      Trở lại câu hỏi của bạn: Tâm bình thế giới an bình.

      Điều này bạn chỉ cần làm một quán chiếu nhỏ, giả sử: trong gia đình bạn có 4 thành viên. Bạn là người duy nhất tu hành (trì giới)=gia đình bạn đã bớt đi ¼ những chuyện sát, đạo, dâm, vọng. Nếu có 2 người như bạn, tất những chuyển tà ác, tà kiến lại giảm thêm nấc nữa và nếu cả 4 thành viên đều cùng tu đạo, cùng trì giới chân chánh=gia đình bạn là một tiểu thế giới an bình.

      Cứ vậy mà suy rộng ra: một cộng đồng, một xã hội xung quanh chúng ta, nếu mọi người, mọi nhà đều giác đạo, tu đạo, đều cùng nhau giữ giới (Giới là đoạn tất cả việc ác. Làm tất cả việc lành. Luôn giữ tâm thanh tịnh) tất cộng đồng, xã hội xung quanh bạn sẽ là một thế giới an bình.

      Như vậy sự “an bình” vốn phải do mỗi thành viên trong gia đình, cộng, đồng, xã hội kiến tạo nên chứ không do sự ban, phát của một đấng siêu phàm nào đó như nhiều người thường nghĩ.

      Việc đoạn ác, tu thiện (tâm luôn trì giới) chính là sự kiến tạo phước-huệ hay còn gọi là phước-huệ song tu.

      Trong A Di Đà Kinh Đức Phật Thích Ca nói: “Chẳng thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi kia”. Cõi kia – nhằm chỉ cõi An Lạc Tây Phương – Cõi do Đức Phật A Di Đà kiến tạo, trang nghiêm từ chính những phước báu và trí huệ của mình ngay từ thời Ngài còn hành Bồ tát đạo, cũng vì thế cõi ấy còn gọi là cõi: không có những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui.

      Hàng ngày nếu bạn thực tu hành ‘(trì giới nghiêm mật), niệm Phật, đồng nghĩa bạn đang đoạn ác, tu thiện, giữ tâm mình thanh tịnh và nếu bạn hồi hướng tận hư không pháp giới chúng sanh=bạn đang tự độ, độ tha=giúp mình, giúp người cùng giác ngộ để giải thoát.
      “Nguyện cầu tín chủ phước sinh huệ dày” chính là hàm nghĩa đó.

      TN chúc bạn tinh tấn và tỉnh giác tu học.

      TN

      0
    • Huệ Tịnh

      A Di Đà Phật.

      Xin gửi bạn Trường,

      HT xin giải 2 câu:

      Tin sâu nhân quả, trì giữ năm giới, ăn chay (lục trai) niệm Phật, hiếu thảo với cha mẹ, và sống trong hạnh Từ Bi Hỷ Xả. Người nào thật hành được các điều này tâm sẽ bình, phước huệ cao vời vợi và sẽ sanh cõi Tây Phương Cực Lạc thế giới an bình.

      Nam Mô A Di Đà Phật.

      0
  6. Diệu Vy

    A Di Đà Phật

    Con xin kính chào các vị cư sĩ và các huynh đệ đồng tu. Con có câu chuyện này đã băn khoăn trong lòng từ lâu mà không biết bày tỏ cùng ai, nay gặp được trang web, kính mong các cư sĩ giúp con ạ.

    Gia đình con từ trước đến nay không hề biết đến Phật Pháp, cho đến 1 ngày thím của con được 1 người quen tặng cho cuốn “khuyên người niệm Phật” – cư sĩ Diệu Âm, khi đó gia đình của thím đang gặp khó khăn, chú của con (chồng thím) bị bệnh hoang tưởng, thường nghĩ thím có tình nhân bên ngoài và trong đầu luôn nghĩ có người theo dõi, muốn giết mình mà theo chú tất cả những người đó đều là tình nhân của thím. Thím con rất khổ, vừa bị chú đánh đập, hành hạ vừa phải vất vả kiếm tiền nuôi 2 con nhỏ và lo chữa bệnh cho chú, nên khi gặp được pháp môn tịnh độ thím tu tập rất tinh tấn và gia cảnh của thím chuyển biến rất nhiều, chú con gặp được thầy giỏi và bệnh chuyển biến rất tốt, không còn đánh đập thím nữa.

    Cảm nhận được sự nhiệm màu của Phật pháp, thím đã in quyển “khuyên người niệm Phật” cho tất cả những người thân, họ hàng 2 bên của thím, trong đó có gia đình con. Khi đó con mới tốt nghiệp ĐH, trong thời gian chưa đi làm con cũng tò mò tìm hiểu xem sao và khi đọc từng trang sách con thấy rất ngấm, cảm giác như mình đã tìm được lối đi cho cuộc đời, và giải đáp được tất cả những gì trước đây thắc mắc mà không có câu trả lời, mặc dù tuổi con còn ít, lại được sống trong điều kiện gia đình hạnh phúc, yên bình từ bé nhưng khi biết đến Phật pháp con đã nhận thấy đời là bể khổ và quyết tâm niệm Phật để được vãng sinh. Trong gia đình còn có cô ruột con, sau khi được thím tặng sách thì cũng tu tập rất tinh tấn. Vậy là từ đó trong đại gia đình con có 3 người tin sâu vào Phật pháp là thím, cô và con.

    Mặc dù là con cháu nhưng thím, cô và con coi nhau như bạn đồng tu, hễ gặp nhau là nói chuyện Phật pháp, chia sẻ những điều nhiệm màu khi niệm Phật, và cả 3 người đều ăn chay trường nên mỗi khi gia đình có giỗ hay việc lớn, thường tự nấu cơm chay để ăn riêng. Thời gian cứ thế trôi đi, đến 1 năm sau, cô của con được 1 người quen tặng mấy cuốn sách (con không nhớ rõ tên) của 1 vị Thầy mà con ko tiện nêu tên. Sau khi đọc mấy cuốn sách đó, suy nghĩ của cô con đã hoàn toàn thay đổi, cô nói từ trước đến nay mình đã tu sai, đại thừa là của Bà La Môn, còn đạo nguyên thủy mới là đạo của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, cô không tin vào Phật A Di Đà, thế giới Cực Lạc nữa. Cô chuyển sang làm giống như vị Thầy hướng dẫn kia và cô một mực khuyên con và thím nên chuyển theo.

    Khi đó con và thím rất hoang mang, nhưng để hiểu rõ nguyên do con cũng đọc sách cô đưa, và lên mạng tìm hiểu rất nhiều về đạo nguyên thủy và pháp môn Tịnh Độ, nhưng càng tìm hiểu con càng thấy mù mịt và đau đầu. con không thể hiểu nổi những kiến thức Phật pháp quá chuyên sâu, những câu từ trích dẫn từ kinh Pali, con không còn thấy đạo Phật đơn giản nữa. Không may thay, sau khi đọc những cuốn sách đó thím con cũng thay đổi, thím và cô bây giờ rất phản bác Tịnh Độ và chỉ tin vào Thầy ấy. Giờ đây khi gặp nhau, 3 người không còn bàn luận rôm rả như trước kia nữa nhưng vẫn cùng nhau ăn chay trường. Giờ thím con 1 ngày chỉ ăn một bữa cơm, cô con thì nói sau khi con cái trưởng thành sẽ vào đạo tràng của Thầy đó để tu tập. Về phía con, sau khi cũng tìm hiểu mà không có kết quả.

    Con vẫn tu Tịnh Độ vì con tin vào những trải nghiệm của chính mình, những gì bản thân con đã cảm nhận được, con cũng thấy cuộc sống an lạc, không đố kị, bon chen như trước kia nữa, hiện tại tinh thần con rất tốt, ít bị phiền não và con thực hành buông xả nên thấy cuộc sống rất nhẹ nhàng. Và điều khiến con băn khoăn là cả cô và thím con đều nói khi tu theo Thầy kia thấy tâm rất an lạc, khi ngồi 1 mình cũng thấy hoan hỷ lạ thường, nói chung là thấy kết quả tốt hơn khi tu theo Tịnh Độ. Tâm con bây giờ không bị lung lay nữa, nhưng con không biết thím và cô tu như thế có đúng không ạ, đó có phải chánh pháp hay không, và việc 2 người đó bỏ kinh sách, ảnh Phật A Di Đà có bị quả báo không ạ?

    Con kính mong các bậc cư sĩ hãy giúp con giải đáp những thắc mắc này ạ.

    A Di Đà Phật

    0
    • Tịnh Thái

      A Di Đà Phật,

      Trong Đạo Phật, Tăng Đoàn là một thể thanh tịnh. Người xưa nói:”Tăng khen Tăng thì Phật pháp hưng, Tăng chê Tăng thì Phật pháp diệt”. Có nghĩa là người học Phật tại gia hay xuất gia thì cần phải tán thán ca ngợi thiện hạnh, thiện ý, thiện tâm của nhau thì Phật pháp mới có thể hưng vượng và ngược lại thì sẽ diệt Phật pháp.

      Tuy nhiên, với người nào tu tập ko đúng Chánh pháp thì mình ko tán thán, ca ngợi nhưng cũng chẳng kể tội của họ, vì nhân quả của ai làm thì người đó gánh chịu. Mình nói tội của người thì cũng chả giúp gì cho họ, mà còn khiến người ngoài có thêm ác cảm với Phật giáo mà thôi…Hiện nay, rất nhiều tin tức đưa tin “xấu” về Tăng, thực giả lẫn lộn, mình chẳng có huệ nhãn nên ko thể lạm bàn, kẻo lại mang tội nghiệp vào thân.

      Còn việc người thân của bạn tu Tịnh Độ giữa chừng mà chuyển qua tu 1 pháp môn khác…là chuyện bình thường. Vì Phật nói pháp môn này là khó tin nhất mà, chứ nói ra ai cũng tin ào ào, rồi kiên định 1 niềm tin vĩnh viễn niệm A Di Đà Phật cầu sanh Cực Lạc thì lời Phật dạy “nan tín chi pháp” là ko đúng rồi. Cho nên mình thấy rất nhiều bạn đồng tu Tịnh Độ 1 thời gian thì xen tạp đủ thứ, cho đến chuyển tu theo pháp khác thì mình gật đầu, Phật dạy đúng quá, đúng thật là pháp môn khó tin.

      Còn việc họ tu theo đúng chánh pháp hay ko đúng chánh pháp thì…là chuyện của họ, mình có muốn can thiệp vào kêu họ quay đầu về Tịnh Độ thì có được ko? Hay là mình nên tự cố gắng niệm Phật tinh tấn hơn, để rồi cho họ thấy sự chuyển biến nơi mình mà sanh tâm ngưỡng mộ rồi họ sẽ tự hồi đầu? Phật pháp chú trọng thân giáo, thật làm hơn là nói nhiều. Nói nhiều ko hay lắm…chỉ nên nói khi có người chịu nghe, còn người ta ko nghe mà mình càng nói thì càng tạo nghiệp, càng có phiền não.

      Thế gian cũng có câu: “Ngựa hay là ngựa đường dài”, việc tu tập cũng là như thế, cứ 5,10 năm thậm chí 30,40 năm thì mới biết đâu là vàng thật, đâu là vàng giả.

      Việc 2 người đó nếu bỏ kinh sách, ảnh Phật A Di Đà nếu với cái tâm bất kính thì tội sẽ nặng, lại còn phỉ báng Tịnh Độ thì tội lại nặng hơn…chẳng qua là thời giờ trả quả chưa đến mà thôi, cũng hi vọng là họ sẽ có lúc giác ngộ mà sám hối. Tốt nhất hiện tại mình ko nên bàn Tịnh Độ hay Phật pháp với họ nữa để tránh cho họ tạo khẩu nghiệp, chỉ là làm tròn bổn phận của mình là tốt rồi, giữ một mối quan hệ tốt đẹp tình thân trong gia đình để mai sau còn có thể dễ dàng độ cho họ quay về Tịnh Độ…Mai sau cũng có thể là một ngày nào đó trong kiếp này của họ hoặc trong vô lượng kiếp sau vậy…Việc này cũng ko cần phải lo nữa, hãy buông xuống việc này mà dành thời gian mà niệm A Di Đà Phật, đọc Kinh Vô Lượng Thọ, nghe pháp HT. Tịnh Không và tùy duyên giúp đỡ chúng sanh giác ngộ, đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, giới thiệu cho người hữu duyên biết đến pháp môn Tịnh Độ bạn nhé.

      A Di Đà Phật.

      0
    • Huệ Tịnh

      – Trích từ Kinh A Di Đà –

      (Hán Ngữ)
      “Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhơn duyên, đắc sanh bỉ quốc.”

      (Việt Ngữ)
      “Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.”

      ——————————————–

      KINH A DI ĐÀ SỚ SAO
      Thuật Gỉa: Tổ Chu Hoằng
      Dịch Gỉa: Thích Hành Trụ

      Nay (Tổ Vân Thê) vì hòa hợp mà giải; lại lấy pháp trì danh làm hạnh chánh, còn lấy pháp trì danh làm phát Bồ Đề tâm thời đều thủ ý của hai ngài, mà hòa hợp nghĩa kia vậy.

      “Thiện căn” là: Trong Quán Kinh thời như văn trên nói: Việc phước thứ ba là phát tâm Bồ Đề. Kinh Đại Bổn thời nói ba bực vãng sanh cũng đều nói phát tâm Bồ Đề.

      Căn cứ theo đây thờI phát tâm phàm phu, ấy gọi là không thiện căn. Phát tâm Thanh văn (Tiểu thừa), không phát tâm Bồ đề, ấy gọi là thiểu thiện căn vậy…

      “Phước trong các việc phước” là cũng có hai nghĩa: 1.- Phật A Di Đà là danh hiệu muôn đức. Một danh ấy vừa niệm thời muôn đức đều đủ, thế chẳng cầu phước mà phước đã đủ tròn. 2.- Do năng lực trì niệm, tự nhiên các việc ác không khởi, các việc lành vưng làm; lấy đây tu phước thời phước dễ nhóm. – Đây là cái phước trong các việc phước, nên gọi “đa phước đức”.

      Sớ: “Nhơn duyên” là: Ngài Thanh Lương nói: “Chính là lấy cái mà nó hay phát khởi ra đó làm nhân. Mượn những cái giúp thành cho nhân phát khởi làm duyên”. Nay kinh đây có hai nghĩa: 1.- Dùng thiện căn làm nhân, dùng phước đức làm duyên. 2.- Thiện căn, phước đức, mỗi cái đều có nhân duyên.

      Sao: “Thiện nhân, Phước duyên” là: Dùng thiện căn Bồ Đề làm chánh nhân vào đạo, như trong kinh nói: “Không phát tâm chánh giác Bồ Đề, dầu tu pháp lục độ vạn hạnh trải hằng sa kiếp, rốt cuộc cũng không thành Phật”. Cho nên biết Bồ Đề tâm là cội gốc sanh ra muôn việc lành, thế gọi là nhân. Song cần phải làm tất cả việc phước đức để giúp thành quả Bồ Đề; dùng phước giúp huệ, dùng sự để hiển lý, giúp đỡ vào đạo; ấy gọi là duyên.

      “Đều có nhân duyên” là: Thiện căn, phước đức, chỗ lý do của nó, từ đâu mà phát tâm, đều kêu là nhân. Mà thiện căn phát khởi, ắt có các món thiện duyên làm trợ. Thế là mỗi món đều có cái duyên của nó.

      ——————————————-

      A Di Đà Phật @ Diệu Vy,

      Cô thím tâm lay động vì một vị thầy nào đó vì không đủ đức tin do thiếu thiện căn mà ra. Chúng ta tu hành mà không nắm vững giáo lý của Đức Phật thì dễ bị lung lay gặp ai nói gì nghe nấy chứ không đủ trí tuệ để suy sét họ nói cái gì cho dù đó là một vị mang hình tướng xuất gia nhưng tâm họ có xuất hay không. Nếu tâm họ chưa xuất thì vẫn là tâm phàm làm sao chúng ta lại đi bỏ lời dạy của các vị Tổ Tịnh Độ tông vừa qua như Ấn Quang Đại Sư (Đại Bồ Tát hiện thân) mà đi nghe lời người phàm? Cũng may phước bạn còn có đủ thiện căn để không bị lung lay bỏ pháp môn Nhất Thừa bất khả tư nghì của chư Phật chứ không phải Bà La Môn ngoại đạo nào cả. Đã là bất khả tư nghì thì trí thức phàm phu lấy gì mà hiểu nổi? Cho nên phải đủ đức tín mới hoan hỷ thọ trì danh hiệu Phật A Di Đà đừng nghi vì có 6 phương hằng hà sa số chư Phật hộ niệm cho hành giả niệm Phật.

      Cái gì cũng không ngoài chủng tử nghiệp lực của mỗi người thôi bạn à. Tuỳ duyên giữ lòng tin vững chắc đừng can thiệp vào nghiệp của họ. Tốt nhất là bạn nên tự độ bản thân cho tâm Bồ Đề kiên cố, làm gương sáng pháp môn niệm Phật lên là OK nhất.

      Y Pháp bất y Nhân nghĩa là nương tựa vào giáo Pháp, Phật Pháp chứ không nương tựa vào con người nói Pháp

      Nam Mô A Di Đà Phật.

      0
    • Tìm Lại Phật Tánh

      A Di Đà Phật, Diệu Vy thân mến!

      TLPT xin chúc mừng bạn, trong ba người cùng tu học chỉ duy có mỗi bạn là tín tâm kiên cố giữ vững được pháp môn niệm Phật mà mình đang tu học. Phải nói là bạn có thiện căn sâu dày, không bị lay chuyển.

      Những gì cần chia sẻ về pháp môn thì huynh Tịnh Thái, huynh Huệ Tịnh, huynh Viên Trí đã nói ở trên topic này và topic khác khá đầy đủ nên TLPT sẽ không lặp lại nữa. Chỉ xin chia sẻ một chút về cá nhân TLPT khi bị rơi vào tình huống như thím của bạn.

      Khi TLPT post bài chia sẻ cùng các liên hữu đồng tu về pháp môn niệm Phật, gương nhân quả và những Gương Phật pháp nhiệm mầu….thì trong hộp inbox có một số vị đã vào nói những lời y như thím bạn đã từng gặp phải. Cả tại gia lẫn người xuất gia. Tóm lại là hoàn toàn không tin về Cực lạc, thậm chí còn cho các kinh Đại Thừa là “ngụy kinh”….v.v…Thật sự họ đáng thương hơn đáng trách. Vì trong kinh Phật đã từng dạy đây là thời mạt pháp rồi nên gặp những tình huống như vậy chúng ta cũng thấy bình thường. Do những sự việc này đã khiến cho nhiều Phật tử đâm ra nghi ngờ rồi không còn chịu tin và thực hành theo kinh sách nữa, cho nên các kinh mới dần dần bị diệt là ý này.

      TLPT đã trả lời với các vị này như thế nào? TLPT trả lời rằng: “Cám ơn Thầy, cám ơn bạn đã tốt bụng vì tôi mà chia sẻ. Nhưng tôi chỉ có một niềm tin duy nhất ở pháp môn niệm Phật mà tôi đang hành trì, tôi thực sự cảm nhận được lợi ích của việc hành trì mỗi ngày một tốt hơn. Tôi tin Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tôi tin Đức Phật A Di Đà, tôi tin có cõi Cực Lạc. Tôi hoàn toàn không hề có ý định thay đổi pháp môn mình tu học, cho dù bất kỳ ai nói gì hay thân này có hoại đi chăng nữa tôi vẫn cương quyết một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương”.

      Sau khi đọc lời TLPT, vị tu sĩ đó đã kết một câu: “Không ngờ tâm bạn vững chắc đến như vậy. Chúc cho bạn sớm thành tựu được sở nguyện của mình”.

      Diệu Vy bạn hãy xem đây như một bài kiểm tra, một đề khảo xem tâm mình có kiên định hay không, cũng là một cách trắc nghiệm tốt đó bạn. Hễ vượt qua được thì tiến bộ thêm một chút, còn không vượt qua thì lùi luôn. Đều do mình mà thôi.

      Chúc bạn thường tinh tấn và an lạc.

      Nam Mô A Di Đà Phật. _()_

      0
  7. Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật.

    Huệ Tịnh xin trích từ Kinh Niệm Phật Ba La Mật –
    PHẨM THỨ NHẤT – DUYÊN KHỞI

    Trưởng-giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng bước ra, đi nhiễu quanh đức Phật ba vòng. Rồi đến trước Như-Lai, chấp tay quì xuống, gối bên hữu chấm sát đất, cung kính bạch với đức Phật rằng:

    – “Hi hữu Thế-Tôn ! Hi hữu Thế-Tôn ! Được làm thân người là khó, như con rùa gặp bộng cây nổi, nhưng được gặp Phật ra đời còn khó gấp muôn phần.

    Gặp Phật ra đời đã khó, nhưng được nghe Chánh pháp lại còn khó gấp muôn phần. Được nghe Chánh pháp đã khó, nhưng làm thế nào để nương theo giáo nghĩa tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần”.

    Bởi vì sao ? Theo chỗ con xét nghĩ, thì trong tám muôn bốn ngàn pháp mầu mà Như-Lai đã chỉ dạy, nhằm đưa hết thảy chúng sanh ngộ nhập Phật tri-kiến, phải có một pháp mầu cứu vớt những hạng chúng sanh tội khổ, mê đắm, xấu ác. Hôm nay con phụng vì hết thảy chúng sanh tội khổ nơi thời Mạt pháp, cũng như phụng vì các bậc trưởng-giả, cư-sĩ, bà-la-môn, sát-đế-lợi, thủ-đà-la tại thành Vương-Xá nầy, mà khẩn cầu đức Thế-Tôn rủ lòng thương xót, ban cho chúng con một cách thức tu hành thật dễ dàng để giải thoát, một con đường thật vắn tắt để hoàn thành Phật Trí.

    Như đức Thế-Tôn từng chỉ dạy, đời Mạt pháp các chúng sanh trong cõi Diêm-phù-đề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính Sư-trưởng, không thực lòng quy y Tam-Bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng Thánh nhân v.v… Cho nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật giản đơn, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sanh tử khắp ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.

    Vì sao như vậy ? Sau khi Như Lai diệt độ khoảng một ngàn năm trở đi, đó là thời kỳ Chánh pháp cuối cùng, các kinh điển dần dần ẩn mất, chúng sanh căn cơ hạ liệt, ám độn, ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác để tự vui.

    Do đó tự nhiên chiêu cảm động đất, đói kém, tật dịch, binh đao, bão lụt, mất mùa, gió bão, thời tiết viêm nhiệt bức não. Thánh nhân lại không xuất hiện. Tuổi thọ giảm dần. Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành, cũng không thể tu tập các môn Giới luật, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu. Không thể tu tập Tứ-niệm-xứ, Bát-chánh-đạo, Tứ-chánh-cần. Không thể tu tập Tứ-vô-lượng-tâm, không thể tu tập Sáu-ba-la-mật, hoặc là Bố-thí ba-la mật, nhẫn đến Trí-huệ ba-la-mật, không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật Tri Kiến. Không thể chứng đắc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Không thể chứng nhập Sơ-thiền nhẫn đến Tứ-thiền. Không thể chứng nhập Niết-bàn Diệu-tâm. Không thể vào sâu vô lượng Tam-muội, Thần-thông Du-hí của chư Bồ-Tát, nhẫn đến không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi đạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân.

    Vì lý do như vậy, mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô-thượng Bồ-đề-tâm. Khẩn cầu đức Thế-Tôn chỉ dạy giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sanh ở thời kỳ cuối cùng của Chánh pháp.

    Trưởng-giả Diệu-Nguyệt vừa dứt lời thưa thỉnh, thì bỗng đại địa chấn động mãnh liệt. Khắp hư không, hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, tuôn rắc như mưa. Từ phương Tây, xuất hiện vô lượng vô số hằng hà sa đám mây ngũ sắc, mây chiên đàn hương, mây y phục cõi trời, mây âm nhạc cõi trời, mây hoa sen báu trắng bạch v.v… Trong những đám mây ấy phát ra tiếng sấm lớn, đồng một lúc chầm chậm bay về, nhóm lại phía trên đỉnh núi Kỳ-Xà-Quật. Tất cả đại chúng đều vui mừng, hớn hở, tự biết ấy là điềm lành chưa từng có.

    Bấy giờ, Quốc mẫu Vi-Đề-Hy hoàng thái hậu từ trong đại chúng, bước ra trước Phật đảnh lễ xong, bèn chấp tay thưa:

    – “Bạch đức Thế-Tôn, vì duyên cớ gì mà hiện điềm lành nầy ?”

    Liền khi ấy, đức Như-Lai từ nơi tướng lông trắng chặng giữa chân mày, phóng ra hào quang chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương mà nói lời nầy:

    – “Lành thay ! Các thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân ! Nay ta vì lời thưa thỉnh của Ưu-bà-tắc Diệu-Nguyệt, và của Ưu-bà-di Vi-Đề-Hy, lại nương theo Bổn nguyện của vô lượng vô số bất khả thuyết chư Phật, mà tuyên dương giáo nghĩa bí mật vi diệu tối thắng đệ nhất, nhằm cứu độ hết thảy chúng sanh ở trong thời kỳ Phật Pháp cuối cùng.

    Giáo nghĩa nầy, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói, và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sanh đời Mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung đuợc sanh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất-thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam Bồ-đề”.

    Nầy cư sĩ Diệu-Nguyệt, hãy chăm chú lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói:

    – Diệu-Nguyệt, tất cả các loại chúng sanh chết ở nơi đây, rồi sanh sang nơi kia, sống chết nối nhau không dứt. Mỗi khi sắp mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời hiển hiện rõ ràng. Chúng sanh nào sống thuần bằng tư tưởng, thì bay lên hóa sanh nơi các cõi Trời. Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-độ.

    Chúng sanh nào tình ít, tưởng nhiều thì vào hàng phi tiên, bay đi nhẹ nhàng nhưng không được xa bằng hạng thuần tưởng.

    Chúng sanh nào tình và tưởng bằng nhau thì sẽ phát sanh vào cõi người. Bởi vì sao như vậy ? Bởi tưởng là thông sáng, tình là mê tối. Nếu tình và tưởng ngang bằng nhau thì không bay lên và cũng không đi xuống.

    Chúng sanh nào tình nhiều, tưởng ít thì sẽ lạc vào bàng-sanh, nhẹ thì làm chim bay, nặng thì làm thú chạy.

    Chúng sanh nào có bảy phần tình và ba phần tưởng, sẽ bị đọa làm thân ngạ quỷ, thường chịu nóng bức, đói khát trải qua trăm ngàn kiếp dài lâu.

    Chúng sanh nào có chín phần tình và một phần tưởng, thì sẽ đọa vào địa ngục. Nhẹ thì vào nơi địa ngục hữu gián, nặng thì sẽ đọa vào ngục Đại A-tỳ. Nếu ngoài cái tâm thuần tình ấy, còn kiêm thêm các trọng tội như hủy giới cấm của Phật, khinh báng Đại-thừa, thuyết pháp sai lầm, đắm tham của tín thí, lạm thọ sự cung kính, và phạm vào thập ác ngũ ngịch, thì sẽ chiêu cảm quả báo luân chuyển sanh về các ngục Vô-gián ở khắp mười phương.

    Nầy Diệu-Nguyệt cư sĩ ! Trong thời kỳ Chánh pháp diệt tận, chúng sanh nơi cõi Diêm-phù-đề tình nhiều tưởng ít, tâm địa bỏn sẻn, tham lam ghét ganh, các căn lành phước báo kém cỏi. Lúc sanh tiền thọ nhận đủ loại nghiệp dữ, sau khi mạng chung sẽ chịu các quả báo đau khổ trong ba nẻo ác dữ với hạn kỳ lâu dài. Vì thế mà chư Phật khắp mười phương xót thương vô cùng, luôn luôn tìm cách cứu trừ khổ não cho các hạng chúng sanh kia.

    Các đức Như-Lai hiện ra nơi đời, mục tiêu chân chánh là không chỉ tuyên dương diệu pháp bí áo sâu xa cho những bậc Thánh giả, hiền nhân – mà mục tiêu khẩn thiết nhất vẫn là nhằm cứu vớt các loại chúng sanh tội khổ, nặng về tình, nhẹ về tưởng.

    Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sanh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sanh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sanh khởi chẳng rời sát-na tâm sanh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát-na tâm sanh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT.

    ———————————————

    Chúc tất cả liên hữu niệm Phật phát tâm Bồ Đề kiên cố, đức tin không lay động.

    Nhân niệm Phật = Quả vãng sanh Cực Lạc thành Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    0
  8. Thiện Nhân

    A Di Đà Phật

    Gửi bạn Diệu Vy,

    Vấn đề bạn đặt ra đang là một vấn nạn lớn của người tu đạo Phật thời hiện tại. Nguyên nhân: do chúng ta phước mỏng, nghiệp lại quá sâu dày, vì vậy hễ khởi tâm động niệm đều là vọng kiến (không có chánh kiến và chánh tư duy), nghĩa là khi đối cảnh, tiếp vật chúng ta đều khởi ngay tâm phân biệt, chấp trước: cao-thấp, thật-giả, đúng-sai, hay-giở, xấu-đẹp, thiện-ác, nhiệm màu-không nhiệm màu, đúng pháp-không đúng pháp… cũng vì thế nhiều khi chúng ta càng tu lại càng thấy khổ, càng tu càng thấy phiền não thêm dữ dội. Để kiến giải được những nguyên nhân này có lẽ chúng ta phải cùng nhau tìm hiểu: Phật – Pháp là gì?

    Phật là gì?
    Phật là danh từ chung để chỉ mười phương, ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) chư Phật. Trong Kinh Đại Niết Bàn, Phật Thích Ca định nghĩa Phật như sau: “Thế nào là Phật? Phật gọi là giác, đã tự giác ngộ lại có thể giác ngộ người khác. Như có người rõ biết kẻ giặc cướp, thời giặc cướp không hại được. Đại Bồ Tát có thể rõ biết tất cả vô lượng phiền não. Vì rõ biết nên các phiền não không làm não được. Do đây nên gọi là Phật. Do vì giác ngộ nên chẳng sanh, chẳng lão, chẳng bịnh, chẳng tử, do đây gọi là Phật. Phật hiệu là Bà Dà Bà – „Bà Dà“ là phá. „Bà“ là phiền não. Có thể phá phiền não nên hiệu Bà Dà Bà”.

    Pháp là gì? Nói đơn giản là những giáo lý của Phật và 10 phương ba đời chư Phật dùng để hướng dẫn, chỉ bày, giáo dục, giúp cho chúng sanh tận hư không giới được: Phá mê-Khai ngộ; Lìa khổ-Được vui; Chuyển phàm-Thành Thánh.

    Trở lại câu hỏi Phật là gì? Phật là người đại giác, đại ngộ, người đã đoạn tất cả vô lượng phiền não và có thể giúp chúng ta làm việc đó.

    Còn chúng ta là gì? Chúng ta là những chúng sanh cang cường sống trong vô minh, vì vô minh nên trở nên si mê, vì si mê nên luôn tạo nghiệp và sống trong phiền não. Sự có mặt của chúng ta nơi cõi Ta bà này đã nói lên điều đó, vậy nhưng chúng ta vẫn chẳng chịu giác ngộ.

    Phật dạy chúng ta pháp môn niệm Phật để một đời này hành trì, một đời này phát nguyện vãng sanh Tây phương Cực Lạc. Hành trì chẳng phải cứ ngồi đó để tụng kinh, niệm Phật rồi sẽ vãng sanh, sẽ thành Phật; trái lại hành trì là phải có tín sâu, nguyện thiết, thực tâm hành.

    Tín sâu điều gì? Tín sâu lời Phật dạy, tin sâu nhân-quả, tín đời là bể khổ, là vô thường.

    Nguyện thiết điều gì? Nguyện phát bồ đề tâm dõng mãnh, quyết không thoái chuyển niềm tin nơi chánh pháp do Phật chỉ dạy, dẫu cho cuộc sống thay đổi, bệnh tật, cái chết cận kề cũng chẳng hề nghiêng ngả, nao núng hay hoảng sợ.

    Thực tâm hành là gì? Là luôn luôn dùng Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định để quán chiếu, tư duy chân chánh theo chánh pháp của Phật.

    Trong pháp niệm Phật chúng ta thường nghe, thường nói tới: Niệm Phật nhất tâm bất loạn; niệm Phật tam muội; niệm Phật bất niệm tự niệm… Những cụm từ này có nghĩa là gì? Đó chính là Chánh Định. Muốn có chánh định chúng ta phải luôn có, luôn quán chiếu và thực hành: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn. Do vậy Chánh định chính là chân tâm, là tự tánh và Phật gọi đó là Phật tánh hay còn gọi là Chân Ngã của mỗi chúng sanh.

    Nói vậy chẳng có nghĩa: tôi có Phật tánh rồi, tôi có Chân ngã rồi, tôi chẳng cần phải tu thêm làm gì cho mệt như nhiều người vốn thường biện luận; hoặc có nhiều người lại nói: Tôi chỉ cần tu tâm thôi, cần gì phải tụng kinh, ăn chay, niệm Phật, cần gì phải thường xuyên lên chùa hay tới đạo tràng để tu cho khổ? Với những giả luận này chúng ta phải cảnh giác, bởi hoặc đó là lời thoái thác, hoặc đó là lời nguỵ biện. Bởi Phật nói mặc dù „Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh“ nhưng „vì phiền não che ngăn nên không thấy không biết. Vì thế nên phải siêng năng tu tập để dứt trừ phiền não“. Do vậy nếu ai đó thường nói với chúng ta những lời như trên, chúng ta phải nhận biết: Nói vậy là mê, là không chịu giác ngộ, là tự đưa mình trôi lăn vào con đường sanh tử luân hồi.

    Phật đã cảnh báo: „Chúng sanh thường mê không giác ngộ cho nên nhiều kiếp đọa lạc. Chư Phật thường giác ngộ chẳng mê cho nên thành Phật đạo. Hết thảy chúng sanh đều có tánh Phật, xưa nay chẳng sanh, xưa nay chẳng diệt, bởi vì mê ngộ nên có thăng trầm“.

    Sao gọi là mê? Sao gọi là ngộ? Mê là không giác. Ngộ là chân tường sáng tỏ. Sao gọi là thăng-trầm? Là kiếp này làm thân người nếu không giác ngộ để tu hành, kiếp sau lại làm súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục; kiếp này làm súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, kiếp sau hết nghiệp, giác ngộ lại được làm người, làm trời… sự luân chuyển không ngưng dứt trong 6 nẻo luân hồi chính là hàm nghĩa đó.

    TN xin lấy một ví dụ nhỏ để chúng ta cùng quán chiếu: TN phát nguyện tu học, hành trì theo pháp niệm Phật, hàng ngày đều thực hành các công khoá, hành trì rất nghiêm cẩn. Nhưng một ngày nọ, có người tiếp cận và nói với TN: Sao bạn dốt thế! Thời buổi này mà ngồi niệm Phật thì bao giờ mới được giải thoát? Bao giờ mới được chứng ngộ? Đời người thì ngắn ngủi, sao không nhân lúc này dấn thân tu thiền có phải mau chứng đắc hơn không? Đức Phật thủa xưa cũng phải tu thiền mới chứng được quả vô thượng bồ đề. Nghe nói vậy, TN thấy mình thật ngu, dại, kém cỏi, rồi chẳng cần cân nhắc, đắn đo: liệu thiền có thực sự giúp ích, có thực sự phù hợp với căn cơ bản thân hay không? và ngay sau đó TN vội vàng quay sang tu thiền. Rồi sau một thời gian dài thiền tập, kết quả chưa đâu vào đâu lại có người bảo TN: Với căn cơ của bạn tu thiền sao được; thiền là dành cho bậc thượng căn, thượng trí, sao không tu Mật tông? Tất cả những mật ngữ của Phật đều bắt nguồn từ Mật Tông cả, chỉ có Mật Tông mới có thể chứng nhập được vào cảnh giới của Phật… Và rồi TN cũng thấy lời khuyên thật là hợp lý nên cũng chẳng cần suy tính, lại chuyển sang tu Mật tông… Kết quả là Thiền-Mật-Tịnh, TN đều tham (tham trong trường hợp này không phải là tinh tấn hành trì) học cả nhưng kết quả là Thiền chẳng thông; Mật chẳng khế nhập và Tịnh cũng chẳng đáo nghĩa.

    Phật dạy: „Trong đời có ba người: Một là không con mắt, hai là một con mắt, ba là đủ hai mắt. Người không con mắt dụ cho thường chẳng được nghe pháp. Người một con mắt dụ cho được tạm thời nghe pháp mà tâm không được an trụ. Người đủ hai con mắt dụ cho chuyên tâm nghe pháp lãnh thọ và thực hành, do đây được gần Đại Niết Bàn“. (Kinh Đại Niết Bàn)

    Qua lời dạy này các bạn có thể nhận ra: TN thuộc vào hạng người „có một con mắt dụ cho tạm thời được nghe pháp mà tâm không được an trụ“. „Tâm không an trụ“ là gì? Là luôn sống trong phân biệt, chấp trước, sống trong vọng kiến. Nói cụ thể hơn: nền tảng tu học không có, vì thế dẫn đến tình trạng đứng núi nọ, trông núi kia. Đứng núi này, lại ngỡ núi mình quá thấp, muốn leo sang núi cao hơn; rồi qua núi cao hơn, lại thấy còn nhiều núi cao hơn nữa… và để rồi loanh quanh, luẩn quẩn nhiều khi cả một đời vẫn chẳng biết nơi nào mình cần đến.

    Người học Phật thời nay thường và dễ rơi vào tình trạng suy bì nói trên, trong đạo gọi là tình trạng chấp pháp. Nguyên nhân chẳng phải chúng ta thiếu phương tiện tu học, trái lại vì phương tiện thời nay quá đầy đủ, quá phong phú, quá đa dạng, đa năng, chỉ cần một “click” là vô lượng pháp sư, vô lượng pháp ngữ đã hiện ngay trước mặt, nên dẫn đến tình trạng coi Phật pháp như một nhu cầu để giải trí về tâm linh chứ không phải là giải pháp cứu cánh nhằm giúp chúng ta phá mê-khai ngộ, lìa khổ-được vui, chuyển phàm-thành Thánh. Xuất phát từ lý do này nên người học pháp chúng ta thời nay thường rơi vào thiên kiến và vọng kiến trầm trọng, nghĩa là hoặc bỏ lý, chấp sự; hoặc bỏ sự, chấp lý, hoặc cả lý lẫn sự đều mờ mờ, ảo ảo.

    Trong Tứ Y Pháp Phật dạy gồm: Ý Pháp Bất Y Nhân; Y Trí bất Y Thức; Y Nghĩa Bất Y Ngữ; Y Liễu Nghĩa Bất Y Bất Liễu Nghĩa.

    Nếu quán xét những điều bất cập, những mối xung đột thường xảy ra và nhiều khi không thể hoá giải trong quá trình tu học của chúng ta hiện nay, chúng ta phải nhận thấy: Chúng ta đang học Phật pháp bằng cảm tính, theo cảm tính. Nghĩa là không dùng trí tuệ để học, để khai thông pháp; trái lại, chúng ta dùng tri thức thế tục, thường tình (vọng kiến, phân biệt, chấp trước) để học và kiến giải Phật pháp. Vì vậy những lời chân thật nghĩa của Phật chúng ta không tin; trái lại, lại dễ dàng tin theo những lời huấn giải của một ai đó mà chúng ta cảm thấy rất siêu phàm, hay mến mộ. Vì khởi tâm động niệm (ý khởi) đều là vọng kiến, nên thân và khẩu cũng bị những vọng kiến đó lôi kéo, chi phối và hành theo. Đây là hệ quả của việc: chúng ta tu, nhưng thực không biết, không hiểu mình đang tu gì, tu để làm gì?

    Chúng ta thực hành pháp môn niệm Phật, xin chớ vội nông nổi nghĩ: làm sao ngày này, tuần này, tháng này… tôi phải đạt được nhất tâm bất loạn; làm sao phải đạt được niệm Phật tam muội; làm sao phải đạt được bất niệm tự niệm; làm sao ngày này, tháng này, chúng ta phải vãng sanh cho kỳ được. Tất cả những điều kiện mà chúng ta tự đặt ra cho mình chính là những chướng đạo, chứ không phải sự dũng mãnh hay phát tâm bồ đề như nhiều người lầm hiểu.

    Nhất tâm bất loạn là gì? Tam muội là gì? Niệm bất tự niệm là gì? Đó chẳng phải là cảnh giới mà chúng ta có thể kiến lập được; cũng chẳng phải cảnh giới mà chư Phật, chư Bồ tát ban phát hay ấn chứng cho chúng ta. Trái lại, đó chính là chân tâm, là Phật tánh mà mỗi chúng ta vốn sẵn có.

    Câu hỏi chúng ta phải nghiêm túc đặt ra: Chúng ta sẵn có, vậy nhưng tại sao chúng ta lại phải tìm cầu? Nguyên nhân: do chúng ta sống trong vô minh: tham, sân, si, mạn, phân biệt, chấp trước. Hễ 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ngay lập tức sanh ra các vọng thức (phân biệt, chấp trước).

    TN xin lấy VD nêu trên làm sáng tỏ sự vô minh này.

    Trong Kinh A Di Đà Phật Thích Ca dạy: „Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó hoặc trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn, thời người đó tới lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng sẽ hiện thân ở trước người đó, người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền đặng vãng sanh về nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà“.
    Câu hỏi là: Chúng ta đã thực chấp trì danh hiệu của Phật A Di Đà một lòng không tạp loạn chưa? Nếu chưa mà chúng ta lại cầu được „nhất tâm bất loạn“, cầu „tam muội“, cầu „bất niệm tự niệm“, cầu được vãng sanh như ý nguyện, đây là chuyện hoang đường. Nói khác đi: Hàng ngày chúng ta ngồi niệm Phật nhưng là niệm niệm tham, niệm niệm sân, niệm niệm si, niệm niệm ngã mạn, phân biệt, chấp trước đồng dấy khởi. Niệm như vậy lại niệm một cách thành thục, thì chúng ta đang niệm ma chứ chẳng phải niệm Phật. Đương nhiên, khi ma tham, sân, si, mạn, phân biệt, chấp trước luôn thị hiện trong tâm chúng ta, tức khi cảnh giới xả báo thân hiện tiền, chúng ta sẽ rơi ngay vào trạng thái điên đảo, vọng tưởng; cũng ngay lập tức lúc ấy, người tới đón chúng ta sẽ là ma vương chúng chứ chẳng phải Tây Phương Thánh Chúng.

    Cũng trong Kinh A Di Đà Phật Thích Ca dạy: „Xá Lợi Phất! Nơi ý ông nghĩ thế nào? Vì sao tên là Kinh Nhất Thiết Chư Phật hộ niệm?
    Xá Lợi Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó và nghe danh hiệu của Đức Phật, thời những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các Đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác“.
    Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các Đức Phật nói“.

    Câu hỏi là: Sao gọi „thiện nam tử“? Sao gọi „thiện nữ nhân“? Hiểu đúng lời Phật dạy đó là: hiếu kính phụ mẫu; phụng sự sư trưởng; từ tâm bất sát; hành thập thiện nghiệp; Quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ giới và Phát tâm bồ đề, nguyện nhất tâm niệm Phật, một đời được vãng sanh Tịnh Độ.

    Hàng ngày, hàng giờ, trong từng niệm niệm, chúng ta hãy cùng nhau thử hỏi: mình đã, đang làm được những gì? Người niệm Phật mà hễ nói tới quy y Tam Bảo, hễ nói tới thọ trì Ngũ giới là đều lảng tránh; người niệm Phật, nhưng hễ nói tới hành thập thiện, hễ nói tới ăn chay, hễ nói tới hiếu kính, hễ nói tới xa lìa tâm sát… đều luôn tìm cách để lảng tránh – chắc chắn chúng ta sẽ mãi mãi chẳng thể trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân và đương nhiên chuyện „nhất tâm bất loạn“, „tam muội“, „niệm bất tự niệm“ sẽ chỉ là chuyện nói cho vui miệng, đừng nói tới chuyện vãng sanh Tịnh Độ.

    Đã đến lúc chúng ta phải báo động cho nhau hay: Chúng ta đang đốt cháy giai đoạn; chúng ta đang tự huyễn hoặc chính mình; chúng ta bỏ qua những giáo lý, nền tảng Phật học quan trọng: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín. Vì thế chúng ta càng tu, càng thấy niềm tin trong mình càng chấp chới; càng tu càng thấy mình hình như đang lạc đường; càng tu càng thấy tâm mình dâng đầy phiền não.

    TN xin trích câu chuyện Phật thuyết trong Kinh Đại Niết Bàn về cô gái nghèo để chúng ta cùng suy ngẫm:

    „Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được.
    Như cô gái nghèo, trong nhà có nhiều kho tàng vàng vòng, tất cả người nhà không ai biết. Một hôm có người khách lạ khéo biết phương tiện bảo cô gái nghèo : “ Nay tôi thuê cô dọn cỏ rác cho tôi”.
    Cô gái liền đáp : “ Nếu ông có thể chỉ kho vàng cho tôi, rồi tôi sẽ dọn cỏ rác cho ông”.
    Người khách nói : “ Tôi biết cách thức, có thể chỉ kho vàng cho cô.”
    Cô gái nói: “Tất cả người nhà của tôi còn chẳng biết được, huống là ông mà có thể biết !”
    Khách lại nói: “Nay tôi có thể biết chắc chắn”.
    Cô gái nói: “Tôi gấp muốn thấy, ông nên chỉ cho tôi”.
    Người khách liền ở trong nhà cô, đào được kho vàng ròng. Cô gái thấy kho vàng lòng rất vui mừng ngạc nhiên lạ lùng, kính trọng người khách.
    Nầy Thiện-nam-tử! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được
    Hôm nay đức Như-Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh. Chúng sanh thấy được tánh nầy lòng rất vui mừng quy ngưỡng đức Như-Lai.
    Người khách khéo biết phương tiện dụ cho Như-Lai. Cô gái nghèo dụ cho vô lượng chúng sanh. Kho vàng ròng dụ cho Phật tánh“.

    Tới đây các bạn chắc đã hiểu rõ: hàng ngày chúng ta niệm Phật nhưng tâm chẳng có Phật, mà chỉ tơ tưởng những chuyện trần lao, dục giới, cũng tương tự như cô gái nghèo nói trên, có sẵn kho báu mà chẳng hề hay biết. Niệm như thế đương nhiên chẳng bao giờ có cảm ứng đạo giao với Phật A Di Đà, nói gì tới 10 phương Chư Phật hộ niệm?

    TN nguyện chúc các đạo hữu sớm biết hồi đầu, tỉnh thức để cùng nhau nhận biết được: trong mỗi chúng ta đều có sẵn kho vàng ròng.

    TN

    0
  9. Diệu Vy

    A Di Đà Phật.
    Con xin cảm ơn các vị cư sĩ đã giải đáp giúp con rất chi tiết và tỉ mỉ. Quả thực không hiểu giáo lý căn bản là điều vô cùng nguy hiểm. Giờ đây, điều tốt nhất con nên làm là tu sửa chính mình và nghiêm chỉnh niệm Phật. A Di Đà Phật, một lần nữa con xin cảm ơn tất cả các cư sĩ đã tận tâm chỉ dạy con, xin chúc các cư sĩ luôn an lạc, tu tập tinh tấn và phát triển trang web này để tất cả chúng sinh có thể thoát khỏi mê muội
    A Di Đà Phật

    0
  10. Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật.

    Tịnh Độ Quyết Nghi Luận
    Ấn Quang Đại Sư

    Hễ niệm Phật thì ngay trong đời này sẽ thoát khỏi luân hồi, trong tương lai quyết định thành Phật đạo. Còn nếu nương theo lời bác Phật thì là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng; hiện đời tội nghiệp chất như núi, phước huệ băng tiêu, khi mạng chung vĩnh viễn đọa trong A Tỳ chịu khổ nhiều kiếp. Lẽ lợi – hại, được – mất thật là một trời, một vực!

    Nói chung, người đời nay toàn là hạng phước mỏng, huệ cạn, nghiệp nặng, chướng sâu; đối với điều được lợi ích thì khủng khỉnh nghe; đối với điều khiến mình bị tổn hại lại toàn thân rạp lạy (“được lợi ích, bị tổn hại” là đối với những kẻ chưa ngộ, hiểu lầm mà nói, chứ không phải pháp của cổ đức nói có tổn hay ích).

    ———————————————

    Lá Thư Tịnh Độ
    Ấn Quang Đại Sư

    Xét về thiên tư và cảnh duyên của các hạ đối với thời cơ pháp vận hiện nay, thì chỉ nên giữ năm giới để hộ trì Tam bảo, truyền Tịnh độ mà khuyên chúng vãng sanh, là hợp lý hợp thời và cần yếu hơn hết. Tại sao tôi lại nói như thế? Vì, các hạ tuổi đã hơn bốn mươi, căn tánh chưa phải là bậc thượng, nếu muốn nghiên cứu Tạng Kinh, tham hỏi hàng tri thức, e cho pháp môn quá rộng, ngày tháng chẳng nhiều, rồi khi trở tay không kịp, có sự ăn năn. Lại hiện nay tuy có bậc tri thức, song Tăng chúng phần nhiều đều ô lạm, bạn đồng hạnh ít người (đồng hạnh: bạn giúp đỡ về phần tu tập, có thể khiển trách lẫn nhau, khiến cho đạo hạnh tiến thêm), nếu khi chí hướng thượng suy kém, tất sự biếng trễ cũng nương theo, khó bề gắng gượng. Như tôi năm hai mươi mốt tuổi, từ cha mẹ xuất gia, cũng có thể gọi là lập chí mạnh và phát tâm chơn. Nhưng đến nay tuổi đã năm mươi ba, mà bên tông bên giáo đều không sở đắc chi cả. Nghĩ tủi thẹn luống phụ ơn mẹ cha, uổng làm con đức Phật! Song cũng may, đối với môn Tịnh độ, khi mới xuất gia học Kinh A Di Đà, tôi đã sanh lòng tin, thật chưa nhờ bậc tri thức nào chỉ dạy. Vì lúc đó Thầy thọ nghiệp và các vị tri thức chỉ chuyên về sự tham cứu, những lời khai thị đều phá môn Tịnh độ. Tôi lượng biết sức mình, nên không lay chuyển theo ai, dù Phật, Tổ hiện thân cũng chẳng đổi ý, huống nữa là lời nói của bậc tri thức bên tông Thiền? Lại hiện nay, chánh yếu tà mạnh, việc hộ trì Phật pháp, với tục thì dễ, với tăng lại khó. Nếu các hạ giữ chắc năm giới, chuyên niệm Phật, về phần tu thân lời và hạnh hiệp nhau, thì có thể truyền bá chánh pháp, làm lợi ích cho mọi người. Song chớ nên ở địa vị Thầy mà tự cao, và thọ tiền của để lợi dưỡng. Phải đem lẽ chánh khuyên bảo những kẻ thân sơ, tất mọi người đều mến đức vâng theo lời. Đó gọi là: “sửa mình được chánh, tuy không bảo người cũng theo, như cỏ ở trước ngọn gió tất phải thuận chiều vậy.” Lệnh lang không tin đạo Phật, cũng chẳng nên ép, đợi khi nào cảnh ngộ đẩy đưa khiến cho tánh thiên chơn phát lộ, chừng ấy chỉ dùng một lời nhắc bảo, tự nhiên tấm lòng của y sẽ phơi phới hướng về chánh pháp, khó nỗi cản ngăn.

    ———————————————-

    Cho nên phải cẩn thận khi tu hành nên hướng nội niệm Phật khắc phục cái nghiệp chướng ‘Ngã Chấp’. Nếu tu hành hướng ngoại dễ bị trí thức thông minh tà kiến xúi mình xúi người cùng nắm tay nhau đi vào ác đạo thật đáng tiếc.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    0

Gửi hồi âm đến trường Bấm để hủy hồi âm.

Your email address will not be published. Required fields are marked *