Địa Tạng Bồ Tát Chỉ Điểm Bình An

Địa Tạng Bồ Tát Chỉ Điểm Bình An

Thân là cội gốc của các khổ, vốn không đáng tiếc; nhưng thân có thể tải đạo, cũng không thể không trân trọng. Những lời này là những lời của các bậc Đại đức thuở xưa tả về cái thân này của chúng ta là cái thân nghiệp báo chứa nhóm những tội ác, sống trên cõi đời chẳng qua chỉ vài mươi năm ngắn ngủi, đâu đáng quý trọng.

Nhưng nếu muốn được giải thoát thì phải mượn giả tu chân, chẳng kể là tu học Phật pháp hay lạy Phật, niệm Phật, đều phải nhờ vào thân này; lúc tự mình gặp phải tai nạn nguy khổ thì tự mình niệm Phật, tự mình được cứu. Không tin, hãy xem chuyện dưới đây:

Vào 3 giờ chiều ngày chủ nhật 12 tháng 6 âm lịch là ngày hội giảng kinh định kỳ của ban Song tu của Liên xã. Đến 5 giờ giảng xong, sau khi niệm kệ hồi hướng bỗng có một vị thính chúng mới, đứng dậy hướng về mọi người nói: Nhà tôi ở Hợp tác Tân thôn, chồng tôi họ Hoàng, tôi hiện muốn đem chuyện cảm ứng chính tôi đã trải qua báo cáo cho mọi người nghe, để đáp tạ ân đức của Phật A Di Đà và Địa Tạng Bồ Tát.

Bà Hoàng kể: Vào tháng 2 năm Dân quốc thứ 54, tôi có một lần đi du lịch ở Đài Bắc, ở chợ gặp một người gánh một gánh rùa mời chào, hỏi tôi muốn mua rùa không? Tôi liền nói với anh ta: “Tôi là người xứ khác, mua rùa làm gì?”. Tôi chơi ở Đài Bắc hai ngày về đến Đài Trung, qua ngày sau thì ở chợ Đệ Nhất lại gặp người bán rùa ở Đài Bắc, bị anh ta nhìn thấy, lại kêu tôi và nói: “Bà ơi! Ở Đài Bắc bà nói bà là người xứ khác, bây giờ bà đã về nhà rồi, bà nên mua đi!”. Tôi liền bỏ ra 50 đồng mua bốn con rùa đem về nhà, đưa cho con dâu bảo nó đem bỏ ở miếng đất trống phía sau nhà để nuôi, hằng ngày cho ăn lá cải và cơm.

Có một hôm lúc tôi không có ở nhà, con dâu tôi liền bắt một con rùa ra giết, đứa con gái nhỏ mười lăm tuổi của tôi, ở bên nhìn thấy thì sợ quá, co rút hai tay ra phía sau nói với con rùa rằng: “Rùa ơi! Tay của tao bị người ta cột rồi, nên không thể cứu mày được”. Lúc tôi về nhà thấy một con rùa bị giết liền quở trách con dâu rằng: “Mua rùa về là để phóng sanh, không phải để cho cô giết ăn”. Đêm đó tôi nằm mộng thấy một người nói với tôi: “Tai họa của bà đến rồi”. Lúc thức dậy trong lòng cảm thấy thắc thỏm không yên.

Đứa con gái nhỏ của tôi ba năm trước là mười lăm tuổi, học tiểu học, sau khi nhìn thấy cảnh giết rùa, một buổi sáng ba ngày sau, lúc nó chạy xe đạp đi học ở trên đường Tự Do, thì bị một chiếc xe ba gác máy chở heo đụng ngã, người lái xe ba gác máy đó nhìn thấy cô bé lúc cả người lẫn xe ngã bên đường, trong miệng vẫn còn la to ba lần “A Di Đà Phật” rồi trong miệng chảy ra rất nhiều nước dãi, trong lỗ tai lại chảy máu ra, liền hôn mê bất tỉnh nhân sự, may mà anh lái xe ba gác máy đó tức khắc nhảy xuống bồng nó lên, đón taxi đến bệnh viện khoa ngoại Trọng Tân, bác sĩ nói: xương đầu đã vỡ và ra máu, không dám nhận trị! Anh lái xe đó lại đưa nó đến bệnh viện khoa ngoại Lý Hựu Kiết, bác sĩ Lý vừa xem cũng nói thương thế rất nặng, đầu vỡ, máu chảy, bất tỉnh nhân sự, hãy nhanh chóng đưa đi bệnh viện tỉnh lập (bệnh viện nhà nước ở Đài Trung).

Anh lái xe lại đưa nó đến khoa ngoại của bệnh viện tỉnh lập, anh lái xe năn nỉ bác sĩ: “Trong nhà cô bé này, chắc chắn có người tin Phật, đang lúc hai xe đụng nhau trong miệng cô ta vẫn còn la to “A Di Đà Phật” luôn ba lần, rồi mới chảy nước dãi, và hôn mê luôn. Xin bác sĩ nhanh nhanh chích thuốc cấp cứu dùm”

Lúc cô bé cấp cứu ở bệnh viện may mà có một nhân viên trong cửa hàng bán gạo nhận biết nó, liền chạy đến nhà tôi ở hợp tác xã Tân Thôn cho chúng tôi hay việc tai nạn xe, vợ chồng tôi tức thời đến bệnh viện xem, chăm sóc, lúc đó con bé còn có hơi thở thoi thóp yếu ớt, máu trong lỗ tai vẫn còn chảy ra mãi.

Lúc đó người làm cha mẹ mắt nhìn thảm trạng của con gái như thế, thật đau lòng, không dám nghĩ sẽ hồi phục lại như cũ; bác sĩ cũng không dám bảo đảm chắc về tính mạng, tất cả bà con bạn bè đến thăm hỏi an ủi cũng đều nói lành ít dữ nhiều, mãi đến ngày thứ sáu tính từ hôm vào viện, vẫn cứ trầm trọng như thế, không có một chút biến đổi nào khả quan.

Nhưng kỳ tích không thể nghĩ bàn, khiến người khó tin nổi, cuối cùng đã xảy ra. Vào cái ngày thứ sáu đó, trong đêm lúc tôi đang nửa thức nửa ngủ, thì nhìn thấy một vị Bồ Tát tướng mạo trang nghiêm, đến bên giường bệnh nói với tôi: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát đến báo tin cho ngươi, con gái của ngươi rất có căn lành, hiện đang ở chỗ của Phật tổ, ngày mai sẽ trở lại, nó sẽ còn mau lành bệnh hơn những người bệnh khác trong phòng nữa, ngày mai có thể xuất viện, sau này thân thể mạnh khỏe, bình an vô sự”. Nói xong phất phới bay đi.

Lúc tôi đem cảnh trong mộng này nói với chồng tôi, hai người đều nửa tin nửa ngờ hầu như cho là không thể có việc dễ dàng cho mình như thế. Qua ngày thứ bảy, con nhỏ vẫn cứ hôn mê chưa tỉnh, nếu như thế tôi là kẻ nằm mộng mê mờ, nhưng ông ta lại nói với tôi là Địa Tạng Bồ Tát đến chỉ điểm cho tôi mà, nói nghe rõ rõ ràng ràng!…

Lúc đó chồng tôi đang ngồi một bên giường của con gái, thì bỗng nhiên cánh tay phải đã một tuần không có nhúc nhích, giở lên rờ rờ mặt của ba nó, tay trái cũng đồng thời giở lên, hai tay rờ rờ mặt ba nó một hồi, lúc rờ đến cái cà vạt, liền cuốn tròn cái cà vạt lại, rồi mở mắt ra, mặt mày hớn hở kêu lên “Ba!”.

Lúc đó người làm cha mẹ nhìn thấy con gái đã nói chuyện được, con ma bệnh như biến mất, nỗi vui trong lòng thật khó tả. Con nhỏ lại nói: “Con không có bệnh gì hết, tại sao lại nằm bệnh viện?”, liền liếng thoắng đòi về nhà. Ngay trong buổi chiều ngày hôm đó, cuối cùng thật sự xuất viện về nhà.

Con bé từ sau khi về nhà, tinh thần mãi đến nay rất tốt, trí huệ lại tăng trưởng, hiện học trung học thành tích lại hạng ưu, dung mạo cũng thay đổi xinh đẹp phước tướng. Phật, Bồ Tát đại từ đại bi khiến cho nó khởi tử hồi sinh, thật là không thể nghĩ bàn.

Theo PGVNN

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

5 Phúc đáp

  1. Tịnh Minh

    NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT!
    Địa tạng vương Bồ tát bi nguyện thâm sâu không thể nghĩ lưỡng nổi, TM mới học Phật chưa hiều được Ngài, Đọc Kinh Địa Tạng mới thâm tín Ngài vô cùng; Bởi vì Ngài độ tất cả chúng sanh mà chẳng cần chúng sanh biết tới, chẳng cần chúng sanh cầu đến Ngài, chỉ cần người đó có chút việc thiện lành dù nhỏ như sợi tóc Ngài cũng âm thầm giúp người đó trưởng dưỡng căn lành dần dần thoát khỏi lục đạo luân hồi viên thành Phật quả;
    Thế mới biết Phật tử chúng ta tin Phật, niệm Phật đó cũng là nhờ sức gia trì rất lớn của Ngài. Ơn sâu của Địa Tạng vương Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn.
    NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT!

  2. Tô Hùng Cường

    Những lúc cuộc đời đi vào ngõ cụt,bất lực và vô vọng.Các bạn hãy thành tâm cầu khẩn tới Đại Nguyện Địa Tạng Vương.Sự mầu nhiệm xảy ra thật đúng là bất khả tư nghì.
    NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

  3. Tâm Từ

    Nhờ Tụng Kinh Địa Tạng Và Niệm Thánh Hiệu Ngài Đứa Trẻ Hết Bệnh Hiểm Nghèo

    Tôi là bác sĩ trực trong trại giam, ngày mồng 08/09, 7 giờ tối hôm đó trời bỗng nổi gió, những hạt mưa li ti bắt đầu rơi, công an dẫn đến một nữ phạm nhân, mang số 15, Trương Bích Vân, 26 tuổi, sau lưng cõng một đứa con nhỏ, da vàng như nghệ, lâu lâu co giật một lần, mỗi lần co giật như thế trông em rất đáng thương. Tôi không biết em bị bệnh gì, cho rằng bị kinh phong nên co giật, như thế nguy hiểm quá, tôi nhấc máy gọi điện cho trưởng khoa vệ sinh kể lại tình hình. Trưởng khoa nói:

    – Đứa bé này bị bại liệt, không có cách chữa trị, nếu không bị sốt thì không sao.
    – Thưa trưởng khoa! Đứa bé này rên la liên tục rất đáng thương, có thuốc gì cho uống hoặc chích giúp em hết co giật không?

    – Không có cách nào trị khỏi. – Trưởng khoa lạnh nhạt trả lời.
    Tôi quay sang hỏi cô Trương:

    – Nhà em ở đâu? Phạm tội gì? Nhà còn ai không?
    – Em ở làng Vụ Phong huyện Đài Trung, thấy cha già thương quá nên nấu ít rượu để ngâm thuốc cho cha uống, không ngờ bị người ta âm thầm hãm hại, tòa phạt em 3 tháng tù giam, con của em đã 3 tuổi, vừa chào đời có mấy ngày thì bị bệnh này, chạy chữa khắp nơi, tốn rất nhiều tiền nhưng vẫn không thấy khởi sắc, còn chồng em đi lính xa.
    – Có duyên với Phật, yên tâm đi. – Tôi mỉm cười an ủi.
    Tôi ghi tên tuổi của em bé vào giấy (Cao Tú Nguyệt 3 tuổi), rồi để lên bàn thờ Phật. Nửa đêm nghe tiếng em khóc, tôi liền rọi đèn đi thăm, tới nơi thấy cô Trương đang ôm con ngồi khóc, thấy vậy tất cả phạm nhân ở mấy phòng kế bên cũng đều ngồi dậy nhất tâm trì niệm thánh hiệu Phật.

    Tôi nghĩ em bé bị bại liệt không thể chữa trị bằng thuốc thông thường, nên dặn mọi người vừa niệm vừa hồi hướng cầu chư Phật, Bồ- tát cho em. Mấy ngày sau, ngày nào cũng như thế. Hai phạm nhân mang số 07 và 11 giam chung phòng với cô Trương (số 15), hai cô nói với tôi:

    – Sư phụ (cả trại giam đều gọi tôi bằng sư phụ)! Đứa bé này đáng thương quá đi, mỗi đêm co giật ba bốn lần, mỗi lần kéo dài hơn 3 phút, mọi người không thể ngủ, ngồi dậy niệm Phật cho em.
    Tôi nói với mọi người:

    – Các chị nghĩ xem một đứa bé ba tuổi, phạm tội gì mà vừa chào đời trúng phải chứng bệnh quái ác này? Đã không thể tự do đi lại, lại còn bị co giật, giống như thọ hình trong địa ngục, điều ấy chẳng phải cho chúng ta thấy đời trước em gây tạo nhiều nghiệp xấu ác đó sao? Nhân quả bày ra trước mắt, chớ nên vì tham chút phú quí mà tạo nghiệp, phải bị đọa vào địa ngục Vô gián không có ngày ra khỏi. Em là tấm gương để mọi người cảnh giác, hãy tin theo những gì Đức Phật dạy, tinh tấn niệm Phật cầu thoát li sinh tử!

    Bữa nọ, khoảng 9 giờ tối, em bé lại lên cơn đến nỗi khóc không ra tiếng, mắt trắng chạch đến mười mấy phút, giống như sắp tắt thở đến nơi, cô Trương mẹ em khóc quá chừng, tôi liền gọi trưởng khoa vệ sinh và người trực ca hôm đó, tất cả có ba người, xem xong nói:

    – Không còn thuốc chữa.
    Nói xong đi về, tôi ở lại niệm Phật. Tôi phá lệ dẫn cô ra khỏi phòng giam đến trước bàn thờ Phật cùng ngồi trì niệm thánh hiệu Bồ-tát Địa Tạng khoảng hơn 10 phút, thật kì diệu, đêm đó em bé ngủ rất ngon.

    Mỗi lần nghe tiếng em khóc, lòng tôi đau buốt, nghĩ bụng sẽ thay em cầu xin chư Phật, Bồ-tát, song không khỏi hoài nghi, sợ năng lượng niệm Phật của mình không đủ lực giúp em giảm bớt đau đớn, lại làm cho mọi người có phản ứng không tốt. Suy đi nghĩ lại mấy lần, cuối cùng không thể chịu được nữa, lấy hết dũng khí tôi quyết định chắp tay cung kính niệm lớn thánh hiệu “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát!”. Ba phút sau, em bé hết khóc. Tôi chắp tay phát nguyện tụng 3 bộ kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện, hồi hướng công đức, nguyện nghiệp chướng của em được tiêu trừ, mỗi lần tụng kinh là mỗi lần tôi rơi lệ.

    Lần nọ, đang rửa tay trong hồ nước thấy cô Trương giặt đồ, tôi hỏi:

    – Con của em có đỡ hơn tí nào không?
    – Đỡ nhiều rồi sư phụ ạ! – Cô mỉm cười trả lời. Tôi vẫn chưa tin, lại hỏi:
    – Sao biết cháu đỡ nhiều?
    – Không còn co giật nhiều như trước, cả ngày chỉ còn một hai lần. Buổi tối ngủ rất ngon, thời gian co giật cũng không còn dài. Trước kia mỗi đêm co giật đến ba bốn lần, còn ban ngày đến năm sáu lần; khi co giật phải giữ chặt đầu lại, toàn thân rung lên, ngay cả trời lạnh vẫn toát mồ hôi, hiện tượng thuyên giảm này suốt ba năm nay không thấy.

    Tôi nghe xong thấy cũng kì quá, chưa tụng hết kinh, không lẽ cảm ứng nhanh vậy sao. Vừa về đến nhà, không quan tâm cơm tối, tôi đốt hương đèn, kiền thành cung kính, cảm tạ oai thần lực không thể nghĩ bàn của Bồ-tát Địa Tạng, cứu thoát những chúng sinh trôi lăn trong biển khổ. Tôi thấy mình không có gì đáng giá để báo đáp, chỉ biết phát nguyện vào ngày thập trai đều tụng kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện.

    Để thể hiện lòng cung kính, tôi đứng luôn hơn 90 phút để tụng hết một quyển. Lúc tụng kinh lại nghe tiếng em bé khóc, tôi bảo cô Trương ẵm em đến trước bàn Phật, tôi chắp tay cung kính trì niệm thánh hiệu Bồ-tát Địa Tạng, đơn giản chỉ ngưỡng nguyện Bồ-tát từ bi gia hộ cho em. Không kìm nén được cảm xúc, tôi đã bật khóc, cô Trương mẹ em cũng khóc theo. Trong tiếng khóc tôi vẫn cầu “Bồ-tát Địa Tạng xin Ngài gia hộ cho đứa bé này lìa xa khổ cảnh”. Chưa đầy hai phút sau, em không còn khóc nữa.

    Từ đó, mỗi lần nghe em khóc, tôi liền khởi tâm sám hối, hận nỗi mình tu hành không ra gì, xấu hổ rơi lệ, mong mãi mãi không nghe tiếng khóc đau khổ phát ra từ em bé. Có lẽ do tác dụng tâm lí! Nhiều lúc em không khóc mà tôi cứ ngỡ em khóc, hoảng hốt chạy đến xem thử, thấy mẹ em đang đùa cười với em! Em bé càng ngày càng khỏe mập, hơn ai hết cô Trương vui quá. Tôi chỉ mới tụng xong 6 bộ, đã không còn nghe em khóc nữa. Vẫn chưa an tâm, mỗi lần đi làm, vừa bước tới cửa tôi đã hỏi lớn:

    – Con của cô Trương đã đỡ chưa?- Mọi người đồng thanh:
    – Công đức của sư phụ thật lớn! Đứa bé bệnh nặng như thế, ấy mà nhờ sư phụ tụng kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện, nay khỏe hơn trước rất nhiều; con bé xinh ra, có thể hoạt động được rồi, cô Trương vào đây thấy vui hơn lúc còn ở nhà, lúc nào cũng cười nói vui vẻ.
    Cô Trương đứng bên cạnh, cung kính thưa hỏi tôi:

    – Thưa sư phụ! Bồ-tát Địa Tạng vốn cai quản địa ngục, vậy sao Ngài có thể gia hộ cho chúng con nữa?
    – Thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng là: “Chúng sinh độ tận phương chứng Bồ-đề, địa ngục bất không thệ bất thành Phật”. (Độ hết chúng sinh mới chứng Bồ-đề, địa ngục chưa không thề không thành Phật.) Ngài không chỉ thường ở trong địa ngục, trang nghiêm nơi ấy, cứu độ chúng sinh đang thọ khổ, Ngài đồng thời cũng cứu hết thảy chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi. Phẩm Xưng Danh Hiệu Phật của kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện ghi:

    “Đức Phật nói với Bồ-tát Địa Tạng, nay thầy muốn khởi lòng từ bi cứu vớt hết thảy chúng sinh trong sáu đường mà diễn nói việc không thể nghĩ bàn này”. Qua đây thấy được, Bồ- tát Địa Tạng nhận lời phó chúc của đức Như Lai, cứu độ tất cả chúng sinh trong sáu đường, cùng vô hạn chúng sinh trong địa ngục. Chỉ cần mọi người thành tâm trì niệm thánh hiệu của Ngài, ắt sẽ không nơi nào Ngài không hiện thân cứu độ. Phẩm Chúc Lũy Nhân Thiên kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện, đức Như Lai dạy: “Này Địa Tạng! Tâm tính của chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề không định, phần nhiều đều quen theo thói xấu ác, thỉnh thoảng có người phát tâm lành, song không bao lâu liền thối thất, còn duyên xấu ác lại luôn luôn tăng trưởng. Cũng vì lẽ đó, cho nên Như Lai phải chia thân này ra thành trăm ngàn ức để hóa độ, thuận theo căn tính của họ, hầu giúp chúng được lợi ích…”

    Điều này chứng minh hoằng nguyện từ bi cứu độ chúng sinh của Bồ-tát Địa Tạng, Ngài có thần thông vô tận không thể nghĩ bàn, không thể nói hết.

    Nghe xong có lẽ mọi người bảo sao giống chuyện thần thoại! Nhưng tôi dám đem mạng sống mình ra khẳng định đây là sự thật, còn nếu không tin nữa, có thể đến hỏi những vị làm giám ngục chung với tôi. Lại có người hoài nghi: “Tin Phật, khi bị bệnh có cần mời bác sĩ hoặc đến bệnh viện không?”

    Tôi cũng có thể thành tâm nói cùng mọi người: “Người tin Phật công phu sâu, cũng chẳng cần mời bác sĩ hoặc đi bệnh viện đâu, bởi niềm tin sâu sẽ cảm ứng đạo giao, có cảm tất có ứng. Khổ hay vui đều do nghiệp báo chiêu cảm, cho nên nếu có khả năng một lòng với đạo, hóa độ chúng sinh cũng giống như chuyện y phục, bộ này rách thay bộ khác, rách bộ nào thay bộ đó. Tóm lại, chúng ta học Phật cần phải thành tâm khẩn thiết, thường xuyên sám hối, niệm Phật mới có thể cảm ứng với chư Phật, Bồ-tát. Nếu không có được cảm ứng, ấy là do mình chưa khẩn thiết sám hối, hoặc khởi lòng tham mong cầu, cũng có thể do đời trước mình gây tạo quá nhiều nghiệp xấu ác. Có thể kiền thành chí tâm đảnh lễ Bồ-tát, thì việc lớn chuyển thành việc nhỏ, việc nhỏ hóa thành không. Ai đã phát tâm quay về nương tựa Ba ngôi báu, điều trước nhất cần phải thể hội thấu triệt nhân quả ba đời, tranh thủ khi thân thể còn khỏe mạnh, tinh thần còn sáng suốt, hãy gấp rút tinh tấn niệm Phật; phải giống như chư Đại đức bế quan tu hành, tâm không rời Phật, Phật không lìa tâm, đồng thời phát nguyện vãng sinh về thế giới Tây phương Cực lạc, mới là nơi về an lạc vĩnh viễn.”

    ( Hành Ngọc- trích sách “Thánh Đức Và Sự Linh Ứng của Bồ – Tát Địa Tạng”)

  4. Thanh Duy

    Niệm Danh Hiệu Địa Tạng Bồ Tát Vết Thương Mau Lành

    Ngày 21 tháng Giêng năm Dân Quốc thứ 49, tuy là mùa đông, nhưng không có cảm giác lạnh. Tôi chỉ mặc chiếc áo len mỏng mà còn thấy nóng, song không dám cởi vì trong người đang có triệu chứng cảm cúm.

    Đến công sở chưa được bao lâu, tôi nhận được thư của một vị Đại đức ở Đài Bắc gửi đến, nhờ đến tòa soạn tạp chí Bồ-đề Thọ, thỉnh giùm cuốn sách Phật Học Vấn Đáp của Bính công (tiên sinh Lí Bỉnh Nam). Tôi vốn nhanh nhẩu việc nhờ này, phải làm ngay không được chậm trễ. Xin phép công ty cho ra ngoài một tiếng rưỡi, mang tấm thân mệt mỏi đến tạp chí, dưới ánh nắng đổ lửa, mồ hôi ướt đầm cả thân, tôi nghĩ bụng: “Mồ hôi ra nhiều thế này, rất có lợi cho bệnh cảm của mình”. Nóng mấy, tôi cũng không cởi áo len. Đến tòa soạn, tôi hỏi Đại đức Chu Bùi:

    – Bạch thầy! Ở đây có cuốn Phật Học Vấn Đáp của Bính công không ạ?
    – Xin lỗi thí chủ, ở đây không có cuốn đó! – Đại đức trả lời.
    Thất vọng ê chề, tôi quẹo sang Liên Xã. Vừa bước vào, gặp cư sĩ Lại Đống Lương lái xe đi ra, anh thắng xe lại nói:

    – May quá, anh đang định tìm em rủ làm công đức!
    Anh rút tờ báo Dân Thanh mới bảo nên xem trang thứ hai, tôi nói:
    – Anh hay thật đấy, vừa muốn tìm em, em liền đến, có chuyện gì anh cứ tự nhiên chỉ dạy!
    Lão Lại chưa đợi tôi nói, liền lật báo:
    – Anh thấy nguyệt san đăng tải sự tích linh cảm của việc em tụng kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện. Hiện tại có một vị đạo hữu là cư sĩ Kỉ Tam Toàn, gia cảnh hết sức túng quẫn. Cư sĩ đạp xe ba gác và làm công nhân điện lực, hết gặp hoạn nạn này đến hoạn nạn khác, tiếp đến thân phụ bất hạnh qua đời, cư sĩ chạy khắp nơi mượn tiền lo ma chay cho cha, hiện tại số nợ đó chưa biết phải lo liệu thế nào, chẳng phải khổ thêm khổ đó sao? Họa không chỉ đến một lần! Mới đây đang bắt điện trên cao, bất cẩn trượt chân ngã xuống bị thương nặng. Ây! Nghiệp chướng của cư sĩ quá nặng, xin em phát tâm tụng cho anh ta một thời kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện, hồi hướng công đức giúp anh ta tiêu trừ nghiệp chướng, được như vậy công đức của em thật vô lượng! Hôm qua anh đã nói chuyện này với Kỉ Tam Toàn rồi, anh ta vui và mong em lắm!

    Tôi nghe lão Lại từ bi nói như năn nỉ, thấy đây là việc nghĩa mình phải làm, người xa mà mình còn tụng kinh cho họ được, huống gì Kỉ cư sĩ là bạn đạo. Tôi đồng ý ngay không chút do dự, hứa ngày mai trì Bát Quan trai giới, sau đó tụng kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện hồi hướng công đức, ngưỡng nguyện Bồ-tát Địa Tạng gia hộ cho cư sĩ sớm ngày bình phục.

    9 giờ sáng ngày 22, tôi đến khoa ngoại của bệnh viện Trừng Thanh thăm Kỉ Tam Toàn. Đây là lần đầu tiên từ khi cất tiếng khóc chào đời tôi vào bệnh viện thăm người bệnh. Cảm giác đầu tiên như mình đang vào địa ngục.
    Có rất nhiều loại bệnh khác nhau, đặc biệt những người bị lở loét nước vàng xanh chảy ra hôi thối chịu không nổi. Không thể mất lịch sự bịt mũi, tình cảnh ấy không thể ở lại lâu, song mình không thể không cố nhẫn chịu.
    Tôi tìm đến phòng bệnh số 30, thấy có mấy bệnh nhân nằm, tôi lại không quen Kỉ cư sĩ; thấy vị lão thái thái đi ra, liền chạy đến hỏi, may bà ấy chính là mẫu thân của Kỉ cư sĩ. Bà chỉ giường Kỉ cư sĩ nằm. Thấy anh bất động trên giường, tôi liền niệm thầm thánh hiệu Bồ-tát Địa Tạng, vừa niệm vừa đi đến bên cạnh, nhẹ nhàng hỏi anh:

    – Em là bạn đạo của Lại cư sĩ, nghe Lại cư sĩ nói anh nằm viện, em đến thăm. Anh thấy trong người sao rồi, đỡ hơn tí nào không? Ngày thường anh có ăn chay không? (tôi nói chuyện với anh bằng tiếng Đài Loan).
    – Anh cảm ơn chị, anh vẫn còn rất mệt, chẳng giấu gì, mỗi tháng anh chỉ ăn được 2 ngày, đó là mồng một và rằm.

    Anh ta rất ốm, chỉ còn da bọc xương, lời nói cũng rất yếu; nhìn bộ dạng ấy, nếu chưa biết phương pháp giải thoát của Phật-đà, tôi đã bỏ chạy vì sợ rồi! Tôi ôn tồn:

    – Nếu anh có thể phát tâm ăn Thập trai (mỗi tháng ăn chay 10 ngày), thường xuyên trì niệm thánh hiệu Bồ- tát Địa Tạng, niệm thầm, niệm lớn tiếng hoặc niệm trong tâm cũng đều được. Điều cần nhất phải chí thành khẩn thiết. Chỉ có như thế, mới có khả năng cảm ứng với chư Phật, Bồ-tát. Kể từ hôm nay, em sẽ tụng kinh Địa Tạng Bồ- Tát Bổn Nguyện hồi hướng công đức cho anh, tụng đến khi nào anh khỏe hẳn mới thôi.
    Tôi khuyên với tất cả trái tim thương yêu, thành khẩn của mình, anh ta rất cảm động, liền phát tâm làm theo những gì tôi chỉ dạy. Anh bảo tôi viết 10 ngày trai để anh ấy ăn. Tôi nói với anh:

    – Ngày mai là ngày 24 tháng Chạp, anh bắt đầu ăn chay thập trai nha!
    Tôi quay sang thân mẫu của anh:
    – Ở nhà, bác có thờ cúng thánh tượng Bồ-tát Địa Tạng, sau này nên thường xuyên lễ bái, lúc nào cũng trì niệm thánh hiệu của Ngài, ngưỡng nguyện Bồ-tát đại từ đại bi, gia hộ cho Kỉ Tam Toàn nhanh chóng bình phục.
    Tôi nói tiếng Đài Loan không rành, tiếng được tiếng chăng, cũng may bà cụ nghe hiểu hết.
    “Cô biết không, cả nhà 8 miệng ăn, đều nhờ vào nó cả” – Bà cụ vừa nói vừa tháo vết thương ở bụng của Kỉ cư sĩ cho xem, tôi như bị điện giật, kinh hãi đứng bất động.
    Vết thương nặng đến nỗi lòi ruột ra ngoài, máu thịt lẫn lộn vào nhau, thịt quanh vết thương giống như bị bằm, lúc nào cũng rỉ máu. Vợ cư sĩ luôn túc trực bên cạnh, dùng giấy vệ sinh chặm máu.
    Tôi nghĩ: “Bị thương nặng như vầy, không biết có chữa bớt không?” Tôi cáo từ, lê từng bước chân nặng nề về công sở.

    Tối đó, lúc vừa bước lên bàn Phật tụng kinh hồi hướng cho Kỉ Tam Toàn, bỗng bụng đau như cắt, hiện tượng này xưa nay chưa từng có, nhưng tôi vẫn kiên trì ôm bụng tụng cho xong kinh, tụng vừa xong, bụng cũng hết đau. Có nhiều khi vì công việc bận rộn, phần bị chuyện nhà ràng buộc, thân thể mệt mỏi, tinh thần bất định; những lúc như vậy mà nghĩ đến Kỉ cư sĩ đang nằm trên giường bệnh, rên xiết kêu cứu, tinh thần liền phấn chấn, tôi kiền thành cung kính tụng kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện ngay.

    Trưa ngày 25, tôi đến bệnh viện Trừng Thanh. Tôi vội bước vào chào mẫu thân của Kỉ cư sĩ:

    – Thưa bác! Vết thương của Kỉ cư sĩ có khô tí nào không? Bà vui mừng khoe:
    Cảm ơn cháu, vết thương của Tam Toàn khô nhiều rồi.
    Bà vừa nói vừa giở vết thương của cư sĩ lên cho xem, thấy vết thương khô nhiều, tôi vui muốn nhảy lên vậy. Tôi vui mừng tán thán:

    Bồ-tát Địa Tạng thật linh nghiệm, quả thật hết sức linh nghiệm. Không ngờ vết thương nặng như thế, chỉ trong vòng mấy ngày đã khô đi nhiều, đồng thời máu tanh cũng không còn chảy ra, điều này thật vi diệu!
    Vâng, quả đúng như thế, nếu chỉ có thuốc men, chưa chắc bình phục nhanh như vậy. Mấy bệnh nhân nằm bên cạnh cũng không ngớt lời chúc mừng, cho là chuyện hi hữu mới thấy lần đầu. Kỉ cư sĩ hết sức cảm kích nói:

    – Mỗi ngày anh đều niệm hơn 300 lần thánh hiệu Bồ-tát Địa Tạng!

    -Tốt nhất lúc nào cũng phải trì niệm. – Tôi khuyên. Tôi đứng dậy cáo từ, vui mừng ra về.
    Mỗi chủ nhật, lão Lại và Đại đức Hác Ân Hồng đều đến nhà tù Đài Trung giảng pháp, mỗi lần gặp lão Lại, tôi đều hỏi Kỉ cư sĩ ra sao rồi? Lão Lại nói:

    – Đỡ nhiều rồi, có điều, bác sĩ nói phải chụp X- Quang, phải mổ hai lần để nối xương, song chưa chắc đã thành công 100%, trong khi Kỉ cư sĩ lại chẳng có tiền, thật thương tâm quá!
    Nghe lão Lại nói, tôi đoán biết khả năng hồi phục như bình thường của Kỉ cư sĩ rất ít, cảm thấy xấu hổ và đau bởi vấn đề kinh tế. Tâm tôi có thừa nhưng lực lại không đủ, trong đạo nghĩa làm người, bảo tôi sao không “buồn rầu đau khổ” cho được! Trở về nhà, không muốn làm gì cả, suy đi nghĩ lại…, có cách nào giúp Kỉ cư sĩ không cần phải phẫu thuật mà vẫn bớt không?
    Tôi khấn rằng:
    “Bồ-tát Địa Tạng, cảm tạ Ngài đã giúp Tam Toàn khỏi vết thương ngoài da, hiện tại phía bụng bên trái vẫn không thể cử động. Theo bác sĩ, Kỉ cư sĩ cần phải mổ hai lần, song không dám khẳng định sẽ khỏi hẳn. Kỉ cư sĩ quả thật rất đáng thương, đệ tử cầu Ngài tiếp tục hành từ bi, dùng oai thần lực không thể nghĩ bàn, giúp đỡ Kỉ cư sĩ khỏi phải bị mổ…”
    Mỗi ngày tôi đều cầu nguyện như vậy.

    Tối thứ tư, tôi đang nghe giảng kinh trong Từ Quang Đồ Họa Thư quán, nghe bạn bè nói lão Lại tìm. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra trong đầu, không biết bệnh tình của Kỉ cư sĩ như thế nào rồi. Tức tốc đi tìm lão Lại, không đợi anh ta mở miệng, tôi liền hỏi:

    – Kỉ cư sĩ xuất viện chưa? – thấy lão Lại mỉm cười, tôi rất an tâmột.
    – Kỉ cư sĩ xuất viện rồi! – Lão Lại cười đáp.
    – Mổ chưa? – Tôi hỏi.
    – Nói ra cũng hết sức khó hiểu, đang lưỡng lự có mổ hay không, bỗng gặp được lão tiên sinh chữa gãy xương đại tài. Lão tiên sinh chỉ cần nắn và thay thuốc mấy lần xương liền nối lại. Có phải chuyện này do chị cầu nguyện với Bồ-tát Địa Tạng không? Kỉ cư sĩ muốn đến cảm tạ chị đó.

    Tôi kể lại cho lão Lại nghe chuyện mình khẩn cầu với Bồ-tát. Anh tán thán:

    – Hèn chi, hèn chi!

    Tôi xin cáo biệt lão Lại ra về. Đã khuya, tôi vẫn cung kính đến trước thánh tượng Bồ-tát Địa Tạng đảnh lễ 48 lạy. Tôi rơi lệ, ân nặng của cha mẹ khó báo đáp, song ân đức vĩ đại của chư Phật, Bồ-tát cũng không hạn lượng, không thể đáp đền, duy chỉ nhất tâm niệm Phật, thề giữ hai chữ “trai giới”. Vì Tây phương Phật quốc, thành đạo Bồ-đề, con nhất tâm, quay về nương tựa đảnh lễ Tam tôn.

    Ngưỡng nguyện hết thảy chư hành giả cùng niệm: “Nam mô Đại Nguyện Đại Từ Đại Bi Thập Luân Bạt Khổ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ-tát! Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát!”

    (Trích sách “Thánh Đức Và Sự Linh Ứng của Bồ – Tát Địa Tạng”)

  5. Mở Rộng Tâm Lượng

    Địa Tạng Bồ Tát Cứu Người Đọa Địa Ngục

    Vào triều nhà Đường, có một ngôi chùa, hiệu là Khai Thiện Tự, ở núi Chung Sơn. Trong chùa ấy có một pho tượng Địa Tạng rất xưa nên không biết ai tạo đem cúng vào đó. Sau quan Đô đốc xứ Dương châu, tên là Đặng tông, bị lâm bệnh mà từ trần, nhưng nơi ngực của ông còn hơi nóng nên gia quyến trong nhà chưa khởi cuộc tẩm liệm.

    Qua ngày sau, quan Đô đốc vùng sống lại, chỉ khóc mà không nói một lời chi cả. Chừng một lúc trong mình thật khỏe lại như thường, ông bèn bảo con cháu dắt ông đi đến chùa Khai Thiện tự, rồi ông bạch hỏi một vị Tăng trưởng rằng:

    _ Ở trong chùa của thầy đây có thờ pho tượng Địa Tạng Bồ Tát nào cao chừng ba thước không? Tôi muốn xin vào đảnh lễ cúng dường.

    Vị Tăng trưởng bèn bảo người dắt quan Đô đốc đến chỗ thờ đức Địa Tạng, thì ông lễ lạy vừa xong, rồi bạch xin cho ông thỉnh tượng ấy trở về nhà để thờ. Vị Tăng trưởng hỏi duyên cớ, thì quan Đô đốc tỏ vẻ cung kính mà đáp lại rằng:

    _ Bạch thầy! Khi tôi chết thì thấy một vị quan Tứ phẩm dẫn tôi đến trước bệ rồng mà chầu lệnh Diêm Vương

    Ngài liền phán rằng: Ngươi chưa đến số chết, phải sớm trở về dương gian, nhưng những kẻ ở dương thế không khi nào thấy được các sự trừng phạt giữa chốn Âm ty này, nay ngươi có dịp đến đây, thì ta cho phép ngươi đi xem các địa ngục cho biết.”

    Diêm Vương truyền lệnh đòi một vị quan mặc áo rộng màu xanh đến, rồi bảo tôi đi theo ông quan ấy ra khỏi điện, thẳng qua phía Đông Bắc vừa được năm sáu dặm đường, gặp một cái thành mà vách bằng sắt. Bỗng nhiên tôi thấy trong thành ấy lửa cháy lên đỏ rực cả bốn phía, làm cho trăm ngàn tội nhân trong ấy chịu khổ một cách rất thảm thiết.

    Khi ấy, tôi thấy có một vị sa môn, tướng mạo đoan trang, ra vẻ một người từ bi khoan hậu, đi ngay vào trong ngục mà giáo hóa và an ủi các tội nhân, thì ngọn lửa kia đang cháy dữ lại dần dần tắt mất. Tôi xem rồi bèn rảo bước tới một cái thành khác cũng vách bằng sắt, trong thành có mười tám cái ngục, tội nhân ở trong đó cũng chịu nhiều hình phạt rất thống khổ, nhưng cũng có vị sa môn kia đến dạy dỗ và an ủi như tôi đã thấy nơi ngục trước vậy.

    Tôi đều có đi xem các cửa ngục cả, đến chừng tôi tính quay gót mà về, thì vị sa môn ấy bước tới hỏi tôi rằng:

    _ Ngươi biết ta chăng?

    Tôi đáp lại rằng:

    _ Bạch thầy! Tôi không được biết thầy.

    Vị sa môn ấy nói rằng:

    _ Ta đây là Địa Tạng Bồ Tát, hồi xưa Trí Pháp là đệ tử của Trí Tạng pháp sư, có tạo tượng của ta để thờ trong chùa Khai Thiện Tự. Ta đây thường cứu độ chúng sanh đương chịu khổ nơi chốn Tam đồ nên mỗi ngày ta đi khắp trong mười tám cái ngục lớn và vô số ngục nhỏ mà dạy bảo và an ủi những tội nhân bị hành phạt nơi các chốn ấy.

    Tôi quan sát thấy vị sa môn ấy toàn thân đều sáng rực, trang nghiêm, đẹp đẽ lạ thường, được một lát thì Ngài biến mất. Nay tôi đến chùa thấy được pho tượng đức Địa Tạng Bồ Tát quả thiệt y như tôi đã thấy vị sa môn kia vậy, nên tôi muốn thỉnh về nhà thờ phượng cúng dường.

    Vị Tăng trưởng nghe quan Đô đốc Đặng tông nói vừa dứt lời, thì ngài hoan hỉ tán thán và bảo ông lấy kiểu tượng đức Địa Tạng mà vẽ ra, hay là tạo cốt tự ý ông, chớ không cho ông ấy thỉnh tượng. Quan đô đốc nghe vị tăng trưởng nói như vậy bèn mướn một người thợ thiệt khéo, đến vẽ bức tượng đức Địa Tạng rồi đem về nhà để thờ phượng rất long trọng.

    Những mẩu chuyện linh ứng Địa Tạng Vương Bồ Tát

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *