Các Hiện Tượng Người Chết Không Siêu Thoát Phải Sanh Vào Ác Đạo

Các Hiện Tượng Người Chết Không Siêu Thoát Phải Sanh Vào Ác Đạo

1. Thân trung ấm

Sau khi tắt thở, thần thức (còn gọi là linh hồn) người chết, nếu chưa được giải thoát, phần nhiều trải qua giai đoạn tối tắm mờ mịt, đến ba ngày sau sau mới biết mình đã chết. Khi đó, người chết bắt đầu đi vào thân trung ấm, thấy được những kẻ thân thuộc của mình, nên đắn đo tự hỏi không biết ta đã chết chưa. Vì thế, hơn lúc nào hết, con cháu người thân nên luân phiên niệm Phật, để nhờ oai lực Phật dắt dìu người thân đã chết về cõi Tịnh độ.

Khi con người bỏ thân xác này, chuyển qua một thế giới mới, chính họ đang ngơ ngác không biết đi đường nào cho phải, thế nên phải nhờ vào phương pháp niệm Phật để cứu độ cho họ. Việc gia đình mời được những bậc thiện tri thức khai thị cho họ biết đường vãng sanh về cõi Phật là điều vô cùng trọng yếu. Lúc này người vừa chết chưa được giải thoát, nên quanh quẩn trong gia đình và người thân. Họ cũng kể lể khóc than, nhưng những người thân trong gia đình hoàn toàn không hiểu được. Rồi người chết buồn rầu giận dữ, khóc lóc, thấy người thân con cháu gọi đến tên mình rồi than khóc, thấy hình ảnh mình cùng các phẩm vật bày trên bàn thờ, họ tự nhủ “Ta đã chết rồi sao?”. Lúc ấy họ hết sức đau khổ, muốn đến nói với gia đình rằng “Tôi còn sống đây!”, nhưng không ai thấy nghe cả. Việc này khiến người chết giận dữ, bỏ đi, không nghĩ đến cảnh giới lành dữ thế nào. Đây là tình trạng những hương linh đang sống trong cảnh khổ bơ vơ không nơi nương tựa, sắp đi vào các đường ác. Lúc này thân trung ấm, hay linh hồn có yêu mến người thân gia đình bao nhiêu đi nữa, nhưng vì âm dương cách trở cũng không thể đến với nhau được. Vì thế, để tránh đi vào đường ác, thân trung ấm nên yên lòng niệm Phật A-di-đà hay bồ tát Quan Thế Âm, cầu xin các Ngài cứu độ. Đây cũng là lúc gia đình phải hết lòng niệm Phật để cứu độ người thân đang ở thân trung ấm bơ vơ.

Lúc đó có trận cuồng phong dữ dội thổi đến, nào đá lỡ sấm dậy, có những hạng người mặt mày hung dữ làm cho thân trung ấm khiếp sợ, thân này bèn chạy khắp nơi tìm nơi ẩn nấp như cầu cống, miếu, các lăng tháp… Khi đó thân trung ấm cực kỳ buồn khổ, sợ hãi, không có nơi nương tựa, rất muốn làm lại thân người nhưng không được, vì thi thể của mình trước kia bị gia đình người thân bỏ vào hòm, hay chôn xuống đất, hoặc đã hỏa táng rồi, không có thân xác nào nhập vào được. Đang lúc khiếp sợ đó, thân trung ấm thấy có những luồng ánh sáng yếu ớt của lục phàm hiện ra: ánh sáng cõi Người, Trời, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Các luồng ánh sáng đó chiếu đến, người chết cảm với luồng ánh sáng nào thì luồng ánh sáng đó sẽ sáng lên. Ánh sáng cõi Trời màu hơi trắng. Ánh sáng cõi Người màu hơi vàng. Ánh sáng cõi A tu la màu hơi lục. Ánh sáng địa ngục màu khói đen. Ánh sáng ngạ quỷ màu đỏ. Ánh sáng súc sanh màu hơi xanh. Ánh sáng hào quang của các cõi Phật thì sáng rực rỡ. Nhưng vì nghiệp lực nặng nề, người chết khi thấy các hào quang sáng chói của cõi Phật thì sợ hãi, chỉ ưa thích các ánh sáng yếu ớt dễ chịu trong lục đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Trời, Người, A-tu-la chiếu đến, nên tham đắm liền đầu thai vào lục đạo chịu khổ mãi trong vòng luân hồi. Vì thế, nếu đã biết được, ta cần phải tránh xa lục đạo ra. Khi thấy hào quang sáng chói mãnh liệt thì biết đó là hào quang của chư Phật, không nên sợ hãi, không khiếp nhược, lập tức niệm Phật A-di-đà, bồ tát Quán Thế Âm, đem toàn thân nương vào đó, tức khắc sẽ được sanh về cõi Phật an vui, xa lìa khổ não trong sáu đường khổ.

Có khi người chết vì nghiệp duyên quá nặng nên lang thang trong cõi âm, thấy nhiều cảnh tượng rất ghê sợ như: tối tăm, bão táp, sấm sét, sương mù v.v… thì khiếp sợ quá đỗi, phải tìm phương trốn tránh, bỏ cả thân mạng mà tuôn chạy. Khi ấy họ lại thấy ở trước mắt có núi đèo, hang hố, cây cối, bụi rừng. Vì muốn vội vàng tránh thoát, nên họ không kịp lựa chọn phải vào chỗ nào, chỉ cần biết phải nấp vào một nơi nào đó. Khi có chỗ nấp thì không muốn ra khỏi nữa, sợ rằng nếu ra khỏi sẽ bị khổ sở. Rốt cuộc họ không ngờ mình đã trở lại thọ thân hèn hạ và chịu thêm nhiều đau khổ!

Nay xin lược thuật nghiệp thức của kẻ chết, nếu sắp sanh vào đường A-tu-la, sẽ có các hiện tượng như sau: thấy những vườn cây khả ái và những vầng lửa lẫn lộn chuyển xoay. Nếu người chết thấy những cảnh tượng ấy mà sanh lòng vui vẻ đi đến đó, tức là đầu thai vào đạo A-tu-la.

Nếu nghiệp cảm của kẻ chết sắp sanh vào đường súc sinh, thì họ tự cảm thấy có núi non, hang hố, vực sâu hiện ra trước mắt, nếu muốn vào trong đó tức là đầu thai vào đường súc sinh.

Nghiệp cảm của kẻ chết nếu sắp sanh vào đường ngạ quỷ thì họ sẽ tự thấy có một bãi sa mạc không cây cối, hoặc có những hang hố, cỏ cây khô héo… Đó là cảnh tượng của ngạ quỷ, nếu sanh vào trong đó thì luôn luôn chịu đói khát và hết sức khổ sở.

Nếu nghiệp cảm của người chết sắp sanh vào địa ngục, thì họ cảm thấy trong thân mình như bị gió lạnh áp bức. Rồi họ lại tự thấy những ngọn lửa của địa ngục bốc lên, vì ưa sự ấm áp, nên vội đi vào trong đó. Nếu kẻ chết sanh vào địa ngục Đại hàn, thì trước hết cảm thấy trong thân mình như bị chạm phải luồng gió nóng, hay bị lửa đỏ nung đốt, cho nên khi hơi mát trong địa ngục đại hàn bốc lên, họ cảm thấy sảng khoái dễ chịu. Vì ưa mát mẻ nên vội vàng đi vào trong cảnh ấy, lập tức họ sẽ bị bó buộc không thể nào tránh thoát được nữa.

Hơn nữa, nếu lúc còn sống, trong khi gây nghiệp, thường có bạn bè hùa nhau giúp đỡ, thì khi lâm chung người chết sẽ thấy bạn bè đồng nghiệp với mình ngày trước hiện ra trước mắt. Khi đó vì xúc động, nhớ đến tình cảm ngày xưa, người chết vội vàng chạy đến với bạn. Nhưng khi đã đến rồi, thì cảnh ấy hoàn toàn thay đổi, người chết phải chịu mọi điều khổ sở.

Nếu biết được thế, khi thấy những cảnh tượng trên, ta phải giữ vững tâm chí, chớ nên vội vàng đi đến, cần phải nên chăm lòng cung kính niệm danh hiệu Phật A-di-đà, để cầu Ngài đến cứu độ cho mình là tốt nhất.

2. Chuyển sanh vào loài bàng sanh

Theo nghiệp cảm, người chết nếu sanh vào bàng sanh thì có thể thành một trong bốn loài: Thai, noãn, thấp, hóa.

2.1. Đọa vào loài thai sinh và noãn sinh

Nếu người nào lòng xan tham tật đố nặng nề, thì sẽ đầu thai làm các loài như: chó, mèo… (thai sinh). Còn ai lòng sân hận quá nặng, thì đọa làm loài rắn rết, bò cạp… (noãn sinh). Còn người nào lòng dâm dục nặng nề, thì đọa làm loài uyên ương, chim tước, chim cáp v.v… (vì những loài này dục tình lắm nặng nề). Người nào ưa chơi bời trụy lạc, thì đọa làm loài vượn, khỉ v.v… (thai sinh).

Tóm lại, cội gốc của tội lỗi là do ở ngu si mà ra.

Có khi người chết bỗng thấy những loài hữu tình đồng loại vừa ý, nên vội vàng chạy đến. Tuy các loài này cũng nương theo nhân duyên hòa hợp của cha mẹ mà đầu thai, nhưng những điều kiện trói buộc của thế giới này đơn giản hơn so với đường vào cõi Người, cho nên rất dễ bị đọa vào.

2.2. Đọa vào loài thấp sinh

Loài thấp sinh là loài nương vào chỗ ẩm thấp mà sinh sống. Người chết có khi vì ngửi được mùi vị của chỗ mình sắp đến thọ sanh, sanh lòng ưa đắm, liền đến đó nương vào. Chỗ thấp sinh là những nơi ẩm thấp, bùn lầy nhơ nhớp, người chết lấy đó làm tự thể, chứ nơi đó không có tinh huyết của cha mẹ hòa hợp. Khi đi đến nương vào chỗ ẩm thấp để thác sanh, người chết bạ vào vật gì mục nát, hoặc là phân bón v.v… tùy theo nghiệp lực của mình mà đến gần gũi ưa đắm thác sanh.

2.3. Đọa vào loài hóa sinh

Hóa sinh là những loài rồng, loài chim kim sí. Cũng là gốc ở trong bốn loài: thai, noãn, thấp, hóa mà ra, nhưng nó là loài hóa sinh đặc biệt, được hưởng thọ sự sung sướng như các cõi Trời. Tuy nhiên, những loài này thuộc về súc sanh, một trong ba ác đạo, chúng vẫn không thoát khỏi sanh tử luân hồi và phải chịu nhiều khổ não khác.

Tỳ kheo Thích Nhuận Nghi

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

679 Phúc đáp

  1. Võ thị hiếu

    Thầy ơi, chồng con mất được 26 ngày, mất do bệnh, tại Bệnh viện. Lúc mất 43 tuổi, trước khi mất rất đau, trong 10 ngày nằm viện không ăn, không ngủ được. Trước khi mất 1 buổi tự nhiên thấy tinh thần vui vẻ và ăn được 3 muỗng cơm nhỏ. Còn dạy con gái đàn,hát. Đến tối chịu không được rồi đi. Từ khi mất người nhà không thấy nhưng bạn của chồng con thấy ảnh về kêu đói bụng. Giờ con phải làm sao đây.

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn Võ Thị Hiếu,

      Bạn hoan hỉ tham khảo Nghi thức bên dưới nhé:

      ………………………………………………….

      NGHI THỨC CÚNG VONG THEO TỊNH ĐỘ

      Khái lược: Có rất nhiều nghi thức cúng vong theo Phật giáo, tuy nhiên vì nhân duyên, điều kiện cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình đều khác biệt, vì thế TN mạo muội soạn một Nghi Thức ngắn để chúng ta có thể tuỳ duyên, chọn phương pháp cúng vong (người mới mất, hoặc mất đã lâu) đơn giản nhất để hành trì, nhằm giúp cho người còn kẻ mất đều lợi lạc.

      1- Thông thường trước khi cúng vong, người thân (nếu có bàn thờ Phật) thì nên dâng cúng Phật một bát cơm nhỏ, một ly nước trắng, hoa, trái cây, kế đó giữ tâm thật thanh tịnh, tụng một thời Kinh A Di Đà hoặc một quyển KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN rồi hồi hướng cho người vừa mất hoặc người quá cố. Nghi thức này giúp cho người thân mới qua đời hoặc quá cố hiểu được ý nghĩa của việc tu học, nghe được giáo lý Phật dạy, biết được cảnh giới Tịnh độ, hiểu được nhân quả, từ đó mà hiểu được cuộc đời vốn dĩ vô thường, sống trong sanh lão bệnh tử…là khổ nạn. Nhờ niệm giác này mà vong linh người thân phát tâm hồi đầu, buông xuống vạn duyên (quyến luyến tiền tài, địa vị danh vọng, thân quyến…), từ đó phát tâm tu học, niệm Phật rồi phát nguyện sanh về cõi an lạc). Do vậy Nghi Thức Khai Kinh tại bàn thờ Phật rất quan trọng, bởi nó giống như người dẫn đường, giúp cho vong linh tỉnh thức thân tâm mà hồi đầu, đi theo con đường chánh đạo để tự giải thoát chính mình.
      Trường hợp không có bàn thờ Phật, hoặc không có nhiều thời gian, có thể thực hành luôn bước thứ hai:

      2- Bước kế tiếp là sang bàn thờ người thân (có thể là bàn thờ tổ tiên hay mới lập riêng cho người mới mất) thì chỉ cần sắp đồ chay tịnh. Quan trọng: không có ngũ vị tân, cùng hoa, trái cây. Tuyệt đối không được dâng cúng đồ mặn hay rượu, bia vì sẽ khiến cho thân quyến mới qua đời phải chịu thêm nghiệp quả sát sanh.

      Ghi chú: Nếu gia đình không có bàn thờ Phật có thể thực hành nghi thức Tụng Kinh A Di Đà hay KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN tại bàn thờ tổ tiên hoặc bàn thờ vong cũng được.

      NGHI THỨC CÚNG VONG:

      Tán Hương:
      (Chủ lễ quỳ trước bàn thờ Phật, hay Tổ tiên, hay bàn thờ vong, tay cầm 3 nén hương cúng dường, sám hối, phát nguyện)

      Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)
      Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)
      Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

      Nguyện mây hương mầu này
      Khắp cùng mười phương cõi
      Cúng dường tất cả Phật
      Tôn Pháp, các Bồ Tát,
      Vô biên chúng Thanh Văn
      Và cả thảy Thánh hiền
      Duyên khởi đài sáng chói
      Trùm đến vô biên cõi,
      Khắp xông các chúng sanh
      Ðều phát lòng bồ đề,
      Xa lìa những nghiệp vọng
      Trọn nên đạo vô thượng.
      Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát.(3 lần)
      (Lạy 1 lạy rồi cắm hương lên lư hương hay bát hương)

      (Chủ lễ cùng thân quyến đứng lên, chắp tay, thanh tịnh đồng tụng):

      TÁN THÁN PHẬT

      Sắc thân Như Lai đẹp
      Trong đời không ai bằng
      Không sánh, chẳng nghĩ bàn
      Nên nay con đảnh lễ.

      Sắc thân Phật vô tận
      Trí huệ Phật cũng thế,
      Tất cả pháp thường trú
      Cho nên con về nương.

      Sức trí lớn nguyện lớn
      Khắp độ chúng quần sanh,
      Khiến bỏ thân nóng khổ
      Sanh kia nước mát vui.

      Con nay sạch ba nghiệp
      Quy y và lễ tán
      Nguyện cùng các chúng sanh
      Ðồng sanh nước An Lạc.

      Án phạ nhựt ra vật (7 lần)

      ĐẢNH LỄ:

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Thường tịch quang tịnh độ A Di Ðà Như Lai Pháp thân mầu thanh tịnh Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Thật báo trang nghiêm độ A Di Ðà Như Lai Thân tướng hải vi trần Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Phương tiện thánh cư độ A Di Ðà Như Lai Thân trang nghiêm giải thoát Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây A Di Ðà Như Lai Thân căn giới đại thừa Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây A Di Ðà Như Lai Thân hóa đến mười phương Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây Giáo hạnh lý ba kinh Tột nói bày y chánh Khắp pháp giới Tôn Pháp (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây Quan Thế Âm Bồ Tát Thân tử kim muôn ức Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây Ðại Thế Chí Bồ Tát Thân trí sáng vô biên Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)

      Chí Tâm Ðảnh Lễ: Cõi An Lạc phương tây Thanh tịnh đại hải chúng Thân hai nghiêm: Phước, trí Khắp pháp giới Thánh chúng (1 lạy)

      SÁM HỐI:

      (phần này rất quan trọng vì người sống có giác ngộ, có thành tâm phát lồ sám hối tội chướng của mình thì mới cảm động được người vừa mất hoặc đã quá vãng. Do vậy khi sám hối phải thực thành tâm thì mới có hiệu quả).

      Hương linh (tên, tuổi, pháp danh của người mất) xin hãy lắng nghe rồi cùng phát lồ sám hối theo tôi!

      Ðệ tử (tên, họ, pháp danh) và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết. Mười phương các Ðức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chếu soi tất cả. Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.

      Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy chẳng nghe chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6), trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. Kinh rằng: “Ðức Tỳ Lô Giá Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường tịch quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật Pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô minh, vì thế trong trí bồ đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các Ðức Phật và A Di Ðà Thế Tôn mà phát lồ (7) sám hối, làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc bảo người, hay là thấy nghe người gây tạo mà mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.

      Ðệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh độ, khắp với chúng sanh, đồng sanh về nước An Dưỡng.

      Nguyện đức A Di Ðà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhơn duyên Tịnh độ, đến giờ lâm chung, thân an lành niệm chánh vững vàng, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A Di Ðà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.

      Ðệ tử sám hối phát nguyện rồi quy mạng đảnh lễ:
      Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Ðà Như Lai, biến pháp giới Tam bảo. (3 lạy)

      (Ngồi xuống, để tụng Bát Nhã Tâm Kinh và Vãng Sanh Thần Chú)

      MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TÂM-KINH

      Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
      Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
      Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
      Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
      Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
      Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
      Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3lần)

      VÃNG-SANH QUYẾT-ÐỊNH CHƠN-NGÔN:
      Nam-mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.
      A di rị đô bà tỳ,
      A di rị đa tất đam bà tỳ,
      A di rị đa tì ca lan đế,
      A di rị đa, tì ca lan đa,
      Dà di nị dà dà na,
      Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)
      Sông ái chẳng bến bờ
      Biển khổ muôn trùng sóng
      Muốn thoát luân hồi khổ
      Hãy mau niệm Di-Đà.
      Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, A-Di-Ðà Phật.
      Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần là tối thiểu. Nếu đủ duyên nên niệm cùng gia quyến từ 20-30 phút)
      Nam-mô Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần)
      Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)
      Nam-mô Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)
      Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)

      PHÁT NGUYỆN: (chủ lễ và đại chúng cùng quỳ)

      Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di-đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con chưa biết Phật thân, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán-Âm Thế-Chí, các chúng Bồ-tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.
      Con nguyện lâm chung không chướng ngại.
      A-di-đà đến rước từ xa.
      Quán-Âm cam lồ rưới nơi đầu.
      Thế Chí kim đài trao đỡ gót.
      Trong một sát na lìa ngũ trược.
      Khoảng tay co duỗi đến Liên Trì.
      Khi hoa sen nở thấy Từ Tôn
      Nghe tiếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
      Nghe xong liền ngộ Vô Sanh Nhẫn.
      Không rời An Dưỡng lại Ta-bà.
      Khéo đem phương tiện lợi quần sanh
      Hay lấy trần lao làm Phật sự.
      Con nguyện như thế Phật chứng tri
      Kết cuộc về sau được thành tựu.

      SÁM THẬP PHƯƠNG (chủ lễ cùng đại chúng ngồi tụng)

      Thập-phương Tam-thế Phật,
      A-Di-Ðà đệ nhất,
      Chí-phẩm độ chúng-sanh,
      Oai-đức vô cùng cực.
      Con nay vì hương-linh,
      Sám-hối tam-nghiệp tội.
      Phàm được bao phước-thiện.
      Chí tâm nguyện hồi-hướng,
      Nguyện cùng người niệm Phật
      Vãng sanh nước Cực Lạc +
      Thấy Phật ngộ pháp-tánh,
      Phát tâm đại Bồ-đề,
      Đoạn vô biên phiền-não,
      Tu vô-lượng pháp-môn,
      Thệ nguyện độ chúng-sanh,
      Đồng trọn thành Phật-đạo.
      (Rót trà, dâng cơm cúng vong linh)

      BIẾN THỰC CHƠN-NGÔN: (Nhờ sự gia trì câu chú của Phật, thức ăn sẽ được biến thành hương thực giúp cho người mất có thể hưởng dụng, vì thế khi trì những chú này phải ráng giữ tâm thật thanh tịnh thì người thân mới có cơ hội hưởng dụng)

      Nẳn mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 lần)

      CAM-LỒ THỦY CHƠN-NGÔN: (Nhờ sự gia trì câu chú của Phật, đồ uống
      sẽ được biến thành hương thực giúp cho người mất có thể hưởng dụng)

      Nẳn mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần)

      PHỔ CÚNG-DƯỜNG CHƠN-NGÔN:
      Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần) (biến đồ ăn, thức uống thành hương thực, cúng dường hư không giới chúng sanh)

      Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
      Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ-mẫu,
      Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
      Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
      Nguyện dĩ thử công-đức,
      Phổ cập ư nhứt thiết,
      Ngã đẳng dữ chúng sanh,
      Giai cộng thành Phật-đạo.

      PHỤC NGUYỆN (chủ lễ và đại chúng cùng quỳ)

      Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
      Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

      Đệ tử chúng con hôm nay cung đối Phật tiền phát tâm trì tụng kinh chú, xưng tán hồng danh, tu hành công đức, nguyện đem công đức này:

      Hồi hướng về Tây Phương, trang nghiêm Tịnh độ. Hồi hướng cho thập phương pháp giới hữu tình, trên đền bốn ân, dưới cứu tam đồ, cầu cho thế giới hòa bình, tất cả chúng sinh đều được độ thoát.

      Hồi hướng cho lịch đại kiếp số oán thân trái chủ, tất cả những chúng sinh đã bị con não loạn vì bất cứ lý do gì. Hồi hướng cho tất cả sinh linh đã bị con giết hại hoặc để ăn thịt, hoặc để vui chơi, hoặc vô tình, hoặc cố ý… hưởng được phần lợi lạc. Xin xóa bỏ hận thù, hộ pháp cho nhau, đồng nguyện vãng sinh, đồng sinh Cực Lạc.

      Hồi hướng cho ông bà, cha mẹ, bà con thân thuộc trong vô lượng kiếp, dù đang ở trong bất cứ cảnh giới nào đều được cảm ứng, phát lòng niệm Phật và đều được siêu sinh về Tịnh Độ

      Hồi hướng cho cha mẹ hiện tiền đời này được vãng sinh Tịnh độ.

      Hồi hướng cho tất cả chồng (vợ) con, anh chị em, thân thuộc còn đang hiện tiền, mọi người đều phát khởi Tín – Hạnh – Nguyện cầu sinh Tịnh độ, và đều được thành tựu.

      Hồi hướng cho tất cả chúng sinh có duyên hay không có duyên với con, sau cùng đều được vãng sinh Cực Lạc Quốc.

      Hồi ngày chúng con lâm chung được Phật thọ ký, biết trước ngày giờ, thân không tật bệnh, tâm không hôn mê, nguyện A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí cùng chư Bồ Tát chúng, tướng hảo quang minh, hiện tiền tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc. Con nguyện hoa nở thấy Phật ngộ Vô sinh, nguyện tu chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, nguyện độ vô biên chúng sinh trong mười phương pháp giới đều vãng sinh Tây phương, viên thành Phật đạo.
      Nam mô A Di Đà Phật.
      Nam Mô Siêu Lạc Ðộ Bồ Tát. (3 lần)

      TAM TỰ QUY-Y
      Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)
      Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)
      Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

      HẾT

  2. Lê thị anh thi

    A di Đà phật dạ thưa thầy ba con khi mất còn ấm ở cổ và ở bẹn thì sẽ đựợc sanh về đâu nếu như sanh về a tu la thì không sao còn nếu như sanh về ba đường kia thì chúng con phải làm sao để ba con được giảm bớt khổ sở và được giải thoát hả thầy . Mong thầy hoan hỉ bày giúp con a di Đà phật

  3. Chu Vy

    Thưa thầy nhà con chuyển nhà đã 1 năm và chỗ ở của nhà con có vong ở đây nhưng không chịu đi và công việc làm ăn của nhà con ảnh hưởng rất nhiều nên cúng làm sao ạ ?

Gửi hồi âm đến Huỳnh My Bấm để hủy hồi âm.

Your email address will not be published. Required fields are marked *