Văn-Tư-Tu & Tín-Giải-Hành-Chứng

Văn-Tư-Tu & Tín-Giải-Hành-Chứng

Văn Tư Tu còn gọi là Tam Học

– Văn Học: Văn là học hỏi. Đọc tụng kinh điển, nghe giáo lý và pháp đàm là thực tập văn học. Học Phật nên có tinh thần cởi mở, muốn hiểu thấu và chịu thực hành. Nếu nghe pháp chỉ để đem đàm luận, phê phán, chỉ trích, hay chất chứa kiến thức để khoe khoang, để tranh cãi đúng sai, thì đó không phải là văn học.

– Tư Học: Tư là suy gẫm, tư duy, quán chiếu những điều mình nghe. Ngay những điều Phật dạy cũng phải suy nghĩ và thẩm xét cho kỹ rồi đem ra ứng dụng cho đúng. Vì Phật không dạy chúng ta tu mù quáng, vô điều kiện, chỉ nhắm mắt nghe lời Phật dạy. Cách tốt nhất trong lúc đọc, tụng kinh hay nghe pháp Phật; không nên tư duy, chỉ định tâm đọc tụng và lắng nghe. Khi đã đọc và nghe xong rồi hãy quán chiếu, suy nghĩ.

Tư duy là đem văn học, kinh nghiệm và trí tuệ hiểu biết của mình về vũ trụ nhân sanh; mà xét nghiệm, thẩm thấu lại những điều mình đã học và nghe có giúp ích hay thỏa mãn được những thắc mắc và đau khổ của mình không.

– Tu Học: Tu học là thực tập. Nếu không đem cái học & tư duy ra thực tập thì việc nghe và tư duy chẳng có ích lợi gì. Trong quá trình văn, tư, tu về đạo Phật thì nên hiểu rằng Phật thị hiện ở thế gian này là để cứu khổ. Nói cách khác là những sự khổ đau của thế gian này chính là chất xúc tác để đạo Phật ra đời. Trong quá trình văn, tư và tu chúng ta thấy Khổ và Tập ở trong đạo. Tập là những nguyên nhân sanh ra Khổ, chuyển hóa được Tập thì Khổ sẽ chấm dứt. Nếu chúng ta hiểu rõ được bản chất của đạo Phật, đem văn tư & tu học được áp dụng trong cuộc sống hằng ngày đối nhân xử thế, thì có thể chuyển hóa được Tập.

Chuyển hóa Tập có nghĩa là “ngừng lại” không khởi tâm động niệm nữa, thì Khổ tự nhiên bị tiêu diệt. Vì sao? Vì nhờ thực hành văn, tư và tu mà Thân Khẩu và Ý của chúng ta được chuyển hóa thay đổi theo hướng thiện lành, cho đến khi hoàn toàn thanh tịnh – không còn nhiễm ô, không còn vọng tưởng phân biệt, chấp trước. Khi ấy kiến tư phiền não (sanh ra bởi tâm chấp trước) và trần sa phiền não (sanh ra bởi tâm phân biệt) sẽ đoạn diệt. Và khi Khổ (phiền não) được diệt có nghĩa chúng ta sẽ thẳng tiến đến cứu cánh Niết Bàn.

Tín-Giải-Hành-Chứng

Trong tất cả các pháp môn của Phật đều nói đến Tín-Giải-Hành-Chứng. Phật dùng pháp hữu vi làm phương tiện giúp chúng sanh phát khởi Tín tâm (Tín) và có kiến thức (Giải) để hiểu biết về pháp môn mà mình tu.

Một khi Tín-Giải đã vững vàng rồi, thì phải Hành. Hành trong Phật giáo tức là ‘Buông Xả’: buông xả tất cả các pháp, buông xả tự tư tự lợi, vọng tưởng phải quấy, nhân ngã, thị phi v.v…, ngay đến Phật pháp cũng phải buông bỏ xuống, thì Tự tánh thanh tịnh viên minh thể mới hiện tiền. Khi đó ta gọi là chứng đắc, tức là ‘minh tâm kiến tánh’. Minh tâm kiến tánh cũng không có nghĩa là thành Phật, vì mức độ của minh tâm kiến tánh vẫn có sự khác nhau:

• Thanh Văn chưa phá được hết chấp trước vi tế, nên chỉ chứng được Nhất thiết trí.
• Bồ-tát chưa phá được hết phân biệt vi tế, nên chỉ chứng được Đạo chủng trí.
• Phật rốt ráo phá được hết vọng tưởng phân biệt chấp trước, nên đắc được Nhất thiết chủng trí.

Trong kinh Kim Cang, Phật dạy chúng ta phải xả bỏ bốn tướng: nhân, ngã, chúng sanh và thọ giả để thể nhập Như Lai tánh.

Vì sao phải xả bỏ bốn tướng?

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”: Tất cả vật chất, tinh thần, hiện tượng của vật chật và tinh thần đều có sanh diệt, đều là pháp hữu vi. Phật dùng pháp hữu vi làm phương tiện giúp chúng ta nhìn thấy hết mọi chướng ngại của mình, để có thể quán nhập vào pháp vô vi vô tướng.

Pháp vô vi vô tướng là pháp không thể dùng ngôn từ để diễn đạt được; pháp nầy chỉ có một, đó là Chân Như Vô Vi, tức Tự tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể (chân như bổn tánh). Pháp nầy chỉ tìm được trong tự tánh, không thể tìm thấy trong sách vở hay kinh sách. Do đó nhà Thiền mới gọi chân thật kinh là “Vô tự Chân kinh”.

Tất cả pháp môn của Phật đều phải quy về ‘Thiền Định’ mà giác ngộ. Thiền định không phải chỉ nói riêng cho pháp Thiền tông; vì niệm Phật, trì chú cũng là Thiền Định. Thiền nghĩa là Quán, Định nghĩa là Chỉ. Thiền Định có nghĩa là Chỉ Quán. Thiền Định hay Chỉ Quán đều là phương pháp để an trụ tâm để phát sanh trí tuệ, vì Tâm định và thanh tịnh thì trí tuệ phát sanh. Có định và tuệ thì vạn pháp tự nhiên sẽ được thông rõ một cách sáng suốt. Sự thông rõ nầy không thể do tri thức học từ kinh sách mà có được. Ngược lại, nếu chỉ chấp cứng ngắc vào kinh sách văn tự sẽ bị chướng ngại cho việc tu định và tuệ (huệ); vì vậy nhà Thiền thường nói “Tâm là kinh, kinh là tâm” là vậy!

Diệu Âm Trí Thành (Canada)

CHIA SẺ BÀI VIẾT:

31 Phúc đáp

  1. Không Tâm

    Kính thưa chư vị,

    KT này cũng chẳng mấy khi online hay đi đây đó nhiều, nhưng riêng với trang DVCT thì thường ghé thăm, xem như là một nơi học tập Phật pháp, đặc biệt là những bài giảng rất hay và sâu sắc về Tịnh Độ, về Nhân Quả Báo Ứng cho đến các bài khuyên người niệm Phật. Nhưng với bài viết này,xem chừng DVCT đã khiến cho bản thân KT này có một chút thất vọng vì vài lý do sau:

    – Không đi đúng tông chỉ của DVCT là “…Các tài liệu hầu hết được chúng tôi thu thập từ các chư cổ đức đã đi trước và các vị tổ sư Tịnh Độ qua các bài viết và lời giảng từ xưa đến nay…” – Bài này đọc từ đầu đến cuối chưa thấy nói rõ ràng là khuyên người niệm Phật hay tăng trưởng TÍN NGUYỆN HẠNH ngay trong pháp môn Niệm Phật? Lại có vẻ có hơi hướng của Thiền & thiên về giáo lý chung chung khiến kẻ sơ cơ như KT này không khỏi khó hiểu, không khỏi hoang mang…

    – “…Tất cả pháp môn của Phật đều phải quy về ‘Thiền Định’ mà giác ngộ. Thiền định không phải chỉ nói riêng cho pháp Thiền tông; vì niệm Phật, trì chú cũng là Thiền Định. Thiền nghĩa là Quán, Định nghĩa là Chỉ. Thiền Định có nghĩa là Chỉ Quán. Thiền Định hay Chỉ Quán đều là phương pháp để an trụ tâm để phát sanh trí tuệ…” Vậy là rốt cuộc bài viết này muốn ca ngợi Thiền hay Tịnh Độ? Đành rằng cả hai đều chẳng khác biệt nhưng con đường tu của một hành giả Tịnh Độ phải lấy Tín Nguyện vững chắc, cầu sanh Cực Lạc làm mục tiêu. Phàm phu như KT niệm Phật rất cần những bài viết để giúp cho bản thân phàm phu này tăng trưởng được Tín Tâm, Nguyện Tâm, Niệm Phật được chuyên nhất hơn, cho đến giúp cho người niệm Phật ngày một tin sâu Nhân Quả hơn…Nhưng khi đọc bài này thì chẳng cảm được những điều ấy.

    – Cho đến việc trình bày Văn Tư Tu cũng là dư thừa và không lợi ích gì cho người học Phật sơ cơ và cho hành giả niệm Phật vốn dĩ là đối tượng chính của trang web này. Văn Tư Tu diễn giải như vậy có hợp lý, có đúng như pháp chưa?
    Chúng ta hãy xem HT. Tịnh Không giảng về “Văn Tư Tu” trong Kinh Vô Lượng Thọ lần thứ 10 – tập 133:
    “…Niệm Phật là có giới, có định, đây là nói rõ “văn”. Văn là văn của trong tam huệ, không phải chúng ta ở đây tùy tiện nghe qua thì gọi là văn, vậy thì bạn đã hiểu sai đi ý của chữ này rồi. Vừa nghe thì tường tận, thì giác ngộ, cái tường tận giác ngộ này thì dùng chữ “tư” này để làm đại biểu. Cho nên bạn phải biết, “văn-tư-tu” tam huệ, ba chữ này là một, một mà ba, không thể phân ra, không có trước sau. Đây mới gọi là trí tuệ của Bồ Tát. Nếu bạn đem nó phân thành ba cái, văn là văn, tư là tư, tu là tu, vậy thì sai rồi, hoàn toàn sai lầm. Văn là đại biểu tiếp xúc, mắt thấy, tai nghe, thân xúc chạm, sáu căn tiếp xúc với sáu trần bên ngoài, dùng một chữ “văn” để làm đại biểu. Khi vừa tiếp xúc, bạn liền thông đạt, liền tường tận; thông đạt tường tận là dùng chữ “tư” để làm đại biểu. Khi vừa thông đạt thì không mê, không mê chính là “tu”. Cho nên “văn-tư-tu” là một sự việc, một lần hoàn thành, không có trước sau thứ tự, đây gọi là Tam huệ. Chúng ta không làm được, A La Hán cũng không làm được, Bích Chi Phật cũng không làm được. Nếu như đem ba chữ “văn-tư-tu” này phân ra thì chúng ta đều có thể làm được. Cho nên nhất định phải hiểu được tam huệ “văn huệ, tư huệ, tu huệ”, cái huệ đó là huệ của “Giới-Định-Huệ”. Trí tuệ của bạn không khai mở thì nhất định bạn không có “văn-tư-tu”, không có tam huệ…”

    Xem rồi đối chiếu với cách diễn giải của Tác Giả Diệu Âm Trí Thành về Văn Tư Tu thì quả thật KT này cảm thấy rất hoang mang xen lẫn với thất vọng! Văn Tư Tu ko dành cho phàm phu đời nay, cũng không phải dành cho A La Hán hay Bích Chi Phật, vậy tại sao lại mang cái pháp cao tột này diễn giải cho phàm phu sơ học là người niệm Phật nghiệp chướng sâu nặng như chúng tôi nghe? Khiến cho cái tâm phàm phu này ko khỏi hoang mang, cho đến ngộ nhận đây là pháp dành cho phàm phu sơ học?

    Không chỉ HT. Tịnh Không nói vậy, mà lão phàm phu KT này đọc qua chú giải Kinh Vô Lượng Thọ của CS. Hoàng Niệm Tổ cũng là không có thấy Ngài giải thích qua về Văn Tư Tu, đủ thấy rõ 3 chữ này không phải chỗ tu học của phàm phu niệm Phật như đại đa số chúng ta…

    Còn nếu thật sự có vị Bồ Tát Pháp Thân Đại Sĩ nào muốn học “Văn Tư Tu” ở thế gian này thì họ đã đến HongKong thọ giáo với HT. Tịnh Không mỗi ngày rồi chứ chẳng cần phải lên web DVCT để học từ quý vị. Quý vị nghĩ quý vị có khả năng dạy và chia sẻ Văn Tư Tu cho Pháp Thân Đại Sĩ chăng?

    Kính xin chư vị quản lý trang web DVCT hãy cân nhắc lại con đường mình đang phục vụ chúng sanh là đối tượng gì? Phải nên đưa cho họ pháp gì để lợi ích cho họ nhất? Được như vậy thì phàm phu KT này cùng các liên hữu được thêm chút phần an ủi lắm lắm vậy…

    Nếu KT phàm phu này có lời gì thiếu sót, kính mong chư vị chỉ giáo thêm.

    Xin chân thành cảm ơn quý vị.

    KT kính bút.

    • Diệu Âm Trí Thành

      A Di Đà Phật

      DATT vừa đưa con gái lên thành phố Montreal, Canada để nhập học. Hôm nay mới trở về nhà. DATT cũng rất vui mừng khi thấy có vài đồng tu đã góp ý kiến, bàn luận, thắc mắc, cũng như khởi ý nghi ngờ… về bài viết “Văn-Tư-Tu & Tín-Giải-Hành-Chứng” này. DATT xin chân thành cám ơn quí vị liên hữu đã dành thời giờ đọc, thắc mắc và nói lên tâm trạng của quí vị.

      1) DATT cũng biết trước là sau khi đọc bài viết mở đầu này chắc chắn sẽ gây thắc mắc cho nhiều đồng tu. Vì thế DATT đã bổ túc bài “Chúng ta không nên xa rời kinh Phật” (không nên xa rời văn học và tư học để tu pháp môn niệm Phật) của Lão Hòa Thượng Tịnh Không, nhằm để giải thích một phần nào cho bài viết “Văn-Tư-Tu, Tín-Giải-Hành-Chứng”.

      Như liên hữu Phúc Bình đã đem lời khai thị của Ngài Đàm Hư Đại Sư cho chúng ta đọc và suy gẫm; đó là chính là “văn học và tư học”; nếu chúng ta dùng ý kiến này để tu hành; đấy chính lại là “tu học”. Nói một cách thô thiển cho dễ hiểu “văn học, tư học và tu học” nghĩa là nghe/đọc Phật pháp, suy gẫm lời Phật dạy và nương vào sự hiểu biết của mình, sâu hay cặn tùy theo căn tánh của mỗi người mà thực hành dần dần để cùng nhau thăng tiến. Tất cả Phật pháp đều dạy ta những điều căn bản là đoạn ác, tu thiện, lý nhân quả, lý vô thường v.v… sau đó, tiến sâu xa hơn là các pháp tu kiên cố, vô vi, vô tướng mà chúng ta chưa nên bàn đến ở đây vì căn tánh của chúng chưa thích hợp để nghe các pháp này.

      Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm Hết Lầm thấy Phật, đức Thế Tôn nói: “Lại có chúng sinh, tuy trồng căn lành, làm ruộng phước lớn, nhưng tâm vẫn còn, trước tướng phân biệt, tình chấp sâu nặng, cầu thoát luân hồi, trọn không thể được. Nếu ai biết đem, trí huệ vô tướng, trồng các cội đức, thân tâm thanh tịnh, xa lìa phân biệt, cầu sinh Tịnh Ðộ, hướng Phật Bồ Ðề, sẽ sinh cõi Phật, vĩnh viễn giải thoát”.

      Hòa Thượng Tịnh Không lại nói: “Niệm Phật đường là huấn luyện bạn được định, giảng đường giúp cho bạn khai trí tuệ, cái đạo tràng này định huệ đều học. Nếu như không nghe kinh (tức văn & tư học), chỉ dựa vào niệm Phật thành tựu, ngày trước lão sư Lý đã làm một thí dụ, chỉ dựa vào niệm Phật, dựa vào tu định thành tựu thì gần như là cần phải mười năm bạn mới có thể thành tựu, mới có thể minh tâm kiến tánh; nếu như bạn vừa niệm Phật lại có thể nghe kinh, có thể nghiên giáo thì liền có thể rút ngắn được thời gian, ba năm, năm năm thì bạn liền khai ngộ. Đây chính là nói lợi ích của định huệ đều học, công đức của định huệ đều học.”

      2) Liên hữu Không Tâm nói bài viết “không đi đúng tông chỉ của ĐVCT…”

      Thưa liên hữu, xưa nay chỉ có Tổ Sư của một Tông phái mới có thể đặt ra tông chỉ; mà tông chỉ của các chư Tổ cũng không vượt ra khỏi lời dạy của Phật trong kinh điển. Nên ĐVCT cũng không thể tự mình đặt ra Tông chỉ. Nên nếu chúng ta tu hành theo pháp tu Tịnh Độ thì phải nên tuân thủ theo Tông chỉ của Tịnh Độ Tam Kinh, chớ không phải tuân thủ theo ĐVCT.

      Tịnh Độ Tam Kinh bao gồm 3 kinh: Vô Lượng Thọ, A Di Đà và Quán Vô Lượng, trong đó kinh Vô Lượng Thọ được coi là Chánh kinh của Tịnh tông.

      Còn Ngũ Khoa Tịnh Độ là tông chỉ của Tịnh Tông Học Hội, do Lão Hòa Thượng Tịnh Không khởi xướng, 5 khoa mục này đích thực là bản tóm tắt của kinh Vô Lượng Thọ mà Ngài Thiện Đạo Đại Sư (A Di Đà Phật tái lai) đã đề xướng, bao gồm:

      I. Tịnh Nghiệp Tam Phước
      II. Lục Hoà Kính
      III. Tam Vô Lậu Học
      IV. Lục Độ Ba La Mật
      V. Thập Đại Nguyện Vương của Phổ Hiền Bồ Tát

      3) Riêng ĐVCT là một website nghiêng về Tịnh Độ, và người sáng lập website này có tâm huyết là luôn mở rộng cánh cửa cho những người chân thật muốn vào học Phật. Bên cạnh người sáng lập lại còn có các đạo hữu rất thông thạo hiểu biết về Phật pháp cũng cùng đóng góp bàn tay để xây dựng ĐVCT ngày càng tốt đẹp.

      ĐVCT giống như một vườn hoa nhiều màu sắc, có người vào đây muốn đọc những bài viết về nhân quả để suy lường thiện ác, có người muốn tìm hiểu về phương pháp niệm Phật, hộ niệm hay thờ cúng, và cũng có người vào để tìm hưởng pháp vị.

      ĐVCT ngoài việc ưu tiên khuyến khích các liên hữu một lòng thâm tín nhân quả và chuyên trì danh hiệu Phật. Bên cạnh đó ĐVCT cũng mong muốn đem lại cho mọi người những bài pháp thiết thực hữu ích nhất để cùng nhau thăng tiến nhanh chóng trong việc tu hành và học pháp. Vì thế chúng ta có thể cùng nhau vào đây để thảo luận, tìm hiểu, trả lời những điều khúc mắc; hay cùng nhau ôn hòa tìm hiểu về Phật đạo, về kinh Vô Lượng Thọ. Ai có ước mong đọc pháp nào thời cứ đọc pháp đó, ai không muốn đọc thời riêng trọn đừng đọc, mọi người đều cùng hoan hỷ tự tại.

      DATT cũng đã từng chia sẻ về kinh Vô Lượng Thọ suốt 6 năm nay với hơn 500 đồng tu trên khắp thế giới trong nhóm Vô Lượng Thọ và đạo tràng niệm Phật PureLand Ausburg ở Đức, dựa trên những bài giảng của lão Hòa Thượng Tịnh Không và chú giải của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ. DATT hy vọng từ nay cũng có thể sẽ tiếp nối được học kinh Vô Lượng Thọ cùng với các liên hữu đồng tu của ĐVCT.

      Diệu Âm Trí Thành

  2. Tự Độ

    Mô Phật

    1. Trong một bài viết ngắn mà tác giả đã đưa ra quá nhiều kiến thức Phật học:
    – Văn-Tư-Tu
    – Khổ-Tập-Diệt-Đạo
    – Tín-Giải-Hành-Chứng
    – Pháp hữu vi
    – Pháp vô vi
    – Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng
    – Minh tâm kiến tánh
    – Nhất thiết trí
    – Đạo chủng trí
    – Nhất thiết chủng trí
    – Chân Như Vô Vi, tức Tự tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể
    – Thiền Định
    – Chỉ Quán…v.v…

    và đã không đủ khả năng để luận giải tận cùng nhưng kiến thức đó, từ đó sẽ khiến cho người học Phật (đặc biệt) là hàng sơ học sẽ ngỡ mình bị lạc vào khu rừng rậm mà không có lối thoát.

    Do vậy theo thiện kiến của Tự Độ, tác giả nên gói gọn bài viết của mình trong một chủ đề nhất định. VD: Văn-Tư-Tu rồi đi vào kiến giải viên mãn những suy nghĩ của riêng mình, được như vậy, người đọc, nghe sẽ nhận ra được lợi lạc.

    2. Khổ-Tập-Diệt-Đạo là kiến thức Phật học chẳng phải dành cho hàng sơ căn. Vì vậy khi tác giả đưa ra 4 chân lý Tứ Thánh Đế này, thiết nghĩ cũng nên lắm phải có sự kiến giải thật viên mãn. Chẳng thể đưa ra một vài ý trong Tứ Thánh Đế, kèm thêm vài lời giải thích không liễu nghĩa, khiến hàng sơ học sẽ bị ngột thở.

    3. Nhận định về Thanh Văn, Bồ Tát, Phật chẳng phải dành cho hàng phu phu chúng ta. Do vậy chẳng nên luận giải.

    4. Minh tâm kiến tánh vốn chẳng phải là chứng đắc. Nếu gọi là chứng đắc tức còn có Ngã và Ngã sở.

    5. Phật nói: Tất cả pháp hữu vi/Như mộng huyễn bọt ảnh/Như sương cũng như điện/Thường khởi quán như thế
    Nếu nói “Pháp nầy chỉ tìm được trong tự tánh” vậy thì pháp này đâu thể gọi là vô vi pháp? Đã gọi là tự tánh (Chân Như tịnh lặng, không sanh, không diệt) thì lấy gì để tìm?

    6. Thiền Định vốn chẳng thể dùng một vài câu để biện giải. Đã chót biện giải phải thật liễu nghĩa. Bằng không lợi ích cập hại.

    Trong Kinh Đại Niết Bàn Phật nói Ngài đã từng quở Ngài Xá Lợi Phất: “Ông phải cẩn thận chớ vì người lợi căn mà rộng thuyết pháp, chớ vì người độn căn mà lược thuyết pháp…”.

    Trên ĐVCT nói là vì hàng sơ học nên phát nguyện giới thiệu kinh pháp, lời Phật, Tổ để khuyến tấn. Nói vậy là duyên theo người phàm phu để nói, trên thực tế chẳng phải ai vào đọc cũng đều là hàng sơ căn, phàm phu cả. Do vậy mọi bài viết, mọi kiến giải khi đăng tải thiết nghĩ nên phải minh giải thật liễu nghĩa. Không liễu nghĩa nhất quyết chẳng nên đăng. Được như thế mới gọi là người có tâm pháp và có tâm hoằng pháp độ sanh.
    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

    • Diệu Âm Trí Thành

      Thâm Giải Kinh Giáo

      Tin Sâu – Nguyện Thiết – Phụng Hành.

      Tuy bạn cũng tin pháp Tịnh Độ, nhưng lòng tin này vẫn còn nửa tin nửa ngờ, và chẳng có tâm nguyện khẩn thiết. Vì nếu bạn có lòng tin chắc chắn, có tâm nguyện thiết tha, thì những thói hư tật xấu, tập khí gì cũng chẳng còn nữa, đều đã xả bỏ sạch. Nếu bạn vẫn còn giữ những thói hư tật xấu, tập khí đó, tức là bạn chẳng có đủ Tín, Nguyện. Vì sao? Vì bạn chẳng hề thông hiểu kinh giáo.

      Từ điểm này có thể thấy biết, ngày nay hoằng dương Tịnh Tông trên thế giới không thể nào làm giống như Ấn Quang đại sư.

      Lúc Ấn Quang đại sư còn tại thế vào những năm đầu Dân Quốc, trong Niệm Phật Ðường chỉ chuyên niệm Phật mà chẳng giảng kinh, tức là ‘một câu A Di Ðà Phật niệm đến cùng’, cũng giống như đả Phật thất hằng ngày, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày chẳng sót ngày nào. Bạn hãy xem thời khóa tụng niệm của chùa Linh Nham thì sẽ biết, mỗi ngày [niệm Phật] sáu cây hương (lấy thời gian đốt một cây nhang làm đơn vị) , mỗi năm có hai lần ‘Phật thất tinh tấn’. Phật thất tinh tấn kéo dài bốn mươi chín ngày, mỗi ngày tăng lên tới chín cây hương.

      Vào thời của ngài có thể làm như vậy, ngày nay chúng ta không thể. Nguyên nhân ở tại chỗ nào? Thời đó tâm người thật thà, đôn hậu, cho dù chẳng hiểu rõ, chẳng thông suốt kinh giáo, cũng chẳng có tí gì hoài nghi đối với những lời giảng dạy của lão sư phụ, lão hòa thượng, lão hòa thượng dạy họ làm như thế nào thì họ làm như vậy, như thế mới được.

      Thời đại bây giờ không thể được. Nếu tuổi tác của quý vị lớn như tôi, sáu bảy chục tuổi thì có thể nhớ vào những năm Dân Quốc bốn mươi (1951) người ở Ðài Loan hết sức dễ thương, trung hậu, thật thà, chất phác; xã hội Ðài Loan an định, trị an tốt nhất Ðông Nam Á. Người thời đó rất tử tế, lúc chúng tôi mới đến Ðài Loan đi tìm nhà bạn nhưng không biết đường, tùy tiện hỏi người nào thì họ liền ngưng làm việc và dẫn mình đi kiếm cả một đoạn đường, đưa đến tận nhà. Xã hội hiện nay không được vậy nữa! Nếu bạn hỏi đường, họ sẽ trả lời cộc lốc ‘Không biết’, rồi chẳng thèm đếm xỉa đến bạn.

      Ðây là chỉ mới bốn mươi năm mà thôi! Càng về trước lòng người càng đôn hậu, lúc mua đồ không có tiền sẵn trong túi có thể thiếu chịu, chẳng cần ghi sổ, ghi tên, giữa người và người với nhau có sự thành tín, bây giờ đâu còn như vậy nữa. Hiện nay chuyện gì cũng phải ký hợp đồng, còn phải viết ra từng điều khoản rõ ràng, sợ lọt vào những lỗ hổng luật pháp. Bạn xem đời sống gian nan, khổ sở quá chừng phải không, đâu có thong dong tự tại như những ngày đó. Cho nên thời xưa Niệm Phật Ðường đơn giản, rất đơn thuần thật vẫn có thể thành tựu, vẫn có thể giúp người vãng sanh.

      Nhân tâm trong xã hội ngày nay rất sôi động, lo sợ chẳng yên, chẳng có cảm giác an toàn, tâm nhảy loạn xạ, vậy thì làm sao có thể giữ Tín, Nguyện vững chắc được!
      Thế nên phương pháp duy nhất là phải giảng rõ, giảng kỹ kinh giáo, điểm này rất quan trọng. Ngày nay chúng tôi đề xướng ‘Giải Hành cùng coi trọng’, hy vọng mỗi Tịnh Tông Học Hội đều lấy cuốn khóa tụng thường ngày mà chúng tôi đã soạn, cuốn khóa tụng ấy là do tôi soạn, nghi thức đã được giảm bớt. Lúc trước phần đông những khóa tụng hằng ngày gồm có buổi sáng tụng Chú Lăng Nghiêm, Thập Chú, buổi tối tụng bài văn đại sám hối, kinh Di Ðà. Hiện nay chúng tôi sửa đổi phần tụng kinh, khóa buổi sáng chọn bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, khóa tối chọn phẩm ba mươi hai đến ba mươi bảy trong kinh Vô Lượng Thọ.

      Tại sao chúng ta phải thay đổi kinh tụng niệm hằng ngày? Vì căn tánh của chúng sanh hiện nay khác với lúc trước. Lúc trước người ta y theo khóa tụng thời xưa có thể đạt được lợi ích. Ngày nay chúng ta noi theo khóa tụng như vậy chẳng thể đạt được lợi ích. Mục đích chúng ta tu Tịnh Ðộ là tương lai cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới.

      (Trích “Thâm Giải Kinh giáo – Tin sâu, nguyện thiết, phụng hành.” trong bài giảng “Phải tu hành như thế nào?” của Hòa Thượng Tịnh Không – Giảng Tại Tịnh Tông Học Hội Úc Châu năm 1997)

    • Diệu Âm Quảng Hồng

      A Di Đà Phật
      Kính đến đạo hữu Tự Độ

      Thưa đạo hữu, để phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại ngày nay nên các tông phái Phật giáo đã thay đổi sử dụng danh từ Thiền với nhiều cách khác nhau. Nếu hiểu theo kiểu cao siêu như trong Thiền tông (Đông Độ) thì Thiền là kiến tánh, là trạng thái tâm linh của một hành giả đã chứng ngộ, vì thế Thiền kiến tánh đây không phải là Tịnh hay Định. Đối với Mật Tông thiền là trì chú. Đối với Tịnh Độ tông thiền là niệm danh hiệu Phật A Di Đà.

      Ngày nay từ Thiền cũng có thể được nhìn dưới một góc độ gần gũi đơn giản hơn trong đạo sống thanh tịnh hằng ngày, nó dính kết với nhau giữa Đạo, Phật, và Tâm, như trong các bài giảng của HT Tịnh Không. HT Tịnh Không dùng chữ Thiền để chỉ khi tâm thanh tịnh, buông xả hết thảy không còn một ý niệm so sánh, phân biệt. Bởi vọng tưởng phiền não là cái hư ảo không thật, mà ngay nơi mình thì đã có sẵn Phật tánh, nếu buông bỏ hết vọng tưởng thì Phật tánh hiện ra, vì thế Ngài mới dạy chúng ta nên thực hành bằng cách Khán Phá (tự thanh lọc tâm bằng cách tự quan sát) và Phóng Hạ (buông xả) là vậy.

      Kính,
      DAQH

  3. Vạn Pháp

    A Di Đà Phật!
    Đạo hữu Không Tâm kính mến, VP xin trích mấy lời trong
    “PHẬT THUYẾT ÐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ÐẲNG GIÁC KINH. Phẩm thứ ba mươi Thế Tôn nói thế này:
    “Ðộ chúng hữu tình, diễn nói Chánh Pháp, Vô Tướng Vô Vi, không buộc không mở, không phân không biệt, xa lìa điên đảo,”

    Hay tại phẩm thứ bốn mốt, Thế Tôn phán quyết thế này:
    “Lại có chúng sinh, tuy trồng căn lành, làm ruộng phước lớn, nhưng tâm vẫn còn, trước tướng phân biệt, tình chấp sâu nặng, cầu thoát luân hồi, trọn không thể được. Nếu ai biết đem, trí huệ vô tướng, trồng các cội đức, thân tâm thanh tịnh, xa lìa phân biệt, cầu sinh Tịnh Ðộ, hướng Phật Bồ Ðề, sẽ sinh cõi Phật, vĩnh viễn giải thoát.”

    A Di Đà Phật

  4. Diệu Âm Quảng Hồng

    A Di Đà Phật
    Kính đến cư sĩ Không Tâm,

    Anh DATT trình bày cái lợi ích của Văn Tư Tu, đó cũng là một cách để chúng ta Tu đức, vì Tánh đức phải nhờ vào Tu đức mới có thể hiển lộ.

    Trong Phật pháp, bất luận tu hành theo tông phái nào, mấu chốt của việc tu hành đều là ‘Thiền Định’, “Thiền định’ đây là tu tâm thanh tịnh.

    Khi tâm thanh tịnh, trí huệ không chướng ngại mới mong liễu nghĩa kinh sách. Muốn tâm thanh tịnh thì quyết định ở ngay nơi vạn pháp cần phải bình đẳng, phải tách rời hết thảy mọi phân biệt, chấp trước, đoạn sạch những tập khí keo bẩn. Quay Phật sự hướng về Phật tâm, tâm Phật là tâm của chính mình.

    Nam Mô A Di Đà Phật
    DAQH

    (*) Giống như trong vở kịch “Rạng ngời ư ngoại, tối hù ư trung,” kép chánh kiêm luôn vai khán giả, nên lúng túng lúc mở màn hạ màn, như vậy tâm có thanh tịnh nổi hay không?

    • Như Nghĩa

      Kính Đạo hữu DAQH,

      – Sao gọi là Phật tâm? Nếu nói “tâm Phật là tâm của chính mình” vậy thì mọi người đâu cần phải tu hành nữa làm gì?
      – Câu hỏi của đạo hữu Không Tâm là đặt ra cho Đạo hữu DATT, vậy tốt hơn là để tác giả trực tiếp hồi đáp, thay vì DAQH? Trong một vài hồi đáp gần đây, Như Nghĩa nhận thấy, hễ DATT có đáp, là liền kề có DAQH hồi. Đạo hữu phải cẩn trọng, và khéo dụng công, kẻo vô hình chung khiến mình trở thành người phát ngôn hay cái bóng của người khác.

      Tu đạo cần nhất phải giữ cái tâm thật trong sáng, chẳng nghiêng A, chẳng ngả B đó gọi là tâm trung đạo. Quan trọng hơn nữa phải có chánh kiến và chánh tư duy, bằng không sẽ bị lạc vào quỹ đạo của người khác.

    • Diệu Âm Quảng Hồng

      A Di Đà Phật
      Kính đến đạo hữu Như Nghĩa,

      – NN: Sao gọi là Phật tâm? Nếu nói “tâm Phật là tâm của chính mình” vậy thì mọi người đâu cần phải tu hành nữa làm gì?

      DAQH: Thưa đạo hữu, Phật chính nơi tự Tâm mà thành, do đâu mà lìa Tâm để tìm Phật ở bên ngoài?

      Nếu dùng tâm ý thức phân biệt để hiểu còn có cái Tâm này, cái Ta nọ, cái Phật kia; tức còn thấy Phật với Tâm với Ta là hai là khác nên bị vướng trói.
      Nếu không có sự phân biệt chấp trước, không năng không sở, trụ không chỗ trụ thì cùng Phật, cùng Tâm sẽ không hai không khác.

      – NN:…. Trong một vài hồi đáp gần đây, Như Nghĩa nhận thấy, hễ DATT có đáp, là liền kề có DAQH hồi. Đạo hữu phải cẩn trọng, và khéo dụng công, kẻo vô hình chung khiến mình trở thành người phát ngôn hay cái bóng của người khác.

      DAQH: Thưa đạo hữu, nếu cùng là đệ tử của Phật Thế Tôn thì cùng có đồng một ‘pháp tâm’.

      – NN: Tu đạo cần nhất phải giữ cái tâm thật trong sáng, chẳng nghiêng A, chẳng ngả B đó gọi là tâm trung đạo. Quan trọng hơn nữa phải có chánh kiến và chánh tư duy, bằng không sẽ bị lạc vào quỹ đạo của người khác.

      DAQH: DAQH chưa viết một điều gì buông lung lầm lạc, hay tà kiến; sao đạo hữu lại khắt khe cho là không có chánh kiến, chánh tư duy?

      Nam Mô A Di Đà Phật
      DAQG

  5. Diệu Âm Quảng Hồng

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Anh DATT bận đưa cháu vào trường đại học (xa nhà) nên tuần tới mới trở về, DAQH xin mạn phép trình bày vài ý chỉ trong bài viết này, khi anh DATT trở về sẽ giải thích rõ hơn.

    Trong Giáo Hạ, Thiền Định thường gọi là Chỉ Quán.

    Bất luận tu học pháp môn nào, nếu xa lìa Thiền Định (Chỉ lẫn Quán) đều chẳng thể thành tựu.

    Cũng như chúng ta rất thường hay nghe HT Tịnh Không nhắc đến 2 chữ Khán Phá, và Phóng Hạ. Phóng hạ là buông xuống, tức là Chỉ. Khán Phá là thấy rõ, thông suốt Thật tướng của các pháp, tức là Quán.

    Khi chúng ta niệm Phật, phát được một niệm Tịnh tín, tức vạn duyên buông xuống, vọng niệm ngưng bặt đó là Chỉ. Rồi trong sự Nhất tâm ấy phát một niệm rõ ràng, minh bạch nhớ nghĩ đến đức Phật A Di Đà là Quán. Cho nên trong câu Phật hiệu cũng vừa có Chỉ vừa có Quán. Chính vì thế mà đức Thế Tôn dạy: “Niệm Phật chính là vô thượng thâm diệu thiền!”

    Như thế thì bài viết này của anh DATT có dư thừa hay xa lìa pháp tu Tịnh Độ hay không?

    DAQH

  6. Tịnh minh

    Nam mô A di đà phật!
    Tịnh minh kiến giải nông cạn, chỉ xin chia sẻ một chút về nội dung bài của sư huynh DATT, vì TM cũng có đôi chút băn khoăn, quan điểm của Huynh TT ở trên lập trường Tông khác thì đúng hơn. Vì như Tịnh Tông thì nên chuyên về ngu phu ngu phụ mà vãng sanh, không cần phải tư duy Kinh pháp, kinh pháp hay tụng kinh nên nghe nên tụng như cư sỹ DATT đã nói , có điều không nên tư duy, tư duy là dùng thức mà phàm phu chúng ta khởi tâm động niệm chẳng gì không sai lầm, nên Chư tổ Ấn Quang, Hoà thượng Tịnh Không đều khuyên chúng ta tụng thuộc lòng Kinh, thuộc Kinh rồi hẵng nghe giảng là tốt nhất, kinh pháp, kinh tụng chúng ta chỉ nên nhiếp tâm nghe không nên dùng trí để hiểu, mục đích nghe kinh không phải để hiểu mà để NGỘ , nghe một lần không hiểu không sao, 10 lần, 100 lần, 1000 lần ắt sẽ NGỘ, ngộ rồi rốt ráo hành theo.

    Còn Phật Pháp chỗ quy về là niệm Phật, vì niệm Phật thành Phật.

    Niệm Phật thanh tịnh pháp thân là vô thượng thâm diệu thiền nên hiểu Tịnh chính là Thiền thì đúng hơn Thiền là Tịnh.

    Huynh DATT diễn giải không sai nhưng chưa thấu triệt nên dễ sinh ra hiểu nhầm, hoặc chúng ta phàm phu không hiểu đc lời Sư huynh, dù gì chúng ta cũng nên tuỳ hỷ công đức DATT.

    Nam mô hoan hỷ tạng bồ tát ma ha tát

  7. Phúc Bình

    “Việc quan trọng của đời người là niệm Phật để liễu sinh thoát tử. Không luận là như thế nào, mọi người hãy tự xét hoàn cảnh của chính mình, dù trong bận rộn hay nhàn nhã, hãy sắp xếp cho mình một thời khóa công phu niệm Phật nhất định. Chẳng những vậy, ngay cả lúc làm việc có thể trụ tâm mặc niệm. Bằng ngược lại suốt ngày làm các điều sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, tạo nhiều nghiệp ác khác thì khó mà tránh đọa lạc tam đồ, luân hồi trong lục đạo, thọ nhận khổ não vô tận. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật có nói : “Loài nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho mình được sống, nên tham ăn những vật bổ dưỡng. Vì thế trong thế gian này, loài mạnh ăn thịt loài yếu, loài khôn giết hại loài dại. Bốn loài (thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại lòng tham sát”. Chúng sinh vì tình ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên thế gian này, cha mẹ, con cháu tiếp tục sinh ra không cùng tột, gốc chỉ tại lòng tham dục”. Tóm lại, vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp và quả nối nhau không bao giờ cùng tận. Mọi người hãy nghĩ coi tạo nghiệp sát, đạo, dâm, chịu khổ biết dường nào. Vì thế kính khuyên mọi người niệm Phật, nên niệm càng nhiều càng tốt. Cổ đức có nói : “Niệm Phật một câu phước tăng vô lượng, lễ Phật một lễ tội diệt hà sa”. Trên đây, đem những lợi ích của việc niệm Phật nói sơ lược qua, nếu mọi người muốn rõ hơn hãy tham khảo các tập sách “Tịnh Độ Ngũ Kinh” hoặc “Tịnh Độ Thập Yếu” v.v… Nay nói sơ lược đôi điều như vậy cho người sơ cơ có tín tâm niệm Phật. Hy vọng rằng quý vị biết được niệm Phật là tốt rồi, hãy nên phát tâm kiên cố niệm Phật, niệm hết sức thành khẩn, lão thật niệm Phật. Trong tương lai, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhau trong hội chúng ở Tây phương vậy.”
    Trích lời khai thị của Ngài Đàm Hư Đại Sư
    Nam Mô A Di Đà Phật

  8. Không Tâm

    A Di Đà Phật,

    Phàm phu Không Tâm rất hoan hỉ khi có nhiều hồi đáp đến vậy, nào là của liên hữu DA Quảng Hồng, DA Vạn Pháp, lại còn được liên hữu DA Trí Thành – tác giả của bài viết hồi đáp nữa…nhiều quá 🙂 không biết nói gì hơn là cám ơn các liên hữu đồng tu đã dành thời gian quý báo trao đổi Phật pháp cùng với kẻ phàm phu này.

    Trước xin trao đổi với tác giả DA Trí Thành:

    – Lão phàm phu Không Tâm này đánh máy sai sót nên đánh nhầm “tôn chỉ” thành “tông chỉ” 🙂 – tôn chỉ của website DVCT khi bản thân KT này đọc qua rất nhiều bài viết trước đây thì cảm nhận được là DVCT để phục vụ đại chúng căn tánh thuộc hàng hạ căn, cho nên hầu hết các bài viết đều dùng từ ngữ dễ hiểu, gần gũi, ý nghĩa chân phương, trực tiếp, không quá khó đối với hàng sơ học như phàm phu KT này, đọc một cái là hiểu liền và hiểu đúng. Đây là điều mà KT này tâm đắc với các bài viết trước đây trên DVCT.

    Nhưng thú thật khi KT đọc bài này của tác giả Diệu Âm Trí Thành thì có quá nhiều thuật ngữ “cao siêu”, vượt quá tầm hiểu biết của 1 người sơ học như KT đây…giống như đạo hữu Tự Độ đã liệt kê ra, chắc hẳn nhiều đọc giả khác của DVCT cũng là có cùng 1 quan điểm này.

    Cho nên tương lai, nếu liên hữu DA Trí Thành có đăng bài trên DVCT thì xin vui lòng dùng các từ ngữ dễ hiểu và gần gũi với đời thường hơn, sao cho người Việt phàm phu sơ học có thể “ngộ nhập” được chút phần Phật pháp chứ không phải bị “ngộ nhận” hay “bội thực” khi đọc tác phẩm của liên hữu. Rất mong đạo hữu lưu ý điểm này.

    Điểm thứ 2 là liên hữu Diệu Âm Trí Thành trích dẫn lời HT. Tịnh Không chưa thật chính xác, bản gốc chính là:
    “…Niệm Phật đường là huấn luyện bạn được định, giảng đường giúp cho bạn khai trí tuệ, cái đạo tràng này định huệ đều học. Nếu như không nghe kinh, chỉ dựa vào niệm Phật thành tựu, ngày trước lão sư Lý đã làm một thí dụ, chỉ dựa vào niệm Phật, dựa vào tu định thành tựu thì gần như là cần phải mười năm bạn mới có thể thành tựu, mới có thể minh tâm kiến tánh; nếu như bạn vừa niệm Phật lại có thể nghe kinh, có thể nghiên giáo thì liền có thể rút ngắn được thời gian, ba năm, năm năm thì bạn liền khai ngộ. Đây chính là nói lợi ích của định huệ đều học, công đức của định huệ đều học…”

    (HT. Tịnh Không giảng trong tập 60 Kinh VLT lần thứ 10).

    Còn tác giả Diệu Âm Trí Thành thì có thêm vào ý riêng của mình:

    “…Nếu như không nghe kinh (tức văn & tư học)…”

    Phần trong dấu ngoặc đơn (tức văn & tư học) là do liên hữu Trí Thành tự thêm vào, tự “ngộ” ra mà thêm vào câu nói của HT. Tịnh Không. Ở đây KT muốn chỉ rõ điểm này để liên hữu chú ý, cẩn thận chẳng nên thêm ý của mình vào lời dạy của Tổ Sư, của Phật, đây là điều không nên làm, nếu nói một cách nghiêm khắc chính là đang tạo nghiệp vọng ngữ, tăng giảm kinh pháp, đạo hữu có hiểu vấn đề này nghiêm trọng như thế nào không?

    Và qua việc này cũng thấy rằng đạo hữu Diệu Âm Trí Thành vẫn không hiểu hay chưa thể tiếp nhận lời dạy của HT. Tịnh Không về “Văn Tư Tu” mà KT trích dẫn – là pháp tu dành cho hàng Đại Bồ Tát, ngay cả Thanh Văn và Bích Chi Phật cũng không có phần…trong phần hồi đáp liên hữu vẫn cố tình giải thích văn tư tu cho hàng đọc giả là phàm phu sơ học như chúng tôi? Chúng tôi thật sự tin tưởng lời dạy của HT. Tịnh Không về Văn Tư Tu nên chưa dám ngay lúc này tiếp nhận 3 chữ này theo cách giải thích của đạo hữu, mong đạo hữu DA Trí Thành hoan hỉ hiểu cho.

    Và DVCT là đạo tràng Tịnh Độ, chuyên tu chuyên hoằng pháp môn Tịnh Độ cho nên trong các bài viết cuối cùng cũng nên quy về Tịnh Độ, quy về tán thán Tịnh Độ, tán thán công đức của A Di Đà Phật và bổn nguyện của Ngài. Không nên cuối bài lại tán thán Thiền như vậy, quy về Thiền như vậy là không như pháp. Nhớ lại năm xưa lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam cũng y theo phép tắc này mà tiếp đãi các vị pháp sư khi đến đạo tràng của Ngài, chẳng bao giờ cho các vị khác tông phái khai thị một câu nào ở đạo tràng niệm Phật…đạo hữu DA Trí Thành xem kỹ điểm này trong bài của mình có hợp với cách làm của các tổ sư Tịnh Độ từ trước đến giờ hay chưa? Nếu tổ sư Tịnh Độ trụ trì đạo tràng Tịnh Độ DVCT thì các Ngài có hoan hỉ khi đọc bài viết đậm chất Thiền của liên hữu hay không?

    Phần hồi đáp của KT xin kết thúc tại đây. Nếu có chỗ nào thiếu sót thì rất mong nhận được góp ý từ các huynh đệ liên hữu đồng tu.

    Xin chân thành cảm ơn tất cả huynh đệ.

    KT kính bút.

    • Diệu Âm Trí Thành

      A Di Đà Phật – Kính thưa liên hữu Không Tâm

      DATT chân thành cám ơn những sự góp ý của liên hữu.

      “Thiền Định” không có nghĩa là tu Thiền như liên hữu hiểu đâu ạ!

      DATT có giải thích ý nghĩa của chữ “Thiền Định” tiếp theo đó rồi: “Thiền định không phải chỉ nói riêng cho pháp Thiền tông; vì niệm Phật, trì chú cũng là Thiền Định. Thiền nghĩa là Quán, Định nghĩa là Chỉ. Thiền Định có nghĩa là Chỉ Quán. Thiền Định hay Chỉ Quán đều là phương pháp để an trụ tâm để phát sanh trí tuệ, vì Tâm định và thanh tịnh thì trí tuệ phát sanh. Có định và tuệ thì vạn pháp tự nhiên sẽ được thông rõ một cách sáng suốt. Sự thông rõ nầy không thể do tri thức học từ kinh sách mà có được. Ngược lại, nếu chỉ chấp cứng ngắc vào kinh sách văn tự sẽ bị chướng ngại cho việc tu định và tuệ (huệ)”.

      Xưa nay, chúng ta thường hay dùng chữ “Thiền định” cho pháp tu Thiền, “Niệm Phật” cho pháp tu Tịnh, nên lầm tưởng chữ “Thiền Định” chỉ dành cho pháp tu Thiền kiến tánh.

      “Niệm Phật” còn có cái tên khác là “Thâm Diệu Thiền” hay “Niệm Phật Tam Muội”. Chữ Tam Muội ở đây cũng có nghĩa là thiền định hay chánh định.

      Cho nên đôi lúc những thuật ngữ trong kinh điển cũng rất cần thiết, sẽ giúp cho chúng ta không bị hiểu lầm khi đọc kinh hay nghe pháp.

      Diệu Âm Trí Thành

  9. Thiện Luân

    Thiện Luân kính chào quý vị đồng tu,

    Người học pháp có hai dạng:
    – Người đó chuyển được pháp
    – Người đó bị pháp chuyển.

    Điều tối kỵ của người học Phật pháp là dùng kiến thức Phật học như một vật trang điểm. Đây là điều mà nhiều người tu đạo thời nay hay bị vướng kẹt, đặc biệt là khi tu hành đã đạt được một chút lợi lạc thì sự vướng kẹt này ngày càng có chiều hướng gia tăng nhưng người đó không hề nhận biết, bởi tâm vô minh lúc này đã chuyển sang một giai đoạn vi tế hơn, cũng vì thế mà người tu đạo đã không còn đủ khả năng để nhận biết ra được mình đang bị kẹt cứng trong pháp.

    Nguyên nhân? Đã bị pháp chuyển, vì thế mọi hành vi động niệm của thân-khẩu-ý lúc này đều được ngụy trang bằng những giáo pháp của Phật. Mọi điều nêu ra, nói ra, đặt ra đều ngỡ tưởng đúng như pháp, nhưng nếu quán chiếu sâu sắc thì những pháp ấy vốn chẳng phải pháp, bởi nó khởi lên từ tâm vô minh (ngã mạn, phân biệt và chấp trước…).

    Thiện Luân nhớ câu chuyện Ngài Duy Ma Cật khuyến cáo Ngài Phú Lâu Na, một đệ tử uyên bác về thuyết pháp của Phật, thời Phật còn tại thế, nay xin ghi lại để quý vị đồng tu cùng có cơ hội xét ngẫm lại chính mình:

    „Phật bảo Phú Lâu Na Duy Đa La Ni Tử:
    – Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật.
    Ngài Phú Lâu Na bạch Phật rằng:
    – Bạch Thế Tôn! Con không kham đến thăm bệnh ông ấy. Vì cớ sao? Con nhớ thuở xưa ở trong Đại Lâm (Đại Lâm là tên rừng) ở dưới cội cây, vì các vị tân học Tỳ Kheo con nói pháp. Khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: “Vâng! Ngài Phú Lâu Na. Trước phải nhập định, quán tâm của những người này, về sau mới nói pháp. Không nên đem đồ nhơ mà để trong bát báu. Phải biết sở niệm hay là chỗ nghĩ của tâm của các Ngài Tỳ Kheo này. Không nên cho cái lưu ly, đồng với thủy tinh. Ông không thể biết căn nguyên của chúng sanh thì không được phát khởi dùng pháp tiểu thừa. (phát khởi là chỉ dạy, dùng pháp tiểu thừa). Những người kia không có thương tích thì ông chớ có làm thành thương tích. Muốn đi con đường lớn thì chớ chỉ lối nhỏ. Không có đem biển cả mà để vào dấu chân trâu.
    Không có đem ánh sáng mặt trời cho là bằng với ánh sáng con đom đóm. Này Phú Lâu Na! Những vị Tỳ Kheo này xưa kia phát tâm đại thừa. Ở khoảng giữa đó quên ý này. Tại sao dùng pháp tiểu thừa mà hướng dẫn họ? Tôi xem những trí tuệ của tiểu thừa rất là cạn nhỏ. giống như là những người mù không thể phân biệt tất cả căn cơ lợi độn của chúng sanh.
    Khi ấy ông Duy Ma Cật liền nhập định khiến cho những vị Tỳ kheo này tự nhớ lại túc mạng (tức là mạng đời trước của họ), từng ở chỗ 500 đức Phật gieo trồng cội gốc công đức. Hồi hướng về vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Liền khi đó hoát nhiên nhớ lại cái tâm trước. Khi ấy các vị Tỳ Kheo này cúi đầu lễ dưới chân ông Duy Ma Cật. Khi ông Duy Ma Cật nhân vì nói pháp thì những vị đó đều phát
    tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác không thối chuyển. Con nghĩ hàng Thanh Văn không quán được căn cơ chúng sanh thì không nên nói pháp. Thế nên con không đến thăm bệnh ông ấy.“ (Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh)

    Chúng ta thời nay – hàng phàm phu “lè tè sát đất” (chữ của Ấn Quang Đại Sư)hễ mỗi khi nói pháp, thuyết pháp bất kể đối tượng là ai đều chẳng cần biết căn nguyên, lý do, chẳng cần khởi quán xem họ thuộc hàng Thượng căn hay hạ căn… nên hễ mở miệng ra là đều nói pháp cả. Làm vậy thật chẳng biết dụng pháp và khó tránh cho người khác bị thương tổn.

  10. Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật tất cả liên hữu.

    HT xin mạo phạm đóng góp vài câu nguyện các bạn hoan hỷ cho.

    Phật pháp thậm thâm vi diệu, nếu chấp vào văn tự nghĩa đen cho đó là chơn lý thì oan cho ba đời mười phương chư Phật. Lời kinh Phật thuyết từ chơn tâm thanh tịnh vô vi do lòng đại bi mà xuất ra. Hàng phàm phu như chúng ta khi trì đọc kinh đại thừa nên buông cái ngã xuống tư duy nghĩa bóng sâu xa của lời Kinh mới hy vọng nhập từ từ vào trí tuệ của Phật. Nếu không hiểu lời kinh một cách sâu xa thì thôi mình chỉ biết tin là đủ rồi. Chúng ta đừng nên lấy sự hiểu biết theo chiều nông cạn nghĩa đen ra mà thuyết pháp sẽ khiến Phật tử nghe theo tu hành dễ bị chấp vào tướng mất đi cơ hội vãng sanh TPCL thật đáng tiếc.

    HT xin hỏi có liên hữu nào giải đáp một đoạn rất quan trọng trong kinh A Di Đà không? HT có nghe một vị thầy ở vn giảng là người tu Tịnh Độ phải hiểu cho rõ ràng đoạn nầy mới nắm chắc phần vãng sanh về TPCL.

    Kinh A Di Đà:
    “Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A-Di-Đà Phật, chấp trì danh hiệu: nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A-Di-Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A-Di-Đà Phật Cực-lạc quốc độ.”

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Diệu Âm Trí Thành

      Văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu

      Trong kinh A Di Đà, đức Phật nói: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật…(cho đến)… nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn,” có nghĩa không chỉ chấp trì danh hiệu Phật từ 1 đến 7 ngày, mà còn phải “văn thuyết A Di Đà Phật” nữa.

      “A Di Đà Phật” là danh hiệu tổng hợp của tất cả chư Phật – “A” là vô lượng, “Di Đà” là chánh giác, là Phật. “A Di Đà” là vô lượng chánh giác, vô lượng chư Phật. Vì vậy đọc kinh, nghe pháp (văn thuyết) về công đức của A Di Đà Phật và chấp trì danh hiệu A Di Đà Phật, cũng là nói công đức và niệm danh hiệu của vô lượng chư Phật; có nghĩa người niệm Phật không phải chỉ có Phật A Di Đà gia hộ, mà có cả chư Phật cùng hộ niệm. Với tha lực không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật gia trì và mười phương chư Phật hộ niệm, nhất định trong 7 ngày văn thuyết và trì danh hiệu “A Di Đà Phật”, bạn sẽ đắc được quả vị A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ-đề.

      Do đó, muốn viên mãn đại cương lãnh của pháp môn Tịnh Độ – Phát Bồ-đề tâm và Nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, thì hằng ngày chúng ta phải đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ hay kinh A Di Đà, hay nghe giảng pháp về công đức của Phật A Di Đà là văn thuyết. Còn chấp trì niệm Phật là hành, là gieo trồng phước đức để duy trì Tín-Nguyện kiên cố, mà phát khởi được tâm Bồ đề rộng lớn. Do vậy, hai việc này cần phải đi đôi với nhau thì mới giải hành tương ứng được. Thiện Đạo Đại Sư dạy: “Đọc kinh và niệm Phật mỗi ngày không gián đoạn là duyên giúp một phàm phu như chúng ta có thể vãng sanh thượng phẩm.”

      Hòa Thượng Tịnh Không nói: “Về nguồn không hai lối, phương tiện có nhiều ngõ”. Thế nhưng muôn nẻo dặm trường lại dài ngắn khác nhau. Nếu thật dốc lòng muốn tìm đường tắt để về Tây Phương, thì không ngoài việc “Phát Bồ-đề tâm, trì danh niệm Phật,” tức tin sâu, chí thành phát nguyện, một lòng niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc thật đúng là rất thích đáng thẳng tắt, liễu nghĩa cực viên đốn chẳng thể nghĩ bàn được. Đã biết ngõ này là chí đốn, chí viên, vậy đi tìm cầu ngõ quanh nào khác nữa chi đây?

      Diệu Âm Trí Thành

  11. Tự Độ

    Đề tài Đạo hữu HT nêu ra rất hay và đúng lúc. Nhưng đoạn kinh là Hán Văn, do vậy Tự Độ mạn phép chép lại bằng Việt văn để các Đạo hữu khác đỡ phải mất công tìm hiểu và đối chiếu:

    “Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.”

    Đoạn kinh văn này có 3 điểm vô cùng quan trọng mà hành giả Tịnh Độ phải nắm bắt thật chắc:

    1. 7 ngày có phải là hạn định bắt buộc không?
    2. Thế nào là một lòng không tạp loạn?
    3. Tại sao khi Phật A Di Đà và Thánh Chúng hiện thân trước người đó (hành giả) – người đó tâm thần không điên đảo? và liền được vãng sanh Cực Lạc?
    Rất mong các Thiện Tri Thức khai thông giùm TĐ 3 vấn đề này.

    Nam Mô A Di Đà Phật

    • Tịnh Thái

      A Di Đà Phật – Kính thưa liên hữu Tự Độ:

      Tịnh Thái góp một đoạn lời giảng của HT. Tịnh Không về “thiện nam tử, thiện nữ nhân” trong đoạn Kinh Văn trên để cho chúng ta thấy rõ đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để quyết định một người niệm Phật có thể vãng sanh được hay không:

      “…Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu” (Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu). Chữ “thiện” trong từ ngữ “thiện nam tử, thiện nữ nhân” hết sức quan trọng, then chốt. Đấy là mấu chốt khiến cho người niệm Phật có được vãng sanh hay không. Theo cách giảng giải trong Tịnh Tông, chân tín, chân nguyện, không có mảy may hư ngụy nào thì mới đáng gọi là Thiện. Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, nương theo những điều này để hành, sẽ quyết định vãng sanh mà trọn chẳng cần phải dốc sức công phu trong một thời gian rất dài. Trong Tịnh Tông có lệ cử hành Phật thất nhằm hạn định thời gian hòng cầu chứng đắc. Đả thất lẽ ra phải ngày đêm không gián đoạn. Hiện thời, chúng ta đả thất có thời gian nghỉ ngơi. Chẳng hạn như buổi sáng có công khóa chừng hai cây hương. Một cây hương là một tiếng rưỡi. Giữa chừng, nghỉ ngơi khoảng nửa tiếng. Trong khi nghỉ ngơi, xôn xao bàn luận những khuyết điểm của nhà họ Trương, họ Lý, toàn bộ thị phi, nhân ngã hiện diện. Như vậy thì chỉ có thể gọi là pháp hội, chứ chẳng thể coi là “đả thất” được!
      Bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có chép chuyện pháp sư Oánh Kha đời Tống, đáng coi như một tấm gương. Vị pháp sư này lúc bình thường chẳng dụng công cho lắm, lại còn thường phá giới, tạo nghiệp; nhưng ông ta có thiện căn, tin tưởng nhân quả báo ứng, biết tương lai mình ắt đọa lạc, tự hối hận, tự trách sâu xa. Có bạn đồng tham khuyên ông ta niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ sẽ thoát khỏi ác báo. Ông ta tin tưởng sâu đậm, chẳng nghi, tự giam mình trong phòng, chuyên tâm niệm Phật, chẳng ngủ, chẳng nghỉ ngơi suốt ba ngày ba đêm. Kết quả, A Di Đà Phật đến bảo ông ta: “Tuổi thọ của ông vẫn còn mười năm nữa, hãy gắng lên, khi lâm chung ta sẽ đến đón ông!” Ông ta thưa: “Con nghiệp chướng nặng nề, không chống đỡ nổi quyến rũ, mê hoặc. Nếu sống thêm mười năm nữa, sợ rằng con sẽ tạo ra rất nhiều tội nghiệp, con chẳng cần mười năm tuổi thọ ấy!” A Di Đà Phật dạy: “Được! Ba ngày nữa, ta đến tiếp độ ông”. Ông ta hết sức cảm tạ, mở cửa phòng bảo mọi người rằng ba ngày hôm nữa tôi sẽ vãng sanh. Mọi người đều không tin. Đến hôm thứ ba, trong khi đại chúng đang tụng kinh khóa sáng, ông ta thỉnh mọi người niệm Phật đưa tiễn. Niệm chưa đầy một khắc đồng hồ, ông ta đã vãng sanh…

      …Thật sự đả Phật thất niệm Phật thì như trong quá khứ thầy Lý đã từng bảo chúng tôi: Đài Trung Liên Xã tuy thành lập bốn mươi mấy năm, nhưng chỉ cử hành tinh tấn Phật thất hai lượt. Thầy Lý đích thân chủ trì. Người tham gia tinh tấn Phật thất không được quá mười người. Vị thầy chủ trì phải chỉ dạy, uốn nắn tình trạng tu tập của từng người [tham dự]. Đông người sẽ chiếu cố không xuể, hễ hơi sơ sểnh sẽ chuốc lấy ma chướng. Trong hai lần ấy, cũng có mấy người bị ma dựa, thế gian gọi là “bệnh thần kinh”. Thầy Lý bỏ thời gian cả một năm để kềm cặp mới khiến cho người ấy trở lại bình thường. Từ đấy, không còn đả tinh tấn Phật thất nữa, chỉ cử hành pháp hội Phật thất. Ma chướng đưa đến là [do chính người ấy] có mong cầu, cầu thần thông, cầu cảm ứng, tâm chẳng thanh tịnh. Kinh Di Đà nói bảy ngày, còn kinh Vô Lượng Thọ nói: “Trai giới thanh tịnh, nhất tâm thường niệm, thập trú dạ bất tuyệt giả” (trai giới thanh tịnh, nhất tâm thường niệm, mười ngày đêm chẳng dứt), tức là nói [định kỳ hạn Niệm Phật cầu chứng trong] mười ngày. Cổ Âm Vương Kinh cũng nói mười ngày. Kinh Đại Tập nói bảy thất, tức bốn mươi chín ngày. Kinh Ban Châu Tam Muội nói chín mươi ngày, tức ba tháng. Kinh Văn Thù Bát Nhã cũng nói chín mươi ngày. Các kinh nói số ngày hạn định để cầu chứng đắc dài ngắn khác nhau, kinh A Di Đà nói thời gian ngắn nhất, đơn giản, dễ dàng nhất, ai cũng có thể làm được. Huống chi kinh Vô Lượng Thọ còn nói: “Trú dạ thường niệm, nguyện dục vãng sanh A Di Đà Phật thanh tịnh Phật quốc, thập nhật, thập dạ, nãi chí nhất nhật, nhất dạ, bất đoạn tuyệt giả, thọ chung giai đắc vãng sanh kỳ quốc” (Ngày đêm thường niệm, nguyện muốn vãng sanh cõi Phật thanh tịnh của A Di Đà Phật, từ mười ngày mười đêm cho đến một ngày một đêm chẳng đoạn tuyệt, khi hết tuổi thọ đều được sanh về nước ấy). Nói chung, chỉ cần nhất tâm, bất luận thời gian dài hay ngắn, đều có thể vãng sanh; còn phẩm vị cao hay thấp tùy thuộc công phu Niệm Phật sâu hay cạn. Nói “sâu hay cạn” là nói tới sự tương ứng, tương ứng với hạnh và nguyện của A Di Đà Phật thì là sâu. Nói đơn giản hơn nữa là tương ứng với Định và Huệ. Công phu sâu là tâm định, huệ khai, đoạn phiền não, phá vô minh, phẩm vị tự nhiên cao. Công phu niệm Phật cạn là Định và Huệ yếu ớt, có thể khuất phục phiền não, nhưng chưa thể đoạn được phiền não, phẩm vị ắt thấp, [chuyện này] chẳng khó hiểu gì!…”

      (Trích nguyên văn lời dạy của HT. Tịnh Không từ “PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH YẾU GIẢI GIẢNG KÝ” – Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
      (theo bản in của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội năm 2006) Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong)

      Còn các phần giảng khác thì các huynh đệ có thể tham khảo thêm tại:
      http://www.niemphat.net/Luan/yeugiaigiangky/adidayeugiai-toantap.doc

      Hi vọng có thể giúp cho các huynh đệ được một chút.

      A Di Đà Phật.

    • Diệu Âm Trí Thành

      A Di Đà Phật

      (1) 7 ngày có phải là hạn định bắt buộc không?

      DATT: 7 ngày không phải là hạn định bắt buộc, người thượng căn một niệm cũng tức thời vãng sanh.

      Như trong Luận Trí Ðộ giải thích, có người lúc lâm chung chỉ niệm có 10 tiếng niệm Phật cũng được vãng sanh. Chỉ trong vài giây phút ngắn như thế mà vẫn được vãng sanh là do nơi nhất tâm bất loạn của hành giả lúc lâm chung, vừa do nhờ sức mình cùng với sức gia trì của Phật nên mới được thành tựu.

      Ngài Vân Thê nói: “Nếu không kỳ hạn [7 ngày] thời dầu cảnh thắng, pháp mầu cũng giải đãi, lôi thôi, công chẳng chóng tiến.”

      Sách Di Ðà Yếu Giải nói rằng: “Nếu lúc bình thời nếu chẳng có công phu 7 ngày thì làm sao lúc lâm chung đạt được 10 hay 1 niệm.”

      (2) Thế nào là một lòng không tạp loạn?

      DATT: Nói theo căn tánh của phàm phu như chúng ta, tâm không tạp loạn chính là Tín tâm kiên cố, Nguyện vãng sanh tha thiết, giữ được câu Phật hiệu nơi tâm lúc lâm chung là “một lòng không loạn”.

      Nói theo căn tánh của bậc thượng căn là tâm chỉ tập trung vào một niệm, niệm niệm ly niệm, niệm niệm chính là tâm, niệm niệm khế hợp Chân Như, niệm niệm là Phật.

      (3) Tại sao khi Phật A Di Đà và Thánh Chúng hiện thân trước người đó (hành giả) – người đó tâm thần không điên đảo? và liền được vãng sanh Cực Lạc?

      DATT: Phàm chúng ta, lúc lâm chung, thần thức vô chủ, không một thứ nghiệp chủng, thiện hay ác nào mà lại không hiện ra: hoặc tâm khởi ác niệm, hoặc tâm khởi tà kiến, hoặc tâm sanh quyến luyến, hoặc phát điên rồ, chẳng phải chỉ có một thứ ác tướng… mà tất cả các ý niệm này đều là mê hoặc điên đảo cả. Rõ ràng là phàm phu nghiệp nặng, lúc lâm chung lắm nỗi điên đảo, lại bị tứ đại bức bách khổ sở, đau đớn khó tả nổi, làm sao mà có thể chánh niệm trì danh hiệu Phật được! Chẳng thể trì danh Phật được thì làm sao vãng sanh nổi?

      Phàm phu chúng ta ở cõi Sa Bà này, tuy có thể niệm Phật nhưng kiến hoặc còn rối bời, chưa thể đoạn trừ được. Khi lâm chung, thần thức không bị mê hoặc điên đảo thì vốn nào phải do sức tự lực của mình chủ trì nổi, mà chỉ toàn là cậy nhờ vào A Di Ðà Phật đến cứu vớt thôi. Tuy không có chánh niệm nhưng nhờ vào lực Vô Ể của A Di Đà Phật mà có thể giữ nổi chánh niệm, nên tâm chẳng điên đảo, liền được vãng sanh.

      (Vô Ể có nghĩa là không có sự ngăn che. Vô Ể tam muội là phép tam muội giúp hành nhân trừ được hết mọi sự ngăn che, trở nên sáng suốt, mà có thể thực hiện được mọi việc không bị chướng ngại )

      Diệu Âm Trí Thành

  12. Diệu Âm Phàm Phu

    Nam Mô A Di Đà Phật! Kính đến các quý Đạo hữu. Điểm then chốt trong câu nói này của Đức Phật là “Thiện nam tử Thiện nữ nhân”. Ngài không nói “Ưu bà tắc Ưu bà di”, cũng không nói “Tỳ kheo Tỳ kheo ni”. Nếu không phải là Thiện nam tử Thiện nữ nhân thì dù chúng ta có Niệm Phật bảy …. ngàn ngày cũng chẳng thể vãng sanh. Chiếc Chìa khóa vàng ở đây là: làm sao để trở thành Thiện Nam tử Thiện nữ nhân?. Câu trả lời đã có sẵn, chỉ có điều chúng ta có chịu làm hay không mà thôi.

  13. Diệu Âm Trí Thành

    A Di Đà Phật

    Liên hữu Diệu Âm Phàm phu nói một chút cũng chẳng sai: “Chiếc chìa khóa vàng ở đây là: làm sao để trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân?”

    Tổ Vân Thê nói: Không lấy cõi nhân thiên làm thiện mà lấy cái được nghe danh hiệu Phật làm thiện. Người có tín tâm niệm Phật đều là quyến thuộc với bực thượng thiện nhân

    Làm thế nào để trở thành một “thiện nam tử” hoặc một “Thiện nữ nhân” thì trong kinh A Di Đà cũng chỉ rõ là: “Văn thuyết A-Di-Đà Phật, chấp trì danh hiệu.”

    “Văn thuyết A Di Đà Phật” có nghĩa là đọc, tụng, nghe giải kinh. Đó cũng là ba thứ trang nghiêm bậc nhất: công đức của Phật A Di Đà, công đức của Bồ Tát cõi Cực Lạc và công đức của cõi Tây Phương Cực Lạc.
    “Chấp trì danh hiệu Phật” là chỉ chuyên nhất niệm một câu hồng danh “A Di Đà Phật” không xen tạp.

    Như kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật Thế Tôn nói: “Thường niệm chẳng dứt, chóng đắc đạo quả. Pháp của Ta như thế, nói ra như thế. Nên hành theo hạnh Như Lai đã hành, vun bồi phước thiện, cầu sanh về cõi Tịnh Độ.”

    Diệu Âm Trí Thành

    • Diệu Âm Quảng Hồng

      A Di Đà Phật

      Phật Thế Tôn từ bi khai thị: “Thường niệm chẳng dứt, chóng đắc đạo quả,” 8 câu này cũng được coi là cương yếu tu hành của Tịnh tông, cũng là lời tổng kết của toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ.

      Thường niệm ở đây là luôn niệm kinh Vô Lượng Thọ, như trong phẩm Chánh Nhân Vãng Sanh đã dạy: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh điển này một lòng thọ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dường, ngày đêm liên tục cầu sanh về Cực Lạc.”

      Vì sao kinh Vô Lượng Thọ lại được coi là cương yếu tu hành của Tịnh tông? Câu “Pháp của Ta như thế, nói ra như thế,” đã hiển lộ toàn vẹn bản hoài của Như Lai, Phật đã từ bi đến cùng tột là dùng Phật tâm ấn để ấn chứng cho bộ kinh Vô Lượng Thọ này.

      Tín Nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ.
      DAQH

  14. Mạt nhân phàm phu

    Xin chào các Chư vị đồng tu!

    Các Chư vị nói quá hay, quá siêu. Nói đến nỗi những phàm phu sơ học như chúng tôi đây từ những bài pháp đọc thấy đơn giản đến nỗi trở thành khó hiểu dẫn đến không hiểu.

    Chẳng hiểu các Chư vị có phải vì những phàm phu chúng tôi mà hướng dẫn hay các Chư vị muốn thể hiện được khả năng thấu đạt Phật pháp của mình. Các Chư vị dù trong câu văn toàn nêu ra “lời của Tổ”, nhưng chúng tôi khi đọc những bài pháp ngữ của Hòa thượng Tịnh Không hay các vị Tổ Sư còn dễ hiểu hơn là những lời giảng giải đầy triết lý của Chư vị.

    Đường đi đến đạo chân thật phải chăng là đơn giản hay quá phức tạp như Chư vị thuyết vậy? Đạo Phật nếu cao siêu quá thì ai với tới? Các Chư vị xin hãy nhớ dùm, chúng tôi chỉ là hạ căn, không phải bậc Thượng căn như Chư vị để có thể tiếp nhận. Nếu vì lợi ích số đông, mong Chư vị hãy quên đi cái “khả năng thuyết diễn pháp” của mình mà có những bài pháp hay, đơn giản mang lại thiết thực cho những người sơ cơ như chúng tôi. Trang web này từ việc hướng dẫn người tu Tịnh độ trở thành trang web thi thố về biện tài thuyết pháp không chừng.

    Vài dòng góp ý thô thiển, nếu có gì làm cho Chư vị phiền lòng thì xin Chư vị hoan hỷ mà tha thứ.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Phúc Bình

      Dù sao cũng là diễn đàn bạn ạ, chín người mười ý nhưng tựu chung cũng đều là cùng nhau mong muốn về cõi Tây phương Tịnh độ. Thực tế bây giờ bản thân Phúc Bình thấy có rất nhiều chướng ngại đối với người tu chúng ta, nhưng nói ra lại e bị mắng là không hợp thời thế. Hoặc bị bạn đồng tu bảo rằng ông đã đọc sách này sách kia chưa, nghe pháp bài này bài kia chưa, ông biết gì mà nói. Mình cũng chỉ biết ậm ừ, đúng là mình chưa đọc, chưa nghe thật, mà có đọc cũng không hiểu cứ như nước đổ lá khoai.Cũng vì đọc nhiều sách quá, nên chính PB thấy có bạn đồng tu mất phương hướng tu tập. Mỗi thời điểm lại đưa ra một chủ thuyết tu tập theo sách mình vừa đọc được, quay cứ là như chong chóng.
      Ban đầu Phúc Bình thấy vậy cũng hơi rối, nhưng rồi khi đọc được quyển Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục, Phúc Bình thấy quá hợp với kẻ tu ngu si lười đọc sách, lười nghe giảng Kinh như mình. Thôi thì mặc ai nói gì thì nói mình cứ theo hướng dẫn của Ngài Ấn Quang cố gắng làm kẻ ngu phu, ngu phụ mà niệm Phật cần vãng sanh vậy. Và nếu có bạn nào sinh hoạt ở bạn trợ niệm sẽ thấy, người có tướng lành ấm đỉnh đầu lúc lâm chung nhiều khi là người cả đời chưa biết Tịnh độ là gì, nhưng được Khai thị ngay lập tức tinh tấn niệm Phật cầu vãng sanh. Lời khai thị cũng chẳng phải cao siêu gì, chỉ là “ cụ ơi, cụ niệm Phật nhé, cầu được về cõi Tây Phương cụ sẽ được Phật tiếp dẫn, ở đó sung sướng lắm ạ!”. Nhưng thực tế những vị có thể khai thị như vậy giờ cũng hiếm lắm, đa số lại là giảng pháp.
      Nam Mô A Di Đà Phật!

  15. Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật các liên hữu.

    Không ngờ HT đây chỉ đưa ra một đoạn ngắn bài kinh Di Đà mà biết bao nhiêu liên hữu đã giải nghĩa rất thâm sâu chính xác như các vị thầy Tổ hôm xưa và hiện nay đã giảng dạy. HT đây xin thay mặt cho tất cả hành giả đã, đang và sẽ quy mạng về pháp môn Tịnh Độ đã, đang và sẽ nghi ngờ không có lòng tin về phần vãng sanh của mình mà sẽ được một đức tin vững chắc lòng nguyện kiên cố sanh về Cực Lạc quốc độ. Lành thay lành thay. HT xin tuỳ hỷ công đức của các liên hữu có tâm bồ tát từ bi bỏ thời gian quý báo lên đây bố thí pháp thù thắng cho tất cả Phật tử.

    HT xin ra một đoạn bài trong kinh Di Đà nầy mà hình như chính là chìa khoá mở cánh cửa để dự vào hoa sen ở Tịnh Độ TPCL. Xin các liên hữu giải nghĩa để tất cả được lợi ích chung:

    Hán văn: “Xá-Lợi-Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.”

    Việt văn: “Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.”

    ————————-
    Xin cho hỏi DATT ở Canada phải không? Nếu có thì HT đây đang ở Toronto.

    Cảm ơn Tự Độ đã nhắc nhở HT đưa lên việt văn.

    Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Liên Trì Quang Như Lai.

  16. Tự Độ

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

    TĐ tri ơn công đức quý Đạo hữu và chúc mừng quý Đạo hữu đã đứng được trước cửa Chùa và đã cảm niệm được hương vị của Thiền Đường lan toả.

    Đường còn dài. Đường còn dài… Muốn thể nhập được Chân Hương, TĐ kính mong chư Đạo hữu dũng mãnh buông xả, tinh tấn buông xả…

  17. Lục Hòa Kính

    A Di Đà Phật – Mến chào các liên hữu

    @Tự độ & Huệ Tịnh:
    Rất cảm ơn Huệ Tịnh và Tự Độ đã nêu câu hỏi. Thiết nghĩ nhị vị đều đã biết rỏ câu trả lời nhưng chỉ là vì người khác mà hỏi chứ chẳng phải vì mình mà hỏi, dụng tâm như thế này thật là đáng quý. Do vậy nếu các liên hữu khác đã trình bày mà còn thiếu sót ở phương diện nào đó (hoặc cao siêu khó hiểu với hàng sơ cơ) thì kính mong nhị vị hãy hoan hỉ mà bổ sung thêm, ngỏ hầu lợi ích khắp tất cả.

    @Phúc Bình:
    Theo mình nghĩ thì bạn nên tự nhiên mà đóng góp ý kiến, chớ có e ngại gì. Sợ bị người ta mắng ư? Nếu mà như vậy thì là nhân ngã chưa xả, thiết nghĩ những người mắng ta mới chính là thiện tri thức của ta, do vậy cần nên Cảm Ơn Người Mắng Ta Vì Họ Giúp Ta Tiêu Nghiệp.

    @Mạt nhân phàm phu:
    Phật dạy:”…thất bại lớn nhất của đời người là tự đại…đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty…” Do vậy thiết nghĩ cần nên giử ở trung đạo mới là thượng sách. Theo mình nghĩ thì pháp vốn dỉ là bình đẳng (chỉ là niệm Phật cầu sanh Tây Phương mà thôi) chứ nào có cao thấp gì. Cao hay thấp là do tâm phân biệt của mình mà ra. Do vậy bài pháp mà mình không hiểu chưa hẳn là bài pháp cao cũng chưa hẳn là bài pháp thấp. Nói chung thì trang mạng này một ngày có gần 5000 người truy cập, căn cơ không đều nhau. Do đó “tùy cơ nói pháp” cũng như tùy bệnh mà cho thuốc, do đó ai bệnh gì thì tìm đúng thuốc đó mà uống thì mới hết bệnh, người bệnh nhức đầu đâu thể nào uống thuốc đau bụng mà hết được vả lại thuốc đắng dả tật, cho nên một phần cũng đòi hỏi người xem phải biết mình đang bị bệnh gì để tìm đúng thuốc mà uống, quan trọng là có uống thuốc thì mới mong khỏi bệnh.

    @DATT & DAQH:
    Văn tự cũng như là phương tiện, cho nên viết như thế nào mà ai cũng có thể hiểu, ai cũng có thể thực hành và ai cũng đều được lợi ích thì mới chính thực là “khéo đem phương tiện lợi quần sanh“. Trong quá trình đó có nhiều gian nan vất vả…nhưng thiết nghĩ vì “nguyện lấy trần lao làm Phật Sự” cho nên hy vọng nhị vị chớ nên nản lòng mà bỏ cuộc, hãy dùng “tâm vô sở chấp” để tiếp tục duy trì, phát dương quảng đại.

    @Không Tâm:
    Người sơ cơ học Phật thì thường chú trọng diệt tam độc, tham, sân, si. Nhưng người tu lâu rồi thì chắc hẳn cũng biết là ngoài tham sân si còn có mạn, nghi, kiến thủ…Do vậy chẳn lẻ chúng ta học xong bài tham sân si thì dừng lại, cho là đủ, không cần học thêm để biết thế nào là mạn, nghi, kiến thủ…hay sao?

    Người VN thì gọi biển Đông là biển Đông vì ở phía Đông của VN. Nhưng người Trung Quốc thì gọi biển ấy là biển “Hoa Nam” vì ở phía nam của Trung Hoa. Sự tranh chấp phát sanh là từ chuyện cái giàn khoan. Chiến tranh có thể bùng nổ nếu như cả đôi bên đều không chịu nhượng bộ. Hòa bình được duy trì là do Mỉ đã đứng ra can thiệp. Nếu Mỉ ủng hộ bên nào thì bên kia sẽ phải nhượng bộ (nhưng vẫn ấm ức trong lòng). Nếu như Mỉ và Liên Hiệp Quốc đã làm ngơ không ngó ngàng gì tới vậy thì chiến tranh có xảy ra hay không? Làm sao để có sự hòa bình tuyệt đối? Có phải là cả hai đều tự kiểm thảo, sửa lỗi của mình và không nói lỗi người nữa hay không?

    Ở đây mình học lóm mỗi người một chút, tiếp thu những ý kiến đóng góp của nhiều người, đón nhận những cái đúng và không để ý đến những cái sai. Bởi vì Muốn Tâm Thanh Tịnh Đừng Nên Để Ý Đến Lỗi Người Khác.

    Vài lời chia sẻ, hy vọng thế giới (internet) hòa bình, chiến tranh (nội tâm) chấm dứt. Mong là mọi người hãy thật vì lợi ích chúng sanh mà hoằng dương chánh pháp để báo ân Phật chứ chẳng phải vì danh vọng cá nhân để thị phi hơn thua rồi phát sanh phiền não.

    Nam Mô Thường Bất Khinh Bồ Tát

    • Huệ Tịnh

      A Di Đà Phật Lục Hòa Kính và các liên hữu.

      @LHK: HT đây không dám nhận lời khen của đạo hữu vì phàm phu như mình tự biết còn cách Phật rất xa lòng thiệt hổ thẹn. Tuy tự biết con đường trên huớng cầu Phật Trí nhưng khi tu tập lời Phật và các Thánh hiền Tổ sư đã chỉ dạy thì trong lòng ao ước gì tất cả chúng sanh trên thế giới ai ai cũng thức tỉnh được y theo 8 câu đơn giản nầy mà thật hành theo căn cơ sức lực là HT hoan hỷ lắm rồi. Đa số chúng ta ai cũng có thể quyết lòng “Phát tâm Bồ đề – Ăn chay niệm Phật” buông bỏ tánh xấu mà hối hướng nguyện cho tất cả chúng sanh 10 phương pháp giới cùng ta đồng sanh Cực Lạc quốc. Nếu nguời nào phát tâm như thế mà sau khi xả thân kiếp nguời không được vãng sanh về Cực Lạc thì HT đây xin đọa vào địa ngục. Vì sao HT bảo đảm như thế? Vì tín nguyện có một sức lực phi phàm bất khả tư nghì vô bờ bến như tận hư không. Nhân nơi tín nhỏ nguyện nhỏ thì quả nhỏ. Người Phật tử như chúng ta phải phát tâm rộng lớn càng rộng càng tốt thì khi tin vũng chắc lời Phật dạy mà ăn chay niệm Phật mới đem lại kết quả tốt đẹp rộng lớn cho chúng sanh tức là cho mình. Tuy biết địa vị của mình đang ở nơi phàm phu nhưng vì không muốn làm kẻ nghèo lang thang mê muội trong sáu nẻo luân hồi nữa mà phát tâm Phổ Hiền hạnh nguyện. Khó khăn thế nào cũng phải mong cầu tiến tới đằng trước. Kiếp nầy chưa thành tựu mười Đại Nguyện của Phổ Hiền thì nguyện sau khi vãng sanh về Cực Lạc đời đời kiếp kiếp sau sẽ thành tựu.

      Tu hành không cần phải thật hành cao siêu nghi thức phương pháp hình tướng gì cả. Điều quan trọng nhất phải luôn luôn kiên cố giữ cái đức TÍN và THỆ NGUYỆN. Coi 2 đức đó như là tánh mạng của Phật trong người mình đang sống. Nếu mất đi thì mình không khác gì người chết. Tín Nguyện là mẹ của tất cả công đức vô lậu. Nếu ai tu các thiện pháp mà tâm không có đức tín nguyện thì học trì đọc tụng kinh Phật hay hạ thủ công nhất tâm bất loạn liệu có đem lại lợi ích gì cho chúng sanh không?

      Mười phương chư Phật nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con còn đang mê muội ham vui trong nhà lửa. Chúng sanh nào thức tỉnh có tâm nhớ Phật nguyện gặp lại không lý do nào mẹ hiền không đưa tay tiếp dẫn về nhà. Người đời mẹ con còn làm được như thế hốn chi chư Phật oai thần khắp mười phương pháp giới không ai sánh bằng không đủ sức lực để tiếp dẫn chúng ta hay sao? Nghiệp lực của chúng sanh có nặng bao nhiêu đi nữa cũng không bằng thần lực nguyện lực của chư Phật và chư Bồ Tát. Nghiệp lực do võng tưởng kết tụ thành tập khí rất mạnh nhưng có mạnh cở mấy cũng là vọng. Vọng không thể thắng chơn. Cho nên trong kinh Di Đà Đức Phật lúc nào cũng nhắc chúng ta nếu tin thì nên phát nguyện sanh về Cực Lạc để thoát sanh tử luần hồi một cách dễ dàng do oai thần lực và nguyện lực của Phật A Di Đà cùng 10 phương chư Phật và chư Đại Bồ Tát.

      Đến đây HT xin tạm ngưng không dám bổ sung thêm sợ mất đi lợi ích cho các liên hữu. Chỉ muốn nhắc nhở huynh đệ liên hữu cư sĩ tại gia phải luôn luôn nghĩ đến cho thế hệ con cháu xã hội sau nầy mà tu tập. Ăn chay vì lòng từ bi mà ăn. Niệm Phật vì nguyện vãng sanh Cực Lạc mà luôn cố gắng nhớ trì niệm. Nhất tâm bất loạn không quan trọng. Quan trọng là mình làm Gương sáng tiếp soi chiếu vô lượng quang của Phật A Di Đà cho mọi người ai cũng có thể được phát tâm tu tập hằng ngày như mình để đồng sanh Cực Lạc. Tu hành hay ở chổ tuỳ duyên căn cơ tự liệu sức mình mà giữ cho thiệt chắc. Thâm nhập kinh tạng hay nhất tầm niệm Phật không phải khi ta ngồi trong phòng ngộ ra đâu. Mà thật ra khi ta tiếp xúc mọi hoàn cảnh bất ngờ đến đáng lẻ phải phiền não vui mừng lo lắng buồn giận mệt mỏi mà Tâm ta vẫn bình Ý không động Tánh xấu không khởi lên thì đó mới thật sự nhập vào bờ mé của Phật Tri Kiến.

      Một đứa con trai 11t của HT phát tâm bồ đề niệm Phật Di Đà hằng ngày HT nguời làm cha đây rất hoan hỷ. Tuy đứa con mình chỉ niệm Phật 150 lần sáng tối 2 thời nhưng HT biết và yên tâm đứa con mình sẽ vãng sanh thành Phật. Chủng tử Bồ Đề niệm Phật tức quả sẽ thành Phật không hư dói.

      HT xin hỏi các liên hữu tu tập 2 thời khoá sáng tối ra sao? Xin các liên hữu hoan hỷ chia sẻ cho tất cả biết để học hỏi thêm.

      Nguyện cho các Phật tử sơ phát tâm và các liên hữu lòng tin vững chắc nguyện thệ kiên cố sớm về Cực Lạc trước HT.

      ————————————————————-
      Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Đại Nguyện Quang Như Lai.

    • Phúc Bình

      Những lời chia sẻ của liên hữu là rất chí lý (PB đoán là đại diện ban quản trị trang web) nhưng theo ngu ý của PB ở đây vấn đề có thể không phải là việc tranh luận mà là vì sao để xảy ra những tranh luận như vậy.

      Những ai đã theo dõi trang web này lâu năm đều hiểu rằng một phần làm nên sự yêu mến của độc giả dành cho các bài viết đăng trên website này là sự bình dị, gần gũi với người đọc cũng không mang phong cách của một website nào khác với nội dung khai thị là chủ yếu. Đúng như những gì Tổ Ấn Quang Đại Sư đã lấy làm tông chỉ để hoằng dương Tịnh độ đó là “Đối với hết thảy mọi người đều dùng “tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương” để khuyên nhủ, bất luận xuất gia hay tại gia, ai nấy đều phải chú trọng trọn hết bổn phận con người, gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành. Bất luận người sang hay kẻ hèn đều dùng những điều này để bảo ban, khiến cho hết thảy mọi người trước hết làm một người hiền, người lành trong thế gian, ngõ hầu cậy vào Phật từ lực siêu phàm nhập thánh, vãng sanh Tây Phương! Trọn chẳng nói với người khác những lời lẽ lớn lao khiến họ không thực hiện được, mặc cho người ta bảo mình là hạng Tăng chỉ biết cơm cháo, trăm sự không làm được điều gì. Đại lược là như vậy đó!”.

      Cho nên khi gần đây liên tục có những bài viết văn tự cao siêu, bác học được trang web truyền đạt đã khiến không ít người bỡ ngỡ cũng là lẽ thường kéo theo những suy tư, thắc mắc… mong rằng ban quản trị xem xét không thì một thời gian nữa cái lo lắng Đường về cõi tịnh lại mất đi “bản sắc” của mình thì thật đáng tiếc cho những ai đã trót yêu mến DVCT. Vì đúng là để tìm và đọc pháp của Hòa thượng Tịnh Không một cách sâu sắc phật tử sẽ vào ngay các trang chuyên về các bài viết của HT để tìm hiểu, tìm hiểu kỹ hơn về pháp tu của Ngài Ấn Quang thì phải đọc các trước tác của Ngài, cũng tương tự như vậy đối với pháp của Ngài Pháp Nhiên, Ngẫu Ích, Liên Trì … đúng không ạ?

      Nam Mô A Di Đà Phật!

  18. Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật liên hữu PB.

    HT đây không phải là kẻ văn tư tu tập sâu sắc như các vị đã theo trang DVCT lâu năm. HT chỉ may mắn vô tình vào trang DVCT đã mấy tháng nay thôi chứ không dám đại diện cho ai cả.

    Còn nói đến tranh luận thì HT đậy cũng cảm thấy hổ thẹn tánh xấu đó vẫn còn. Tánh xấu tập khí vẫn còn cho nên vì lòng lợi ích cho mọi người mà nói ra nhưng ai ngờ vẫn còn chấp kẹt theo văn tự tranh luận đê nuôi dưỡng cái bản ngã. Mình nói ra thì dễ phạm lỗi kiến thức phàm phu cho nên nếu nguời đối tuợng cũng bị chiêu cảm nghe xong đối đáp với nhau biến thành tranh luận giữa hai bên. Còn tranh luận chấp pháp thì còn cái ngã nguời ta nhìn vô thấy nghe mất lòng tin về Phật pháp thì đáng tiếc.

    Cho nên trong thời mạt pháp kinh điển suy diệt vì chúng sanh nghiệp lực ngã chấp nặng nề chỉ ưa chấp văn tự thuyết pháp. Thật sự vì muốn chán bỏ cái bản ngã mà tu hành thì hiếm. HT đã tự thấy mình và Phật tử xung quanh đa số y như vậy không sai chút nào. Cho nên vì vậy mà càng thấy tại sao vị Tổ sư Tịnh Độ thứ 13 Ấn Quang Đại Sư khi còn sống khuyên dạy như sau:

    ———————
    Đại sư có ba điểm đặc biệt khác hơn những vị xuất gia đương thời:
    – Một là không lãnh làm trụ trì tự viện lớn, vì cho mình kém đức, e chướng ngại đến sự thanh tu.
    – Hai là không thâu đệ tử xuất gia, vì xét thấy vào thời mạt pháp đã sâu, người xứng đáng với bổn phận xuất gia rất ít, nên không muốn gây nhiều hệ lụy.
    – Ba là không quyên mộ khuyến hóa, bởi thẹn thấy nhiều kẻ vì lợi danh mà làm mất sự thanh khiết của nhà tu.
    Về duyên hoằng hóa, Đại sư, quán xét vào thời mạt vận đạo đức lần suy, nhân căn hầu hết đều kém yếu, phần đồng chỉ ở trình độ giữ Tam quy, Ngũ giới, niệm Phật ăn chay mà thôi, như thế cũng gọi là đã có nhiều căn lành rồi, còn hạng siêu xuất thì thật ra tuyệt ít. Vì thế, đại khái Ngài chỉ khuyên giữ trọn luân thường, tin chắc nhân quả, lánh dữ làm lành, Tín Nguyện niệm Phật, cầu sinh Tây Phương. Người đáng chiết phục, dù bậc Thiền túc cự Nho, đạt quan danh sĩ, cũng thẳng thắn chỉ trích. Kẻ đáng nhiếp thọ, tuy hàng sơ học hậu sinh, nông công nô bộc, cũng từ ái khuyên dạy. Cách giáo hóa của Ngài, chỉ đem những sự lý thiết thực bình thường để khuyến ích, tuy chính mình hiểu sâu tông giáo, song không chuộng huyền luận cao đàm.

    HT.Thích Thiền Tâm (nguồn tư liệu về 13 vị Tổ của Tịnh độ tông)
    —————

    Thành ra HT đây cảm thấy mình còn có chút căn lảnh phước đức y theo đó mà thật hành và khuyên gia đình cha mẹ anh em bà con bạn bè xung quanh như vậy để thành tựu viên mãn một lòng tin tưởng nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Ngừa thư rác *