Thực Tập Oai Nghi Và Tế Hạnh Của Người Phật Tử [Video]

Thực Tập Oai Nghi Và Tế Hạnh Của Người Phật Tử [Video]

Nhà Phật gọi tác phong là oai nghi và tế hạnh. Tác phong là hành vi cử chỉ, lời nói, cách ăn mặc hằng ngày. Hạnh kiểm là những tính hạnh nết na. Người có hành vi cử chỉ đúng đắn, nghiêm chỉnh, tính hạnh nết na hiền hòa, vui vẻ, nhã nhặn lễ độ thì được khen là đức hạnh tốt. Trái lại, nếu người có hành động, cử chỉ thô tháo sỗ sàng, tính nết thô lỗ, hung dữ, xấu xa thì không ai muốn gần.

Oai nghi tế hạnh của người Phật tử được thể hiện trong những hành động như: xá chào, lạy Phật, đi đứng, ngồi, nằm, ăn, uống, ngủ nghỉ v.v…

XÁ CHÀO

Khi gặp chư Tăng hay bạn đồng đạo, chắp tay xá chào như sau:

Đứng ngay thẳng, hai tay chắp ngang trước ngực, 10 ngón tay hướng lên. Khi chắp tay không được bọng giữa, các ngón tay không so le, không để ngang miệng, hai bàn tay không xà xuống.

Trước khi xá chào hai tay chắp trước ngực, trong khi xá toàn thân trên khom xuống một góc khoảng gần 60o, tay cũng xá xuống, kèm theo câu niệm “A Di Đà Phật”.

Không đứng xa quá 3 mét. Không đứng trên cao xáù xuống, không ngồi xá, không vừa đi vừa xá, không xá một tay, không cầm vật trên tay xá, đang làm việc hoặc tay dơ bẩn không được xá, không xá theo kiểu gật đầu lia lịa.

Người Phật tử khi đến chùa và lúc ra về phải chào thầy trụ trì.

LẠY PHẬT

Khi nghe tiếng chuông thì lạy xuống, nghe dập chuông thì đứng dậy. Không đứng chính giữa chánh điện làm lễ. Không đi ngang qua chỗ người đang lễ. Không lên chỗ bục của chư Tăng hành lễ.

Khi chư Tăng đang ăn cơm, cạo tóc, đọc kinh, làm việc, kinh hành… đều không được làm lễ.

Tư thế khi lạy: điều chỉnh thân nghiêm chỉnh, hai chân khép lại theo hình chữ V, hai tay từ tư thế chắp trang nghiêm trước ngực từ từ đưa lên trán, khom mình xuống, chống hai tay xuống đất xong ngửa hai bàn tay ra và trán chạm xuống đất ở giữa hai bàn tay. Toàn thân phải hạ sát đất, hai bàn chân duỗi ra, mông chạm sát trên hai gót chân. Đó gọi là “năm vóc sát đất”.

Khi đứng dậy, hai tay úp lại, đẩy người từ từ đứng lên trở về vị trí ban đầu, đồng thời xá một xá.

Tư thế quỳ: lưng phải ngay thẳng, đầu hơi cúi xuống, hai tay chắp ngay ngắn trước ngực.

TƯỚNG ĐI

Người Phật tử phải đi khoan thai nhẹ nhàng, chững chạc, dù trong nhà hay ngoài đường lúc nào cũng phải giữ tướng đi cho ngay thẳng trang nghiêm nhưng không mất vẻ tự nhiên. Không được vừa đi vừa nhảy, không liếc ngó hai bên, hoặc hát nghêu ngao, không đi ưỡn ẹo, không đi nhón gót, không vừa đi vừa đưa tay lên xuống quá cao, không vừa đi vừa mặc hoặc cởi áo tràng.

Phải nhường bước cho người lớn đi trước. Không đi trước mặt thầy, không đi ngang vai với thầy, phải đi phía sau thầy. Lên xe, phải nhường cho người già cả, yếu đuối lên trước. Đừng chen lấn, xô đẩy giành chỗ ồn ào làm mất tư cách của người Phật tử.

KINH HÀNH

Bước chân đúng theo tiếng niệm Phật, bước chân phải đặt xuống đúng ngay chữ “A” và chữ “Phật”, bước chân trái rơi vào chữ “Nam” và chữ “Đà”. Hai tay chắp trang nghiêm trước ngực, không lắc vai nghiêng mình, đầu hơi cúi, mắt nhìn xuống không nhìn hai bên. Đi nhiễu Phật theo chiều kim đồng hồ từ trái sang phải, khi xoay mình cũng xoay theo chiều kim đồng hồ.

TƯỚNG ĐỨNG

Không đứng dựa tường, dựa ghế, dựa cột, không đứng khúm núm, không đứng chống nạnh ra oai. Khi đứng nói chuyện với chư Tăng nên đứng nghiêm chỉnh, hai tay chắp hoặc buông xuống. Khi hành lễ, tụng kinh phải đứng ngay thẳng, hai tay chắp trước ngực. Không xoay qua xoay lại liếc ngó láo liên. Không đi tới lui làm mất trật tự.

Không được đứng trên cao nói chuyện hay kêu gọi chư Tăng ở dưới thấp.

TƯỚNG NGỒI

Nếu ngồi trên ghế phải ngồi thẳng lưng, hai chân thòng xuống để ngay ngắn trên đất. Khi ngồi không ngoẹo đầu, ngoẹo cổ, không khom lưng, không dựa ngửa, dựa nghiêng, không ngồi úp mặt trên bàn, không ngồi chồm hổm trên ghế, không ngồi gác chân chữ ngũ, không ngồi rung đùi, không lắc lư hai chân, không gác chân lên ghế, lên bàn.

Khi tụng kinh, tọa thiền phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng như tường vách. Có hai cách ngồi:

– Kiết già: bàn chân trái đặt lên đùi chân phải và bàn chân phải đặt lên đùi chân trái (kéo sát vào thân). Bàn tay phải đặt ngửa trên bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm vào nhau.

– Bán già: bàn chân trái đặt lên đùi chân phải hoặc bàn chân phải đặt lên đùi chân trái. Bàn tay phải đặt ngửa trên bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm nhau.

Đang ngồi tự do nếu thấy chư Tăng đi qua phải đứng dậy xá chào.

Không được ngồi nói chuyện khi chư Tăng đang đứng (hoặc ngồi thiền, niệm Phật).

Khi tiếp xúc với thầy, thầy cho phép ngồi mới ngồi, không được tự ý ngồi trước.

TƯỚNG NẰM

Khi nằm ngủ hay nghỉ ngơi, không nằm nghiêng bên trái, vì trái tim nằm về phía trái của lồng ngực, tim sẽ bị đè nén, máu không lưu thông được, dễ dẫn đến ác mộng, (có thể nằm ngửa với tư thế thân ngay thẳng, hai chân khép lại, tay đặt trên bụng hoặc duỗi thẳng, nên lấy mền che phần bụng dưới lại cho kín đáo). Không nên nằm sấp vì buồng phổi bị ép làm khó thở.

Nằm theo thế cát tường tức là nằm nghiêng bên phải, chân tay duỗi thẳng (giống tư thế đức Phật nhập Niết bàn), đây là cách nằm an lành tốt đẹp, vừa trang nhã vừa có lợi cho sức khỏe.

TƯỚNG ĂN

Trong chùa khi ăn cơm phải cúng quá đường. Đại chúng mặc áo tràng, khi ngồi nhớ vén vạt áo tràng phía sau cho gọn gàng, lưu ý tay áo rộng đừng cho chạm vào thức ăn.

Cách thức cúng quá đường:

Tay phải kiết ấn cáùt tường: ngón tay cái đặtù lên ngón áp út co sát vào trong lòng bàn tay, ba ngón tay còn lại vươn thẳng lên. Tay trái: ngón giữa và ngón áp út co lại, ba ngón còn lại vươn thẳng lên, tạo thành thế kiềng ba chân, đặt chén vào giữa. Tay trái nâng bát đưa lên ngang tầm mắt, tay phải kiết ấn đặt ngang miệng chén.

Tam đề, ngũ quán: trước khi ăn ba muỗng và quán năm pháp, dùng hai tay nâng bát ngang tầm mắt, mỗi tay chỉ sử dụng ba ngón: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Sau đó để bát trên lòng bàn tay trái, tay phải cầm muỗng xúc ba muỗng cơm quán tam đề. Xong để muỗng úp xuống bát cơm, quay về phía trước, bàn tay phải đặt dưới bàn tay trái, nâng bát ngang chấn thủy, thầm niệm ngũ quán.

Trước khi ăn cơm nên rửa tay sạch sẽ. Phải ngồi ngay thẳng vững vàng, chẳng nên cúi sát mặt bàn, áp măït sát vào chén mà húp canh và cơm. Khi ăn chẳng nên ngậm cơm nói chuyện. Không gãi đầu làm bụi bay qua người khác, hay vào thức ăn. Khi nhảy mũi, bị sặc cơm phải quay ra phía sau tránh phun trúng người ngồi gần. Chẳng nên nhổ khạc, ợ ngáp ra tiếng, (khi ngáp phải lấy tay che miệng), hạn chế tối đa tiếng khua chén đũøa. Không hả miệng lớn lúc chờ đợi cơm. Lúc xỉa răng phải che miệng lại. Trong cơm có sâu kiến phải kín đáo gắp ra chớ để người ngồi gần thấy. Trên bàn ăn có món ngon món không ngon, đừng sinh tâm tham, gắp món ngon nhiều lấn phần người khác mà chê món dở. Cần món gì ngoài tầm tay, ra hiệu nhờ người khác chuyển giùm, chẳng nên gọi to nói lớn hoặc đứng dậy lấy thức ăn. Khi ăn không hà hít chắt lưỡi khen ngon chê dở, nên quán thức ăn để chữa bệnh ốm gầy. Khi uống nước nên rót ra bát, hai tay nâng bát lên uống chậm rãi. Ăn xong trước phải đợi mọi người cùng ăn xong, đứng dậy một lượt.

Sống trong gia đình hay trong chúng phải áp dụng đúng câu “lợi hòa đồng quân”, nghĩa là phải chia nhường nhau hưởng dụng của cải vật chất một cách công bình, không nên giành phần hơn.

CÁCH THỨC THỈNH TĂNG VÀ CÚNG DƯỜNG

Phật tử có duyên sự muốn cung thỉnh chư Tăng hoặc cúng dường, trước hết phải thành tâm, mặc áo tràng, tay bưng khay lễ trên đặt phẩm vật cúng dường. Tác bạch thỉnh Tăng hoặc cúng dường theo đúng nghi lễ (lạy một lạy, đứng lên rồi quỳ xuống tác bạch, hoặc đứng trang nghiêm xá một xá rồi tác bạch). Sau khi chư Tăng đã nạp thọ, lạy ba lạy rồi lui ra.

Cúng dường Tam bảo là bổn phận của người Phật tử tại gia, nhằm góp phần hộ trì Tam bảo và hoằng dương Phật pháp. Khi cúng dường, nên để tịnh tài vào một đĩa nhỏ đặt trên bàn, không nên cầm tiền trên tay hoặc nhét vào túi áo chư Tăng (không được lịch sự).

CÁCH MẶC Y PHỤC

Người Phật tử nên mặc y phục trang nhã, kín đáo vừa hợp tầm vóc, không quá chật hay quá rộng. Không dùng những màu sắc sặc sỡø, bông hoa lòe loẹt, không mặc loại vải quá mỏng, không mặc y phục kiểu cách kỳ dị, hở hang, khêu gợi.
Khi đến dự khóa tu Phật thất, tất cả đều phải mặc y phục màu lam.

CÁCH GIAO TIẾP VỚI MỌI NGƯỜI

Khi giao tiếp với ai phải giữ thái độ điềm đạm, hoan hỷ. Không nên quá niềm nở hoặc cười cợt lả lơi. Phải thành thật ngay thẳng, nhu hòa khiêm tốn. Không nói hớt, không giành nói, không đùa dai.

Khi nói chuyện với thầy phải giữ lễ độ, đứng chắp tay hoặc đứng trang nghiêm, không nên cười giỡn hoặc nói lớn tiếng. Không kết tình cha mẹ, anh chị em với người xuất gia.

Khi gặp việc gì dù khó khăn rắc rối cũng phải giữ bình tĩnh ôn hòa, không tỏ vẻ cau có bực bội.

Phải biết giữ uy tín và danh giá của mình bằng cách không nói càn hứa ẩu. Đừng nói mập mờ để người ngộ nhận, rất có hại, phải biết lắng nghe và nói đúng lúc, nói đúng lý. Không nói quá nhiều, không nói lớn lối khoe khoang, không nói chê bai, không nói đùa giỡn, không nói lời khích bác.

NHỮNG PHẦN PHỤ

* Khi lên chính điện cần lưu ý:

– Khi vào lễ Phật, nếu đã có nhang cắm trong lư rồi không nên thắp thêm.
– Không đứng trên chính điện mặc áo tràng.
– Không tùy tiện đánh chuông, trống, mõ, khánh.
– Không nên tranh giành chỗ ngồi.
– Tay dơ bẩn không nên cầm kinh.
– Khi muốn ngáp phải che miệng.

* Bổn phận chúng trưởng:

Thường xuyên theo dõi, săn sóc, nhắc nhở chúng viên của mình như khi đau ốm, ăn ngủ phi thời, không giữ đúng oai nghi. Thường xuyên báo cáo lên Ban tổ chức biết những việc cần thiết cũng như những điều không tự giải quyết được.

Ngoài ra, khóa sinh phải sống đúng tinh thần lục hòa. Không nên thấy lỗi người khác, phải thực sự đóng góp xây dựng để giúp đỡ người thiếu sót về phong cách đạo đức. Không nên bỏ mặc làm ngơ trước sự thiếu sót của người khác về mặt tác phong.

Trên đây là những vấn đề thiết yếu trong đời sống tu tập của hàng Phật tử, quý vị cần phải lưu tâm, học hỏi và hành trì để trong những ngày tu Phật thất đạt được nhiều kết quả an vui, lợi lạc.

Thích Chiếu Triết biên soạn

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

2 Phúc đáp

  1. hà thanh

    Tất cả những bài viết trên trang web đều rất sâu sắc.con xin Cảm ơn những người thầy viết bài đã cho con hiểu biết hơn về phật pháp. A di đà phật.

  2. Tâm Từ

    ĂN CƠM CHÙA

    Ông bà mình ngày xưa dạy rồi, học ăn xong rồi mới học nói, hay là nhập gia tùy tục. Cho nên khi đi đến chỗ nào, nơi nào lạ lạ thì mình dành chút thời gian quý báu ra để hỏi han, hay tinh mắt hơn là để ý, bắt chước người ta làm kiểu gì thì mình làm theo. Chứ để một mình một kiểu, nói theo kiểu xì tin là “mẹ thiên hạ” thì không có được.

    Cái chuyện ăn là cái vấn đề muôn thuở, ở đâu cũng có những quy tắc và nghĩ lễ riêng. Mỗi nước mỗi khác, mỗi dân tộc mỗi khác, mỗi nhà mỗi khác. Cách ăn của Việt Nam nó khác với cách ăn của Nhựt Bổn, cách ăn của người Kinh khác với người đồng bào, cách ăn của dân quê khác với cách ăn của thành thị, cách ăn ngoài xã hội khác với cách ăn trong chùa. Nên khi đi chùa mình để ý một chút hay cố gắng chậm lại một nhịp để thấy người ta làm rồi bắt chước đặng nhìn vô nó thấy đẹp, người ta kêu Phật tử chùa này dễ thương. Bởi mấy này chỉ có trong Luật xuất gia mới ghi, Phật tử không được tìm hiểu nhiều nên nhiều khi góp ý cũng ngại, mà không góp ý thì ngó hổng ưng cái bụng.

    Khi tới giờ cơm, mấy chùa thường đánh bảng hay kiểng, miễn là cái gì kêu thành tiếng để người ta biết tới giờ cơm mà tới. Nên khi tới chùa làm công quả, nghe tiếng gõ thì tới ngay nhà ăn giùm, đừng giả lơ như nai vàng ngơ ngác, cho mình đẹp mà bị điếc rồi đợi người ta lên mời, phiền người ta, tội lắm. Có mấy bạn cũng dễ thương, cứ nghĩ chuông bảng kêu là tới giờ ăn, mà khổ nỗi, một ngày chuông bảng chùa kêu cả chục lần tùy vào giờ giấc và công việc, vậy mà cứ nghe tiếng kêu là chạy xuống bếp, xuống rồi không thấy đồ ăn, rồi hờn, thấy cuộc đời lừa nhau quá, tới chùa cũng không tha.

    Vô bàn cơm rồi, thường thì mấy chùa người xuất gia theo thứ tự ngồi từ trên xuống, lần lượt mới tới Phật tử ngồi sau cùng, hay có không gian hơn thì tăng tục có bàn ăn riêng. Vậy nên khi vô ngồi, làm ơn để ý thấy các vị xuất gia ngồi trên rồi thì nhẹ nhàng khiêm tốn ngồi dưới, chớ đừng có ỷ mình quen với thầy này cô này nên ngồi chen ngay giữa, kỳ lắm. Có mấy vị làm chức này chức kia, giám đốc hay gì, vô cứ muốn ngồi trên chỗ trụ trì. Tùy vào mỗi vị trụ trì có cho phép hay không thôi, chứ lớn ở đâu thì vô chùa cũng là người đến học đạo hết, nên cố gắng hạ mình xuống chút. Xác định chỗ ngồi xong thì xá thầy trụ trì, mặc dù không biết ai trụ trì thì cứ nhìn vô cái ghế cao nhất mà xá, không có thầy ngồi cũng xá, đó là cái lễ, mình vô nhà người ta mà không chào thử, coi được không.

    Ở nhà mà có ham ăn hố uống thì vô chùa cố bớt bớt lại, ngồi xuống rồi, xoa xoa cái tay chép chép cái miệng, cầm đũa gắp tới tấp không để ý xung quanh là chúng sinh họ dập. Ngước nhẹ lên trên thấy các vị xuất gia ăn rồi mình mới được ăn. Trước khi ăn nhớ chắp tay lại, nhìn chén cơm cúi nhẹ cái đầu xuống, hổng biết niệm cái gì thì nhìn cơm cười cũng được. Thật đấy. Không ai chửi mình khùng đâu. Xá chén cơm có 3 ý nghĩa lận, thứ nhất là tạ ơn Đức Phật, nhờ có ân đức của Phật mình mới có chén cơm này, mới có người tới cúng gạo cho mình ăn, chớ mình phước đức đâu mà họ cúng. Thứ hai, là cảm niệm công lao của người nông phu cất công gieo trồng, cày cấy ngoài ruộng để có ra đây cho mình hạt gạo, nhớ luôn tới con trâu hay cái máy cày, có nó mới có gạo cho mình ăn. Thứ ba là cảm ơn công sức người đã nấu cho mình bữa cơm này, có thể hy sinh một ngày tu tập, một ngày buôn bán để vô chùa nấu cho mình ăn, nên phải trân trọng. Xá trước khi ăn cơm là ý nghĩa vậy, còn nhiều ý nghĩa nữa lắm, đại khái là vậy. Đừng nghĩ chùa làm mấy việc ruồi bu, chén cơm mà cũng xá, coi chừng 0 điểm về chỗ.

    Thường thì người ta hay dọn một đôi đũa với một cái muỗng, đũa thì gắp miếng đậu hủ bỏ vô chén, muỗng thì xắn miếng đậu ra làm đôi kèm thêm ít cơm bỏ vô miệng. Chứ đừng quen tay theo kiểu cơm gia đình, lấy đũa gắp rồi thò vô miệng, mút cái chụt rồi thò ra gắp tiếp. Mấy người xung quanh họ xỉu hết, ăn ở sạch sẽ còn đỡ, lỡ mình hôi miệng hay bị bệnh gì dễ lây người ta ngại, ăn không được, họ đói mình mang tội. Thử tưởng tượng mình là người ăn sau, bưng đồ ăn thừa xuống, trong đó có mấy hột cơm còn sót lại, dám ăn không.

    Khi ăn thì giữ chánh niệm, nôm na là tập trung chuyên môn, đừng nói chuyện. Lỡ cười, sặc, ngồi ăn với thầy mà không ho được thì khó chịu lắm. Ví dụ trong chén lỡ có thấy cọng tóc dài thì cũng im lặng kéo ra rồi ăn tiếp, đừng có dơ lên hỏi tóc này của thầy hay Phật tử thì xong, coi chừng lần sau không được ăn cơm chùa nữa. Hỏi nhiều không chết, hỏi ngu mới chết.

    Trong bàn ăn thấy Thầy hay vị lớn nhất mà không nói chuyện thì cũng đừng nói, chứ ở trên ai cũng im ru, mình là nhỏ mà nói chỏng lên hay một mình mình nói thì không được, đó gọi là vô lễ. Có mấy chùa, ngồi ăn với Sư phụ mà mấy chú xuất gia cứ nói thao thao, không thèm để ý sư phụ có nói hay không, nói to nữa chứ, không ai nói mình cũng nói, mấy chú thì đùa giỡn, đó gọi là hỗn, ngồi trên mà không nghiêm thì sao nói Phật tử.

    Còn nữa, khi ăn mà người ta bưng thức ăn lên chưa kịp thì cũng hoan hỷ, chứ có mấy vị, thấy người ta vừa bưng đồ ăn tới là nhảy lên, bàn này, bàn này, để bàn này nè em, là chết. Cho dù có thèm món đó tới mức nào cũng phải giả bộ ta đây không thèm, có thì ăn, không thì thôi, quan trọng là thần thái, chứ thái độ mà chợ quá thì không được.

    Còn một chuyện nữa hầu như là ai cũng mắc phải. Đó là văn hóa gắp đồ ăn, có thân thiết tới mức độ nào cũng không được gắp đồ ăn cho người khác. Bởi mình có biết người ta thích ăn cái gì đâu mà gắp. Lỡ như họ đang trong chế độ kiêng cữ món đó hay kiêng kỵ thì mình thành người vô duyên, hổng lẽ họ gắp ra, nên phải ăn, mai mốt họ để ý mình ăn cái gì không được, họ gắp, đừng có thù. Trừ khi trường hợp có mấy món ở xa họ gắp không tới thì mới gắp giùm, mà cũng gắp ít ít, đừng bày đặt gắp nhiều tỏ vẻ thành ý, họ ăn không hết, cũng thù.

    Vá cơm hay vá canh múc xong rồi, lật út cái mặt nó xuống, nhìn thẩm mỹ biết bao nhiêu. Chứ múc xong thả trôi lềnh bềnh trên mặt nhìn chợ gì đâu, người ta quánh giá bổn thân mình. À quên, đang ăn thì đừng có gãi đầu hay vuốt tóc, sạch sẽ không sao, xui xui ở dơ không gội đầu hay có chí, gãi đầu một cái gàu rơi như sương mù Đà Lạt, nhìn cũng đẹp mà dơ. Hay lỡ có gió gàu bay qua chén người khác kèm thêm con chí, người ta không biết ăn vô, thấy mặn, kêu cơm chùa nấu lạ, cơm mà bỏ muối.

    Ăn xong thì xếp đôi đũa lại cho bằng nhau, đặt lên miệng chén hay xuống bàn tùy nơi, gác cái muống nhẹ nhẹ kế bên ra dấu là ăn xong rồi. Nếu có giấy lau miệng, lau nhẹ chấm chấm thôi, đừng dằn vặt bờ môi mình, lau xong xếp lại như cũ, vuông vức, ta kêu mình có văn hóa. Nhất là cái tăm, xỉa răng thì lấy tay che miệng lại, chứ vừa cười vừa xỉa răng, móc ra thấy cọng rau, kê lên hửi rồi bỏ vô miệng nhai tiếp, thấy ghê. Xỉa xong thì bẻ cây tăm làm đôi, chớ xỉa xong để nguyên, người ta tưởng chưa, xài lại, mốt ung thư răng cả chùa.

    Còn chi tiết nhỏ nữa là ăn xong lỡ chân đứng dậy rồi thì đi luôn, đừng đứng lên rồi, chặp sau thấy có món mới bưng lên, ngồi xuống ăn tiếp, người ta biểu mình phàm ăn. Tốt nhất là ăn một lần thôi, ai mời nữa giả bộ kêu no, vậy cho sang, chứ đừng ai rủ cũng ăn, đó gọi là mâm nào cũng có, mất hình tượng. Ăn xong trước khi đứng dậy nhớ chắp tay lại xá, xá thầy trụ trì rồi mới đi, có đầu có đuôi, vậy mới đẹp. Ngồi ăn chung một bàn lỡ mâm mình không có món kia thì cũng thôi, đừng có với qua mâm người khác. Gặp mấy người khó khó, đặc biệt là miền Trung người ta kêu ăn lắm mâm thì lắm lời, chưa kể với tay đứng dậy gắp, bị viêm cánh coi như xong. Tội người ta, đi chùa bị ung thư mũi.

    Còn nữa, ai mà có quan niệm ăn cơm chùa bị mắc nợ là bỏ liền, ngay và lập tức. Không biết từ đâu mà có cái tư tưởng kỳ quá. Nói vậy thôi chứ mấy người tu nợ trả chừng nào cho hết, người ta cũng hết dám vô chùa ăn cơm. Đúng ra mà nói, hạt gạo là do người dân khắp nơi đến cúng, nói cho hay là bá tánh thập phương cúng dường, nên mình ăn hạt gạo này là kết duyên lành với họ trong ngôi nhà Phật pháp, để sau này có duyên gặp nhau mà tu hành, người cúng gạo cũng đừng mang tâm chỉ cúng cho mấy vị xuất gia ăn, mà phải nghĩ đây là cơ hội gieo nhân duyên gặp gỡ nhiều người trong tương lai, cùng nhau mà tu tập, phước vậy mới có.

    Còn rất rất nhiều điều muốn nói nữa mà sợ viết dài rồi người đọc cũng thấy sân si, kêu viết bài góp ý mà dài như quỷ. Thôi thì mình là Phật tử đến chùa, cái gì chưa biết thì học từ từ, cũng không ai trách đâu. Việc ăn uống là thể hiện văn hóa và tư cách của mỗi con người nên cũng dè chừng mà kiểm điểm, để lại hình tượng tốt trong lòng người khác thì mình cũng dễ sống, để đi đâu cũng mang tiếng ham ăn hố uống, thần thái không sang thì coi như xong. Bài sau kiếm chủ đề khác để viết, chứ góp ý hoài người ta cũng sợ, riết rồi không ai dám đọc bài mình, mình cũng đã tốt hơn ai đâu, chẳng qua kiếm chuyện viết cho Phật tử đi chùa càng ngày càng đẹp hơn, oai nghi đẹp, hành xử đẹp, và quan trọng là tâm an lạc, chứ không phải thần thái nhé.

    07/03/2018
    Mộc Trầm

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *