Sơ Lược Về Lịch Sử Truyền Thừa Của Pháp Môn Tịnh Độ‏

Sơ Lược Về Lịch Sử Truyền Thừa Của Pháp Môn Tịnh Độ‏

Thật ra đường lối tu tập Tịnh độ tông phát triển ở Ấn Độ nhưng không lập thành tông phái, chỉ đến khi các kinh điển Tịnh độ từ Thiên Trúc được truyền sang Trung Hoa, pháp môn niệm Phật mới được thành lập tông phái và ngày càng lớn mạnh.

Chúng ta vẫn biết, dù Phật giáo truyền vào Trung Hoa từ cuối thế kỷ thứ I nhưng phải đến đầu thế kỷ thứ II, những kinh luận về Tịnh độ mới xuất hiện. Đầu tiên, vào năm 252, khi ngài Khang Tăng Khải từ Ấn độ đến Trung Hoa, đã dịch bộ “Kinh Vô Lượng Thọ”ra chữ Hán, giai đoạn này là vào thời Ngụy (250); kế đến thời Tôn Quyền, cư sĩ Chi Khiêm phát tâm phiên dịch bộ đại A Di Đà Kinh; mãi đến thế kỷ thứ IV, vào đời Diêu Tần, ngài Cưu Ma La Thập mới bắt tay vào dịch bộ kinh “Phật Thuyết A Di Đà Kinh” còn được gọi là “Tiểu Bản Kinh A Di Đà” mà ngày nay giới Phật tử chúng ta thường đọc tụng. Tiếp theo, các ngài Phật-đà-bạt-đà-la (Giác Hiền) dịch Tân Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Niệm Phật Tam Muội Kinh; ngài Trí Nghiêm dịch Tịnh Độ Tam Muội.

Sang thế kỷ thứ V, vào thời Lưu Tống, ngài Cương Lương Da Xá phiên dịch bộ “Kinh Quán Vô Lượng Thọ”. Đặc biệt, bộ “Vãng Sanh Tịnh Độ Luận” đã được ngài Thế Thân giảng luận rất sâu sắc, tinh tế. Đây là bộ luận rất có giá trị cho những người tu theo pháp môn Tịnh độ. Trước sự ra đời của ba bộ kinh: “Vô Lượng Thọ ”, “Tiểu Bản Kinh A Di Đà” và “Quán Vô Lượng Thọ” kết hợp với bộ “Vãng Sanh Tịnh Độ Luận” cùng vô số kinh điển Đại thừa ca ngợi, xiển dương Tịnh Độ làm cho Tịnh Độ ngày càng khởi sắc. Ngồi ra từ căn bản của những kinh sách Tịnh Độ đã được phiên dịch ra chữ Hán, các bậc cao Tăng thời bấy giờ còn trước tác nhiều bộ luận quan trọng về Tịnh Độ. Có thể nói bước sang giai đoạn này thì Tịnh Độ tông không những đã có nền móng vững chắc mà còn phát triển rực rỡ tại Trung Hoa.

Về sau, đến thời Đông Tấn, Pháp sư Đạo An đã trước tác bộ “Tịnh Độ Luận” có nội dung khẳng định Tịnh Độ tông là một chánh tông trong Phật pháp. Cũng trong thời Đông Tấn, ngài Huệ Viễn đã quy tụ trên 130 người gồm cả Nho, Lão, và Phật tử mở ra hội “Bạch Liên Xã” ở núi Lô Sơn, tỉnh Giang Tây. Hội này chuyên ròng niệm Phật, phát nguyện vãng sanh về Tây phương Cực Lạc. Đức hạnh của Huệ Viễn Đại sư và những thành viên trong hội này đã làm dân chúng trong vùng hết lòng kính ngưỡng, và học theo phương pháp niệm Phật của Ngài.

Kế tiếp sau đó là ngài Đàm Loan sống vào thời nhà Ngụy, trước tu pháp “Trường sinh” của đạo Tiên, nhân được ngài Bồ Đề Lưu Chi từ Ấn Độ sang, trao cho Ngài bộ kinh “Quán Vô Lượng Thọ”, nhờ vậy mà Ngài đã bỏ đạo Tiên quay sang đạo Phật, xiển dương Tịnh Độ. Ngài Đàm Loan trước tác bộ “Vãng Sanh Luận Chú”, có thể nói đây là bộ luận danh tiếng của Tịnh Độ tại Trung Hoa thời bấy giờ. Sau ngài Đàm Loan là ngài Đạo Xước (đồ đệ của ngài Đàm Loan) sống vào đời Đường, hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ. Thường nhật Ngài chuyên giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ tại chùa Huỳnh Trung, công phu niệm Phật của Ngài có nhiều thọ dụng nên hiển hiện ra nhiều điều linh ứng. Ngài trước tác tập “An Lạc” có nội dung ca ngợi sự linh ứng của pháp môn niệm Phật, qua đó tăng trưởng Tín Hạnh Nguyện cho người tu theo pháp môn niệm Phật.

Sau ngài Đạo Xước là ngài Thiện Đạo trụ trì chùa Quang Minh ở Trường An, ngài Thiện Đạo rất tinh chuyên niệm Phật và ra sức hoằng dương giáo nghĩa Tịnh Độ. Ngồi ra Ngài còn trước tác ra những bộ luận quan trọng như: Quảng Kinh Tứ Nhiếp Sớ, Đại Sớ và Tịnh Độ Pháp Yếu. Đây là những bộ luận giảng về tông chỉ Tịnh Độ rất sâu sắc thiết thực. Trong hàng đệ tử của ngài có Đại sư Hồi Cảm, rất giỏi về Pháp Tướng Tông, nhưng về sau chuyên tu theo Tịnh Độ. Ngài Hồi Cảm có soạn cuốn “Quyết Nghi Luận”, nội dung phá nghi, làm sáng tỏ giáo nghĩa Tịnh Độ.

Kế đến có Thiền sư Pháp Chiếu cũng xiển dương Tịnh Độ tông, Ngài từng thấy đức Văn Thù, đức Phổ Hiền và Thiện Tài Đồng Tử. Mọi người cho rằng Ngài là hóa thân của Hòa thượng Thiện Đạo. Sau Thiền sư Pháp Chiếu có Pháp sư Thiếu Khương, là người thông suốt Luật tạng, chuyên nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm, lãnh hội yếu chỉ Pháp Tướng tông, trí tuệ siêu việt, về sau Ngài cũng tu theo pháp môn niệm Phật, thường khuyên mọi người phát nguyện cầu vãng sanh về Tây phương Cực Lạc.

Ngài Trí Giả ở Thiên Thai, ngài Cát Tạng trụ trì chùa Gia Tường, ngài Pháp Thường ở chùa Phổ Quang, ngài Nguyên Hiểu, ngài Cảnh Hưng vv… đều là nhũng bậc Đại sư lãnh hội yếu chỉ Phật pháp, dù các ngài có phát huy tông phái riêng của mình nhưng vẫn một lòng xiển dương Tịnh Độ. Hầu hết các Đại sư này đều xác tín Tịnh Độ là một pháp môn hợp mọi căn cơ, phù hợp với thời đại và làm lợi ích cho chúng sanh thời mạt pháp.

Căn cứ vào những sử liệu hiện nay đang có thì các ngài Huệ Viễn, ngài Thiện Đạo, ngài Thừa Viễn, ngài Pháp Chiếu, ngài Thiểu Khương, ngài Diên Thọ, ngài Tỉnh Thường, ngài Châu Hoằng được người đời sau suy tôn là tám vị Tổ sư đầu tiên của Tịnh Độ tông tại Trung Hoa. (có tài liệu ghi rằng ngài Thạch Chí Hiểu sống vào đời nhà Tống đã thừa hành các bậc cao Tăng thạc đức thời bấy giờ lập theo thứ tự truyền thừa để suy tôn).

Đến đời nhà Minh, ngài Ngộ Khai đề cử ngài Ngẫu Ích làm Tổ thứ chín kế thừa ngài Châu Hồng. Sau đó, ngài Ấn Quang đã họp các bậc cao Tăng thạc đức tu pháp môn niệm Phật tại đạo tràng Linh Nham. Tại đây chúng hội đã suy tôn ngài Hành Sách làm Tổ thứ mười, suy tôn ngài Thật Hiền lên ngôi vị thứ mười một và Tế Tỉnh Đại sư lên ngôi vị thứ mười hai. Sau khi Đại sư Ấn Quang viên tịch, các liên hữu đã suy tôn Ngài lên ngôi vị Tổ thứ mười ba của Tịnh Độ tông.

Riêng tại Việt Nam, pháp môn niệm Phật chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người con Phật. Ngay từ ngày đầu du nhập, câu “Nam mô A Di Đà Phật” đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam, do bởi ngay trong câu Phật hiệu này, đã nói lên tấm lòng từ bi bao dung độ lượng của người con Phật, nó rất gần gũi với nếp sống hiền lương của người dân Việt.

Pháp môn Tịnh Độ du nhập vào Việt Nam trước thế kỷ thứ III, thế nhưng mãi đến thế kỷ thứ V, Tịnh độ tông mới thật sự phát triển. Giai đoạn này, các bộ kinh “Vô Lượng Thọ” và “Quán Vô Lượng Thọ” đã được nhà sư Đàm Hoằng người Trung Quốc mang vào nước ta, điều này đã giúp cho sự lưu thông của pháp môn Tịnh Độ thêm phổ biến.

Sang đến thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông (1023-1072) tuy thuộc thế hệ thứ nhất dòng thiền Thảo Đường, nhưng vẫn thường trì danh niệm Phật. Vào năm 1066, vua Lý Thánh Tông đã cho tạc một pho tượng Phật A Di Đà rất đẹp, tôn thờ tại tháp chùa Vạn Phúc. Ngày nay pho tượng này vẫn còn lưu giữ tại chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự) tỉnh Bắc Ninh.

Đến thế kỷ XII, có Thiền sư Tịnh Lực (1111-1175), tuy thuộc thế hệ thứ mười Thiền phái Vô Ngôn Thông, nhưng Ngài vẫn âm thầm mật tu Tịnh độ và thâm chứng “Niệm Phật Tam Muội”. Đặc biệt, vào thế kỷ XIII, vua Trần Thái Tông (1218-1277) đã dành hẳn thiên “Niệm Phật Luận” để bàn về niệm Phật trong “Khóa Hư Lục”, nội dung nói về lợi ích của pháp môn niệm Phật, qua đó khẳng định sự thù thắng nhiệm mầu, phù hợp mọi căn cơ của pháp môn niệm Phật.

Từ thế kỷ XVII trở về sau, pháp môn Tịnh Độ phát triển rất mạnh mẽ tại Việt Nam. Trong giai đoạn này, một số trước tác về Tịnh Độ tông có giá trị như: “Bồ Đề Yếu Nghĩa” của Pháp sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644), “A Di Đà Kinh Sớ Sao” của Đại Sư Minh Châu Hương Hải v.v… Đến thời cận đại chúng ta, đa số chư vị Hòa thượng đều xiển dương pháp môn Tịnh Độ, có thể kể đến: Hòa thượng Phước Huệ, Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Thiên Hoa, Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Thiền Tâm v.v… các Ngài đều là những bậc cao Tăng thạc đức, hết lòng phụng sự đạo pháp, suốt một đời chuyên tu Tịnh Độ và khuyên người niệm Phật.

Trích từ sách Chân Thật Niệm Phật Cực Lạc Hiện Tiền
Thích Thiện Phụng

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

11 Phúc đáp

  1. Hãy Niệm A Di Đà Phật

    A Di Đà Phật
    Nếu ai còn chưa biết về công đức của niệm Phật nhiều như thế nào,thì hãy đọc bài kệ sau trong kinh Hoa Nghiêm để có thể hình dung được phần nào về công đức niệm Phật.

    Mười phương tất cả các chúng sanh
    Tất cả đồng thời thành Chánh giác
    Ở trong một Phật hay hiện khắp
    Bất khả ngôn thuyết tất cả thân.

    Một thân trong số bất khả thuyết
    Thị hiện ra đầu bất khả thuyết
    Một đầu trong số bất khả thuyết
    Thị hiện ra lưỡi bất khả thuyết

    Một lưỡi trong số bất khả thuyết
    Thị hiện âm thanh bất khả thuyết.
    Một thanh trong số bất khả thuyết
    Trải qua kiếp trụ bất khả thuyết.

    Như một, tất cả Phật đều vậy,
    Như một, tất cả thân đều vậy,
    Như một, tất cả đầu đều vậy,
    Như một, tất cả lưỡi đều vậy,

    Như một, tất cả tiếng đều vậy,
    Bất khả thuyết kiếp thường khen Phật,
    Bất khả thuyết kiếp còn hết được
    Công đức khen Phật không hết được.

    Bất khả thuyết là một con số rất lớn.Đối với người tu tịnh độ thì khen Phật chính là niệm danh hiệu A Di Đà Phật.Vì thế không biết được điều này thật là đáng tiếc,có thể tin nhận được điều này,thật là có đại phước báo.
    A Di Đà Phật.

    • Mỹ Diệp

      Nam mô A Di Đà Phật

    • Huệ Tịnh

      A Di Đà Phật.

      Lá Thư Tịnh Độ – Ấn Quang Đại Sư

      “….Pháp môn Tịnh độ, như thông hiểu được, vẫn là điều rất quí, bằng có chỗ chưa rõ, cũng cứ tin chắc lời của Phật, Tổ chớ nghi ngờ, nghi thì cùng với Phật cách xa, khi lâm chung quyết khó được tiếp dẫn. Cổ đức cho rằng: “Pháp môn Tịnh độ chỉ có Phật với Phật mới rõ cùng tận, bậc đăng địa Bồ tát cũng không thể thấu hiểu hết”. Như bậc đăng địa Đại sĩ còn không thể thấu hiểu hết, ta đâu nên đem tâm lượng phàm phu mà ức đoán sai lầm ư?

      Nếu muốn nghiên cứu, nên xem Tịnh Độ Thập Yếu; quyển này do Ngài Ngẫu Ích Đại sư rút những tinh hoa trong các kinh sách Tịnh độ soạn ra, rất hợp thời cơ, đáng liệt vào bậc nhất. Mở đầu quyển là tập Di Đà Yếu Giải, từ trước đến giờ về Kinh A Di Đà, chỉ có những lời chú thích này là siêu tuyệt, phải tuân giữ không nên khinh thường…”

      Nam mô A Di Đà Phật.

  2. Ngọc Châu

    Nam-mô A-Di-Đà Phật, Kính bạch thầy. Lúc trước con có đọc đâu đó, hình như HT Thích Thiền Tâm có nói mà con không nhớ rỏ: nếu Phật Tử nào tự phô trương cái hay của mình và dìm chê cái hay của người khác thì sẽ phạm tội ba-la-di gì đó, vậy tội ba-la-di là tội gì? Có người nói là bị chặt đầu, có đúng không? Nếu lở phạm thì phải làm sao?

    Trong 48 đại nguyện của Phật A Di Đà thì Nguyện thứ 18 nói: Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác (trừ những kẻ phạm tội ngủ nghịch thập ác và phỉ báng chánh pháp). Có một số nơi không có ghi đoạn trừ những kẻ phạm tội ngủ nghịch thập ác và phỉ báng chánh pháp. Như vậy thì cái đoạn sau là có hay không? Nếu có vậy thì ngủ nghịch thập ác và phỉ báng chánh pháp là như thế nào? Nếu lở phạm thì phải làm sao?

    Kính mong quý thầy, quý cư sĩ hoan hỉ giải đáp dùm. Con xin cám ơn ạ. Nam-mô A-Di-Đà Phật.

    • Mỹ Diệp

      A Di Đà Phật
      Bạn Ngọc Châu thân mến!
      MD không phải là thầy, chỉ là cư sỹ tại gia, theo sự học nông cạn mà phản hồi thắc mắc của bạn, nếu có gì chưa chuẩn xác mong bạn hoan hỷ bỏ qua.
      Bà la di là tên của 4 giới Bà la di (4 giới khí) trong Tỳ kheo giới. Gồm:
      *Thứ nhất là giới đại dâm dục
      *Thứ hai là giới đại trộm cắp
      *Thứ ba là giới đại sát hại
      *Thứ tư là giới đại vọng ngữ
      Trong Kinh Vô lượng thọ, nguyện thứ 18 của Phật Di Đà “Lúc con làm Phật, chúng sinh mười phương, nghe danh hiệu con, chí tâm tin vui, có được căn lành, tâm tâm hồi hướng, nguyện sanh nước con, cho đến mười niệm, nếu không được sanh, con thề quyết không giữ ngôi Chánh Giác, duy trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp.” Cứ theo Kinh Vô lượng thọ thì đúng là có đoạn sau “duy trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp”
      *Ngũ nghịch là 5 tội: Thứ nhất là giết cha, hai là giết mẹ, ba là làm thân Phật chảy máu, bốn là giết bậc A la hán, năm là phá hòa hợp Tăng.
      *Thập ác gồm 10 tội:
      -Về thân: Sát sanh, trộm cướp, tà dâm
      -Về khẩu: nói hung ác, nói đâm thọc, nói dối, nói thêu dệt
      -Về ý: tham, sân, si.
      *Phỉ báng chánh Pháp là:
      -Không tin Tam bảo, không tin kinh điển Phật dạy, đem lời Phật dạy ra phân tích theo ý mình với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ chính pháp.
      -Không tin kinh điển Đại thừa là do chính Phật nói, lại đặt điều dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thực hành các kinh Đại thừa thì sinh lòng khinh dễ, ghen ghét…
      Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta từ thân, khẩu, ý đã tạo vô số ác nghiệp, nếu đã phạm thì phải sám hối, mà niệm Phật chính là sám hối. Ngay khi ý niệm ác vừa khởi, liền dùng câu A Di Đà Phật để sám hối. Đó chính là cách để chúng ta đoạn ác tu thiện. Thân này là thân để làm các việc thiện lành, khẩu này là câu A Di Đà Phật không rời, ý này ý niệm Thanh tịnh tha thiết cầu vãng sanh.
      Nam mô A Di Đà Phật

  3. Diệu Tiến

    A Di Đà Phật !
    Con xin cảm ơn Thày Tịnh Thái đã cho con Lời khuyên.
    Bạch Thày, Con sống giữa đời thường, nên chỉ có trọn vẹn thời gian Niệm Phật, Tụng Kinh Chú là giữ được ” nhất tâm ” ( không xen tạp )thôi. Hết thời gian đó, con vẫn bận rộn với những công việc hàng ngày. Nhưng con vẫn thường kiểm soát từng suy nghĩ của mình, luôn giữ Tâm Bình Lặng. Hiểu rõ được Khuyết điểm của bản thân, cố gắng ” quán chiếu” để sửa chữa, hạn chế bớt Tính khí của mình ( ví dụ : nóng nảy, ). Con hiểu rằng ” cố giữ Tâm Bình, nghĩa là Tâm vẫn chưa Bình, nhưng nhận ra được “sự không Bình ” đó để giữ gìn ( quán sát nội tâm ) thì vẫn tốt hơn là không tự nhận ra Chính Minh, buông lung Bản thân theo những vòng xoay của Công việc, cuộc sống đời thường ( Cảnh trần bên ngoài ) . Xin Các Thày cho con thêm nhiều Lời khuyên trên con đường tu tập của mình.
    Con xin chân thành cảm ơn !

    • Tịnh Thái

      Ngoài việc niệm Phật, tụng Kinh…thì Bạn hãy nên nghe pháp nhiều hơn thì công phu Nhìn Thấu & Buông Xuống được những tập khí của mình sẽ tốt hơn, cho đến công phu niệm Phật của bạn cũng sẽ hiệu quả hơn.

      Xin giới thiệu cho bạn một bài pháp rất hay, giản dị mà sâu sắc của HT. Tịnh Không – Nhìn Thấu là Trí Huệ Chân Thật:

      http://www.phatam.org/bookMp3/play/nhin-thau-la-tri-tue-chan-that-tac-gia:-ht-tinh-khong-phatam?pid=5&id=350

      Bạn hãy nên nghe đi nghe lại nhiều lần, mỗi lần nghe nhất định sẽ có chỗ ngộ khác nhau, càng nghe nhiều lần thì càng thấy “thấm thía”.

      A Di Đà Phật.

  4. Ngoc Tam

    Nam Mô A Di Đà Phật

  5. Phan Công

    Nam Mô A Di Đà Phật
    Kính thưa các bạn đồng tu. Để niệm phật được dễ thành tựu tôi ngoài lúc niệm Phật, đọc Kinh lúc rảnh tôi nghe các bài giảng của Pháp Sư Tịnh Không về Kinh Vô Lượng Thọ và dựa vào các lời giảng của Pháp Sư mà thực hành rất hiệu quả. Mong các bạn hoan hỉ tham khảo.
    Nam Mô A Di Đà Phật

  6. Hiện nay có kẻ tà kiến phỉ báng PS Tịnh Không, dùng các ngôn từ lắt léo bắt bẻ lời giảng của ngài nhưng lại không để cho người khác comment ý kiến. Chỉ một mình anh ta tự comment.

    Người này không thật sự hiểu lời giảng của pháp sư, lại còn khoe đã từng giảng kinh thuyết pháp và chê PS Tịnh Không không biết gì về Phật pháp.

    Việc khen chê là chuyện vặt vãnh nhưng viết bài tuyên truyền bắt bẻ bậy đăng lên mạng, người hiểu biết thì cười nhưng những người mới tìm hiểu Phật pháp nếu đọc thấy e sẽ sinh thành kiến, do vậy sẽ chướng ngại sự học tập.

    Bản thân tôi trước khi học Tịnh độ đã đọc một bài báo nói xấu PS Tịnh Không, do đó tôi bị chướng ngại không tin Tịnh độ và có thành kiến khi nghe các pháp thoại của PS Tịnh Không mặc dù cũng công nhận ngài giảng có lý. Sự chướng ngại này gây ra nhiều khổ sở, lầm lẫn cho tôi và sau đó tôi phải sám hối một thời gian thì chướng ngại mới hết và có thể hoan hỷ nghe pháp thoại của ngài, từ đó đến giờ được rất nhiều lợi ích.

    Tôi đã từng bị chướng ngại như vậy do đọc phải những bài viết phỉ báng bậy bạ, do đó nếu ai có cách thì hãy dẹp bỏ những bài viết như vậy để tránh cho người đi sau vấp phải.

  7. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Các liên hữu kính mến,

    1/ Việc các cá nhân trong đó có cả hàng tu sĩ đồng loạt lên tiếng, lập diễn đàn công kích, thậm chí phỉ báng pháp môn Tịnh Độ và PS Tịnh Không. Cho rằng Kinh Thủ Lăng Nghiêm là nguỵ tạo. Chú Đại Bi không phải của Quán Thế Âm thuyết. Quán Thế Âm cũng không có thật..v.v… trong thời gian gần đây chúng ta nên coi đó là lẽ thường, vì ngay lúc Phật còn tại thế, giáo pháp của Ngài và bản thân Ngài cũng bị những pháp sĩ ngoại đạo khác phỉ báng. Việc làm này càng khẳng định cho chúng ta thấy pháp môn Tịnh độ đang ngày được củng cố và phát triển vững mạnh. Những cá nhân thốt lời phỉ báng, cho rằng giáo pháp Tịnh Độ và kinh văn nói trên không phải do Phật Thích Ca nói, là do chư Tổ Trung Hoa nguỵ tạo rồi truyền thừa vào Việt Nam, có hai lý do. Một họ không có chủng tử niệm Phật, vì thế không thể phát khởi niềm tin này. Hai họ tự cho mình, pháp của mình mới là chánh pháp, ngoài pháp đó đều là tà pháp. Chỉ riêng niệm khởi chánh, tà thôi cũng nói lên pháp họ đang truyền bá. Nhưng chúng ta không nên tốn thời gian với họ, vì những gì họ phỉ báng, họ sẽ phải đón nhận những quả báo tương ưng khi xả báo thân. Các liên hữu phải hết sức thận trọng, không nên thốt lời phỉ báng khi gặp những thông tin, những bài pháp mang tính phỉ báng trên để không bị cộng nghiệp.

    2. Phật đã có lần cầm lá trên tay rồi hỏi Ngài A Nan: A Nan! Lá trên tay ta nhiều hơn so với lá trong rừng hay lá trong rừng nhiều hơn? Ngài A Nan đáp: Bạch Thế tôn! Lá rừng nhiều hơn. Thế Tôn nói: Pháp ta có thể nói cho chúng sanh hiểu cũng giống như lá trên tay ta vậy. Pháp Thế Tôn nói gồm những gì? Là 84.000 pháp môn. Ai đã từng đọc hết 84.000 pháp môn của Phật? Chỉ đọc thôi cũng cả kiếp không hết, đừng nói tới hiểu và hành trì. Một số chư vị biết Phạn ngữ, biết Hán cổ, biên dịch, khảo dịch được một số kinh sách từ tàng kinh, rồi cho đó là đủ, là pháp chính thống, pháp nguyên thuỷ, kế đó dùng trí phàm của mình, phủ nhận những giáo pháp Đại thừa cho đó không phải lời Phật thuyết. Việc làm này không khác người lạc vào rừng, vội vã tìm lối ra rồi phán trong rừng chỉ có vậy, có vậy. Quả thật thấy rừng mà chẳng thấy lá.

    3/ Điều quan trọng các liên hữu cần đúc kết là:
    a. muốn tu pháp của Phật phải tìm hiểu giáo lý Phật thật chân chánh
    b. phải chọn pháp tu cho đúng căn cơ
    c. phải tôn trọng nhân quả, hiểu sâu nhân quả báo ứng
    d. phải chọn cho mình một vị minh sư để học pháp mình đã chọn, đừng gặp ai cũng tôn làm thầy, gặp pháp nào cũng tu, cũng thử nghiệm, giảng sư nào cũng nghe cả. Pháp sư thì có phàm, có thánh. Thánh thì nhất quyết không tạo nghiệp phỉ báng. Chỉ còn phàm, vì vô minh nên thấy mình cao hơn tất cả nên mới làm vậy. Những người này Phật gọi là thật đáng thương.
    đ. Nghe pháp phải tư duy quán xét thật kỹ rồi mới thực hành. Những trang mạng, diễn đàn, pháp sư nào không hợp với căn cơ, pháp môn của mình phải tránh xa, bởi nghe nhìn thấy phiền não sẽ khởi và nếu tu theo sẽ khởi tà kiến.
    e. đã nguyện một đời lìa sanh tử để về Tịnh Độ, phải thực tâm phát tín-nguyện-hạnh, thực nguyện, thực tu, thực hành, chân chánh bỏ ác, hành thiện, quyết một đời lìa sanh tử để về Tịnh Độ. Mọi phước thiện công đức đều hồi hướng tận hư không giới chúng sanh đồng sanh tịnh độ. Nguyện lâm chung biết ngày giờ, thân không bệnh khổ, tâm không hôn mê, 1 niệm sanh về cực lạc. Dù cho có Phật tái sanh nói pháp đó không phải ta thuyết cũng không mất tín-nguyện-hạnh đã lập, bởi Phật là bậc chân Sư, không nói lời dối gạt, không nói dư thừa, không nói lưỡng thiệt. Nếu chúng ta nhất tâm hành trì như vậy, không về tịnh độ là không đúng vậy.

    Mong các liên hữu thật cẩn trọng để không bị lung lạc.

Gửi hồi âm đến VP Bấm để hủy hồi âm.

Your email address will not be published. Required fields are marked *