Sự Tích Niệm Phật Vãng Sinh Của Cư Sĩ Lạc Toàn Thông

Sự Tích Niệm Phật Vãng Sinh Của Cư Sĩ Lạc Toàn Thông

Hiếu Cảm Thiên Địa. Tấm Lòng Con Gái

I. Duyên Khởi.

Pháp sư Tịnh Không nói: “Phật pháp chẳng phải tôn giáo, chẳng phải triết học mà là sự giáo dục tột cùng viên mãn của Đức Phật đối với chúng sinh trong chín pháp giới. Đây là sự thật căn bản mà đệ tử Phật cần phải nhận rõ trước tiên”. Tiên phụ có thể vãng sinh cõi Tây phương, một đời bất thoái thành Phật, thật sự đã được sự trợ duyên ở hai phương diện:

Một là được sự giáo hóa từ bi khế lý, khế cơ của pháp sư Tịnh Không; hai là nhờ quyển sách “Làm cách nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật?”, nói rõ về tình huống lúc lâm chung. Và sự giải bày trong quyển “Diệu Âm cư sĩ vãng sinh kiến văn ký”, thuật rõ quá trình vãng sinh của Bồ-tát; sự khai thị của cư sĩ Hòa Liêu v.v… đều là những tăng thượng duyên cho việc vãng sinh của tiên phụ.

Pháp sư Tịnh Không thương xót chúng sinh, đã mấy mươi năm ngài dùng phương tiện thiện xảo, giảng kinh thuyết pháp lợi ích chúng sinh. Nhất là những năm tuổi xế chiều, ngài chuyên hoằng dương kinh điển Tịnh Độ. Ở trong nước hay ngoài nước, ngài đã nhiều lần tuyên giảng kinh Vô Lượng Thọ và kinh A-di-đà, khuyên người thật tâm niệm Phật. Dù cho có tuyên giảng những kinh điển đại thừa khác, ngài vẫn từng câu từng câu tán thán kinh A-di-đà, nơi nơi đều hướng dẫn người quay về Cực Lạc. Pháp sư đã từng nêu ví dụ của đại sư Thiện Đạo: “Cho dù Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hiện thân trở lại, bảo với chúng tôi còn có một pháp môn khác thù thắng hơn pháp môn Trì danh niệm Phật, có thể thành tựu ngay hiện đời, chúng tôi cũng phải chắp tay cung kính cảm ơn ý tốt của Ngài. Đồng thời nói rõ chúng tôi đang chuyên tu pháp môn Trì danh niệm Phật, hoàn toàn có thể một đời bất thoái thành Phật. Đối với pháp môn Trì danh niệm Phật đây, không hề có pháp môn nào thù thắng hơn, cần có lòng tin như thế”.

Pháp sư lại nói: “Chỉ có cầu sinh Tịnh Độ mới là thật sự báo đáp ân Phật, thật sự làm tròn đại hiếu”. Tiên phụ có thể hôm nay đã giải thoát sinh tử, vãng sinh Tịnh Độ, đã không uổng phí công giáo hóa chân thành của pháp sư.

Hai quyển sách, quyển “Làm cách nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật” và quyển “Diệu Âm cư sĩ vãng sinh kiến văn ký”[41] là tài liệu tham khảo quan trọng, đúng như lý, như pháp cho người trợ niệm, trong quyển “Kiến, văn, ký” của cư sĩ Liêu, thuật rõ quá trình vãng sinh của Bồ-tát, đó là người niệm Phật giới thiệu cha mẹ mình niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ và là ngọn đèn sáng chỉ dẫn trợ niệm cho cha mẹ lúc lâm chung. Nhờ cư sĩ Liêu nhiều lần đích thân đến đạo tràng hướng dẫn trợ niệm, có sự giúp đỡ rất lớn đối với sự vãng sinh của tiên phụ.

Sự tích tiên phụ niệm Phật vãng sinh, thật là sự minh chứng chân thật của tiến trình “Phát lồ sám hối” và “Thật tâm niệm Phật”. Được cư sĩ Liêu khích lệ viết thành văn, vì để báo ân Phật, báo đáp ân đức từ bi giáo hóa của pháp sư Tịnh Không, đệ tử hổ thẹn, cung kính ghi thuật lại tình huống chân thật trước và sau khi tiên phụ vãng sinh; mong rằng có thể giúp cho bốn chúng[42] đồng tu, thiết lập được niềm tin sâu, nguyện thiết đối với pháp môn Trì danh niệm Phật và có thể từng câu thánh hiệu Di-đà, mỗi niệm về cõi Tây phương, đầy đủ hành trang vượt qua sáu đường, thoát khỏi mười pháp giới, trọn đời này viên thành quả Phật vô thượng.

Kính ghi:

Đệ tử hổ thẹn, Ông Nghê đau lòng kính thuật.

Diệu Âm Tịnh Tông Học Uyển, ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đản sinh, năm Mậu Dần (1998).
II. Ký Thật[43].

– Nam-mô A-di-đà Phật!

– Thưa các vị thiện tri thức, tiên phụ thế danh Lạc Toàn Thông, pháp danh Diệu Âm, hưởng thọ 78 tuổi, cả đời làm công chức. Trước khi về hưu, ông giữ chức vụ Trưởng phòng nhân sự Sở vệ sinh của chính phủ tỉnh và ngụ ở ký túc xá công nhân viên của chính phủ tỉnh.
1. Cuộc sống của phụ thân sau khi về hưu.

Phụ thân là nhân viên nhà nước, thuở còn sống, ai dạy gì ông cũng không tin. Năm 1985, sau khi về hưu, phần lớn ông đều ở trong nhà, ít khi ra ngoài. Một lần nọ, chân phải của ông bị viêm đỏ một vùng như tổ ong, từ bắp vế đến bàn chân đều sưng phù rất nghiêm trọng. Sau đó, ông đến Tổng y viện Vinh Dân để phẫu thuật, khoét bỏ phần thịt ở đùi bị thối rữa, rồi lấy phần da nguyên ở bộ phận khác đắp vá lên đùi. Bác sĩ nói: “May mà ông phát hiện sớm, kịp thời đến bệnh viện, nếu không thì cái chân này có thể sẽ phải cưa bỏ, mới có thể bảo vệ mạng sống”.

Một hôm, ông cho những đứa con của tôi xem bắp chân của mình sau khi mổ, tôi trông thấy thật đau lòng! Lúc đó, tôi đã tiếp xúc Phật pháp, đã xem rất nhiều câu chuyện nhân quả báo ứng, nên tôi có lòng tin sâu sắc không nghi ngờ gì đối với sự báo ứng của nhân quả. Trước mắt, bắp chân của cha tôi, giống như chân gà, khiến tôi liên tưởng đến lúc nhỏ, cha thường hầm chân gà cho chúng tôi ăn. Mỗi lần ăn, cha đều làm một nồi to. Bấy giờ, tôi còn nhỏ dại, cũng thường vây quanh nhà bếp nghe mùi thơm mà thèm rỏ dãi. Nào ngờ, quả báo hiện tiền của cái “bụng tham ăn”. Cuối cùng lại báo ứng trên chân của cha tôi, quả thật khiến người ta đau lòng, hổ thẹn, cũng khiến tôi cảm thấy nhân quả thật đáng sợ.

Sau khi cha nghỉ hưu, chính phủ mở ra chính sách thăm viếng họ hàng ở Đại lục. Tuy ông cũng rất nhớ cha mẹ ở Đại lục nhưng không liên hệ được bạn bè ở đó và cũng chưa từng được trở về quê hương thăm viếng. Một phần vì sự đi đứng của cha đã không còn thuận tiện, mặt khác vì số tiền nghỉ hưu dùng trị liệu cho cái chân phải đã hết sạch, không còn cách nào trở về thăm viếng họ hàng một cách rỡ ràng. Vì vậy, cha tôi buồn bực lặng lẽ một mình. Tóm lại, cuộc sống sau khi nghỉ hưu của cha hoàn toàn không được như ý. Trong tâm ông vẫn còn một chút tiếc nuối.
2. Nhân duyên Tiên phụ tiếp xúc Phật pháp và tình hình niệm Phật hằng ngày của ông:

Lần thứ nhất, tôi tiếp xúc Phật pháp là do người hàng xóm, (bảo mẫu của con trai) tặng tôi một cuộn băng ghi âm truyền thụ Tam quy mà pháp sư Tịnh Không giảng giải.

Trước giờ tôi chưa hề tiếp xúc Phật pháp thì đâu có sách vở liên quan đến Phật học, cũng chưa hề nghe qua Sư phụ hoặc cư sĩ giảng kinh. Khi được nghe cuộn băng “truyền thụ Tam quy” này, lòng tôi rất vui vẻ, nghe đi nghe lại biết bao lần, vì nội dung của nó, thực sự rất khoa học, rất hợp lý. Từ trong cuộn băng này, tôi quả thực nhận thức được bản chất của Phật pháp là giáo dục, chứ không phải là tôn giáo. Tuy tôi đã nghe rất nhiều lần, lòng rất hoan hỷ song vì vẫn còn nhiều nghi ngờ nên không dám mạo muội học Phật. Tôi liền thỉnh giáo người hàng xóm, người ấy trả lời: “Trí huệ của tôi kém cỏi, không cách nào giải đáp câu hỏi của chị. Tôi sẽ đưa chị đến thư viện Hoa Tạng, Sư phụ ở đó trí huệ khá cao, có thể giải đáp cho chị”.

Cuối năm 1993, tôi và người hàng xóm cùng đến thư viện Phật giáo Hoa Tạng nghe sư phụ giảng kinh, chúng tôi đến sớm hơn nửa tiếng đồng hồ, đúng lúc sư phụ rảnh rỗi, người hàng xóm liền đưa tôi đến thỉnh giáo ông.

Sư phụ trả lời tôi: “Học Phật không nhất định phải ăn chay, cũng không cần chạy đến Đạo tràng”. (Sau đó, nhân tiếp xúc được tin tức y học gần đây, tôi đã hiểu rõ ăn chay đối với sức khỏe, có được lợi ích tuyệt đối, nhờ đó con cái lớn nhỏ cả nhà tôi đều tự nhiên đổi lại ăn chay). Ngài còn nói: “Hiếu thuận với cha mẹ, ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất không cho thiếu thốn cũng phải bố thí tạo công đức cho cha mẹ, khiến cho cha mẹ có được lợi ích chân thật”. Ngay hôm đó, pháp sư còn tặng tôi tám cuộn băng “Lời khai thị Phật thất của pháp sư Đàm Hư”, “Nhận thức Phật giáo”, “kinh Phật thuyết thanh tịnh tâm”. v.v … và một quyển kinh Vô Lượng Thọ. Đồng thời, ngài bảo tôi: “Quyển kinh Vô Lượng Thọ này, cô trở về nhà đọc ba nghìn biến, công đức của ba nghìn biến viên mãn, có thể giúp cô giải quyết được vấn đề của cha mẹ mình”.

Sau khi trở về nhà, tôi đã nghe những cuộn băng này rất nhiều lần. Nhất là cuộn băng “Lời khai thị Phật thất của pháp sư Đàm Hư” đã gợi mở cho tôi tin sâu pháp môn Trì danh niệm Phật, có sự giúp đỡ rất lớn đối với tôi. Ban đầu, tôi đọc kinh Vô Lượng Thọ, một biến khoảng một tiếng rưỡi, sau đó chỉ cần khoảng bốn mươi đến bốn mươi lăm phút là xong một biến. Vì sư phụ nói phải đủ ba nghìn biến thì đối với cha mẹ mới có lợi ích trọn vẹn. Mỗi ngày, nếu tôi chỉ đọc một biến thì phải mất thời gian mười năm. Đương thời phụ thân đã hơn bảy mươi tuổi, mẫu thân đã hơn sáu mươi tuổi, biết hai người có chờ đợi đến mười năm không? Tôi không dám nói. Nếu như mỗi ngày tôi đọc ba biến, thì ba năm có thể viên mãn. Tôi nghĩ cha mẹ tôi sẽ còn cơ hội. Thế là, mỗi ngày tôi đọc theo ba bữa ăn. Trong quá trình đọc tụng, tôi dần dần thể hội được, hoàn toàn chẳng phải là đọc tụng ba nghìn biến kinh Vô Lượng Thọ thì cha mẹ tôi sẽ không xảy ra việc gì, mà là trong quá trình đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, tư tưởng và hành vi của mình đã có sự thay đổi, mới có trí huệ giải quyết vấn đề của cha mẹ. Để đặt nền tảng cho việc học Phật, năm 1996, tôi lại trì tụng trọn vẹn ba nghìn biến “Liễu Phàm Tứ Huấn”. Tôi phát hiện ra trong phương diện đoạn trừ phiền não, xác thực có được lợi ích khá lớn.

Do nghe cuộn băng giảng của pháp sư Tịnh Không mà pháp hỷ sung mãn, tôi cũng phát hiện Phật pháp thật sự có thể giải quyết được tất cả những vấn đề lớn nhỏ trong cuộc sống. Vì vậy, hầu như mỗi tháng, tôi đều đến thư viện Hoa Tạng thỉnh băng kinh, gần như cũng đã nuôi dưỡng thành thói quen hằng ngày nghe pháp sư giảng kinh.

Sau một khoảng thời gian tiếp xúc với Phật pháp, tôi cảm nhận sâu sắc mọi người đều nên học Phật, mọi người đều sẽ thành Phật, cũng rất mong mỏi mọi người sẽ đem Phật pháp giới thiệu cho cha mẹ, những người thân yêu nhất của mình, hy vọng họ có thể nhận được lợi ích chân thật của Phật pháp, có thể được giải thoát sinh tử trong đời này, vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Vấn đề khó ở chỗ, tôi không biết làm cách nào giới thiệu được Phật pháp cho cha mẹ. Và có thể khiến cho cha mẹ hoan hỉ tiếp nhận? Đúng lúc tôi đọc được quyển “Diệu Âm cư sĩ vãng sinh kiến, văn, ký” do cư sĩ Liêu ghi, cư sĩ đã tích cực khuyên cha mẹ niệm Phật. Trước tiên, đối với cha mẹ đã thể hiện được sự quan tâm nhiều hơn trên mặt tinh thần và sự chăm sóc cung cấp trên mặt vật chất cũng đầy đủ hơn trước, dùng hành động thực tế để chứng thực, thân làm đệ tử Phật là phải vô cùng hiếu thuận, khiến cho cha mẹ sinh tâm hoan hỉ mà chấp nhận Phật pháp. Đọc đến đây, tôi bắt đầu hiểu, tôi cũng nên học tập “kiến hiền tư tề” của cư sĩ Liêu, phải làm cho cha mẹ tiếp xúc Phật pháp, nhất định phải hiếu đễ hơn, thuận thảo hơn đối với cha mẹ, khiến cho cha mẹ cảm nhận được sau khi học Phật con mình không giống như xưa, còn giới thiệu Phật pháp cho cha mẹ, thì chướng ngại tự nhiên sẽ bớt đi một ít. Cách làm của tôi cụ thể là:

a) Thường xuyên điện thoại về nhà hơn trước, thành thật thăm hỏi, vấn an sức khoẻ của cha mẹ.

b) Trên mặt vật chất, phải cung cấp nhu cầu cho cha mẹ đầy đủ chân thành hơn trước.

c) Thái độ nói năng đối với cha mẹ phải hòa thuận vui vẻ, cung kính hơn trước.

d) Khi cùng cha mẹ chuyện trò, phải lắng nghe nhiều, nên ít ngắt lời và ít phê bình.

e) Khi nghỉ phép lâu ngày, có cơ hội nên về thăm nom cha mẹ, phải cùng cha mẹ chuyện trò Phật pháp, cũng nên tùy duyên hướng dẫn cha mẹ ăn chay, phóng sinh.

Ngoài ra, hãy lấy danh nghĩa của cha mẹ, hết lòng in ấn, thu băng các loại pháp bảo.

Tôi đã làm như thế khoảng mấy tháng, có một lần tôi đưa con về nhà thăm cha mẹ, cha tôi bảo: “Sau khi con học Phật pháp, toàn bộ con người đều thay đổi hẳn, không như xưa nữa”. Tôi mượn cơ hội này đem những lợi ích thù thắng mà mình đã nhận được trong Phật pháp, nói rõ cho cha nghe: “Đời này chúng ta có thể gặp Phật pháp, là nhân duyên tối thượng, nhất là gặp được pháp môn Trì danh niệm Phật, là pháp môn thù thắng hơn hết. Hơn nữa, pháp sư Tịnh Không cũng đặc biệt nhấn mạnh, học Phật không cần thay đổi phương thức sống vốn có sẵn, chỉ cần thường xuyên niệm Phật, sức khỏe nhất định sẽ ngày càng tốt đẹp”.

Khi ấy, cha tôi hoàn toàn không biểu lộ điều gì. Thế là, tôi đi đến thư viện Hoa Tạng, thỉnh giáo sư phụ: “Nên hướng dẫn cha mẹ học Phật như thế nào?” Sư phụ bảo tôi: “Có thể giới thiệu cho thân phụ đọc kinh Vô Lượng Thọ”. Tôi liền thỉnh cho cha quyển kinh Vô Lượng Thọ và cuộn băng niệm tụng trong hai giờ, lại thỉnh tượng Phật A-di-đà. Vào giữa năm 1994, cha tôi bắt đầu nghe kinh. Mỗi ngày theo thời khóa sáng, cha tôi nghe máy ghi âm đọc kinh Vô Lượng Thọ trong hai tiếng đồng hồ.

Từ đó về sau, tôi càng điện thoại liên tục về nhà thỉnh an sức khỏe cha mẹ. Ngoài việc vấn an sức khỏe, tôi đều hỏi: “Ba có thực hành thời khóa sáng không? Có đọc kinh Vô Lượng Thọ không?” Mẹ đều trả lời: “Có, hằng ngày bốn năm giờ sáng ba thức dậy liền bắt đầu thời khóa sáng, mỗi ngày đều niệm không thiếu buổi nào cả”.

Tôi hỏi tiếp: “Mẹ có niệm Phật không?” (Vì mẹ tôi phải đảm đương tất cả công việc nhà, còn phải chăm sóc cha và con cái của em gái tôi, công việc khá vất vả, không có thời gian ngồi đọc kinh, nhưng tôi mong mẹ ít nhất cũng có thể tùy thời, tùy nơi mà niệm Phật). Mỗi lần như thế, mẹ tôi đều có chút ngại ngùng, cười cười trả lời: “Mẹ không có niệm ra tiếng đâu, chỉ tưởng ở trong lòng thôi!”

Tôi liền khích lệ mẹ: “Nhớ tưởng Phật cũng là một phương pháp rất hay. Có người không quen niệm ra tiếng, trong lòng nghĩ đến Phật cũng rất tốt”. Vì cha mẹ không phản đối cho nên tôi đến thư viện Hoa Tạng thỉnh về nhà thánh tượng Phật A-di-đà và Bồ-tát Quán Thế Âm, thiết lập ngay trong phòng khách một Phật đường đơn giản mà trang nghiêm.

Từ khi cha tôi bắt đầu đọc kinh Vô Lượng Thọ, mỗi lần về nhà, tôi đều cùng cha nói chuyện Phật pháp, đàm luận lục đạo[44] luân hồi, giảng giải những vấn đề sinh và tử. Hơn nữa mỗi lần như thế tôi đều hỏi cha có muốn đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc không?

Cha luôn đáp như thế này: “Người giống như cha làm sao đi được Tây phương! Cũng không biết thế giới Tây phương Cực Lạc ở đâu nữa? Bây giờ cha không muốn điều gì cả, nhưng kinh Vô Lượng Thọ này, cha nhất định sẽ tiếp tục đọc nữa”.

Tôi cũng nhân cơ hội này nói với cha: “Ba à, lúc giảng kinh, pháp sư Tịnh Không đặc biệt nhấn mạnh: Người muốn đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, nhất định phải có đủ ba món tư lương: Tín-hạnh-nguyện. “Tín” chính là tin có thế giới Tây phương, tin có Đức Phật A-di-đà vậy”. “Nguyện” tức là bằng lòng đi, bằng lòng dời dần đến ở cõi Tây phương thế giới Cực Lạc. “Hạnh” chính là bằng lòng trì danh niệm Phật. Vả lại, trong quyển “Di-Đà Yếu Giải” Ngẫu Ích đại sư đã đề cập đến việc: “Vãng sinh được chăng hoàn toàn dựa vào Tín Nguyện có hay không? Phẩm vị cao thấp là do sự sâu cạn của công phu tu tập”. Mỗi lần thảo luận đến vấn đề này, tôi luôn quả quyết bảo với cha mẹ: “Con thể hội sâu sắc được sáu nẽo luân hồi quá khổ sở, đời này không dễ gì gặp được Phật pháp, hơn nữa là gặp được pháp môn Trì danh niệm Phật, pháp môn thù thắng này, con quyết định phải nắm thật vững, trọn đời này nhất định phải vãng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc”. Tôi muốn đưa cha mẹ đến Phật Quang Sơn tham quan động Tịnh Độ, nhưng khổ nỗi là không có cơ duyên.

Vào mỗi chiều và buổi tối, cha tôi vẫn xem truyền hình, có khi xem tin tức, càng xem càng tức giận. Tôi thường khuyên cha: “Đã xem rồi còn tức giận, thì không nên xem làm gì!” Cha nói: “Làm sao có thể không xem được chứ? Tức giận nhưng vẫn phải xem thôi!”

Tôi khuyên cha hãy đem thời gian xem kịch truyền hình liên tục mỗi chiều để xem băng hình giảng kinh, cha cũng nói không được. Tuy là xem kịch liên tục cũng sẽ tức giận nhưng vẫn phải xem.

Cha tôi đọc kinh Vô Lượng Thọ khoảng một năm rưỡi, tôi lại kiến nghị: “Cha có thể tăng thêm khóa buổi tối, đọc thêm một biến kinh Vô Lượng Thọ. Sau đó, biết được phụ thân đã bắt đầu tăng thêm thời khóa tối, tôi vô cùng hoan hỷ.

Vào giữa năm 1997, tôi trở về nhà, cha bảo tôi hiện giờ kết quả mà ông đọc kinh Vô Lượng Thọ đã tốt hơn trước. Trước đây, có khi niệm một niệm là sẽ bị ngủ gật, hiện giờ thì không. Hơn nữa, ba năm nay ba chưa hề bỏ sót thời khóa nào. Mỗi ngày, cha nhất định thời khóa công phu sớm chiều hai giờ đồng hồ. Nhưng cha cũng nói ý của kinh Vô Lượng Thọ đó rất sâu xa! Đọc xong, chỗ nào hiểu thì hiểu, chỗ nào không hiểu thì thôi. Tôi nói với ông: “Cảnh giới ý nghĩa của kinh Vô Lượng Thọ quả thật rất sâu xa. Con cũng có nhiều chỗ không hiểu”. Nhưng tôi có một kinh nghiệm, có một số điều vốn không hiểu, đọc lâu ngày, có lúc dường như đột nhiên vỡ lẽ ra những ý tứ trong đó. Mẫu thân thì bảo tôi buổi sáng sớm, khi trên đường đi mua thức ăn, bà cứ đi mãi, trong lòng vẫn vang lên thánh hiệu của Đức A-di-đà. Tôi nhân cơ hội này khích lệ mẹ, càng nhớ Phật, niệm Phật. Nói ví dụ như khi xắt rau, cắt rau một cái thì niệm câu hiệu Phật; lúc xào rau, xáo một cái thì niệm một danh hiệu Phật. Mẹ tôi gật đầu: “Được”.
3. Chuẩn bị trước khi trợ niệm.

Hạ tuần tháng 12 năm 1997, mẹ điện thoại bảo tôi: “Con à, ba con muốn con chuẩn bị 100 nghìn đồng, nói là sắp đi rồi”. Tôi vội vàng khuyên mẫu thân nhắc cha chuyên tâm niệm Phật. Bà đề cập đến việc gần đây sức khỏe của cha không được tốt lắm, kết quả đi bệnh viện kiểm tra là bị uất hơi, sau đó uống thuốc thì khỏi bệnh. Mẹ còn bảo tôi, cha thường hỏi: “Y phục đã chuẩn bị xong chưa? Lại nói là ông sắp đi rồi”.

Do quan hệ công việc, tôi không cách nào lập tức trở về nhà thăm bệnh tình cha được, nhưng tôi bắt đầu lên kế hoạch việc trợ niệm cho cha vãng sinh, đồng thời cũng xem đó là một nhiệm vụ quan trọng trong khâu chuẩn bị. Chỉ vì từ trước đến giờ, bản thân tôi không có kinh nghiệm giúp người trợ niệm, chỉ sợ vì thiếu kinh nghiệm hoặc sơ suất mà dẫn đến làm mất đi cơ hội tốt vãng sinh của cha, thì tội lỗi này rất lớn. Vì thế tôi phải soạn lại quyển sách “Làm thế nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật” và bài “Ký thấy nghe việc vãng sinh của cư sĩ Diệu Âm”. Vì để chuẩn bị hậu sự cho cha theo nghi thức Phật môn trang nghiêm nhất. Tôi đã làm hết sức mình lo đủ mọi mặt, thỉnh giáo người khác: Trong khi đệ tử Phật chính thức vãng sinh nên mặc y phục gì? Kết luận sau cùng là: Một bộ áo được giặt-giũ sạch sẽ, một bộ y phục cư sĩ, một cái áo tràng, ngoài ra khi trợ niệm phải chú ý chuẩn bị chiếc mền vãng sinh đắp cho thân phụ.

Sau khi hỏi rõ ràng, tôi lập tức đến nơi phát hành đồ vật của Phật giáo mua một loạt những thứ cần thiết. Ngoài ra còn thỉnh hai cây đèn hoa sen, một bài vị vãng sinh, một chiếc khánh. Vì trong sách có ghi, khi lâm chung người bệnh không ý thức rõ ràng, có thể dùng khánh để thức tỉnh người bệnh niệm Phật.

Vì muốn ghi nhớ rõ những việc đáng chú ý lúc lâm chung trợ niệm, tôi phải xem đọc kỹ nhiều lần quyển sách “Làm thế nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật”. Về trợ niệm, trong sách có một đoạn ghi: “Tốt nhất nên mời những bạn đồng tu có kinh nghiệm trợ niệm đến trợ niệm, người nhà có lúc cần phải tránh đi, để tránh người lâm chung vướng bận tình thân thiết mà trở ngại việc vãng sinh”. Tuy tôi hy vọng mình có thể đích thân trợ niệm cho cha, nhưng lại sợ mình không có kinh nghiệm, trong quá trình xử lý, vì sơ suất mà lỡ đi đại sự vãng sinh của cha. Vì thế, tôi bắt đầu thăm hỏi khắp nơi, làm thế nào để có thể mời được đoàn trợ niệm? Nhưng lại gặp qua những năm trước, đoàn thể Phật giáo ở miền Trung, họ đều không rảnh, đáp án trả lời đều là không chắc chắn, không có đoàn trợ niệm. Sau cùng, thật không còn cách nào khác, tôi giở phần mục lục phía sau sách bài “Ký thấy nghe việc vãng sinh của cư sĩ Diệu Âm”, tìm được điện thoại của Diệu Âm Tịnh Tông Học Uyển, hy vọng có thể mời được cư sĩ Liêu.

Buổi trưa ngày 05 tháng giêng năm 1998, trong sự liên lạc rất thuận lợi với cư sĩ Liêu, cư sĩ bảo với tôi về then chốt của sự trợ niệm như sau:

Thứ nhất: Trợ niệm cho người lâm chung không cần số người đông mà cốt yếu ở tâm thành kính. Nếu như có đông người trợ niệm mà tâm tạp loạn không thành kính, vọng tưởng lăng xăng, thì vẫn không bằng một hai người trợ niệm chí thành tha thiết, đạt đến thanh tịnh trang nghiêm, đưa đến hiệu quả tốt đẹp.

Thứ hai: Người nhà trợ niệm cũng có điểm tốt, cần đem tình thân yêu mến của con cái đối với cha mẹ chuyển đổi thành động lực cầu vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc. Nên bảo cha mình, nhân duyên của cha đã sớm thành thục. Vì vậy, trước tiên cha nên dời đến thế giới Tây phương Cực Lạc. Sau này khi chúng con sắp vãng sinh, cha sẽ theo Đức Phật A-di-đà đến tiếp dẫn chúng con.

Thứ ba: Cư sĩ đặc biệt dặn dò tôi, nếu mời được đoàn trợ niệm thì rất tốt, nếu như không mời được thì cũng không nên sinh lòng phiền muộn. Cư sĩ bảo tôi trong quá trình xử lý trợ niệm, cần phải giữ cho được tâm thanh tịnh. Vì tâm thanh tịnh mới có thể tương ưng với Phật và Bồ-tát.

Trong lúc nói chuyện, nhắc đến bệnh của cha, nghĩ đến cha sẽ không còn sống bao lâu nơi cõi đời này, trong lòng tôi đau xót khôn cùng. Cuối cùng, tôi hỏi:

– Thưa Liêu cư sĩ phải làm cách nào đây, tôi biết là người trợ niệm không được rơi một giọt nước mắt. Rơi nước mắt tức là đưa tiễn người thân của mình vào sáu nẽo luân hồi. Nhưng tôi vẫn không có cách nào kiềm chế được. Mỗi lần nghĩ đến cha không còn sống bao lâu trên cõi đời này nữa thì nước mắt cứ tuôn như mưa.

Cư sĩ Liêu điềm tĩnh nói:

– Hiện giờ chị vì lòng hiếu cho nên mới rơi nước mắt, nhưng khi đối đầu với sự việc, Phật và Bồ-tát sẽ gia hộ, chị sẽ không khóc đâu!

Tôi cũng thỉnh giáo cư sĩ Liêu:

– Khi trợ niệm, giọng điệu nhanh chậm nên điều chỉnh thế nào?

Cư sĩ nói:

– Có thể theo giọng điệu và tốc độ của máy niệm Phật để trợ niệm.

Sau khi điện thoại cho cư sĩ Liêu xong, đối với việc mời đoàn trợ niệm, đã không còn là nỗi lo canh cánh, lòng tôi cũng tạm được an ổn.

Buổi chiều ngày hôm ấy, tôi và cô út bàn đến việc trợ niệm. Cô út nói nếu như không mời được đoàn trợ niệm thì cô bằng lòng cùng tôi trở về thôn Trung Hưng Tân trợ niệm giúp cha. Sau khi ý kiến ổn định, tôi nói với cô út:

– Lần này về trợ niệm, chỉ cho phép chúng ta thành công, không được thất bại, không thể mang tâm lý thí nghiệm để niệm Phật. Vì đây là đại sự chỉ một lần chớ không thể lặp lại. Hơn nữa, con nắm chắc chắn cha nhất định vãng sinh, chỉ có điều chúng ta không có kinh nghiệm trợ niệm, sợ nhất là trong quá trình trợ niệm có sự sơ suất, làm trở ngại cơ duyên vãng sinh của cha thì tội đó rất lớn. Vì vậy, có thời gian, chúng ta phải ôn tập nhiều lần cho tốt hai quyển sách “Làm thế nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật ” và bài “Ký thấy nghe việc vãng sinh của cư sĩ Diệu Âm”, đến lúc đó mới có thể đúng như lý, như pháp.

Mẹ tôi là một phụ nữ trí huệ, hiểu lý lẽ và rất từ bi. Khi tôi bảo mẹ: “Hiện giờ trong nhà chúng ta không nên mở ti vi, chỉ chuyên tâm niệm Phật, cả nhà tốt nhất chỉ nghe tiếng niệm Phật của máy ghi âm, đặc biệt là ti vi trong phòng của cha càng không nên mở, phải để cho cha chuyên tâm niệm Phật”, thì mẹ đều một mực làm theo, đồng thời bà còn bảo tôi, cha tôi luôn hỏi: “Sao lúc này không thấy con về thăm, tôi có nhiều điều muốn hỏi nó”.

Bà còn nói: “Cha con bây giờ rất hay nói chuyện. Mỗi ngày đều phải nói chuyện với mẹ, có khi đến khuya cũng không chịu ngủ, cứ muốn bà trò chuyện với ông. Chuyện bạn bè, chuyện con cái, dường như muốn đem chuyện những người đã lâu rồi không gặp mặt, kể ra hết một lần”. Còn có buổi tối nọ, cha tôi bảo mẹ: “Tối nay đừng nên tắt đèn, tắt đèn họ sẽ đến bắt tôi đi”.

Ông còn nói trong ống tay áo ông có con quỷ, trong ruột có quỷ.v.v…lại nói mộng thấy họ hàng thân quyến đến tìm ông. Vì vậy, tối nào cha cũng ngủ không ngon giấc.

Lúc ấy, tôi thầm nghĩ: “ Tuy tôi không thể về nhà, nhưng tôi ở Đài Bắc tụng kinh, lễ Phật, đem công đức ấy hồi hướng cho cha ở thôn Trung Hưng Tân, có lẽ cũng được”. Tôi cũng khuyên mẹ nên bắt đầu ở nhà lễ Phật, sám hối cho cha, đồng thời đem công đức lễ bái Phật hồi hướng cho cha. Từ đó, tôi bắt đầu nghiêm túc đọc kinh Vô Lượng Thọ, mỗi ngày có thể đọc được mấy biến thì cứ đọc, đồng thời đem công đức tụng kinh hồi hướng cho những oan gia trái chủ của cha. Cách một ngày tôi lại điện thoại cho mẹ, mẹ liền nói đêm qua cha ngủ rất ngon. Tôi càng khích lệ mẹ nên tiếp tục lễ Phật, tôi cũng sẽ tiếp tục lễ Phật và tụng kinh.

Ngày mùng 5 tháng giêng, tôi tiếp tục đọc kinh Vô Lượng Thọ và đem công đức đó hồi hướng cho cha. Do cách ngày có một thời khóa suốt ngày, vì vậy phải từ tối đến gần sáng mới ngủ. Sáng ngày thứ hai, tôi vừa thức dậy thì đầu choáng váng không chịu nổi, đây là hiện tượng rất ít có. Trực giác của tôi cho biết tôi và cha có liên quan, nhưng tôi tự nhủ: “Hôm nay có thời khóa suốt ngày, nhất định sẽ làm cho tinh thần căng thẳng”.

Hơn ba giờ chiều ngày hôm đó, sau khi xong thời khóa sau cùng, tôi vẫn theo kế hoạch ban đầu, đến thư viện Hoa Tạng, một mặt là in ấn kinh điển trợ giúp cho cha, đem công đức hồi hướng cho những kẻ oan gia trái chủ của cha, một mặt muốn thỉnh giáo sư phụ về những việc liên quan đáng chú ý trong trợ niệm. Sư phụ bảo tôi mấy kinh nghiệm quan trọng trợ niệm lúc lâm chung:

1. Thông thường người sắp vãng sinh, họ sẽ không muốn ăn thứ gì cả, vì vậy nếu phụ thân không muốn ăn, cũng không nên miễn cưỡng, không cần lo lắng thái quá.

2. Tuyệt đối không được khóc lóc trước mặt phụ thân để tránh làm trở ngại việc vãng sinh của ông. Nếu những người khác trong nhà khó tránh được đau lòng thì nhất định nên đi đến chỗ khác mà buồn, dù thế nào đi nữa cũng không được khóc trước mặt phụ thân.

3. Khi đánh khánh tiếp dẫn, nên gõ nhịp ngay chữ “Đà” trong bốn chữ hồng danh “A-di-đà Phật”.

Ngay hôm đó, thư viện vừa mới có băng nghe kết duyên “Sự tích niệm Phật vãng sinh Tịnh Độ”, tôi hết sức vui mừng, liền thỉnh về nghe. Buổi chiều, khoảng 4 giờ 45 phút, em gái tôi từ nhà điện thoại đến, nói với tôi là đã đưa cha đi bệnh viện, kết quả kiểm tra sơ bộ, bạch huyết cầu khoảng 1.300 (quá thấp, không đủ sức đề kháng). Bác sĩ cho mẹ tôi biết, do quy mô của bệnh viện nhỏ nên sự giúp đỡ cho phụ thân không nhiều, và ông có thể không qua khỏi ngày hôm nay. Nếu mong phụ thân sống thêm, đề nghị lập tức đưa đến bệnh viện trung tâm ở Đài Trung. Đương nhiên là mẹ tôi mong cha tiếp tục sống, nhưng bệnh viện ở Đài Trung cách thôn Trung Hưng Tân rất xa, phải qua lại giữa nhà và bệnh viện, thật sự mẹ tôi không đủ sức tiếp tục chèo chống, không biết nên làm thế nào cho tốt? Thế là em gái điện thoại hỏi ý kiến tôi. Cách nghĩ trực tiếp nhất của tôi là: “Về nhà niệm Phật mới có thể cứu. Vì bệnh viện không có máy niệm Phật trong 24 giờ, đối với cha tôi quả là không có lợi”.

Nhưng cách nghĩ này của tôi, trong cách nhìn của một số người có thể cho là tôi học Phật đã mê tín, nhưng kiến nghị của bác sĩ tôi cũng không dám quyết định, vì vậy tôi vẫn mời mẹ ra quyết định. Trong lòng tôi luôn cầu nguyện: Mong cha nhất định phải chờ tôi về giúp ông niệm Phật.

Tôi vốn định đợi sau khi kết thúc lịch trình giảng ở trường sẽ lễ bái nhiều hơn, không còn bận tâm gì nữa. Sau đó trở về nhà một thời gian dài niệm Phật cho cha. Vì ngày 16 tháng giêng tôi có một lịch trình giảng dạy quan trọng, tôi là một trong những giảng viên chính, không thể nào vắng mặt. Nhưng khi em gái tôi điện thoại lần thứ hai, trong lòng tôi nghĩ: “Sinh tử sự đại, nên mau về mới đúng”. Tôi bảo em gái: “Ngày mai (mùng 7 tháng giêng), chị đến trường sắp xếp xong mọi việc, sẽ lập tức về ngay, đến nhà có lẽ là buổi chiều”. Tiếp đó tôi suy nghĩ, tôi sợ cha không chờ được lâu như thế, lại sợ mình có một niệm sơ suất mà làm lỡ sự vãng sinh của cha. Thế là vừa thổi cơm chiều, tôi vừa nghĩ thầm: “Chiều nay lập tức phải về ngay mới được”.

Sau bữa cơm chiều, tôi bắt đầu liên lạc với các đồng nghiệp ở trường, hy vọng có thể sắp xếp ổn thỏa công việc ở trường, đồng thời đem ba đứa con nhỏ học tiểu học gởi lại Đài Bắc, nhờ các bạn đồng tu của tôi chăm sóc. Còn bé gái nhỏ mới một tuổi hơn 5 tháng thì tôi và cô út cùng mang bé theo về thôn Trung Hưng Tân.
4. Trợ niệm trước giường bệnh.

Tám giờ tối, tôi cùng cô út và đứa con gái nhỏ, ba người bắt đầu lên đường. Dọc đường tôi luôn nghe cuộn băng “Sự tích niệm Phật vãng sinh Tịnh Độ”. Thật ra, tiếng Đài Loan của tôi không tốt lắm nhưng điều lạ lùng là ngay cuộn băng này, tôi có thể nghe hiểu tám chín phần. Mười giờ đêm, chúng tôi đã đến phòng bệnh trong bệnh viện nơi cha nằm. Lúc đó, đứa em trai đang chăm sóc cha. Nó bảo với tôi, cha luôn hôn mê. Phụ thân trong cơn bệnh, hai gò má gầy hóp lại, quầng mắt và hai gò má đều thâm đen, đã khác đi rất nhiều với dung mạo của người cha trong ký ức tôi. Sau khi có được sự đồng ý của người bạn bệnh chung phòng, tôi mở máy niệm Phật, đồng thời gõ khánh tiếp dẫn bắt đầu niệm thánh hiệu A-di-đà Phật. Niệm Phật chỉ mới một lát, chân tay tôi đã bắt đầu run rẩy không tự chủ được, bàn tay cầm khánh cơ hồ không vững, nhưng tôi vẫn kiên trì tiếp tục niệm, cô út cũng niệm theo. Qua mấy phút sau, cha tôi mở mắt ra, đôi mắt trong suốt chăm chú nhìn tôi. Tôi nói nhỏ bên tai cha: “Ba không có sức niệm Phật không sao cả, chúng con giúp ba niệm, trong lòng ba cứ niệm theo chúng con là được rồi”.

Đứa em trai nhỏ hỏi tôi phải niệm bao lâu? Tôi nói: “Cần phải tiếp tục niệm”. Cậu em rất ngạc nhiên. Tôi bảo nó mau gọi điện thoại mời mẹ đến bệnh viện, quyết định là có xuất viện hay không?

Cậu em nhỏ nghi ngờ hỏi tôi: “Có việc gì sao?” Hiểu ý nó, tôi nói: “Nhất định phải niệm Phật liên tục 24 tiếng đồng hồ, thì mới có lợi ích lớn nhất cho cha”. Đứa em vẫn hồ nghi, ý không muốn đi gọi điện thoại.

Tôi đưa ánh mắt tha thiết van cầu, thuyết phục nó: “Trung! Ba là cha ruột của em mà! Tuy ông không phải là cha ruột của chị, nhưng chị luôn xem ông là cha ruột của mình”. Bấy giờ, trong lòng tôi nghĩ: ( Hiện giờ tôi chỉ có một người cha có thể hiếu thuận thôi, làm sao có thể bỏ lỡ mất cơ hội tốt!). Cha ruột của tôi đã qua đời 9 năm rồi. Năm tôi 11 tuổi, cha và mẹ kết hôn, ông còn có một đứa con gái và một đứa con trai, nhưng cha vẫn chăm sóc dưỡng nuôi chúng tôi như những đứa con mình sinh ra. Vì vậy, tôi vẫn luôn cư xử xem ông như cha ruột của mình.

Câu nói này rất quan trọng, cậu em đã đi gọi điện, nhưng nó không trở lại phòng bệnh.
a) Buông bỏ muôn duyên cầu sinh Tịnh Độ.

(Thứ tư ngày 7 tháng giêng năm 1998)

Mẹ tôi vội vã đến bệnh viện, nói với bác sĩ xin thu xếp tự mình xuất viện. Trên đường trở về nhà, tôi vẫn không ngừng niệm danh hiệu Phật. Hơn 12 giờ khuya mới về đến nhà, sau khi sắp xếp cha nằm an ổn, tôi an trí tượng Phật, đèn hoa sen trên bàn sách trong phòng cha, và đắp chiếc mền vãng sinh cho ông. Tôi và cô út bắt đầu chuyên tâm niệm Phật theo chiếc máy niệm Phật. Cứ cách khoảng một lát tôi lại đi lễ Phật, cầu xin chư Phật và Bồ-tát gia hộ cho phụ thân lâm chung được chính niệm rõ ràng, có thể niệm Phật vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Hơn 3 giờ sáng, cậu em trai trở về, tôi biết vừa giải quyết xong thủ tục xuất viện khiến cho nó mệt mỏi. Tôi mời mẹ đến trước giường trợ niệm cho cha, còn tôi giải thích với cậu ấy là tại sao phải xuất viện, đồng thời nói rõ lợi ích của công đức “Trì danh niệm Phật”.

Tôi nói với em trai:

– Thế giới hiện tại mà chúng ta đang ở đây là thế giới Ta-bà, trong đó có sáu đường. Sáu đường là: Cõi trời, cõi người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Con người của chúng ta chia làm hai phần: Thần thức và thân hình. Thân giống như là một bộ áo quần, sử dụng lâu ngày rồi sẽ cũ mục hư hoại, khi thân chúng ta hư hoại, thần thức phải lìa khỏi thân. Sau khi thần thức lìa khỏi thân, sẽ theo sự dẫn dắt của nghiệp lực luân hồi trong sáu đường. Nếu lúc sắp ra đi có thể trì niệm thánh hiệu A-di-đà thì Phật A-di-đà sẽ đến đón chúng ta về thế giới Tây phương Cực Lạc. Đó là một thế giới không có ba đường ác, đến nơi đó có thể một đời thành Phật, mãi mãi thoát khỏi nỗi khổ luân hồi trong sáu đường.

Sau khi nghe xong, em trai hỏi:

– Điều chị nói là hão huyền, có khoa học nào chứng minh?

Tôi nói:

– Vấn đề em hỏi rất hay, chị không có cách để chứng minh, ngoại trừ bản thân mình thể nghiệm, nhưng trong kinh điển Đức Phật đã giảng, sự thật này được trình bày rất rõ.

Cậu em tiếp lời:

– Mấy hôm nay mắt em cứ giựt mãi, hôm nay trong nhà gọi điện thoại đến công ty tìm em, em mới biết việc đã nghiêm trọng như thế.

Tôi lại bảo em:

– Em là do cha sinh ra, lại là con trai, nếu em chịu đến niệm Phật cho cha thì với cha sẽ có được những lợi ích tuyệt đối. Nhưng niệm Phật không thể nào miễn cưỡng, cần có tâm chuyên nhất. Nếu tâm không chuyên thì hiệu quả giảm rất nhiều.

Nói xong tôi liền đi vào phòng cha niệm Phật. Lát sau, đứa em trai cũng đến niệm. Tôi chân thành nói với em: “Cảm ơn em!”

Cậu em trả lời: “Đây là việc em nên làm”. Mới niệm mấy phút, toàn thân cậu em đã nóng bừng. Đã hơn 3, 4 giờ sáng, cậu chỉ mặc áo ngắn tay mà cũng không thấy lạnh.

Cha tôi lúc tỉnh lúc mê, phần lớn là do nội tạng đau đớn nên thức tỉnh thì rên rỉ. Mỗi lần nhìn thấy tình trạng này, lập tức tôi đến bên tai cha lớn tiếng niệm Phật nhanh bốn chữ thánh hiệu A-di-đà Phật. Đồng thời tôi bảo cha cố gắng cùng tôi niệm ra tiếng. Tôi làm như vậy là mong đổi tiếng rên của cha thành tiếng danh hiệu Phật. Ban đầu cha tôi vẫn kêu đau, nhưng sau đó từ từ ông gượng đau cắn răng niệm danh hiệu Phật, có thể niệm theo tôi hai tiếng hoặc ba, bốn tiếng, nhưng không có cách nào niệm liên tục đến mười tiếng.

Hơn 6 giờ sáng, cha tôi đưa đôi mắt trong trẻo nhìn cô út hỏi: “Cô là ai?”. Tôi nói với cha, đây là cô út của tôi, mục đích đến đây niệm Phật cho cha. Cha vội vàng xin lỗi cô út.

Tôi hỏi:

– Cha có đồng ý đi thế giới Tây phương Cực Lạc không?

Cha đáp:

– Đi chứ!

Tôi nói:

– Chỉ có Đức Phật đến cha mới được đi theo Ngài, còn gặp bất kỳ họ hàng quyến thuộc trong nhà nào khác đến tìm, cha đều không nên đi theo nhé!

Cha gật đầu. Hơn 7 giờ, tôi lại hỏi cha:

– Cha có muốn đi thế giới Tây phương Cực Lạc không?

Cha lắc đầu nói:

– Không muốn đi!

Trong lòng tôi rất căng thẳng, tôi hỏi:

– Vì sao cha không muốn đi, vẫn còn điều gì chưa buông bỏ được?

Cha đáp:

– Không lìa bỏ được con cái.

Tôi hiểu ý cha, đó là ông không nỡ xa lìa đứa con gái và cậu con trai ruột của mình. Tôi vội mời mẹ đến nói chuyện với cha. Mẹ bảo:

– Ông hãy an lòng, ông đi trước đến thế giới Tây phương Cực Lạc, sau đó chúng tôi cũng sẽ đi. Ông đi trước an ổn, sau này lúc chúng tôi sắp đi, ông lại theo Đức Phật A-di-đà đến đón chúng tôi nhé!

Cha đáp: “Vâng!”

Tôi lập tức đến phòng khách bảo em gái:

– Ba không chịu đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, vì ông không nỡ rời xa con cái.

Nghe mấy lời này, cô em khóc nức nở. Tôi khuyên nhủ:

– Dung, em không thể khóc được, em khóc tức là đưa ba đi vào sáu nẽo luân hồi. Em phải nói với ba: “Duyên đã chín mùi, ba đi trước đến thế giới Tây phương Cực Lạc, sau đó chúng con cũng sẽ đi, đến lúc đó ba lại theo Đức Phật đến đón chúng con”.

Cô em khóc, nói không biết phải làm cách nào đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc?

Tôi bảo:

– Chuyên tâm niệm Thánh hiệu Phật A-di-đà, một lòng muốn đi, nhân duyên chín mùi thì Phật A-di-đà sẽ đến tiếp dẫn”.

Tôi lại bảo:

– Đợi em khóc xong rồi, lau khô nước mắt, nhất định em phải đến nói với ba đó.

Nói xong, tôi liền trở vào niệm Phật bên cạnh cha. Lát sau, cô em gái đi vào phòng cha. Cô nói với cha: “Ba, con là Dung đây, con sẽ chăm sóc tốt bản thân mình, cũng sẽ chăm sóc tốt mẹ nữa, ba hãy an lòng đi về thế giới Tây phương Cực Lạc, sau đó chúng con cũng sẽ đến thế giới Tây phương Cực Lạc. Chúng ta sẽ mãi đoàn tụ ở thế giới đó”.

Niệm Phật được một lát, tôi lại hỏi cha:

– Ba, ba muốn đi thế giới Tây phương Cực Lạc không?

Ba vẫn lắc đầu nói: “Không muốn đi”.

Tôi và cô út đều rất hồi hộp. Tôi vội hỏi:

– Ba vẫn còn điều gì chưa dứt được sao?

Ông đáp: “ Mẹ của ba đó”.

Tôi hiểu ý cha, ông vẫn luôn nhớ đến mẫu thân mình ở Đại lục chưa thăm viếng, điều đó luôn ray rứt trong lòng ông. Tôi nói:

– Ba, mẹ của ba cũng ở thế giới Tây phương Cực Lạc, ba phải tin Đức Phật A-di-đà, đến thế giới Tây phương Cực Lạc, Đức Phật A-di-đà sẽ đưa ba đi tìm mẹ”.

Cha gật đầu, tiếp tục niệm được một lát, tôi lại hỏi:

– Ba có muốn đi thế giới Tây Phương Cực Lạc không?

Ông đáp: “Muốn”.

Cuối cùng, trong lòng tôi mới được an.

Trong suốt quá trình niệm Phật, chúng tôi gặp phải vấn đề khó xử. Ví dụ:

1. Có nên để cha ngủ không? Vì sợ cha ngủ thì đi luôn trong giấc ngủ, nhưng sợ cha mệt, không cho ông ngủ thì lòng không nỡ.

2. Lúc trợ niệm cho cha, tôi luôn chú ý đến từng cử động của ông, niệm Phật như thế có được tâm chuyên nhất không?

Hơn 9 giờ sáng, tôi điện thoại đến Đài Bắc thỉnh giáo cư sĩ Liêu. Ông nói: “Cha muốn ngủ cứ để ông ấy ngủ, còn chúng ta những người trợ niệm phải luôn bên cạnh chuyên tâm trợ niệm, nhưng khi trợ niệm cho người sắp ra đi, cũng phải chú ý đến tình trạng của họ, song không nên chú ý quá nhiều”. Cư sĩ Liêu còn bảo tôi: “Thông thường người sắp vãng sinh sẽ không muốn ăn gì cả, hơn nữa sẽ từ từ bài tiết hết những chất dơ trong cơ thể. Nếu cha niệm Phật miệng khô, thì có thể cho ông uống một ít nước nóng, còn không muốn ăn thì chẳng sao cả”.

Sau đó, chúng tôi vẫn niệm theo nhịp điệu của chiếc máy niệm Phật, chỉ khi cha đau kêu rên, thì tôi mới đến bên cha niệm lớn tiếng và thật nhanh bốn thánh hiệu A-di-đà Phật. Cha tôi cũng đổi tiếng kêu rên thành tiếng niệm Phật. Khi mới bắt đầu, cha chỉ có thể tiếp theo được bốn, năm câu danh hiệu Phật, đến sau thì có thể niệm được mười mấy câu. Thậm chí có lúc cha có thể tự mình chủ động niệm ra tiếng đủ mười câu thánh hiệu Phật A-di-đà. Tôi nhìn trong ánh mắt, đột nhiên cảm thấy một bức màn giống như trong chương “Đại Phật Đảnh Thủ Lăng-nghiêm kinh Đại Thế Chí Bồ-tát niệm Phật Viên Thông” đã nhắc đến cảnh tượng: “Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ nhớ con, thì mẹ con gặp nhau không thể xa rời”.

Niệm được một lát, cha bảo tôi:

– Nghê à! Con có biết người cha này của con (chỉ chính mình) từ năm 20 tuổi đến sau này rất là bừa bãi không?”.

Về điểm này, đương nhiên tôi không hiểu được, vì ba và mẹ tôi khi kết hôn đã 50 tuổi rồi. Tôi nói:

– Ba à! việc trước đây không còn lo nữa, hiện giờ chúng ta chuyên tâm niệm Phật. Phật Di Đà rất từ bi, chỉ cần ba bằng lòng đi thế giới Tây phương Cực Lạc, chịu niệm Phật thì Phật Di-đà nhất định đến đón ba. Nếu như ba thấy Đức Di-đà đến đón thì nên cho chúng con biết, ba phải vui vẻ theo Đức Phật A-di-đà đến thế giới Tây phương Cực Lạc được không?

Ông gật đầu đáp: “Được!”.

Cha niệm Phật rất tốt, niệm một hơi đủ mười câu, đột nhiên ông lại bảo tôi:

– Nghê à! Ba rất xấu hổ (chỉ cho trước đây mình không thường niệm Phật). Tôi bảo:

– Con cũng vậy, mỗi lần đọc kinh đều không thể chuyên tâm, nhưng không sao cả, hiện giờ chúng ta bắt đầu chuyên tâm niệm Phật, nhất định phải niệm đến khi Phật A-di-đà đến đón, ba phải theo Đức Phật Di-đà đến thế giới Tây phương Cực Lạc.

Cha lại bảo:

– Nghê à! Kinh Vô Lượng Thọ thật sâu xa! Có chỗ ba hiểu, có những chỗ ba không hiểu.

Tôi nói:

– Đúng vậy! Kinh Vô Lượng Thọ thật là sâu xa! Con cũng có nhiều chỗ không hiểu. Vì tuổi thọ của chúng ta nơi cõi này có giới hạn nên không thể làm sáng tỏ hết ý tứ đã có trong kinh, nhưng đến thế giới Tây phương Cực Lạc, tuổi thọ nơi đó vô hạn lượng, lại được học với Đức Phật Di Đà thì có thể hiểu được tất cả ý nghĩa trong kinh. Ba à! Đức Phật Di-đà rất từ bi, Ngài đã phát 48 đại nguyện để độ tất cả chúng sinh khổ nạn nơi thế giới Ta bà của chúng ta. Bây giờ, con sẽ đem lời nguyện của Đức Phật Di-đà đã phát, đọc một lần cho ba nghe, được không?

Cha đáp: “Được!”.

Thế là, tôi liền bắt đầu đọc phẩm thứ sáu phát đại thệ nguyện của kinh Vô Lượng Thọ. Tôi đọc ngay đoạn:

“Nguyện khi ta thành Phật, chúng sinh trong mười phương, nghe đến danh hiệu ta, chí tâm tin, ưa thích, có bao nhiêu căn lành, đều hết lòng hồi hướng, nguyện sinh về nước ta, cho đến trong mười niệm. Nếu người nào không sinh về Cực Lạc, thì ta quyết không thành Chính Giác, chỉ trừ những người tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp”.

“Ba à, ý đoạn này nói, mười phương chúng sinh, nghe đến thánh hiệu của Phật A-di-đà mà sinh lòng hoan hỷ, và bằng lòng vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, chỉ cần chuyên tâm, chí thành niệm mười câu thánh hiệu của Đức Phật A-di-đà thì có thể vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc”.

“Khi ta thành Phật, chúng sinh trong mười phương, nghe đến danh hiệu ta, phát bồ-đề tâm, tu các công đức, thực hành sáu Ba-la-mật, bền lòng không thoái chuyển, lại đem tất cả căn lành hồi hướng, nguyện sinh vào nước ta, một lòng nhớ nghĩ ta, ngày đêm không gián đoạn thì lúc lâm chung, ta sẽ cùng chúng Bồ-tát đến rước người ấy trong khoảng sát na, liền sinh vào nước ta, làm Bồ-tát bất thoái chuyển. Nếu không được như nguyện này, ta nguyện không thành Chính giác”.

Thưa ba, ý đoạn này nói: “Chúng sinh trong mười phương nghe đến thánh hiệu của Đức Phật A-di-đà, mà nhất tâm hướng thiện, và phát nguyện vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, chỉ cần ngày đêm niệm Phật liên tục thánh hiệu của Đức Phật A-di-đà thì khi lâm chung, Đức Phật A-di-đà, Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí cùng đến đón về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Sau đó tôi lại hỏi cha:

– Ba có muốn đi thế giới Tây phương Cực Lạc không?

Ông đáp: “Muốn”.

– Ba đã quy y Tam bảo, quy y Đức Phật A-di-đà, là đệ tử của Ngài, Phật A-di-đà rất từ bi, chúng ta chuyên tâm niệm Phật, Phật nhất định sẽ đến tiếp dẫn. Khi Phật A-di-đà đến rước, ba nhất định phải cho chúng con biết nhé!

Ông nói:

– Ừ, y phục chuẩn bị xong chưa?

– Thưa ba, mọi thứ đã chuẩn bị xong, khi còn ở Đài Bắc con đã giúp ba thỉnh hết rồi. Đức Phật Di-đà bao giờ mới đến đón ba vậy?

Ông nói: “Có lẽ là hôm nay”.

Niệm danh hiệu Phật được một lát, đột nhiên cha sờ tìm vật gì dưới chiếc gối, nói là cần lấy giấy bút ghi địa chỉ. Tôi nói:

– Ba, sau khi ba đến thế giới Tây phương Cực Lạc muốn đi đâu thì sẽ được đi đến đó, muốn tìm ai thì có thể tìm, tự nhiên tìm được, không cần địa chỉ.

Sau đó, tâm cha bắt đầu ổn định, ông niệm Phật rất chuyên tâm, có lúc trong một hơi niệm đủ mười câu danh hiệu Phật, có lúc vì đau mà kêu lên. Tôi càng kiên định bảo cha:

– Ba hãy chuyên tâm niệm Phật, còn những thứ khác không cần lo. Pháp sư Tịnh Không nói, vãng sinh về thế giới Tây phương là đi vào cõi sống, tuyệt đối không thể chết, đã chết thì không đến được.

Cha hỏi:

– Phải chuyên tâm như thế nào, có phải là ngay cả đau đớn cũng không nghĩ đến nó?

Tôi đáp:

– Đúng rồi, đau đớn cũng không cần để ý nó, phải chú tâm vào danh hiệu Phật.

Cứ luôn nhắc nhở, hỗ trợ như thế, cha tôi đã chuyển tiếng kêu rên thành tiếng niệm Phật. Dần dần cha vừa đau liền có thể tự mình niệm thánh hiệu Phật A-di-đà. Nhìn biểu hiện trên gương mặt của cha, có thể thấy là cha rất đau, nhưng vẫn mười phần kiên định cắn răng niệm Phật. Thời gian này cha cũng từng nói: “Ngày mai là ngày bắt quỷ”, “chúng rất đói” v.v…” Hễ cha tôi quên niệm Phật, thì tôi vội nhắc nhở cha: “Ba, mọi thứ đều không nên nghĩ đến, chúng ta phải chuyên tâm niệm Phật”.

Lúc này, chúng tôi lại phải đối mặt với mấy vấn đề nan giải:

1. Cha rất hay nói, nếu để ông nói ra những nghi ngờ suy nghĩ trong lòng ông thì có tốt không? Hay nhắc nhở cha chuyên tâm niệm Phật là tốt?

2. Khi niệm Phật phải niệm lớn tiếng một chút có tốt không? Hay là niệm nhỏ tiếng thì hay hơn?

3. Khi cảm thấy cha rất đau đớn, nếu niệm Phật lớn tiếng hơn thì có làm cho cha đau đớn hơn không?

Khoảng 5 giờ chiều, tôi lại điện thoại đến Đài Bắc thỉnh giáo cư sĩ Liêu. Ông nói: “Cứ để phụ thân nói hết những suy nghĩ, nghi ngờ trong lòng mình ra, để tránh trong lòng ông còn những trở ngại, nhưng cũng không thể chỉ nói kể lể mà quên đi niệm Phật. Lúc niệm Phật, điểm quan trọng không phải ở âm thanh lớn hay nhỏ, mà là ở chỗ danh hiệu Phật phải niệm thật trang nghiêm. Nếu niệm lớn tiếng danh hiệu Phật thì rất chói tai, sẽ khiến người sắp ra đi khó chịu. Nếu niệm danh hiệu Phật trang nghiêm thì có thể giảm nhẹ nỗi đau của người sắp lâm chung”. Ông còn nói: “Quán tượng Phật cũng là một phương pháp rất hay. Người trợ niệm có thể quán tượng Phật, quán tưởng hào quang của Phật tỏa chiếu toàn thân của người sắp mất, có thể giảm nhẹ nỗi đau của họ, đồng thời cũng có thể khai thị cho những oan gia trái chủ của cha mình, hy vọng mọi người cùng giúp đỡ ông vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Như thế mọi người đều có công đức. Huống gì hôm nay thân phụ vãng sinh, hoàn toàn chẳng phải là đã đi rồi không còn lo nữa; phụ thân đến thế giới Tây phương Cực Lạc sẽ có năng lực đến giúp chúng ta. Vì vậy, hôm nay chúng ta thành tựu việc vãng sinh cho cha thật ra cũng là thành tựu vãng sinh cho chính mình. Hãy đem toàn bộ công đức vãng sinh của phụ thân hồi hướng cho oan gia trái chủ của ông”.

Ông nói: “Chí thành khẩn thiết trợ niệm cho cha là quan trọng nhất. Nếu có thể nên thắp hương hướng về Tây phương, đem tâm chí thành cung kính khẩn cầu Phật và Bồ-tát đại từ đại bi, Phật lực gia trì phụ thân chính niệm rõ ràng, tiếp dẫn người về thế giới Tây phương Cực Lạc. Cũng là một trợ duyên rất tốt”.

Vì vậy, tôi nói với cô út và hai em, có thể quán tượng Phật, niệm Phật, cầu hào quang soi chiếu cha để giảm bớt nỗi đau đớn của ông. Đồng thời, chúng tôi cũng bắt đầu thắp hương hướng về Tây phương cầu nguyện:

– Nam Mô A-di-đà Phật (10 câu), Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát (10 câu), Nam Mô Đại Thế Chí Bồ-tát (10 câu), Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát (10 câu). Con Diệu Âm đệ tử của Phật A-di-đà, cầu xin Đức Phật và Bồ-tát gia hộ cho cư sĩ Lạc Toàn Thông, mỗi mỗi câu thánh hiệu A-di-đà, niệm niệm sinh Tây phương Tịnh Độ, phút lâm chung từ một niệm đến mười niệm mong Phật tiếp dẫn, vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, làm Bồ-tát bất thoái chuyển, một đời bất thoái thành Phật.

Tôi cũng thỉnh bức thánh tượng Phật A-di-đà lớn trên tường phòng khách dời sang an trí trên tường bên giường của cha. Hơn 7 giờ tối, cha yêu cầu treo bức tượng Phật A-di-đà trên tường trước mắt ông. Ông muốn quán tượng Phật. Lúc này, cậu em trai vừa về đến, đột nhiên cha nắm chặt lấy tay tôi và em trai nói:

– Hai đứa con có trách nhiệm rất lớn.

Tôi không hiểu ý cha. Ngay tối hôm đó, cha niệm Phật rất tốt, có lúc cha tự mình xướng lên danh hiệu Phật, và còn có thể niệm liên tục trong một thời gian dài.

Buổi tối do cô út trực ca trợ niệm trước, đến khuya lúc gọi tôi dậy đổi ca, cô nói: “Tình trạng cha cháu rất tốt, có lúc có thể tự mình niệm danh hiệu Phật trong một thời gian dài, vãng sinh có lẽ không thành vấn đề”.
b) Trợ duyên hiện tiền.

( Ngày thứ năm, mùng 8 tháng giêng năm 1998).

Trưa ngày mùng 8 tháng giêng năm 1998, tôi và mẹ hỏi cha:

– Chúng ta đi tắm, tắm rửa sạch sẽ để theo Đức Phật A-di-đà về thế giới Tây phương Cực Lạc được không?

Cha đáp: “Được”.

Ngay từ hôm thứ hai, cha đã không ăn gì, sau khi trợ niệm cho cha, tôi nhiều lần hỏi cha có đói không? Cha đều nói không. Vì vậy chúng tôi chỉ dùng ống hơi mớm cho cha ít nước. Lần này, sau khi tắm rửa sạch sẽ, cha nằm trở lại giường tiếp tục niệm Phật. Lát sau, cha bảo tôi:

– Nghê à! Họ cần tiền, con đến ngân hàng lãnh tiền cho họ.

Mỗi khi cha không niệm Phật, nói những chuyện phiếm khác (hình như đang trò chuyện với ai khác), tôi liền nhắc nhở cha:

– Ba hãy chuyên tâm niệm Phật đi nhé.

Vì tôi liên tưởng đến hôm qua cha thường nói: “Họ đói lắm”. Tôi còn hỏi cha: “Có phải là ba đói không?”. Cha đáp quả quyết: “Không phải, cha không đói, họ đói đấy”.

Có người từng hỏi pháp sư Tịnh Không: “Siêu độ vong hồn đốt tiền giấy, họ có sử dụng không?”

Pháp sư đáp: “Nếu như những vong hồn được cầu siêu đang ở trong đường địa ngục, súc sinh thì đốt tiền giấy, họ đâu sử dụng được, chỉ có vong hồn ở trong đường ngạ quỷ, đốt tiền giấy cho, họ mới sử dụng được”.

Vì vậy, bây giờ cha tôi nói: “Bọn họ cần tiền”. Hơn nữa cha còn nói: “Họ rất đói”. Trực giác cho tôi biết những oan gia trái chủ của cha đang ở trong đường ngạ quỷ. Thế nên, chuyên tâm nhất ý mong mỏi trợ niệm cho cha đúng như lý, như pháp, cũng không biết đốt tiền giấy có đúng như pháp không? Trong lòng tuy rất muốn điện thoại hỏi cư sĩ Liêu, nhưng vì đã liên tục điện thoại hỏi nhiều lần, thật ngại ngùng lại quấy rầy ông nữa.

Tôi suy nghĩ rất lâu, liền bảo em gái đi mua rất nhiều giấy tiền, định phân ra đốt cho những oan hồn trái chủ của cha. Lần đầu, tôi đốt vào buổi trưa. Hơn 5 giờ chiều, tôi lại đốt lần thứ hai. Khi đốt buổi chiều, đứa con gái nhỏ cứ bám chặt lấy tôi (nó đã hơn 1 tuổi, bình thường có thể chơi một mình), tôi bảo bé đến phòng khách chơi, nhưng nó vừa nhìn vào cửa phòng khách thì khóc thét lên, không chịu vào. Đứa con trai nhỏ của em gái cũng khóc ngằn ngặt. Không bao lâu, mẹ tôi lại vô duyên cớ té sóng soài trong phòng khách, đau chịu không nổi, dường như đứng lên không được. Tôi vội chạy qua nhắc mẹ lớn tiếng niệm Phật. Tôi nói với mẹ: “Mẹ xem ba đau như thế mà còn có thể tự mình niệm danh hiệu Phật, chúng ta cũng phải học theo gương của ba. Vả lại, nếu bây giờ mẹ đau quá kêu rên, không niệm Phật thì sẽ làm thỏa mãn ý những oan gia trái chủ của ba, cắt đứt tiếng niệm Phật”.

Sau khi nghe xong, mẹ nén đau, lấy lại tinh thần, lớn tiếng niệm: A-di-đà Phật.

Lúc đó, tôi cảm thấy chúng tôi cần phải chuyên tâm hơn, niệm Phật chú tâm hơn nữa, vì cha tôi đang gặp một số chướng duyên. Ví dụ như: Muốn cầm tượng Phật ra ngoài, ông còn nói: “Không cần đâu! Không cần niệm Phật đâu!”. Ông lại muốn tốc chiếc mền vãng sinh đang đắp trên người ra.

Tôi nói với ông:

– Ba, tượng Phật không thể đem đi, chúng ta nên quán tưởng Phật, niệm Phật, chuyên tâm niệm Phật nhất định có hữu dụng.

Vì những hiện tượng này, lại thêm tiếng khóc ồn náo của hai đứa trẻ, khiến tôi cảm thấy phải chuyên tâm niệm Phật mới được. Mỗi lần thắp hương, tôi lại khẩn cầu Phật, Bồ-tát từ bi gia hộ cho cha chính niệm rõ ràng và đọc bài văn cầu nguyện một biến.

Mười một giờ đêm, ngày mùng 8 tháng giêng, luân phiên đến tôi trực ca. Đang lúc phải thắp hương, vì vậy hai tay tôi cầm hương, miệng niệm Phật đi ra ngoài sân, vừa bước ngang qua cửa phòng khách liền cảm thấy từ da đầu đến bắp vai toàn thân tê cứng. Con chó nhà hàng xóm cứ sủa mãi, tôi không do dự quỳ xuống đất, cung kính đọc một biến văn cầu nguyện, tiếp theo niệm thánh hiệu Phật A-di-đà rồi trở vào nhà. Mười hai giờ khuya, cậu em trai trở về. Tôi bảo em gái vào phòng trợ niệm trước, tôi đến phòng khách đem tình hình của cha ngày hôm nay, và cả những việc đã xảy ra trong nhà kể cho em trai nghe. Tôi nói: “Hôm nay chị ba về, nhất định trợ niệm cho cha đến cùng, nhưng nếu có sự giúp sức của em, tin rằng có thể giảm nhẹ sự đau khổ của cha”. Lát sau, tôi đi vào phòng cha, cậu em trai cũng bước vào theo cùng niệm Phật. Đột nhiên tôi cảm nhận ra hàm ý tối qua cha nắm chặt tay tôi và em trai nói: “Hai đứa con có trách nhiệm trọng đại”.

Khoảng 2 giờ 40 sáng, cha nói một câu: “Đến giờ rồi”. Con chó lại bắt đầu sủa. Tôi và em trai không dám lơ là, càng chuyên tâm niệm Phật trang nghiêm hơn. Cha cũng niệm theo chúng tôi. Khoảng 3 giờ rưỡi sáng, em trai nói với tôi:

– Chị ba, em phải đi nghỉ, sáng mai còn phải đi làm.

Tôi bảo: “ Ừ, em đi”.

Vì niệm Phật phải chuyên tâm, không thể có mảy may miễn cưỡng, nếu em trai đã mệt thì phải để nó đi nghỉ. Nó vừa ra khỏi cửa phòng cha thì con chó ngoài cửa lại sủa lên. Em trai vội trở vào niệm Phật cho cha. Niệm suốt đến khoảng 4 giờ 45 phút, tôi bảo nó:

– Có lẽ không sao rồi, bây giờ em đi nghỉ một chút, đợi lát nữa còn phải đi làm.
c) Phật A-di-đà từ bi tiếp dẫn.

( Thứ sáu, ngày mùng 9 tháng giêng năm 1998).

Sáng sớm, khi cô út đến tiếp ca niệm Phật, cha nói ông rất mệt, liền chìm vào giấc ngủ, nhưng chúng tôi vẫn ngồi một bên trợ niệm. Do tình hình đêm qua khá căng thẳng, tôi lại không biết đốt giấy tiền rốt cuộc có tốt hay không, vì vậy tôi vội điện thoại thỉnh giáo cư sĩ Liêu. Ông bảo tôi: “Bây giờ chính là lúc binh tướng đến. Nếu như lực niệm Phật lớn hơn lực của oan gia trái chủ thì có thể vãng sinh”. Ông lại nói: “Gần đây ở Đại lục có một cư sĩ tên Trương Hạnh Tài sắp vãng sinh, mọi người giúp ông trợ niệm, trợ niệm đến bốn ngày, bốn đêm mới vãng sinh. Hai ba ngày trước khi vãng sinh, oan gia trái chủ hiện ra trước mặt ngăn trở hai, ba lần. Lúc ấy, vị cư sĩ này bứt rứt không an, cầm chuỗi niệm ném đi, cũng không chịu niệm Phật. Sau đó, các bạn trong hội mới khai thị cho các oan gia trái chủ, và cầu xin Đức Phật A-di-đà từ bi gia hộ, sau cùng cư sĩ cũng vãng sinh đến thế giới Tây phương Cực Lạc”.

Tôi hỏi lại: “Có thể đốt giấy tiền không?”

Cư sĩ nói: “Tốt nhất không nên đốt giấy tiền, đốt giấy tiền không phải là cách làm của nhà Phật”.

Tôi rất xấu hổ, nói: “Nhưng đêm qua, tôi đã đốt rồi”.

Cư sĩ từ bi nói: “Đốt rồi thì thôi, nhưng không nên đốt nữa. Chúng ta phải hiểu, nghiệp nhân trong đường ngạ quỷ là tham. Vì tham mới đọa vào đường ngạ quỷ. Nếu lòng tham không chán, chúng ta có đốt bao nhiêu giấy tiền, cũng không thể giải quyết được vấn đề của cha cô, nhất là khi rơi vào đường ngạ quỷ, phải chịu sự đau khổ trong khoảng thời gian rất lâu, rất khó có cơ hội nghe được Phật pháp. Nếu muốn cho họ được lợi ích chân thật thì nên đem pháp môn niệm Phật giới thiệu cho họ, để họ cũng niệm Phật, mới có cách thoát khỏi đường ngạ quỷ. Chúng ta đem tâm vui vẻ an hoà, lời khả ái giảng cho thông suốt, bảo cho họ biết cơ duyên về thế giới Tây phương Cực Lạc rất thù thắng khó gặp. Hôm nay cha cô nhân duyên đã chín mùi, có thể vãng sinh về thế giới Tây phương. Chúng ta mọi người nên cùng nhau trợ niệm cho ông ấy. Mọi người đều có công đức, chúng ta cũng hãy đem toàn bộ công đức trợ niệm này hồi hướng cho oan gia trái chủ của ông”.

Sau khi trò chuyện điện thoại với cư sĩ Liêu xong. Tôi bảo cô em không cần đốt giấy tiền vàng bạc nữa, chúng ta phải thành kính, siêng năng niệm Phật hơn.

Do tình hình tối qua khiến cho mọi người căng thẳng, không biết oan gia trái chủ của cha đến bao nhiêu, cũng không biết còn đến nhiều ít, vì vậy chúng tôi phải sắp xếp ca luân phiên trợ niệm, tôi và cô út đều có thể duy trì thể lực, chúng tôi dự định trường kỳ trợ niệm. Tôi nói với cô út:

– Tuy chúng ta ít người nhưng không sao. Vì chúng ta có Phật A-di-đà. Nếu họ có thể tương ưng với Phật A-di-đà, thế thì càng tốt, chúng ta mọi người cùng đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc.

Sau bữa cơm trưa, tôi trở về phòng nghỉ ngơi trước, vừa nằm xuống, tôi cảm thấy nơi đỉnh đầu có ánh vàng rực chiếu xuống, mở mắt ra thì không thấy gì cả, nhưng vừa nhắm mắt lại thì cảm thấy nơi đỉnh đầu có ánh sáng vàng đó rọi xuống, tôi không để ý đến, để duy trì thể lực cho trợ niệm, tôi cần phải nghỉ ngơi một lát.

Vì dự định trường kỳ trợ niệm, buổi chiều tôi và cô út vừa niệm Phật, vừa quét dọn qua căn phòng của cha một lượt, và trải tấm nệm da, phương tiện cho chúng tôi lễ Phật, niệm Phật, kinh hành v.v… Hơn 4 giờ chiều, đột nhiên tôi nghe có nhiều tiếng chim hót, nghe vui tai rất hay. Bình thường, tôi về nhà từ trước đến giờ, chưa hề nghe tiếng chim hót nhiều như vậy. Tôi hỏi con gái nhỏ của em gái:

– Giai Giai, bình thường có nhiều chim như vậy không?

Cô bé lắc đầu. Tôi chạy đến sân nhìn xem, thấy chim đậu trên hai cội cây trước cửa sổ phòng cha, khoảng mấy mươi con. Tiếng hót nghe rất sinh động vui tai, tôi vội mời mẹ đến xem, mẹ nói bình thường không có chim nhiều như thế, trước giờ bà cũng chưa hề thấy.

Vì việc trợ niệm khá quan trọng, cho nên tôi không dám đứng trong sân lâu. Bốn giờ rưỡi, tôi cầm hương, miệng niệm Phật, lại đến sân nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát từ bi gia hộ cho cha chính niệm rõ ràng. Sau khi dâng hương xong, tôi trở vào phòng cha trợ niệm. Phụ thân vẫn ngủ rất say. Tôi lại lễ Phật một lần nữa cầu xin Phật và Bồ-tát gia hộ cho cha chính niệm rõ ràng (văn cầu nguyện y như trước). Sau khi lạy Phật xong, bỗng nhiên trong tâm khởi lên ý muốn nhìn thử cha (tôi luôn để ý tình trạng của cha). Lúc đó, tôi thấy miệng cha máy động ba cái, rồi không còn thở nữa. Khi ấy là 4 giờ 50 phút ngày thứ sáu, mùng 9 tháng giêng năm 1998.
d) Trợ niệm sau khi tắt thở.

1. Chí tâm niệm Phật.

(Tối ngày thứ sáu, mùng 9 tháng giêng năm 1998).

Phát hiện cha không còn thở nữa, ngay khi ấy tôi rất hồi hộp. Sau đó, tôi lập tức nghĩ đến lời cư sĩ Liêu nhắc nhở: “Trong quá trình trợ niệm, tuyệt đối không được hoảng loạn, tâm phải thanh tịnh mới có thể tương ưng với Phật”. Tôi nhè nhẹ chạm vào bàn tay cha, vẫn còn ấm, tôi không dám sờ vào nơi khác vì sợ thần thức cha trong quá trình rời thân thể, tạo thành sự đau đớn cho ông. Tôi vội đi đánh thức cô út vừa mới nghỉ ngơi, mời cô thay phiên trợ niệm trước, đồng thời lập tức điện thoại đến Đài Bắc thỉnh giáo cư sĩ Liêu. Cư sĩ hỏi tôi: “Cha cô, mạch còn đập không?” Tôi nói: “Không biết nữa, tôi không dám sờ vào mạch”.

Ông lại hỏi một số vấn đề, cuối cùng ông nói: “Suốt cả quá trình niệm Phật hộ niệm đúng như lý, như pháp, sự việc quả là rất viên mãn”.

Ông bảo tôi tiếp tục trợ niệm cho cha ít nhất là tám tiếng đồng hồ nữa.

Để bảo đảm cho chắc chắn, chúng tôi quyết định sau khi cha mất, trợ niệm thêm 24 giờ nữa cho tốt. Đồng thời mỗi lần dâng hương, ngoài việc cầu xin chư Phật, Bồ-tát tiếp dẫn cha vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc, chúng tôi còn khai đạo cho cha:

– Ba, ba, ba (kêu to 3 lần), tuổi thọ của ba nơi thế giới này đã hết rồi, bây giờ con xin ba theo chúng con niệm Phật, thấy Đức Phật A-di-đà cầm đài hoa sen đến đón ba, ba phải vui vẻ đi theo Ngài đến thế giới Tây phương Cực Lạc, ba sẽ mãi mãi thoát khỏi khổ đau, mãi mãi được an vui.

Tôi lại đem tất cả công đức vãng sinh của cha lần này hồi hướng cho oan gia trái chủ của cha. Đến 12 giờ khuya, để giữ gìn sức khỏe chuyên tâm niệm Phật, tôi đi nghỉ trước. Tuy người đã nằm trên giường nhưng tôi vẫn nghĩ đến sự việc đáng chú ý sau khi tắt thở, có phải là đã giao nhận rõ ràng hay chưa? Một điểm quan trọng nhất trong đó là: Không được để một con côn trùng hay một con ruồi muỗi đến cắn chích vào thân thể người đã mất, để tránh cho người mất cảm thấy quá sức đau đớn mà tâm không cách nào vui vẻ niệm Phật, như thế sẽ làm lỡ mất cơ hội tốt vãng sinh. Điểm này tôi và em trai đã đề cập đến, cô út đã xem qua quyển sách “Làm cách nào niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật” nên biết rõ. Nhưng tôi vẫn không sao ngủ được. Thế là, tôi ngồi dậy sang phòng cha dặn dò cô út, phải chú ý không được bất kỳ con kiến hay con muỗi chạm vào thân thể cha.

2. Điềm lành vãng sinh ứng hiện.

(Thứ sáu ngày mùng 10 tháng giêng năm 1998)

Trưa ngày mùng 10 tháng giêng, tôi và em gái bắt đầu liên hệ với đội nghi thức tẩn liệm. Chúng tôi mong mỏi theo nghi thức của Phật môn làm hậu sự cho cha, tôi nói cho đội mai táng biết, nhưng cần phải thuê trước một cỗ quan tài ướp lạnh thật đẹp, đem di thể của phụ thân an trí trong cỗ quan ướp lạnh, chúng tôi cả nhà đều không biết có tốt không? Tôi thỉnh giáo sư phụ ở thư viện Hoa Tạng. Sư phụ nói: “Phật pháp rất trọng thực chất, không trọng hình thức, làm hậu sự không cần phô trương, không nên chạy theo cái đẹp ở bên ngoài, để có thể khiến cho thân phụ được lợi ích chân thật là nguyên tắc, tất cả tùy duyên là tốt”. Hóa ra vì muốn mời đội mai táng mà phiền muộn, rối rắm. Tôi nghĩ: “Tâm của tôi như thế này thì không thanh tịnh rồi!”. Thế là, tôi an định tâm lại, quyết định tiếp nhận sự sắp xếp của đội mai táng và thiết lập linh đường ở trong sân nhà.

Do hậu sự phức tạp, tất cả việc trợ niệm phần lớn đều dồn hết cho cô út. Sau bữa cơm trưa, cô út tranh thủ thời gian rảnh nghỉ ngơi một chút. Cô vừa nằm xuống không lâu thì ngồi dậy kể cho tôi nghe một số cảnh tượng. Cảnh tượng tốt là thế giới Tây phương Cực Lạc. Cô út vì không ngủ được nên lại thức dậy niệm Phật. Lúc cô đi vào phòng của cha, em gái tôi nói với cô: “Chị Lưu may mà chị đến, em đi ngủ đây”.

Trong khi cô út đang niệm Phật, bỗng nhiên cô cảm nhận được nhiệm vụ lớn lao của mình. Thế là, cô mang ghế dựa ngồi trước giường của cha, mắt chăm chú nhìn ông. Không bao lâu, cô út thấy một con sâu nhỏ dường như muốn bay đến gần chót mũi của cha, cô vội giơ tay đuổi nó. Niệm Phật đến khoảng 2 giờ 25 phút chiều. Cô nhìn thấy một luồng khí trắng từ đỉnh đầu cha phóng ra, tiếp theo còn có luồng khí từ đầu xông lên. Sau đó khi đến niệm Phật cho cha, tôi cũng có nhìn thấy luồng khí trắng xông lên. Tôi nhẹ nhàng lấy lưng bàn tay mình đặt lên lưng bàn tay của cha thì cảm thấy lạnh thấu xương. Điều này và trong sách nói rất tương ứng.

Ngay trong quá trình trợ niệm sau khi tắt thở, tôi chỉ chạm vào thân cha ba lần. Một lần là khi cha vừa tắt thở, tôi đã nhẹ đặt vào lòng bàn tay của cha; phát hiện tay vẫn còn ấm; lần thứ hai là sau khi thỉnh giáo cư sĩ Liêu, bắt mạch cho cha, lần thứ ba là sau khi cha tắt thở trợ niệm đủ 24 tiếng, tôi lấy lưng bàn tay chạm vào lưng bàn tay cha. Tuy trong sách nói có thể nhẹ nhàng sờ nhẹ lên đỉnh đầu để phán đoán xem người chết đã vãng sinh Tây phương Tịnh Độ chưa? Nhưng chúng tôi không làm như thế, vì rất sợ làm tán loạn sẽ gây nên phiền não cho cha mà còn làm lỡ mất cơ hội tốt vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Sau việc đó, tính ra chúng tôi bắt đầu niệm Phật từ 11 giờ tối ngày mùng 6 tháng giêng cho đến 5 giờ chiều ngày 10 tháng giêng, tổng cộng đã trợ niệm cho cha 90 giờ.

Khoảng 6 giờ 30 phút chiều ngày hôm ấy, ông chủ của đội mai táng điện thoại hỏi y phục của cha tôi đã thay xong chưa? Tôi trả lời: “Chưa, chúng tôi đợi các anh đến thay!” Sau khi gác máy điện thoại, bỗng nhiên tôi phát hiện ra là con cái nên thay y phục cho cha mới đúng. Thế là, tôi và em gái cùng thay cho cha bộ y phục cư sĩ đã chuẩn bị xong từ trước. Áo tràng và vớ mới, giày mới… Quá trình thay y phục khá thuận lợi. Thân thể cha rất mềm mại, dễ di chuyển; rất nhanh chóng. Sau khi chúng tôi đã giúp cha hoàn thành việc thay áo, thay mũ, tôi chỉ lên trán và nói với em gái: “Dung, em xem trên đầu chị toàn là mồ hôi”. Tôi nhìn thấy em gái cũng mồ hôi đầy mặt. Em còn bảo tôi: “Áo sau lưng chị đều ướt hết rồi”.

Lúc đó chúng tôi đều cảm thấy rất lạ, vì đang là mùa đông, do luôn niệm Phật, không thấy lạnh nên mỗi người chỉ mặc cái áo mỏng tay dài, nhưng cũng không đến nỗi đổ mồ hôi. Sau đó lúc chúng tôi đang niệm Phật, đột nhiên cảm nhận ra đó là do có sự liên quan đến hào quang Phật tỏa xuống.

Từ sau khi cha ngừng thở, trong 24 giờ chúng tôi tiếp tục trợ niệm, hai gò má của cha từ đen hóp dần chuyển sang màu da bình thường, còn trên mô bàn tay những gân máu lồi lõm màu xám xịt cũng chuyển sang màu tươi hồng. Những điều này là việc tôi chưa từng thấy. Khi ông trưởng đội mai táng sắp đem di thể của cha từ phòng trong dời sang nhà khách, vì di thể rất mềm mại, cần phải ba người giúp sức, một người ở đầu, người ở chân và người ở chính giữa đỡ phụ mới đem đi được, vậy mà vẫn còn hơi trơn.

3. Một bầu không khí trong lành.

(Chủ nhật ngày 11 tháng giêng năm 1998).

Ngày 11 tháng giêng, từ kiếng lưu ly trong suốt của quan tài, chúng tôi có thể nhìn thấy quầng đen ở mắt cha hoàn toàn đã mất đi. Đến ngày thứ hai, nét mặt cha bắt đầu xuất hiện màu hồng tươi sáng, mẹ nhìn thấy bà khen là việc hiếm có, vì hiện tượng này và những cảnh tượng lâm chung trước đây bà đã thấy không giống nhau. Buổi trưa ngày 12 tháng giêng, sau khi hậu sự của cha sắp xếp ổn thỏa, tôi cùng cô út và đứa con gái nhỏ trở về Đài Bắc.

Ngày 13 tháng giêng, chồng của chị hai, mẹ chồng chị và sư phụ thân cận của họ cùng mấy người đến nhà tụng kinh niệm Phật cho cha. Mẹ tường thuật quá trình niệm Phật vãng sinh cho cha, sư phụ rất tán thán. Và bày tỏ ý không khí trong nhà rất an tịnh trong lành, không có cảm giác âm u.

Chủ nhật ngày 18 tháng giêng, cử hành lễ tống táng. Buổi chiều cách một ngày, tôi và đứa em trai thứ hai đến kiểm xương nơi hỏa táng. Vì chúng tôi không thấy xá lợi, mới thỉnh sư phụ kiểm xương. Từ trong mớ tro xương của cha, ông đã nhặt được xá lợi rải rác các nơi trên toàn thân, chúng tôi chỉ nhặt được một số trao cho mẹ làm kỷ niệm. Một mặt để cho mẹ an lòng, mặt khác tăng thêm lòng tin niệm Phật cầu sinh thế giới Tây phương Cực Lạc của bà. Những viên xá lợi nhặt được mang về tỏa màu xanh lam sáng dìu dịu. Đến trung tuần tháng 2, từ Đài Bắc tôi đã thỉnh được một tháp đựng xá lợi mang về thôn Trung Hưng Tân, khi chuẩn bị an trí xá lợi của cha, tôi phát hiện xá lợi đã chuyển sang màu quít đỏ.
e) Sự tích cảm ứng trước và sau khi trợ niệm.

1. Trước khi trợ niệm.

Cuối năm 1997, mẹ điện thoại báo tin: Cha nói ông ta sắp đi rồi, buổi tối thường không chịu tắt đèn ngủ.v.v…Tôi liền bắt đầu tụng kinh Vô Lượng Thọ và đem những công đức đó hồi hướng cho những oan gia trái chủ của cha.

Vào buổi sáng nọ, đứa con gái lớn ( học lớp 5 tiểu học) nói với tôi:

– Mẹ, tối qua con mộng thấy Đức Phật A-di-đà đến đón ông ngoại.

Tôi hỏi:

– Cảnh con mộng thấy là ở đâu?

Nó đáp:

– Ở nhà bà ngoại.

Tôi lại hỏi:

– Đức Phật A-di-đà mà con thấy hình dáng như thế nào?

Con bé đáp:

– Toàn thân màu vàng chói lọi.

Tôi hỏi tiếp:

– Lúc đó, còn có người nào ở trong nhà không?

Nó đáp:

– Mẹ và dì quỳ trước giường ông ngoại niệm Phật cho ông. Phật A-di-đà sắp đến đón ông ngoại. Mẹ muốn giúp ông mang giày. Ông nói không cần đâu.

Đây là lúc cha đang bệnh nặng, chúng tôi vẫn không có về trước trợ niệm, con gái lớn mộng thấy cảnh tượng cha được Đức Phật A-di-đà dẫn đi.

2. Trong khi trợ niệm.

Mẹ bảo tôi: “Trước khi các con vẫn chưa trở về niệm Phật, toàn thân cha không biết đau bệnh gì, chỉ cần chạm nhẹ là đau chịu không thấu, lúc thay áo quần, thay tã lót càng đau thấu tim. Nhưng từ sau khi các con trở về không ngừng niệm Phật thì cơn đau của cha đã giảm nhẹ rất nhiều, nửa thân trên có thể tự do hoạt động, lúc thay tã lót cũng không kêu đau; thậm chí đến sáng ngày vãng sinh mùng 9 tháng giêng, nửa thân dưới của cha cũng có thể hoạt động, còn có thể tự trở mình. Giấc ngủ sau cùng của cha là cánh tay phải đặt gần gương mặt phía bên phải, mặt ngủ nghiêng về bên phải ( Sư phụ nói ngủ kiểu này là dáng nằm cát tường).

Mẹ cũng bảo tôi, trước lúc chúng tôi chưa trở về niệm Phật, phụ thân luôn kêu lạnh lắm, đắp rất nhiều mền vẫn cảm thấy lạnh. Nhưng sau khi chúng tôi không ngừng niệm Phật, cha đã không cảm thấy lạnh, có lúc còn bảo với chúng tôi là ông nóng quá, lòng bàn tay của ông nóng như hòn than. Ban đầu, tôi vẫn rất lo có phải là cha phát sốt không, nhưng sờ lên trán ông lại không có dấu hiệu phát sốt. Vì vậy, có lẽ là trong tiếng danh hiệu Phật, thân thể cha đã chuyển thành ấm áp.

Ngoài việc này ra, trở về niệm Phật cho cha là việc quan trọng đầu tiên, cho nên mấy ngày đó, tôi đều không liên lạc với người nhà ở Đài Bắc. Mãi đến tối mùng 9 tháng giêng, trong điện thoại con gái lớn nói với tôi: “Mẹ, tối qua con mộng thấy ông ngoại bị quỷ bắt, sau đó con và mẹ luôn niệm Phật A-di-đà, niệm tới khi mấy con quỷ đó vừa bắt đầu nắm lỗ tai. Sau đó, nó dần dần biến mất không thấy nữa”.

Điều này thật là khớp với nhau không thể nghĩ bàn, đích xác tối hôm mùng 8 tháng giêng là căng thẳng nhất, nhưng tôi hoàn toàn không điện thoại báo với người nhà ở Đài Bắc, làm sao con gái lớn biết mà mộng thấy cảnh như thế. Hơn nữa ở trong mộng nó còn giúp sức niệm Phật.

Cô em gái cũng nói với tôi, nửa đêm mùng 7 tháng giêng, cô không ngủ được, đang ngồi trong phòng khách, đứa em trai đang trực ca niệm Phật cho cha, tôi và cô út nghỉ ở phòng ngoài nhưng cô em gái vẫn nghe tiếng những người con gái trợ niệm từ phòng cha vọng ra. Lúc ấy, cô em ý thức rất rõ ràng, cô cũng phân biệt được đó không phải là tiếng của tôi. Đồng thời nơi phía sân ngoài phòng khách cũng có tiếng rất nhiều người cùng niệm Phật. Sáng ra, khi chúng tôi đến đổi ca, phát hiện em trai đang nằm nghỉ trên ghế. Sau khi sự việc xong, tôi hỏi em trai: “Em có nghe tiếng các người nữ niệm Phật không?”.

Em trai nói: “Không”. Tôi đoán có thể là em trai đã ngủ say rồi. Vì muốn khiến cho không gián đoạn việc niệm Phật của cha nên chư Phật, Bồ-tát từ bi gia hộ, có sự hộ niệm trợ duyên khác.

3. Sau khi trợ niệm viên mãn.

Ngày 12 tháng giêng, sau khi tôi trở về Đài Bắc, cách một ngày, vào sáng sớm, đứa con trai nhỏ ( học lớp 1 tiểu học) vừa thức dậy liền nói với tôi:

– Mẹ, hôm qua con mộng thấy Phật A-di-đà đến đón ông ngoại.

Tôi hỏi:

– Chỗ con mộng thấy ở đâu vậy?

Nó bảo:

– Ở phòng khách nhà bà ngoại, mẹ đang giúp ông niệm Phật, Phật A-di-đà liền từ trong bức tượng bước ra, nói muốn đưa ông ngoại đi, để chúng ta không buồn nữa.

Ngày 15 tháng giêng, em gái điện thoại cho tôi, nói:

– Chị ba, có một việc nhất định em phải nói với chị. Hai hôm nay, cứ vào mỗi chiều liền có một luồng gió từ sân đối diện phòng ba thổi qua, hơn nữa còn có rất nhiều chim bay đến đậu trên hai cội cây trước phòng ba, giống như ba trở về thăm chị em mình đó. Còn nữa, Giai Giai (con gái của em gái) một hôm vừa thức dậy đã bảo em: “Mẹ, tối qua con mộng thấy con và ông ngoại đang ở trong căn phòng lớn, rất đẹp”.

Hai mẫu chuyện trên là cảnh tượng đứa con trai nhỏ thấy sau khi cha vãng sinh.

4. Đức Phật A-di-đà từ bi sắp đặt.

Sau 2 năm rưỡi khi cha bắt đầu tụng kinh, tôi bắt đầu lợi dụng những lúc trò chuyện giới thiệu cho cha những bạn bè thân cận. Trong đó, có một vị là bác Trương ở phố Nam Đầu, đã để lại cho tôi ấn tượng rất là sâu sắc. Mẹ bảo tôi:

– Bác Trương đối với ba quả thật không có gì để nói hết, không giờ nào, không phút giây nào không quan tâm đến ba.

Sau đó, bác Trương cũng bị bệnh. Cha đặc biệt điện thoại cho tôi, muốn tôi đến thư viện Hoa Tạng thỉnh cho bác kinh Vô Lượng Thọ, thánh tượng Phật A-di-đà và chiếc máy niệm Phật v.v… Khi trường nghỉ hè, tôi và mẹ tự mang tất cả những thứ đó đến nhà bác Trương ( vì cha tôi đi lại không thuận tiện, lên bậc thang lầu chân đau, cho nên không đi được).

Trước mấy hôm cha vãng sinh, có một buổi sáng sớm nọ cha bảo mẹ, ông mộng thấy bác Trương cứu ông, nhưng không nói rõ tình huống.

Sáng ngày mùng 6 tháng giêng, bác Trương đến nhà thăm bệnh cha và căn dặn mẹ nên mau chóng đưa cha đến bệnh viện chẩn trị. Trưa hôm đó, mẹ liền xin xe cứu hộ đưa cha đến bệnh viện, buổi chiều em gái điện thoại cho tôi biết cha bệnh nặng nằm bệnh viện, tôi mới phát hiện ra sự thể đã nghiêm trọng, cũng không thể kéo dài nữa. Nếu không phải là cha nằm viện, có thể tôi không nhận ra tình hình nghiêm trọng và cũng không thể kịp thời trở về nhà. Những thế sự nhân duyên này và điều cha mộng thấy bác Trương cứu ông thật là không tính toán mà thầm hợp. Cha đã từng nằm trên giường bệnh, bảo mẹ muốn tôi chuẩn bị 100.000 đồng gởi về nhà. Sau đó, những chi phí xử lý hậu sự tính ra có lẽ xấp xỉ hơn 100.000 đồng.

Ngày 13 tháng giêng, tôi trở về trường làm việc, trên bàn làm việc của phòng nghiên cứu, tôi nhìn thấy một bức thông báo đã mở, thời hạn là ngày 14 tháng giêng năm 1998. Trong phút chốc, tôi cảm động ngỡ ngàng, tôi thật sự thể hội sâu sắc tấm lòng đại từ, đại bi của Đức Phật A-di-đà, đã chọn một cách khéo léo ngày mùng 9 tháng giêng đưa tiễn phụ thân, không những giúp chúng tôi có đủ thời gian tiếp tục trợ niệm cho cha 24 giờ, đồng thời còn có đủ thời gian xử lý hậu sự cho cha, lại không làm lỡ công việc nơi Đài Bắc, bao gồm cả giờ lên lớp chiều ngày 16 tháng giêng mà ban đầu tôi nghĩ là trở ngại nhất.
f) Tâm chuyên nhất, sức kiên định.

Trong quá trình chuẩn bị trợ niệm cho cha, tôi cũng từng nghe nói việc đọc tụng kinh Địa Tạng sẽ có sự giúp đỡ cho cha. Cho nên tôi thảo luận với cô út là có nên tạm thời gác lại kinh Vô Lượng Thọ mà chuyển sang đọc kinh Địa Tạng. Cô út nêu ra cách nhìn của mình: “Chúng ta đọc ban đầu chính là kinh Vô Lượng Thọ, văn của kinh Vô Lượng Thọ đã thuần thục mà vẫn không dừng được vọng tưởng tạp niệm, còn kinh Địa Tạng chưa hề đọc qua. Đến lúc vọng niệm không dừng được vẫn là đọc suông, công đức tụng kinh bị giảm rất nhiều”. Vì vậy, chúng tôi vẫn đọc theo kinh Vô Lượng Thọ.

Ngày mùng 7 tháng giêng, tuy cha chịu niệm Phật, chịu vãng sinh, nhưng lúc đó vẫn thường những cơn đau vô hình, hơn nữa mỗi lần đau đều rất dữ dội. Tôi nhìn thấy quả thật rất đau lòng. Khi đó, tôi nói với cô út: “Chúng ta mỗi người hãy tự tụng kinh Vô Lượng Thọ và đem công đức này hồi hướng cho cha”. Ban đầu cô út đồng ý, nhưng đến hôm sau, sau khi suy nghĩ, cô bảo tôi: “Chúng ta nên niệm Phật A-di-đà, vì A-di-đà Phật, bốn chữ này rất ngắn để nhiếp tâm, so ra dễ kiểm soát tình trạng của người lâm chung. Văn kinh của kinh Vô Lượng Thọ dài, đọc một biến ít nhất cũng phải 40 phút, còn phải chú ý tình trạng đột phát của người sắp mất. Niệm phân tâm như thế, kết quả bảy, tám phần công đức bị giảm đi rất nhiều, chúng ta cứ chuyên tâm niệm thánh hiệu Đức Phật A-di-đà”. Từ đó về sau, chúng tôi càng chuyên tâm chú ý giữ danh hiệu Phật, tâm an trụ trong một câu danh hiệu Phật. Sự chỉnh đổi những quan niệm này, đối với người trợ niệm về sau có sự giúp sức khá lớn.
g) Lời sau cùng.

Từ sau khi cha vãng sinh, tôi luôn nghĩ: “Hôm nay cha có thể thuận lợi vãng sinh, hoàn toàn phù hợp với những điều đã nói trong kinh Phật thuyết A-di-đà kinh: “Không thể nhờ một chút nhân duyên phước đức căn lành mà được sinh vào nước ta”. Cả đời cha chưa từng tham dự pháp hội nào, cũng chưa đi đến đạo tràng nào, đến 75 tuổi mới tiếp xúc Phật pháp, liền chịu đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, lại có thể trì tụng ba năm không ngưng nghỉ, thật sự có thể nói là căn lành sâu đậm. Ngoài ra, cha đã khổ nhọc nuôi dưỡng năm chị em chúng tôi, không phải là con đẻ cho đến trưởng thành (mỗi khi khai giảng, phải nộp học phí, cha phải đi mượn tiền trước để đóng học phí). Hơn nữa, trong đời sống ăn ở và giáo dục, cha đều có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu của chúng tôi, đây là tu thiện tích đức. Cho đến tôi có thể bỏ công việc mà không trở ngại gì. Rồi lại gặp cô út chủ động hết lòng trợ giúp, thảy đều là những nhân duyên hiếm có.

Lần này trợ niệm cho cha, khiến tôi thể hội sâu sắc được sức mạnh của việc phát khởi tâm niệm không thể nghĩ bàn. Tuy trước giờ tôi không hứa lời nguyện nào chính thức trước mặt Phật và Bồ-tát, hy vọng có thể lúc cha lâm chung, trợ niệm cho ông, nhưng từ khi phát hiện ra sự rốt ráo viên mãn của Phật pháp, ngoài việc tích cực hướng dẫn cha niệm Phật, trong tâm mình cũng thường nghĩ, hy vọng tương lai có thể trợ niệm cho cha, tự tiễn cha lên đường. Hôm nay hồi tưởng lại, tôi nhận ra cuối tháng 12 năm 1997 cha đã sớm tiết lộ tin tức, để tôi ở Đài Bắc có đủ thời gian chuẩn bị công việc xong trước khi trợ niệm. Trước tiên là thỉnh xong tất cả những y phục, các vật của Phật giáo và có thể kịp thời thỉnh giáo cư sĩ Liêu. Ngày 6 tháng giêng, sau khi được biết cha bệnh nặng, tôi vội vã trở về trợ niệm cho ông. May mắn làm sao, tất cả thời gian sự việc đều được sắp xếp khéo léo như thế, đây là điều mà tôi không cách nào giải thích được.

Viết đến đây, tôi cảm nhận sâu sắc rằng, cha quả thật là Phật và Bồ-tát, ông đã đem căn bệnh đau đớn của mình để dạy chúng tôi chuyên tâm niệm Phật, có lúc cha đau đớn quá cũng phải cắn răng niệm to bốn chữ hồng danh A-di-đà Phật. Lúc đó, tôi thấy vô cùng xúc cảm. Sau khi cha ngừng thở, đột nhiên có một ý nghĩ lóe sáng trong đầu tôi, hóa ra Đức Phật A-di-đà đã thị hiện cách thức mấy mươi chim con, ngầm bảo các Ngài đến đón ông. Sau đó, mỗi lần niệm thánh hiệu A-di-đà Phật tôi đều cảm nhận sâu sắc Đức Phật A-di-đà, Ngài quả thật từ bi đến chỗ tột cùng, chỉ cần chúng ta tin sâu, nguyện thiết, chịu niệm Phật, Phật nhất định sẽ đến đón chúng ta.

Bây giờ người mà tôi nên cảm ơn nhất là pháp sư Tịnh Không, mấy mươi năm nay ngài đã dùng các phương tiện khéo léo, giảng kinh thuyết pháp, tha thiết hết lời dạy bảo chúng ta: “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Hôm nay, cha tôi đã vãng sinh viên mãn, xác thực minh chứng: “Gieo nhân niệm Phật, hẳn được quả thành Phật”. Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Giả như cúng dường hằng sa bậc Thánh, cũng không bằng tâm dũng mãnh kiên cố cầu Chính giác”. Lại nói: “Dù cho thân chìm trong các khổ, như thế nguyện tâm vẫn mãi mãi không thoái chuyển”. Chính là đã khích lệ những bạn đồng tu chúng ta nhất định phải buông bỏ sự thống khổ của thân tâm, đại nguyện bồ-đề quyết định viên mãn trong đời này, mới là thật sự báo ân Phật.

Sau cùng, với tâm chí thành cung kính, tôi xin cảm ơn những vị thiện tri thức đã từng hiệp sức trợ giúp; các vị sư phụ nơi thư viện Hoa Tạng đã thầm lặng in ấn kinh sách và các chúng đồng tu giúp in, sao chép pháp bảo mà ngài Tịnh Không giảng dạy, và cư sĩ Liêu, bạn đồng tu của tôi, những đồng nghiệp nơi trường đại học và cô út v.v…Chân thành cảm ơn các vị.

A-di-đà Phật!

Biên soạn:

1. Bản văn do cư sĩ Ông Nghê, giảng viên trường đại học Đông Ngô soạn. Vì sự biên soạn khá dài, được cư sĩ Ông đồng ý, đã mời cư sĩ Trần Truyền Tịnh nhuận văn lược bớt, từ khâu trình bày cho đến cảm tạ.

2. Một số người gặp lúc người thân vãng sinh yêu cầu trợ niệm, không tránh khỏi lúng túng hoặc mong mỏi mọi người giúp đỡ. Bản văn cho thấy, tuy chỉ có hai người phụ nữ, nhưng lại có thể dũng cảm đảm nhận thành tựu được đại nghiệp vãng sinh kinh thiên động địa, quỷ khốc thần sầu. Mạnh Tử nói: “Có người làm được, ta cũng giống như thế”.

Chúng ta đệ tử Phật, đều nên nỗ lực tinh tấn cho bằng các bậc Hiền!

Trích Niệm Phật Công Đức của pháp sư Tịnh Không

Viên Mãn Bồ Đề, Ghi Lại Việc Vãng Sinh Của Tiên Mẫu Lý Thái Phu Nhân

Viên Mãn Bồ Đề, Ghi Lại Việc Vãng Sinh Của Tiên Mẫu Lý Thái Phu Nhân

Tiên mẫu Lý thái phu nhân, húy là Nguyệt Phụng, pháp hiệu Tu Bích là con thứ của tiên sinh Lý Đăng ở thành phố Chương Hoá. Năm 24 tuổi, bà được gả cho họ Trịnh, vào đúng lúc sự nghiệp nhà họ Trịnh thất bại, cha chồng qua đời ở Hạ Môn. Bấy giờ, bất luận là quản lý việc nhà hay đãi người tiếp vật đều do tiên mẫu gánh vác. Hơn hai mươi năm, bà đã ngậm đắng nuốt cay, dưỡng nuôi bảy anh chị em tôi. Trong lúc gia cảnh ngày càng khá giả thì không ngờ năm tôi mười bốn tuổi, cha đột nhiên qua đời. Lúc đó, đứa em trai thứ ba năm tuổi, em trai thứ tư chỉ có hai tuổi. Gặp biến cố lớn lao này, mẹ tôi đau lòng rơi lệ máu, đến mức không muốn sống. Chỉ vì tôi và các em còn nhỏ dại không nơi nương tựa, mẹ đành nén đau thương nuôi dưỡng chúng tôi.

Sau khi cha tôi qua đời, kinh tế trong nhà cũng vì thế càng thêm túng quẩn, bữa cơm thường ngày cũng khó mà duy trì, bao nhiêu sự việc lớn nhỏ trong ngoài đều trông mong vào một mình mẹ đảm đương. Nhưng mà khó khăn, gian khổ cứ liên tục, tai họa bệnh tật cứ liên tiếp kéo đến, mẹ tôi nhẫn nhục chịu đựng, tình thế rất thê thảm, quả thật tôi chẳng thể nào thuật hết. Tôi đã từng giữ trẻ cho người ta. Mỗi lần gặp khó khăn không như ý, về nhà tôi đều chua xót thuật lại cho mẹ nghe. Mẹ thường rơi nước mắt khuyên tôi: “Bao gian khổ khó khăn này, chúng ta nhất định phải nhẫn nại kiên trì đến cùng, sau này mới mong có ngày nở mặt nở mày với thiên hạ”. Những lời nói hằng ngày ấy cũng là để khích lệ cho nhau.

Mẫu thân từ lúc được gả đến nhà cha tôi, bà đã chịu hết muôn nghìn nỗi đắng cay khổ nhọc, bà lại càng nhận rõ con người thế gian đều là khổ, không, vô thường. Vận may lớn nhất của bà là được sự tiếp dẫn học Phật của ân sư Tuyết Công. Suốt mười mấy năm bà ăn chay niệm Phật, chưa từng gián đoạn. Lòng tin của bà đối với Phật pháp ngày càng kiên định. Bất luận gió, mưa, lạnh, nóng nơi nào có cơ hội nghe kinh niệm Phật, bà nhất định tham gia, không bao giờ bỏ qua. Tôi thấy mẫu thân dù phải chịu bao gian nan khốn khổ nhưng vẫn không dao động được quyết tâm học Phật, niệm Phật và lòng tin Phật của bà. Sự kiên nhẫn và thái độ an lành ấy của bà, nhất định đã đạt đến chỗ tốt đẹp trong Phật pháp. Khi đó, tôi cũng phát khởi tâm hướng thượng, muốn học Phật pháp. Qua sự cảm hóa từ nơi Lão nhân gia, thế là cả nhà bắt đầu ăn chay.

Năm mười sáu tuổi, được sự hướng dẫn của mẹ, tôi đã tham gia lớp học bổ túc quốc văn của Hội liên xã thành phố Đài Trung tổ chức, nghe ân sư Tuyết Công giảng thuyết các môn Luận ngữ, Phật học v.v… đồng thời quy y Tam bảo, bắt đầu học Phật.

Năm mười chín tuổi, được ân sư Tuyết Công thương xót cho làm đệ tử thị giả theo hầu bên cạnh Lão nhân gia, tôi thường xuyên tiếp nhận được sự huấn luyện dạy dỗ, thu được nhiều lợi ích. Từ đó, tôi sửa đổi được những thói quen hư hỏng như: lời nói ngang tàng, mắng nhiếc người, uống rượu v.v… Đồng thời, tôi cũng hạ quyết tâm lĩnh thụ năm giới. Xét ra, ngày nay tôi có thể thâm tín Tam bảo, trường chay học Phật, nhận được sự lợi ích trong Phật pháp, là nhờ công lao của mẹ lấy bản thân mình làm gương dẫn dắt!

Bản tính của mẹ tôi luôn từ bi, trung hậu, dịu dàng, ngay thẳng, vui thích làm điều thiện, nhất là thích giúp đỡ người khác. Những ai có nhu cầu trợ niệm, bà không quản thời tiết lạnh nóng, sớm chiều, dù cho canh ba nửa đêm cũng đều đáp ứng. Bạn bè đều yêu thích điểm tốt của bà.

Dù mẹ tôi tiếp thụ nền giáo dục văn hoá của Nhật nhưng vẫn cố gắng học tiếng Trung Quốc. Hơn nữa, bà còn đem ba bản kinh “Phật thuyết A-di-đà kinh Phổ môn phẩm, Niệm Phật viên thông” v.v… làm khóa tụng thường ngày. Điều đáng quý nhất có thể nói là bà đã: “Dùng niệm Phật làm phương thuốc hay, giải tỏa ưu phiền của mình”. Suốt mười mấy năm, bà ít khi đau ốm, ngẫu nhiên gặp chút bệnh, bà không thích dùng thuốc, chỉ uống nước chú Đại-bi do chính mình trì tụng. Còn nhớ khi đứa em trai thứ hai tôi lên sáu tuổi, nó đau bàng quang, kết thành bệnh sạn, tiểu tiện rất khó khăn. Hằng ngày, nó đều đau đớn kêu khóc, nhà lại không có tiền cho thầy thuốc phẫu thuật trị liệu. Thế là, ngày nào mẹ cũng cầu nguyện, trì nước chú Đại-bi cho em trai tôi uống. Sáng sớm ba hôm sau, khi vào nhà xí tiểu tiện, đứa em cảm thấy bỗng nhiên hồi phục như thường, liền nhìn kỹ trong bồn thấy hai viên sỏi màu trắng lớn bằng hạt cơm. Từ đó về sau, cả nhà phát sinh lòng tin sâu sắc đối với nước chú Đại-bi, mẹ đã trì. Trong thôn có người bệnh hoặc khi trẻ em sợ hãi giật mình đều uống nước chú Đại-bi của mẹ trì tụng và đều có công hiệu đặc biệt. Thế là, người đến xin nước chú Đại-bi càng ngày càng nhiều. Tôi thường nói đùa: “Mẹ có thể làm bác sĩ, bệnh viện sẽ phải đóng cửa thôi!” Mẹ nói nghiêm túc mà chân thành: “Đức Phật là vị đại y vương, trị những bệnh nhỏ này, có gì kỳ lạ đâu?”

Mẹ không khéo nói, chỉ biết khuyên người niệm Phật, bất luận đối phương có học vấn hay không. Bà luôn bảo mọi người: “Niệm Phật thật sự rất tốt, Phật lực không thể nghĩ bàn! Phật Tổ không gạt người đâu!”.

Nếu như đối phương nêu câu hỏi, lúc không có cách nào trả lời thì bà liền cầm lấy quyển sách “Phật pháp thành tựu ngay trong đời sống” do ngài Tuyết Công trước tác, Hội liên xã xuất bản, mời đối phương xem thử, hoặc là bảo họ đợi con tôi về, nó sẽ trả lời cho ông.

Hai năm gần đây sức khỏe của mẹ không tốt, van tim hở rộng, lúc nghe kinh, niệm Phật, chỉ tịnh mẹ thường có hiện tượng hôn trầm, khiến tôi vô cùng lo sợ, rất sợ đại sự vãng sinh của mẹ gặp phải chướng ngại này. Vì thế, tôi luôn nhắc nhở bà không quên chính niệm. Mẫu thân vô cùng tin tưởng nói: “Không cần lo sợ, mẹ nhất định sẽ vãng sinh”. Cả đời mẹ gặp biết bao đả kích, lòng nhàm chán cõi Ta-bà rất ư bức thiết, gặp việc liền lễ Phật, cầu Phật. Cứ nhìn xem công phu niệm Phật, lòng tin sâu sắc, nguyện thiết tha thuần thục của bà, lại sự ưa giúp đỡ người khác của bà; từ cái tâm không hại người của bà, có thể gọi là chính-trợ song tu, tôi mới được chút an lòng.

Ngày mùng 7 tháng 6 năm Dân quốc 62 (1973), tôi tham gia thi tốt nghiệp của hệ ban đêm trường đại học Trung Hưng, khi đợt thi đầu tiên sắp xong, đột nhiên tôi cảm thấy trong lòng như có tảng đá đè nặng, tâm thần rất khẩn trương bồn chồn, chính mình cũng cảm thấy kỳ quái. Đến đợt thi thứ hai, tôi vẫn không cách nào bình tĩnh, đối mặt với đề thi, hoàn toàn không có cách nào phát huy, chuẩn bị làm bài cho tốt, cuối cùng nghĩ không ra, không biết mình làm đáp án như thế nào, thi xong trong lòng lại càng buồn bã.

Khi đến Thiện Quả Lâm để đón mẫu thân đi nghe kinh xong trở về nhà, tôi mới vừa xuống xe, liền nghe người bạn trong Liên xã bảo: “Khi nghe kinh, mẹ anh bị hôn mê, bất tỉnh nhân sự, đã đưa bà vào bệnh viện rồi”. Lúc đó, tôi mới biết nguyên nhân vì sao tâm thần bất an. Qua sự kiểm tra chẩn đoán của bác sĩ, mẹ tôi bị bệnh tai biến mạch máu não. Tuy đã được tiêm thuốc cấp cứu nhưng cũng không chuyển đổi. Lúc đó, tuy tôi vô cùng đau buồn nhưng cũng rất hiểu mình nên làm thế nào, lập tức tôi đến bên cạnh mẹ niệm Phật.

Ngày thứ hai, ân sư Tuyết Công đến thăm và nói: “Mẹ con phước báo rất lớn, hôn mê trong quá trình nghe kinh tại đạo tràng, ấn tượng lưu lại trong tâm thức vẫn là nghe kinh cầu đạo, nếu có thể trợ niệm tốt thì có thể vãng sinh”. Qua sự chẩn đoán của bác sĩ đã không còn cách nào cứu chữa, tôi đành phải dời mẹ đến Thánh Liên Thất chuyên tâm trợ niệm. Lúc ấy, các bạn trong Liên xã không ngừng đến trợ niệm. Đến chiều, các bạn học của lớp Trung Huệ và Minh luận xã đều phát tâm phân ban đến trợ niệm.

Trong khoảnh khắc buổi sáng ngày thứ ba, mẫu thân đột nhiên tỉnh táo khôi phục tri giác, niệm Phật theo đại chúng được vài câu, sau đó bà mỉm cười vãng sinh trong câu danh hiệu Phật…Ban đầu, tôi và chị thứ ba trong nhà bỗng nghe rất rõ ràng có tiếng niệm Phật tha thiết hòa trong tiếng niệm Phật của mọi người, liên tục mười mấy câu. Sợ âm thanh này sẽ ảnh hưởng đến chính niệm của mẹ, tôi lập tức tìm kiếm nguồn gốc của âm thanh tha thiết này, liền phát hiện mọi người đều chú tâm trợ niệm, hoàn toàn không có âm thanh hoặc biểu hiện nào bi thương, đây hẳn là mẹ đã niệm. Sau khi trợ niệm liên tục 12 giờ, lúc thay y phục cho mẹ mới phát hiện toàn thân mẫu thân mềm mại, gương mặt từ ái tươi hơn khi còn sống.

Sau khi hỏa táng mẹ xong, thu được xá lợi năm màu hình dáng như tượng Phật, cao hơn một tấc (bức tượng lớn nhất khoảng 4,2cm x 3cm), tượng Bồ-tát (tượng lớn nhất khoảng 4,5cm x 3,6cm) như ý, chim anh vũ, và hạt chuỗi lớn nhỏ gần vài trăm viên, chất màu như ngọc thúy, ánh sáng tươi đẹp ấm áp. Chúng tôi thỉnh ân sư Tuyết Công nhận định. Ân sư tán thán: “Những xá lợi này rất hiếm có, không thể chỉ đáng làm xá lợi nhà họ Trịnh các con, mà chính là sự việc hưng thịnh của nhà Phật, đáng được bảo tồn cúng dường tốt”. Những bạn trong Liên xã xem xong, đều tán thán nói mãi: “Pháp môn niệm Phật, quyết định không uổng phí công phu!”.

Ôi, khi mẹ còn sống, tuy có tâm độ người nhưng ngặt nỗi ăn nói vụng về, khó mà thu được hiệu quả. Sau khi vãng sinh, bà thị hiện các loại xá lợi thù thắng minh chứng, đồng thời lấy đây tiếp dẫn bạn đồng tu có tín nguyện thật tâm niệm Phật, cuối cùng đã đền bù được tâm nguyện trong bấy lâu nay.

Than ôi, từ 14 tuổi tôi đã mất cha, đến nay đã hơn 18 năm, mẹ cẩn thận chăm sóc nuôi dưỡng cả nhà, hy vọng không đến nỗi sai lầm, lấy thân làm gương khéo léo dẫn dụ, hướng dẫn tôi học Phật, hơn nữa được gần gũi đại thiện tri thức, hầu hạ ân sư Tuyết Công, tùy thời được lĩnh thụ, đào tạo trui rèn. Những ân đức này đều là do mẹ từ bi hướng dẫn ban cho đấy! Đáng thương mẫu thân từ khi vào nhà họ Trịnh, trải qua bao hoạn nạn, ngậm đắng nuốt cay! Suốt bốn mươi năm, mẹ không quản nhọc nhằn, không ngần ngại trách hờn, lúc nào cũng hy vọng con cái trưởng thành nên người, có thể tự lập; nhưng tôi bất tài, đã không thể gieo trồng cội đức lập nghiệp, để an ủi lòng Lão nhân gia, lại chưa thể làm tròn hết trách nhiệm của trưởng tử, chia buồn cùng mẫu thân, khiến cho mẹ phải nhọc nhằn quá độ, bỏ lại tình thân thương nhớ của con thơ mà từ biệt mãi cuộc đời. Đau lòng thay! Bất hiếu như Thắng Dương, Thắng Lô, Thắng Vinh, tội lỗi đầy trời, trăm thân khó chuộc, trời xanh mênh mông, làm sao có thể tận cùng! Thuật hết đức mẹ hiền trong muôn một, tang chế đớn đau, lời không mạch lạc, cúi xin mọi người minh giám.

Ngày mùng 7 tháng 6 năm Trung Hoa Dân quốc 62 (1973), đứa con mồ côi, Trịnh Thắng Dương rơi lệ kính thuật; Liễu Nhân sửa lại thành văn bạch thoại.

Tháng 2 năm 2003, thu thập tài liệu từ tin tức ở Tây phương.
Ghi chú:

1. Theo Nguyệt san Minh Luân, tuần thứ 22 đăng tin. Vào 7giờ 30 chiều ngày 07 tháng 6 Dân quốc năm thứ 62 (1973), cư sĩ Lý Nguyệt Phụng ở tại Thiện Quả Lâm Đài Trung đang ở pháp hội nghe ngài Tuyết Công[40] tuyên giảng kinh “Khuyến phát Bồ-đề tâm văn”, đột nhiên hôn mê bất tỉnh ngay đạo tràng. Qua sự trợ niệm của các Liên hữu, vào khoảng hơn 1 giờ sáng ngày 09 tháng 6, Lý cư sĩ đã hôn mê hơn một giờ rưỡi, bỗng nhiên hé môi niệm Phật. Sau khi niệm được mấy câu danh hiệu Phật với buồn vui xen lẫn, cư sĩ đã vãng sinh một cách rất an lành. Lúc đó, con trai con gái của cư sĩ từng thấy hai luồng ánh sáng, rồi còn nhìn thấy hoa sen xuất hiện trên không trung. Nhóm thanh niên trường Cao đẳng Phật học Minh luân xã đến tham gia trợ niệm, có người thấy ánh sáng rực đầy nhà, có người thấy hoa sen bay lên hư không, nhiều loại tướng đẹp, có thể nói là hiếm có. Trước đêm hỏa thiêu, em trai còn chưa học Phật của Lý cư sĩ, đột nhiên từ Chương Hóa điện về dặn dò chuẩn bị bình sạch đựng xá lợi; sau khi hỏa thiêu, quả nhiên lựa ra được khoảng mấy trăm viên xá lợi năm màu. Trong đó, có một số xá lợi như tượng Phật, tượng Quán Thế Âm, hoặc cầm thú, hạt chuỗi rất thù thắng đáng quý.

2. Cư sĩ Trịnh Thắng Dương nói: “Sau khi mẫu thân vãng sinh, từng báo cho tôi tin tức ở Tây phương. Vì đương thời tuy tôi rất tin mẫu từ đã vãng sinh, nhưng vẫn còn hy vọng nhận được tin tức. Do đó, sau khi mỗi chiều tắm gội xong, tôi liền ngồi xếp bằng niệm Phật đợi tin. Bấy giờ, đó chỉ là một tấm lòng thành ngu muội, kết quả qua ba ngày đều không có tin gì cả. Đến 3 giờ sáng ngày thứ tư, đột nhiên tôi nghe tiếng cánh cửa sắt dưới lầu bị kéo ra, tôi cho là kẻ trộm, nhất thời tinh thần chấn động, bỗng nhiên thấy ở phía tây có một luồng hào quang xẹt xuống. Ở mặt đất cũng có một luồng hào quang xông lên, cả hai giao tiếp nhau. Đây là cảnh thứ nhất. Tiếp đó, tôi thấy có một vị thân tướng to lớn nhìn không rõ mặt, chỉ thấy mảnh lụa trên đầu Ngài, trực giác bảo tôi đây chính là Bồ-tát Quán Thế Âm. Bên cạnh Bồ-tát có một người thân tướng hơi nhỏ. Ban đầu thì mờ mờ, sau đó dần hiện rõ, tôi mới thấy rõ ràng là mẫu thân. Tôi vội vã chạy tới nắm lấy tay mẫu thân, hỏi: “Có phải mẹ đã vãng sinh rồi không?” Mẫu thân gật đầu, khi ấy tôi chợt giật mình tỉnh giấc”.

Trích Niệm Phật Công Đức của pháp sư Tịnh Không

Ký Sự Vãng Sinh Của Cư Sĩ Vân Liên Ở Bành Tô Úc Châu

Ký Sự Vãng Sinh Của Cư Sĩ Vân Liên Ở Bành Tô Úc Châu

Dõng mãnh tinh tấn, vãng sinh bất thoái: 9:23h chiều ngày mồng một tháng giêng năm 2000, cư sĩ Vân Liên ở Bành Tô, tám mươi sáu tuổi, ngồi kết già trên ghế sô-pha trong phòng thờ Phật tại nhà mình đã niệm Phật suốt hơn ba mươi tiếng đồng hồ. Lúc này, đôi mắt bà dán chặt vào thánh tượng của Đức Phật A-di-đà trước mặt, đồng thời vẫy tay ra hiệu bạn đồng tu hạ tượng Phật thấp xuống một chút. Trong khoảnh khắc, bà mở to đôi mắt chiếu ra luồng sáng lạ lùng. Hai tay duỗi ra đặt vào thành ghế sô-pha dường như muốn đứng dậy cung nghinh Đức Phật A-di-đà đến, trên môi vẫn luôn mấp máy niệm Phật. Sau khi giữ tư thế như vậy và liên tục niệm được mấy mươi phút nữa, cuối cùng bà nhắm mắt lại chỉ có đôi môi vẫn mấp máy chầm chậm không ngừng niệm Phật.

Những bạn đồng tu tham gia trợ niệm đứng gần bà, đột nhiên nghe một làn hương thoảng nhẹ từ trên người bà tỏa ra.

Cô con gái đang dốc lòng nhắm đôi mắt lại, ngồi bên cạnh niệm Phật, đột nhiên nghe bên tai văng vẳng tiếng nhạc trời trổi trên không trung. Cô cứ cho rằng ai đang chơi âm nhạc nên mở to đôi mắt ra nhìn, thấy bạn đồng tu đều đang ngồi đông đúc, quay quanh hai bên, chú tâm niệm Phật. Người mẹ ngồi kết già ngay thẳng bên cạnh được Phật tiếp dẫn đã nhắm mắt vãng sinh. Mẫu thân rốt cuộc đã thoát khỏi sự ràng buộc đi vào thế giới Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà mà ngày đêm bà nhớ tưởng.

Đây là việc thật người thật xảy ra vào năm 2000 tại Yagoona, Tuyết Lê, Úc Châu, một vị niệm Phật ba năm, phát nguyện cầu sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sinh.

Khi phát bốn mươi tám đại nguyện, Đức Phật A-di-đà nói: “Nguyện khi ta làm Phật, mười phương chúng sinh, nghe danh hiệu ta, phát Bồ-đề tâm, tu các công đức, thực hành sáu Ba-la-mật, bền bỉ không thoái chuyển; lại đem căn lành hồi hướng nguyện sinh vào nước ta, một lòng nghĩ đến ta, ngày đêm không nguôi thì lúc lâm chung, ta cùng chúng Bồ-tát hiện đến trước người ấy, trong khoảng sát na, liền sinh về cõi nước ta, thành Bồ-tát bất thoái chuyển. Nếu không được như lời nguyện này thì ta không thành Phật”. Đây là lời nguyện “Tiếp dẫn vãng sinh” của Đức Phật A-di-đà.

Nhưng chúng ta cũng thường nghe mọi người nói: Người niệm Phật thì nhiều nhưng người vãng sinh thành Phật thì ít. Cư sĩ Tô là người thế nào? Nhân duyên nào bà được vãng sinh như lời nguyện? Quá trình bà vãng sinh đã chỉ rõ cho chúng ta điều gì? Vì vậy, người bạn đồng tu tham gia trợ niệm của chúng tôi đã cùng người thân và con gái của cư sĩ Tô nhiều lần nói chuyện với nhau, tìm hiểu, hy vọng có thể tìm ra đáp án, để không phụ tấm lòng khổ nhọc của cư sĩ Tô thị hiện lúc lâm chung.

a) Kiếp người lận đận.

Cư sĩ Bành Tô Vân Liên là một người bên ngoài chất phác trung hậu, tính tình nhu hoà lương thiện có thể tùy duyên vui sống, nhưng nội tâm rất độc lập kiên cường.

Năm 1915, bà sinh ra trong một gia đình nông thôn thuộc huyện Phổ Ninh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm mười mấy tuổi, bà gầy ốm, là con gái lớn trong nhà. Do hoàn cảnh gia đình nghèo, vì vậy những công việc nặng nhọc lớn nhỏ, bất luận cày ruộng, lấy nước, nấu cơm, giặt áo, chăm sóc em v.v… bà đều chủ động gánh vác thay cho cha mẹ. Bà lặng lẽ làm việc, không từ khó nhọc, dù cuộc sống khổ sở đến đâu cũng không hề thốt lời oán trách. Chính trong sự nghèo khổ từ thuở nhỏ đã tôi luyện cho bà một cá tính chịu khó nhẫn nại, độc lập kiên cường.

Năm mười bảy tuổi, theo lời mai mối, bà được gả đến nhà họ Trương. Sau khi kết hôn, người chồng theo cha sang Việt Nam xa xôi mưu sinh. Hai năm sau, bà mười chín tuổi, bà cùng mẹ chồng di cư sang Việt Nam. Hơn ba mươi năm sinh sống ở Việt Nam, vì giúp chồng mưu sinh nên thân thể bà gấy yếu. Mỗi ngày phải dọn dẹp, vận chuyển các loại hàng hóa nặng nề để duy trì cuộc sống, lại phải phụng dưỡng mẹ chồng và nuôi dưỡng mười người con, bốn nam sáu nữ. Thật là đã nếm đủ mùi vất vả, gian nan, khó nhọc!

Bà đã từng có những chuỗi ngày rất gian khổ. Chồng bà say mê cờ bạc, mọi việc sinh nhai trong gia đình, dạy dỗ con cái nhỏ dại đều dồn hết cho bà, ông ta không để ý đến. Nhưng bà vẫn một lòng gánh vác chịu đắng cay khổ sở, nghĩ hết cách để duy trì cuộc sống. Cuộc sống không chỗ nương tựa; gánh vác một gia đình nặng nhọc, đã nuôi dưỡng thành một cá tính độc lập kiên cường của bà, làm việc không ngại vất vả, không hề oán trách. Dù chịu biết bao oan khuất cũng âm thầm đón nhận không bao giờ than khổ với người khác, tất cả gian khổ đều nuốt vào lòng. Mọi người hãy tìm hiểu kỹ, cảm nhận được cuộc sống cư sĩ Tô ở Việt Nam, thì có thể phát hiện ra những điều bà đã trải qua, đó không phải là sự rèn luyện và nỗi đau khổ mà người bình thường có thể nhẫn chịu. Tuy đương thời bà không cơ duyên tiếp xúc Phật pháp nhưng sự biểu hiện của bà lại ấn chứng trọn vẹn Lục độ Ba-la-mật trong Phật pháp.

Bố-thí! Bà đã không ngừng bỏ công sức đối với gia đình, cha mẹ chồng, chồng và con cái.

Trì giới! Làm việc vất vả mấy mươi năm như một ngày không hề biếng nhác, không một lời oán trách.

Nhẫn nhục! Dù chịu bao oan khuất vẫn làm tròn bổn phận không than thở với người.

Tinh tấn! Siêng năng quản việc nhà, dùng thân giáo làm gương cho các con, không hề ngơi nghỉ.

Thiền định! Cuộc sống dù khổ đến đâu, vẫn an nhiên không lay động, an phận giữ mình, tùy duyên vui sống, phụng dưỡng cha mẹ chồng, dạy dỗ con cái, hiền lành nhu hoà với người, khắc khổ cần kiệm với bản thân, trọn một đời không thay đổi.

Trí huệ! Trong cuộc sống, bà có thể tùy duyên vui sống, tùy duyên mà làm việc.

Vào thời điểm ấy, tuy mọi người không có cơ hội đọc sách biết chữ, tiếp nhận sự giáo dục nhưng bà quả thật được rèn luyện trong đời sống khốn khổ và đã thành tựu phẩm đức tốt đẹp, chứng minh cho những điều Cổ đức đã nói: “Cuộc sống chính là sự tu hành, tu hành không tách rời cuộc sống”.

b) Phước báo đến, được pháp môn niệm Phật, Tín Nguyện niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ.

Năm 1978, chính quyền Việt Nam thay đổi chính sách, cả nhà cư sĩ Tô dời về Đài Loan. Năm 1986, trong sự sắp xếp của hai cô con gái, bà và chồng lại từ Đài Loan sang Tuyết Lê, Úc Châu. Cuộc sống cuối đời của bà tại Úc Châu đã không còn vất vả nữa, đó là kết quả đạt được của cả đời bà, chịu khó tu phước đức. Cũng may nhờ những người con hiếu thuận này, bà mới có thể thụ hưởng phước thanh nhàn vui cùng con cháu. Hai người con gái học Phật, con rể đều vô cùng hiếu thảo, lại thêm một đàn cháu ngoại đều đáng yêu, thường làm bạn bên cạnh, khiến cho tính tình bà vốn đã ôn hoà lương thiện, lại càng biểu lộ nét từ bi, tươi sáng. Bất luận bà đi đến đâu thì nơi đó đều tràn ngập bầu không khí vui tươi, hoạt bát. Điều đáng quý hiếm là vào tuổi thất thập cổ lai hi[39], bà có duyên được nghe Phật pháp, tiếp nhận được sự đích thân hướng dẫn của Đại đức pháp sư Tịnh Không, tông Tịnh Độ đương thời, giống như giữa đêm đen mờ mịt tìm được ngọn đèn sáng soi đường. Từ đây, bà đã tìm được mục tiêu chân chính của đời người, tham gia vào hội “A-di-đà Phật cộng tu”, bà bắt đầu niệm Phật A-di-đà cầu vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bao nhiêu thiện căn phước đức được gieo trồng từ vô lượng kiếp đến giờ, gặp được nhân duyên hiếm có này, rốt cuộc bà đã bước lên con đường bồ-đề thênh thang rộng lớn.

c) Dõng mãnh tinh tấn.

Hiểu rõ lợi ích công đức thù thắng của niệm Phật và kết quả rốt ráo viên mãn của thế giới Cực Lạc ở Tây phương. Từ đó, bà buông bỏ muôn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ. Bốn giờ sáng trong nhà đã vọng ra tiếng niệm Phật trong trẻo của bà. Mỗi chiều, sau khi bọn trẻ tan học trở về nhà, bà liền dẫn cả nhà lớn nhỏ và đàn cháu ngoại (đứa nhỏ nhất mới năm tuổi) xếp thành một hàng, cùng niệm Phật kinh hành, vòng quanh Phật, lễ Phật, giống như một hồ hoa sen nhỏ. Sau khi học Phật, bà cung kính Tam bảo, tôn thờ Sư trưởng; mỗi khi có pháp sư đến giảng kinh hoằng pháp, bà luôn đến dâng hoa, lễ bái và tham gia nghe kinh, nghe pháp không hề gián đoạn. Dù có một số pháp sư giảng tiếng bản xứ, nghe không hiểu, bà cũng ngồi cung kính ngay thẳng lắng nghe, không làm ảnh hưởng đến mọi người, không hề giữa chừng rời bỏ đạo tràng.

d) Tín nguyện kiên cố, vượt qua mối lo ung thư phổi.

Tháng 02 năm 1998, cư sĩ Tô do bệnh phải nằm viện kiểm tra, phát hiện đã vướng bệnh ung thư phổi, bà vừa tiếp nhận trị liệu hóa học, vừa cố gắng khẩn thiết niệm Phật. Hai tháng sau, bà đi kiểm tra lại, bác sĩ vô cùng kinh ngạc, phát hiện ra tế bào ung thư không còn nữa.

Tháng 05 năm 1998, sau khi hết bệnh, bà cùng con gái tổ chức một chuyến du lịch toàn cầu, đi thăm viếng bạn bè, bà con và con cái ở rải rác các vùng trên thế giới. Đồng thời, bà đem những kinh nghiệm từng trải của bản thân mình khuyên mọi người niệm Phật cầu vãng sinh Tây phương Tịnh Độ. Và cũng nhân cơ duyên này, bà nói lời giã biệt sau cùng với mọi người.

Đầu năm 1999, cư sĩ Tô do bị ho liền đi bệnh viện, sau khi kiểm tra mới biết bệnh ung thư phổi tái phát, hơn nữa bệnh đã sang thời kỳ thứ hai. Bà nói với bác sĩ: “Tôi cảm thấy rất tốt, không cảm thấy có bệnh nặng gì, cũng không cần chích thuốc, uống thuốc và làm hoá học trị liệu”. Đối với chứng bệnh hiểm nghèo này, bà không hề lo sợ, dường như bà không muốn làm gì cho chính mình. Trong khi những bạn đồng tu có một số việc nhỏ như đau lưng nhức mỏi, bà lại ghi nhớ trong lòng, nghĩ hết mọi cách tìm cho được phương thuốc nội địa phối hợp với thảo dược, đem biếu cho người bệnh dùng; dường như một chút bệnh nhỏ của người khác vẫn quan trọng hơn chứng bệnh ung thư của chính mình.

Sau khi biết bệnh ung thư của mình tái phát, bà càng tinh tấn niệm Phật hơn. Tâm nguyện cầu sinh Tịnh Độ càng bức thiết hơn. Bà vẫn tham gia hội “A-di-đà Phật cộng tu”. Mỗi cuối tuần, hội tổ chức 24 giờ, bà luôn tinh tấn niệm Phật, khiến cho những bạn đồng tu trẻ tuổi trông thấy đều hổ thẹn.

Ngày 26 tháng 10 năm 1999, trước ngày vãng sinh hai tháng, trong ngoài nhà của con gái, bà đều dọn dẹp sạch sẽ, những luống rau cải được trồng thường ngày cũng được nhổ dọn sạch sẽ. Sau đó, bà nói với con gái: “Sau này, mẹ không còn có thể giúp con trông nom việc nhà. Thường ngày con phải đi làm, rau cải cũng không thể chăm sóc được, vì vậy, mẹ phải dọn sạch hết”. Còn một số tiền dư, bà cũng phân chia hết. Từ điểm này có thể phát hiện ra, trước hai tháng, bà đã sớm tiết lộ cho mọi người trong nhà biết tin mình sắp vãng sinh.

Trong khoảng thời gian sau cùng, bà vẫn như thường lệ tham gia hội “A-di-đà Phật cộng tu”. Đồng thời ghi tên tham gia Phật thất từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12, do hội “A-di-đà Phật cộng tu” tổ chức. Suốt bảy ngày đêm, bà không ngừng tinh tấn niệm Phật. Vào ngày 26, bệnh tình bà nặng hơn. Theo sự khuyên nhủ của cô con gái, bà mới trở về nhà nghỉ ngơi qua đêm. Nhưng đến sáng hôm sau bà vẫn kiên trì đến đạo tràng Phật thất. Mãi đến ngày 29, khi bệnh tình trầm trọng hơn, bà mới trở về niệm Phật ở nhà.

Một bà cụ 85 tuổi, không màng đến cơ thể bị bệnh ung thư dày vò, từ chối lời đề nghị của bác sĩ, dừng tất cả thuốc men và trị liệu hoá học, toàn tâm toàn ý lao vào niệm Phật, ngày đêm không nghỉ, tinh tấn liên tục mấy ngày đêm, không chịu tiếp nhận lời khuyên dừng niệm. Niệm Phật dốc sức như thế, đủ để chứng minh tín tâm và nguyện lực cầu sinh Tịnh Độ của bà là kiên định không gì sánh bằng! Hiện thân thuyết pháp như thế, bảo cho chúng ta biết đây mới là Nhất tâm quy mạng chân chính Đức Phật A-di-đà nơi thế giới Tây phương Cực Lạc.

Ngày 30 tháng 12, khi kiểm tra, bác sĩ phát hiện ra bộ phận phổi của bà đã chứa đầy nước. Một số bệnh nhân như thế thì đau đến nỗi không tự kiềm chế được. Vả lại, cần phải rút nước ra. Nhưng cư sĩ Vân Liên vẫn theo thường lệ ngồi niệm Phật, không hề có hiện tượng phổi trương nước. Bác sĩ vỗ nhẹ vào bộ phận phổi, hỏi bà: “Khó chịu không?” Bà gật đầu đáp: “Có”. Bác sĩ hỏi bà có đau không? Bà lắc đầu nói: “Chỉ cần nhất tâm niệm Phật thì không đau, lơ là một chút thì cái đau dấy lên”.

Trưa ngày 31 tháng 12, kết thúc Phật thất của hội “A-di-đà-Phật cộng tu”, các bạn đồng tu cùng đến thăm bà. Khoảng 10 giờ 30 phút, mọi người phát hiện, cư sĩ Tô đang ngồi trong Phật đường, đột nhiên chắp tay, tướng mạo trang nghiêm, một luồng hào quang vàng rực chiếu xuống đỉnh đầu bà, từ từ lan tỏa toàn thân, khoảng chừng 15 phút, mới dần dần biến mất. Những người trông thấy đều kinh ngạc. Vì vị trí Phật đường ở hướng Nam, so với thời tiết hiện tại, thì mặt trời hoàn toàn không thể chiếu vào. Trong khoảnh khắc này, họ hàng, con cháu đều kéo nhau đến thăm hỏi, an ủi, bao nhiêu tình cảm dâng tràn khó thể dùng lời diễn đạt.

Ngay chiều hôm ấy, đoàn trợ niệm của hội Tịnh Độ Tuyết Lê cùng với các bạn đồng tu của hội “A-di-đà-Phật cộng tu” bắt đầu trợ niệm, đồng thời yêu cầu tất cả thân bằng quyến thuộc đều phải tránh xa. Bởi vì các thành viên của đoàn trợ niệm đang vây quanh dốc lòng niệm Phật, để tránh tình thân làm trở ngại việc vãng sinh.

Mọi người đều hiểu rõ hiện giờ đã đến thời điểm quan trọng: Bà có vãng sinh được hay không? Vì vậy, bất luận thế nào cũng không thể có một chút sai sót.

e) Nhị lực pháp môn, tuy có trợ niệm nhưng tự lực phải phấn đấu, giúp đỡ nhau, thành tựu cho nhau.

Trong suốt 33 giờ niệm Phật, người trong đoàn trợ niệm đã mệt, có thể luân phiên thay đổi nghỉ ngơi. Nhưng cư sĩ Tô vẫn phải gượng đau niệm Phật, tập trung tinh thần, không thể lơ là và không người nào có thể thay thế. “Việc lớn sinh tử ai có thể thay thế! Con cái dù hiếu thuận cũng không thể làm gì, không thể nào nhận thay mình!”.

Đúng như kinh Vô Lượng Thọ đã nói: “Con người trong ái dục, sinh tử một mình, đến đi một mình, khổ vui tự gánh, không người thay thế”. Dù đã kiệt sức quá đổi, suýt chút nữa ngã quỵ nhưng bà lại lập tức niệm Phật theo mọi người. Có người hỏi: “Bà có cần nằm xuống nghỉ một chút không?” Bà lắc đầu cự tuyệt. Có người lấy xâu chuỗi niệm Phật trao cho bà, sau khi vừa duỗi năm ngón tay ra nhận lấy, bà chỉ lần chuỗi niệm một tiếng rồi đặt lên đùi, dường như muốn nói rõ: Hiện giờ đã là thời khắc quan trọng, không thể nhờ vào chuỗi, mà phải tập trung tinh thần phấn đấu đến cùng.

Nhìn thần sắc gắng gượng của bà, môi mím chặt răng, lộ vẻ niệm đến cùng một câu danh hiệu Phật. So với vẻ mặt đáng yêu khả kính trước kia của bà, một bà cụ gương mặt đầy đặn tươi tắn, giờ đây dường như trở thành hai người, khiến một số bạn tu vô cùng xúc động, không dằn lòng được, họ xoay người qua lễ Phật, cầu xin Phật và Bồ-tát mau đến tiếp dẫn cư sĩ Tô vãng sinh về Tây phương. Những nghiệp còn lại của bà, chúng con xin thay nhau gánh chịu. Tấm lòng trợ niệm, nhiệt tâm của những người bạn đồng tu chân thành tha thiết giống như cầu giúp cho cha mẹ ruột của mình vãng sinh Cực Lạc, không dám mảy may xao lãng. Thật đáng gọi là từng tiếng danh hiệu Phật đều biểu lộ sự chân thành cùng một cội nguồn không có ta, không có ai khác.

Tất cả những bạn đồng tu tham gia trợ niệm lần này, đều tán thán: “Trước giờ tham gia trợ niệm, nhưng chưa từng niệm đến mức chân thành tha thiết, trang nghiêm thanh tịnh như vậy. Niệm mãi đến cảnh giới tràn đầy pháp lạc mà cũng không muốn thôi”.

Trợ niệm liên tục 33 giờ, vào 9:23 phút chiều tối ngày 01 tháng giêng, mọi người đồng cầu mong Phật tiếp dẫn bà vãng sinh Cực Lạc. Sau 12 giờ đêm, bà vãng sinh. Khi bạn đồng tu bận rộn thay đổi y phục cho bà, họ mới phát hiện ra toàn thân bà mềm mại, đỉnh đầu nóng ấm, gương mặt thoáng nụ cười, tướng mạo trang nghiêm, đẹp hơn lúc sống. Một người bạn đồng tu lần đầu tham gia trợ niệm sau khi nhìn thấy đã kinh ngạc, yêu cầu cho chụp một bức ảnh lưu niệm để minh chứng.

f) Xá lợi thị hiện, khuyên tinh tấn tu.

Sau khi hỏa táng di thể của cư sĩ Bành Tô Vân Liên, mọi người phát hiện ra mấy trăm viên xá lợi nhiều màu rực rỡ. Bà dùng chuỗi niệm Phật, niệm đến xương đốt tay đều lõm xuống, đủ thấy sự thâm hậu trong công phu niệm Phật hằng ngày của bà..

Vô cùng cảm ơn sự thị hiện trong phút lâm chung đáng quý này của cư sĩ Tô khiến cho những người trợ niệm cảm nhận sâu sắc cái gọi là niệm Phật chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chính giác, từ bi. Sau khi trợ niệm xong, mọi người tràn đầy pháp hỷ, quên đi bao khó nhọc và cũng thể hội được rằng: Tuy pháp môn niệm Phật là pháp môn dễ tu hành trong tất cả pháp môn (chỉ cần nhất tâm niệm Phật A-di-đà), nhưng cũng không phải là dễ dàng như trong tưởng tượng (bình thường cũng phải đoạn ác, tu thiện, phát tâm bồ-đề dụng công tu hành). Cuộc trợ niệm lần này kéo dài đến 5 giờ 30 phút sáng ngày mùng 2, mới cho người khác thay thế. Lúc hồi hướng, mọi người đều hài lòng vui vẻ, chúc mừng nơi Hải hội Liên trì lại có thêm một vị Bồ-tát bất thoái chuyển, cầu mong Bồ-tát Bành Tô Vân Liên sớm nương nguyện lực, trở lại Ta-bà nguyện độ chúng sinh.

A-di-đà Phật!

Tháng 01 năm 2000, Học hội tông Tịnh Độ Tuyết Lê kính ghi.

Trâu Và Két Vãng Sanh Lưu Xá Lợi

Trâu Và Két Vãng Sanh Lưu Xá Lợi

Vào năm 1980, tai Phúc Kiến có một cậu bé chăn trâu nói với con trâu rằng: “Ngày mai mày sẽ bị bán cho người làm thịt.” Con trâu lập tức chảy nước mắt và quỳ hai chân trước xuống. Cậu bé chăn trâu nói cho cha mẹ và mấy người quan chức địa phương đến xem, sau đó trâu quỳ xuống và xin được tha mạng. Mọi người đều thương xót, quyên góp một số tiền để mua con trâu đó và đưa trâu đến một tu viện để phóng sanh. Sau khi trâu đến tu viện, trâu rất thích nghe giảng kinh và lạy Phật. Mỗi khi thấy những người tại gia đến tu viện, trâu thường lạy cảm ơn họ. Vào cuối cuộc đời, trâu biết trước giờ mất, nó đi chậm chạp ra đồng và nằm xuống. Sau nữa ngày thì trâu vãng sanh. Đó là vào ngày 13 tháng 10 âm lịch năm 1993. Trâu được chôn tại chỗ nó mất.

Trâu vãng sanh

Trâu lạy cảm ơn những người ở tu viện đã cứu mạng

Vào năm 1987, một con két lông xanh, mỏ đỏ tử Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên được mang đến Chùa Bảo Đậu ở Nội Mông. Bởi vì con két này ngu si không nói tiếng người được, và mổ cắn vào những người tìm cách huấn luyện nó, nên là con két này ít được ai ưa thích. Cuối cùng con két được đem cho Lão Cư Sĩ họ Vương để nuôi. Cả nhà Cư Sĩ họ Vương đều là Phật tử thuần thành, ưa thích đủ loại động vật và thú vật nhỏ. Họ nuôi trong nhà nhiều chó, mèo, dê, bồ câu bị người ta ruồng bỏ. Sau khi con két vào gia đình này, nó nghe băng niệm danh hiệu A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bỏ Tát được mở suốt ngày, và tánh tình của nó trở nên dịu hiền hơn. Nhiều tháng sau, con két mà trước đây không học nói được gì cả, nay bắt đầu niệm danh hiệu Phật! Nó niệm “Nam Mô A Di Đà Phật! A Di Đà Phật, Phật, Phật! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát! Quán Âm Phật!” v.v… Giọng của nó rất rõ ràng và dễ nghe.Thường nó nói thêm “Niệm Phật lẹ lên! Anh niệm Phật! (Anh là tên riêng của nó), A, Niệm Phật đi!”

Két vãng sanh

Két Anh niệm Phật được Phật tiếp dẫn vãng sanh

Mỗi ngày khi chủ của nó tụng kinh sáng và tối, con két thường đi theo. Bất cứ khi nào có người tụng kinh hay niệm Phật trong Phật đường của nhà họ Vương, nó đều tham gia. Ngay cả khi chủ của nó niệm thầm trong tâm, con két cũng biết và niệm lâu giống như chủ. Điều kỳ lạ nhất là ngoài việc niệm danh hiệu Phật, không ai có thể dạy nó nói điều gì khác. Gia đình họ Vương đón tiếp nhiều người đến nhà cùng tụ tập với nhau, và hàng ngày có nhiều tiếng nói chuyện trong nhà. Tuy nhiên con két không bao giờ học những câu thông thường như “Ông khỏe không? Xin mời ngồi.” Là những câu người ta cố gắng dạy nó. Nó chỉ nói “Niệm Phật đi! Nam Mô A Di Đà Phật!”

Một ngày nọ vào tháng 5 năm 1998, con két bị cái gì đó làm cho sợ sệt và sau đó ngừng ăn. Nó bị tiêu chảy liên tục cho đến ngày hôm sau. Khi gần cuối cuộc đời, nó cùng niệm danh hiệu Phật với chủ, và người ta có thể nghe tiếng niệm yếu ớt “Nam Mô A Di Đà Phật” từ trong cổ họng của nó. Sau khi vãng sanh, cơ thể nó vẫn mềm mại và lông vẫn sáng giống như đang còn sống. Cư sĩ họ Vương và cả gia đình ông niệm cho nó suốt 12 giờ đồng hồ. Họ mời một vị Lão Pháp sư từ Ngũ Đài Sơn đến chủ trì lễ hỏa táng, hơn một trăm người cư sĩ nghe biết và đến tham dự. Đó là một buổi lễ trang trọng. Sau khi hỏa thiêu, người ta tìm thấy lưỡi của con két vẫn còn nguyên vẹn và hơn 20 xá lợi trắng như ngọc với những đốm đỏ li ti, cùng nhiều chục xá lợi tử.

Xá lợi két

Lưỡi két Anh còn nguyên vẹn & 1 số xá lợi sau khi hỏa thiêu.

Câu chuyện này, cùng với nhiều câu chuyện khác về những con vật trong Phật giáo, cho thấy rằng từ sinh vật khôn ngoan nhất đến sinh vật ngu si nhất tất cả đều có thể được lợi ích của việc niệm danh hiệu Phật. Câu chuyện này cũng cho thấy rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể trở thành Phật.

Sự Thật Cụ Quả Thảo Vãng Sanh Về Đâu?

Sự Thật Cụ Quả Thảo Vãng Sanh Về Đâu?

Đây là cuộc tiếp xúc với cô Quả Lạng, là con gái của bà cụ Quả Thảo. Bà tên Phạm Thị Cúc, pháp danh Quả Thảo, cư ngụ tại San Jose, CA, USA vãng sanh lúc 4 giờ 10 phút sáng ngày 28 tháng 12 năm 2003 âm lịch, hưởng thọ được 83 tuổi.

Bà Quả Thảo rất mạnh khỏe, ít có bệnh. Đến một ngày nọ, bà cảm thấy đau ở ngực. Các con đưa bà đi bác sĩ. Bác sĩ cho biết bà bị ung thư gan đợt cuối, bà sẽ không sống được bao lâu. Gia đình con cái đều giấu không cho bà biết, nên bà tưởng bệnh nhẹ thôi. Đến hai tuần sau, bà bị đau nặng, các con đưa bà vào nhà thương. Sau đó bốn ngày thì bà vãng sanh. Bà ra đi một cách nhẹ nhàng.

Những điềm lạ trong thời gian ở nhà thương

Các con đưa bà nhập viện khoảng bảy giờ chiều chủ nhật ngày 25 tháng 12 năm 2003 âm lịch. Bác sĩ truyền nước biển cho bà, bà ngủ cho tới sáng thứ hai, cả ngày thứ hai bà khỏe lại bình thường. Đến hai giờ sáng ngày thứ ba, bà lẩm bẩm như là đang nói chuyện với ai. Đến khoảng ba giờ sáng, các con thấy bà có vẻ sắp đi, nên mời Quý Thầy đến giúp đỡ tụng Kinh, trợ niệm. Quý thầy giúp tụng Kinh và trợ niệm một hồi, thấy bà chưa có dấu hiệu vãng sanh nên ra về. Sau khi quý Thầy ra về bà khỏe lại bình thường. Tới khoảng 9 giờ đến 10 giờ sáng, bà thấy sư phụ của bà là Hòa Thượng Tuyên Hóa ở chùa Vạn Phật tới rước bà hai lần, nhưng bà đều lạy sư phụ. Bà nói bà chưa muốn đi vì bà chưa gặp đủ mặt con cháu. Sau đó, bà thấy Phật hiện đến hai lần để rước bà đi.

Lần đầu Phật và Bồ Tát hiện đến không nhiều nhưng lần thứ hai thì đến rất đông. Mỗi lần gặp Phật bà đều bảo con cháu hãy mau lạy Phật và đỡ bà lên để bà lạy.

Hai lần gặp Phật, bà đều lạy Phật xin cho bà ở lại vì bà chưa gặp mặt người con gái thứ bảy tên Lan vì còn ở Los Angeles chưa về kịp. Sau đó Phật bỏ đi.

Qua ngày thứ tư, nghe lời bác sĩ khuyên nên các con đưa bà về nhà. Về nhà bà ngủ mê man. Đến khoảng 10 giờ tối, bà thức dậy tỉnh táo như người bình thường. Lúc này, con cháu thân nhân đều có mặt đầy đủ, luôn cả cô con gái tên Lan của bà cũng về kịp. Bà cười giỡn với con cháu và người thân, bà còn nhắc lại những chuyện năm xưa và tật xấu của mỗi người, khiến con cháu và người thân ở chung quanh bà đều cười vui nhộn. Trong lúc cười giỡn thì có một cháu của bà từ Úc gọi qua hỏi thăm.

Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, bà nói chuyện và dạy cháu niệm Phật hộ niệm cho bà. Sau khi nói chuyện xong, bà thấy hơi mệt, các con khuyên bà nên ngủ sớm. Bà bắt đầu nhắm mắt nhưng miệng luôn niệm Phật cho đến lúc đi sâu vào giấc ngủ. Các con cháu thấy bà đã ngủ yên, nên ai nấy cũng đi ngủ.

Khoảng 4 giờ 10 phút sáng, người cháu ngoại thức dậy để lo cho bà thì thấy bà không còn thở nên đánh thức cả nhà. Lúc đó, tướng mạo của bà vẫn còn đẹp và môi bà đỏ hồng, nên con cháu đều tin là bà đã vãng sanh. Vì vậy, con cháu bà không ai khóc.

Những điều kỳ lạ

Bệnh tình của bà đã làm cho các bác sĩ và y tá đều ngạc nhiên vì bình thường một người bệnh ung thư gan đợt cuối rất là đau đớn và khó coi, thêm vào đó là cục bướu lớn cỡ 7-8cm thì người bệnh sẽ chết. Nhưng cục bướu trong người bà đã lớn đến 12cm nhưng bà vẫn sống bình thường, không bị đau nhiều và sắc diện vẫn còn hồng hào, không bị vàng xanh. Còn một điều lạ nữa là, khi đưa bà về nhà, bác sĩ và y tá dặn dò con cháu của bà là “trước mấy ngày bà chết, bà sẽ bị những triệu chứng như là máu miệng hoặc máu mũi chảy ra. Bụng của bà sẽ bị sình to lên, nên khi chăm sóc cho bà phải luôn luôn đeo bao tay”.

Nhưng đến khi bà vãng sanh, những triệu chứng này hoàn toàn không có. Không những vậy mà vẻ mặt còn tươi sáng và đẹp hơn lúc bà còn sống.

Sau khi bà vãng sanh, Chư Tăng và con cháu trợ niệm cho bà đến 9 tiếng đồng hồ. Sau đó, bốn người con gái tắm rửa cho bà. Trong lúc tắm rửa, các con bà đều ngạc nhiên là ngực và đầu của bà vẫn còn ấm. Sau khi tắm rửa xong, các con kêu người tới khiêng nhục thân của bà đi. Những người đến khiêng, họ đều ngạc nhiên nói: “họ đã thấy nhiều xác chết, nhưng chưa thấy xác chết đẹp như bà, giống như một người đang nằm ngủ.

Các con vì thương bà nên không chịu hỏa thiêu, thêm vào vì bà vãng sanh gần ngày tết (tết tây) nên xác bà phải để trong phòng lạnh hết chín ngày, nhưng nhục thân của bà vẫn còn đẹp đẽ và nét mặt an nhiên tự tại.

Cụ Quả Thảo vãng sanh

Bà Quả Thảo rất là có phước, bà đã được nhiều Chư Tăng, con cháu và bạn bè cùng nhau trợ niệm trong khoảng thời gian nhập viện cho đến khi bà vãng sanh. Sau khi vãng sanh, con cháu bà tiếp tục mời chư Tăng đến giúp đỡ tụng Kinh và trợ niệm cho đến đến 49 ngày.

Sau khi vãng sanh, bà đã về cho con cháu bạn bè người thân của bà thấy được nhiều điềm lạ. Một ngày sau khi vãng sanh (ngày 29 tháng 12 năm 2003), bà về gặp người bạn đó là bác Phước. Bác Phước là người xưa nay tu Thiền.

Hôm đó khoảng 4 giờ sáng, bác Phước đang xả thiền. Tự nhiên bác nghe giọng nói của bà Quả Thảo, đứng ở đằng sau bên phía tay phải của bác. Bà nói: “Chị Phước! Nhắn dùm mấy đứa con của tôi lấy những bộ đồ tôi thích, cắt hết nút cho tôi!”.

Bác Phước vừa quay ra sau vừa hỏi cắt hết nút hả thì bỗng nhiên bác thấy bà Quả Thảo và sáu chư Tiên trong y phục màu trắng, họ chia ra làm ba cặp rồi bay lên trời.

Sau đó, đứa cháu của bà là cô nha sĩ Phượng nằm mơ thấy bà rất trẻ đẹp trong y phục nhà tu, bà đi giữa, hai bên có nhiều chư Tăng đi hai bên, trong một cảnh chùa rất đẹp.

Một người cháu khác của bà tên Ngân ở San Francisco, thấy bà rất trẻ đẹp trong y phục nhà tu, chung quanh bà có rất nhiều Chư Tăng. Bà ở trong một ngôi chùa rất lớn và rất đẹp. Ngôi chùa được gọi là Cửu Huyền Thất Tổ.

Bà về cho con cháu, bạn bè, người thân thấy rất nhiều điềm lạ. Các lần hiện về, bà đều mặc y phục Tiên hoặc y phục nhà tu. Chung quanh bà lúc nào cũng có chư Tiên, chư Tăng cùng đi và trong cảnh chùa rất đẹp.

Cả đời bà thích làm phước, bà hay đi chùa và siêng năng tụng Kinh niệm Phật. Đến phút cuối, dù trong lúc bị cơn bệnh ung thư hành hạ, bà vẫn còn đầy đủ lý trí giữ câu niệm Phật và luôn luôn nhắc nhở con cháu, người thân và bạn bè nên lo tu niệm Phật, bố thí và không được cúng mặn. Bà dạy con cháu phải làm theo hạnh nguyện của bà.

(Bài này do nữ cư sĩ Diệu Âm – San Jose ghi lại)

Lời Tịnh Hải:

Trường hợp của bà cụ Quả Thảo thật khó phân giải. Nếu nói rằng bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật A Di Đà thì, đúng mà cũng là không đúng.

Tại sao đúng?

Theo lời Kinh, thì bất cứ ai chuyên tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật thì lâm chung Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Thế là được vãng sanh Cực Lạc. Theo lời kể của cô Quả Lạng, thì bà cụ Quả Thảo đã thấy Phật A Di Đà đến rước hai lần.

Chẳng những bà thấy Phật, nói chuyện với Phật, còn bảo con cháu lạy Phật.

Như vậy chắc chắn bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc Thế Giới. Xin lưu ý, ở đây chúng tôi dùng chữ vãng sanh Cực Lạc Thế Giới.

Tại sao không đúng?

Đây là một nghi vấn lớn lao, chúng tôi cần phải phân rõ ràng để làm một bài học kinh nghiệm chung.

Trước khi Phật A Di Đà đến, bà Quả Thảo thấy Hòa Thượng Tuyên Hóa. Chắc Đại Sư ở trong hàng Thánh chúng, Ngài đến trước để báo tin cho cụ bà, vì bà là đệ tử của Ngài. Bà lạy Sư phụ tỏ ý chưa muốn đi vì còn chờ gặp con cháu. Đại sư Tuyên Hóa trở lui và sau đó đến lần thứ hai. Bà cụ vẫn khư khư chưa muốn đi.

Mọi việc trên đây xảy ra ở nhà thương.

Nói đúng ra, bà cụ đã vấp vào điều cấm kị của nhà Phật. Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật và Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đều dạy, khi lâm chung nếu người sắp chết mà quá nặng về tình thì không thể bay lên các cõi cao, mà phải kẹt lại.

Hiểu như vậy, chúng ta mới thấy rõ, Đức Phật A Di Đà thật vô cùng đại từ bi. Mặc dù bà Quả Thảo khăng khăng từ chối với Đại sư Tuyên Hóa, Phật A Di Đà vẫn hiện đến cùng với Thánh chúng.

Đọc đến đây, chúng ta càng thấy rõ hơn. Phật là tối cao, một lời Ngài nói thì không có gì thay đổi. Phật A Di Đà đã nói, Ngài sẽ tiếp dẫn thì chắc chắn Ngài đến. Dù bà cụ Quả Thảo quá nặng tình con cái, đó là phần lỗi của bà. Phật A Di Đà sở dĩ thành Phật được là do bỏ tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thì Ngài đâu câu chấp về hành động thô thiển của bà cụ, một phàm phu mê muội.

Trong sách này, chúng tôi có trích đăng một bài trong băng giảng của Hòa Thượng Thiền sư Thích Thanh Từ, nói về chuyện vãng sanh của bà cụ thân mẫu của cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa. Lúc lâm chung, bà cụ cũng thất Phật A Di Đà đến tiếp dẫn.

Trở lại bà cụ Quả Thảo. Sau lần đầu xin cho bà được nán lại chờ đứa con gái thứ bảy, Phật A Di Đà và Thánh chúng trở lại đón lần thứ hai. Lần này số Thánh chúng cùng đi với Phật A Di Đà đông hơn. Nhưng cô Lan, người con gái thứ bảy của cụ vẫn chưa về tới.

Bà Quả Thảo quả nặng tình với con cái, vẫn khư khư xin Phật cho ở lại chờ con.

Phật và Thánh chúng bỏ đi, không trở lại nữa.

Bởi sự kiện này, chúng tôi không dám khẳng định bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc. Vì bà Quả Thảo đã bỏ mất dịp ngàn năm một thưở.

Nhưng bà Quả Thảo vẫn vãng sanh.

Chúng ta nên hiểu thêm một điều. Mỗi con người đều có thọ mạng, tức là đến ngày giờ, thọ mạng chấm dứt thì Phật, Bồ Tát muốn cứu cũng không làm sao được.

Cho nên, chúng tôi mới nói bà Quả Thảo đã bỏ mất dịp ngàn năm một thưở.

Nhưng theo chúng tôi, bà Quả Thảo vẫn vãng sanh. Không vãng sanh Cực Lạc, bà Quả Thảo vẫn vãng sanh lên một cõi Trời nào đó.

Nhờ niệm Phật, bà Quả Thảo được nhẹ nghiệp. Nhờ nhẹ nghiệp, những người khác bị bệnh giống bà đều phải đau đớn để trả quả báo. Nhưng, trong mạng số bà phải bị ung thư, thì bà phải thọ bệnh. Song nhờ nhẹ nghiệp, bà không bị đau đớn như bao nhiêu người khác.

Đây là thành tựu kết quả của người tu niệm Phật. Hòa Thượng Đức Niệm, bà Diệu Âm ở Úc cũng cùng căn bệnh, tất cả đều không đau đớn, nhờ thành tâm niệm Phật.

Thay vì bà được Phật A Di Đà tiếp dẫn, nghiệp chướng của bà sẽ giảm nhiều hơn. Nhưng, bà không vãng sanh Cực Lạc, thì bà được vãng sanh lên một cõi Trời.

Lúc đầu, một thân hữu thấy bà hiện về, có chư Tiên đi theo. Vị thuật lại là người tu Thiền nên chúng ta có thể tin được. Có lẽ bà Quả Thảo muốn độ bà bạn này, nên chọn đúng người đến nhắn tin. Thật sự thì bà có thể báo tin thẳng cho con cháu. Con cháu của bà Quả Thảo thì thấy bà xuất hiện bên cạnh chư Tăng và ở trong ngôi chùa rất lớn và đẹp. Tóm lại, cụ bà Quả Thảo chắc chắn không còn ở Ta Bà này nữa, mà bà đã vãng sanh lên một trong các cõi Trời. Con cháu của cụ đều nghĩ như chúng tôi. Và sung sướng khi biết mẹ và mình đã lên được cõi Trời.

Với chúng tôi, dù bà Quả Thảo, vì quá nặng tình mà chẳng vãng sanh về cõi Cực Lạc Tây Phương Thế Giới. Nhưng cụ sẽ độ rất nhiều người. Bởi, sau khi chúng ta bỏ báo thân này thì vợ chồng, con cháu đều không còn sự liện hệ nào nữa. Sự thương nhớ càng làm trở ngại cho việc chuyển kiếp. Đã bỏ thân này thì không mang theo được gì cả, trừ những nghiệp quả. Nếu là người biết tu và biết niệm Phật hy vọng sẽ diệt bớt được nghiệp, khi lâm chung được Phật A Di Đà đến phóng quang tiếp dẫn, thì nghiệp của chúng ta được diệt dứt. Vì nơi cõi Cực Lạc, chúng sanh nơi đó không còn có nghiệp. Cho nên nơi Cực Lạc không có 3 đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, nếu con cháu của bà cụ Quả Thảo thật sự thương bà cụ, cũng có thể ngay trong đời nay, giúp cụ chuyển quả được vãng sanh Cực Lạc ngay.

Trên đây chúng tôi dùng chữ “thật sự thương”.

Nếu tất cả vợ chồng, cha mẹ, con cháu đều yêu thương nhau thật sự và hiểu đúng theo pháp môn niệm Phật vãng sanh của Phật, thì tất cả đều có thể giúp cho thân nhân, ông bà cha mẹ từ muôn kiếp của mình siêu thoát khỏi ba đường dữ. Đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Từ ngày chúng tôi viết sách, chúng tôi thấy có nhiều thứ tình thương. Khi cha mẹ vừa mất, nhiều người khóc lăn lộn tưởng chừng như người ấy có thể chết ngay theo người đã chết. Những đó chỉ là lối biểu diễn, thường tình của thế gian. Những người thật sự thương họ không biểu diễn, mà họ hành động thật sự, không một gian khổ nào mà họ từ chối. Họ kiên trì hành động không cần ai biết. Đây mới thật sự thương, như hành động của mẹ con cháu Ái Thu, mà chúng tôi có đề cập trong sách này.

Có nhiều người ỷ vào tiền bạc, tốn bao nhiêu tiền họ chẳng từ gian nan, nhưng bảo họ chịu một chút cực khổ, họ từ chối ngay. Đó không phải là tình thương thật sự.

Trường hợp bà cụ Quả Thảo, bà đã vãng sanh lên một cõi Trời. Tuy rằng lên được cõi Trời hưởng rất nhiều phước báu. Tuy nhiên, đối với Phật, đó vẫn là luân hồi trong sáu nẻo. Vì phước báu nào hưởng rồi cũng phải hết. Khi hết rồi, vẫn phải rớt xuống. Phật muốn tất cả đều phải siêu thoát, phải vượt khỏi Tam giới.

Muốn vượt khỏi Tam giới, thời Mạt pháp này chỉ có tu Niệm Phật cầu vãng sanh thì mới đạt được. Sỡ dĩ chư Phật mười phương đều tán thán Phật A Di Đà vì ngoài Ngài không có một vị Phật nào có thể giúp cho chúng sanh được vậy.

Phật Thích Ca, Phật Dược Sư và tất cả các vị Phật khác đều không thể làm được; bởi tất cả các cõi Phật đều có ba đường dữ. Chúng sanh chết đi sống lại, lộn lên rớt xuống đều cũng lẩn quẩn trong luân hồi. Luân hồi thật là đáng sợ, chính vì vậy mà chúng tôi kêu gọi mọi người ráng tu để vượt khỏi tam giới. Người không biết thương yêu, thật sự lo cho chúng sanh đều là ác độc. Những người này sống với tâm ma. Họ khoát lên người bộ áo rất đẹp, rất sặc sỡ, che giấu tâm ma ở bên trong.

Trường hợp bà cụ Quả Thảo, bà đang sung sướng thật sự. Con cháu cụ đang sống ở kiếp này đều biết cụ đang ở cõi Trời. Nhưng hết những thế hệ con cháu này, sau này có ai còn nhớ biết cụ đang ở đâu nữa không? (Chắc chắn không!).

Do đó, nếu ngay trong hiện tại, có thể chuyển quả vãng sanh cõi Trời của cụ, khiến cụ vãng sanh lên Tây Phương Cực Lạc Thế Giới vậy.

Trích Những Chuyện Niệm Phật Lưu Xá Lợi
Tác giả: cố cư sĩ Tịnh Hải

Dự Tri Thời Chí

Dự Tri Thời Chí

Những người tu theo Pháp Môn Tịnh Độ, cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng không lạ gì với 4 chữ trên.

Bốn chữ ấy có nghĩa là: “Biết trước giờ chết”. Chỉ có 4 chữ thôi; nhưng người ta phải chiến đấu với tự thân, phải hành trì miên mật mới có thể đạt đến cảnh giới an nhàn khi hơi thở không còn tự mình làm chủ được nữa.

Đa phần khi sống, chúng ta ít để ý hay quan tâm đến những gì đang hiện hữu bên ta hay trong ta. Ví dụ như hơi thở hay tế bào. Kể từ khi còn nằm trong thai mẹ, ta đã thở cùng nhịp thở của mẹ và khi ta chào đời cho đến ngày nhắm mắt, khi nào hơi thở cũng ở bên ta; nhưng nào ta có quan tâm và chú ý đến. Trong khi ta thức hay ngủ, hơi thở vẫn tồn tại với đất trời và vạn vật để thải thán khí ra và buồng phổi của ta sẽ nhận khí Oxy vào; nhằm nuôi sống cơ thể nầy. Nhưng mấy ai để ý tận tường suốt cả một giòng đời về hơi thở trong 50, 60, 70 hay 80 năm ấy đâu. Để một ngày nào đó hơi thở dồn dập, đứt khoảng và cho đến khi không còn hít vào thở ra được nữa thì ta lại lo toan cho biết bao nhiêu nổi khác nữa. Người còn sống lo cho người đang chết nằm đó và người chết đang lo chọn nghiệp để đi đầu thai.v.v. .

Khi còn trẻ, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng cái già và cái chết chưa đến với mình; nếu nó có đến, nó đến với người khác già hơn mình, bệnh hơn mình, chứ chưa đến phiên mình đâu mà lo, mà sợ. Rồi cứ như thế, dong ruỗi theo giòng đời trong sóng gió ba đào ấy, trồi lên hụp xuống không biết bao nhiêu lần, để rồi một ngày nào đó nhìn lại thân thể của chính mình đã không còn đẹp đẽ như ngày nào nữa. Bây giờ da đã nhăn, tóc đã bạc, răng đã bắt đầu đau, lưng không còn ngồi thẳng được như xưa nữa và nhất là sắc diện của da, của các tế bào đâu còn hồng hào đẹp đẽ như lứa tuổi 20, 30 nữa. Lúc bấy giờ người ta mới ngồi để nhẩm lại thời gian và quyết làm cái gì đó cho thật có ý nghĩa, trước khi từ giả cõi đời nầy. Nhưng đa phần nhiều người đến lúc chết vẫn chưa biết quan tâm về sự vô thường, lẽ sinh diệt cũng như định luật thành, trụ, hoại, không. Họ cứ thế chạy mãi theo vật chất và lợi danh, khiến mình trở thành con thiêu thân trong sự luân hồi sanh tử lúc nào cũng chẳng hay biết nữa.

Có nhiều người đi xuất gia lúc còn trẻ. Vì căn duyên đời trước họ đã có nhơn lành với Tam Bảo; nên đời nầy họ sớm bỏ tục để xuất gia và vào chùa học đạo, lúc tuổi còn thiếu niên. Cũng có lắm người sống ở đời đã kinh nghiệm và đã từng trải với bao nhiêu cuộc bể dâu của nhân thế rồi, nên sau đó mới xin thế phát quy y, xuất gia đầu Phật. Việc nầy xưa nay đã xảy ra rất nhiều.

Hôm nay tôi muốn viết bài nầy để gởi đến quý độc giả xa gần, nhằm giới thiệu một “Hiện tượng vãng sanh” đã biết “Dự tri thời chí” để cho mọi người xuất gia cũng như tại gia có một ít bằng chứng, nhằm tô bồi thêm cho niềm tin của mình khi phát nguyện vãng sanh.

Từ năm 1982 đến năm 2010, trong gần 30 năm đó, tôi đã độ cho 50 người đệ tử xuất gia. Người Đức có, người Việt có, người Việt gốc Hoa, gốc Mỹ cũng có và sau gần 30 năm ấy có 4 Sư Cô đã ra đi với hình hài vóc dáng của mình là một Tăng nhân; khoảng 10 người đã trả lại áo cho Thiền Môn và gia nhập lại đoàn quân thế trần để tiếp tục chiến đấu với sanh tử. Số còn lại 36 người vẫn còn tiếp tục tu hành và đa phần thực tập cũng như hành trì theo pháp Môn Tịnh Độ.

Trong 4 Sư Cô đã ra đi đó có 3 Sư Cô lớn tuổi là: Sư Cô Hạnh Niệm, Sư Cô Hạnh Tịnh và Sư Cô Hạnh Châu. Ba vị nầy ra đi ở tuổi trên 70 và gần 90. Riêng Sư Cô Hạnh Như trẻ hơn và khi Cô ra đi không bị cái già, cái bịnh nó chi phối. Vì lẽ Cô chỉ biết cái khổ của khi sinh và khi chết; còn 2 giai đoạn của tuyến đường sanh tử trong 4 cái khổ ấy, Cô đã thoát được khỏi cả hai.

Câu chuyện hôm nay đặc biệt tôi viết về Sư Cô Hạnh Châu, người mới theo Phật vào mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2009 nầy để mọi người cùng chiêm nghiệm. Tôi sợ để lâu ngày tháng qua đi, sẽ quên dần những điểm chính yếu trong sự vãng sanh thì uổng phí cho những người muốn tìm hiểu đến việc nầy.

Sư Cô đến chùa Viên Giác tại Hannover kể từ khi chùa còn bên đường Eichelkampstr. Lúc ấy Sư Cô đã ngoài 60 tuổi rồi. Người Huế ăn nói nhỏ nhẹ và lễ phép như xưa nay vậy. Sau một thời gian làm công quả ở chùa, Cô có ý muốn xuất gia. Tôi hơi do dự; nhưng cuối cùng lại đồng ý. Vì lẽ Cô đã lớn tuổi rồi, muốn cầu giải thoát sanh tử mà mình không cho, quả là hẹp hòi. Nhưng cái lệ của người muốn xuất gia tại chùa Viên Giác là phải thuộc hai thời công phu bái sám trước khi xuống tóc, mà khó nhất là Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm. Trong khi Cô không rành mặt chữ mấy. Vì thế hệ của nhiều người Việt Nam mình, khi sanh vào đầu thế kỷ thứ 20, đôi khi ngày sanh ra đời, cha mẹ còn không nhớ, có đâu nhớ đến việc cho con cái đi học ở trường. Người Việt mình sinh con hơi nhiều, là vì xứ nông nghiệp và muốn có người chăm lo đồng áng cho gia đình. Chứ ngày xưa khi sinh con ít có người quan niệm rằng: phải lo cho con cái ăn học thành tài. Ngay cả ngày nay những dân tộc văn minh nhất nhì trên thế giới; nhưng người không biết chữ cũng không phải là ít.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nhiều lúc trong khi giảng pháp Ngài cũng có nhiều lần đề cập đến Mẹ của Ngài. Ngài cho biết rằng: Mẹ Ngài cũng không biết chữ; nhưng cái tình thương từ mẹ Ngài đã nuôi Ngài lớn như ngày hôm nay và sở dĩ lòng từ bi mà Ngài có được hôm nay không phải từ Tôn Giáo Ngài nhận được, mà chính là từ tình thương của người Mẹ không biết chữ kia. Như vậy có nghĩa là văn hóa nó chỉ giúp cho con người mở rộng tầm hiểu biết; chứ chữ nghĩa không sinh ra từ tình thương và lòng từ bi được. Vì đây là những việc tự nhiên, không cần phải đi học ở trường đời hay trường Đạo mới có được.

Mỗi tuần hay hai tuần tôi thường hay dò bài quý Cô, quý Chú một lần và lần nào thấy Cô Hạnh Châu cũng thuộc bài; Tôi có hỏi Cô cách học Kinh như thế nào khi không làu chữ quốc ngữ, thì Cô bảo rằng: “con nhờ Sư Chú đọc qua 1 câu rồi 2 câu cho đến 5 câu và con lắp vần lắp chữ, lắp câu lại để nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần. Cho nên con thuộc được”. Đó là cách học của Cô. Còn nhiều người ỷ mình thông minh, giỏi chữ nghĩa; nhưng không định tâm để học thì 3 năm, 5 năm hay nhẫn đến 10 năm cũng khó mà thuộc được Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm. Vì đây là loại Kinh khó đọc, khó tụng và khó hiểu nhất. Cho nên trong chùa hay nói rằng: “Làm lính sợ ải, làm sãi sợ Lăng Nghiêm” là vậy. Ai đi lính rồi, qua đèo qua ải mà chẳng sợ. Ai đã một lần cạo tóc làm nhà Sư rồi , thì biết Lăng Nghiêm nó khó vào bực nào. Nhưng sau Lăng Nghiêm lại còn Kinh Di Đà, Hồng Danh Sám Hối, Mông Sơn Thí Thực, và 2 quyển luật Tỳ Ni,Oai Nghi nữa. Quả là một núi chữ; nhưng cuối cùng Sư Cô đã vượt qua hết, để được thọ Sa Di Ni, Thức Xoa Ma Na (Nữ học giới ). Từ Thức Xoa muốn thọ Tỳ Kheo Ni phải ít nhất 2 năm nữa và phải thuộc hay trả lời rành rẽ luật của Sa Di Ni, Thức Xoa và Quy Sơn Cảnh Sách. Đây là những cái ải cuối cùng của những người muốn dự vào chốn: “tuyển Phật Trường”. Nghĩa là người đi xuất gia, thọ giới là người muốn tham dự vào chốn tuyển người làm Phật; nên không có cái khó nào của thế gian có thể sánh được cho cùng.

Dầu cho tuổi lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa; nhưng khi đã phát tâm xuất gia, thọ giới thì phải thức khuya, dậy sớm, học Kinh, Luật, Luận hằng ngày và làm công quả trong những giờ rảnh để vun trồng phước đức cho chính tự thân của mỗi người. Công việc tuy nhẹ. Vì thấy hơi nhàn hạ. Cho nên có nhiều người mới buộc miệng bảo rằng: “Muốn rảnh rang thì vào chùa mà ở”. Điều nầy hẳn lầm! ở chùa thân và tâm lúc nào cũng bận rộn hết. Người nào muốn tìm sự nhàn hạ thì không nên ở chùa. Khi vào chùa với tâm niệm “ xúc sự diện tường” như vậy, quả là tạo thêm gánh nặng cho nhà chùa và làm hao mòn cơm gạo của Đàn Na Tín Thí.

Cuối cùng rồi Cô cũng đã thọ được giới Tỳ Kheo Ni và mỗi sáng sớm Cô vẫn thường hay ngồi thiền, tụng Kinh Lăng Nghiêm, đi kinh hành nhiễu Phật trên chánh điện của chùa mới từ năm 1991 đến năm 2005. Suốt trong gần 15 năm ấy Sư Cô Hạnh Châu vẫn tinh tấn tu học. Giờ học nào của quý Thầy dạy cũng đều có mặt Cô. Giờ tụng giới Bồ Tát, An Cư kiết hạ . . . cho đến mùa An Cư sau cùng của năm 2009 Sư Cô vẫn tham dự. Quả là một sức chịu đựng dẻo dai của người gần 90 tuổi như vậy.

Những năm sau nầy tôi thấy Sư Cô già yếu quá; nên bảo Cô và Sư Cô Hạnh Ân mỗi sáng khi chư Tăng tụng Kinh tại Chánh Điện quý Sư Cô có thể hành trì niệm Phật tại phòng riêng của mình; chứ già rồi, lên xuống thang cấp của chùa nhọc nhằn lắm. Thế là những tiếng trì Kinh và niệm Phật của quý Sư Cô lớn tuổi lại vang vọng hằng đêm và vào mỗi sáng tinh sương tại liêu phòng ở tầng một của quý Sư Cô không sót một ngày nào. Dầu cho có bịnh cũng không về nhà, cốt làm phiền con cháu. Lúc nào cũng tâm niệm rằng: sống cũng ở chùa mà chết cũng ở tại chùa. Do đó lúc nào quý Sư Cô cũng chỉ nhiếp tâm trong câu niệm Phật hiệu A Di Đà.

Những năm gần đây Cô hay thưa với tôi rằng: “Khi con chết con muốn mất tại chùa và lúc ấy có chư Tăng đông đủ cùng Sư Phụ nữa”. Tôi hay cười và trả lời rằng: “ Cô cứ nguyện như thế đi, biết đâu đủ duyên thì được. Còn tôi hay đi chỗ này chỗ nọ, làm sao mà biết trước được”. Cô cũng cười chỉ còn trơ lại hai hàm nướu và răng chẳng còn sót lại cái nào; nên tôi hay nói với Cô rằng: “Pháp Danh của Cô bây giờ là: Hăng rết ( hết răng ) chứ không còn là Hạnh Châu nữa”. Cô vẫn cười và tiếp tục chống gậy đi, trên tay luôn luôn có mang theo một tràng hạt.

Cuối đời của Cô, Cô hay để dành tiền và dùng tiền già, tiền lì xì của con cháu và Phật Tử cho Cô, Cô đem ấn tống Kinh sách, giúp người nghèo tại Việt Nam hoặc giả để dành lo cho hậu sự; nhưng lúc nào cũng vui vẻ, hoan hỷ. Chưa bao giờ thối thác khi có người đem sổ đến quyên tiền, Cô cúng không nhiều thì ít lúc nào cũng có.

Trước mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2009 Sư Cô thưa với tôi rằng: “ con muốn đi trong mùa Vu Lan nầy quá và sau khi thiêu xác, con muốn đem về nơi đất Phật để rải cốt tại đó”. Tôi bảo: “ Cô còn mạnh; sao nói đến chuyện chết được”. Việc nầy cũng có nhiều lý do: Vì ở tuổi 90 Cô chưa hề lẩn và quên một việc gì, ai đến thăm Sư Cô, Cô đều nhớ tên hết. Điều đặc biệt hơn nữa là không làm phiền quý Cô khác khi đêm đến hay sáng ra, mà Cô tự lo chăm sóc cho thân già của Cô về việc vệ sinh cá nhân; chứ không trách móc, tủi thân hay buồn bực, mà lúc nào trên môi Cô cũng có câu niệm Phật. Đôi khi người ta còn trẻ mà vẫn mê muội lú lẩn như thường; còn ở đây già ngần ấy tuổi mà vẫn còn sáng suốt như vậy thì ai mà chẳng muốn sống lâu.

Đến ngày 04 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 16 tháng 07 âm lịch năm Kỷ Sửu thì sức khoẻ của Sư Cô yếu dần thấy rõ. Bác Sĩ Dienemann khuyên đem vào bệnh viện để chuyền nước biển; nhưng Cô chối từ và muốn được ở lại chùa. Cuối tuần đó là Lễ Vu Lan của chùa Viên Giác tổ chức nên chùa cũng bận rộn không phải là ít. Kẻ đến người đi, kẻ vào người ra nhộn nhịp vô cùng. Những giờ cuối của ngày thứ sáu nhằm 04 tháng 09 năm 2009 ấy tuy Cô rất mệt, thở ra vào khó khăn lắm; nhưng ai đến Cô cũng biết và Cô muốn được ra đi trong mùa Vu Lan nầy. Ý nghĩ ấy hiện ra rõ trên nét mặt của Cô nhiều hơn nữa, nhất là sau những cái trở mình và ngồi dậy như người chẳng có chuyện gì đã xảy ra trước đó.

Khoảng 21 giờ đêm ngày 04 tháng 09 năm 2009 sau thời giảng pháp của Hòa Thượng Thích Kiến Tánh trên chánh điện, tôi và Ngài vào phòng Sư Cô để trợ niệm vãng sanh mấy tràng hạt niệm Phật hộ niệm và tụng một biến Kinh A Di Đà. Tiếp đó Thầy Hạnh Vân, Hạnh Hòa, Hạnh Giới, Hạnh Lý và quý Sư Cô cũng như quý Phật Tử trợ niệm suốt cả đêm tối ấy cho đến sáng ngày thứ bảy nhằm ngày 17 tháng 07 âm lịch. Lúc nầy mọi người về chùa càng lúc càng đông và ai nghe nói Sư Cô sắp ra đi cũng đều đến phòng để chung lời hộ niệm. Thế là tiếng niệm Phật vang dội khắp nơi dưới tầng một của chùa.

Đúng 3 giờ chiều ngày thứ bảy sau khi tôi giảng pháp và cầu nguyện trên Chánh Điện xong, thì Sư Cô Hạnh Bình lên báo tin là: Sư Cô Hạnh Châu đã ra đi rồi và tất cả mọi người hiện diện đều đồng thanh hộ niệm: “Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật” ba lần và giờ ấy tôi chính thức báo tin rằng: chúng tôi xin vô cùng hoan hỷ báo tin cùng chư Tôn Đức và quý Phật Tử xa gần rằng: “Sư Cô Thích Nữ Hạnh Châu đã thuận thế vô thường ra đi trong trạng thái vãng sanh vào lúc 15 giờ ngày 05 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 17 tháng 07 năm Kỷ Sửu với thế thọ 90 tuổi; hạ lạp 14 và xuất gia niên lạp 22”. Ai ai cũng tỏ vẻ vui mừng. Vì Sư Cô đã chọn đúng theo điều ước nguyện của mình.

Ở chùa Viên Giác với những đám cưới thân quen, tôi thường hay chia buồn với cô dâu và chú rễ. Những người tham dự hơi ngạc nhiên; nhưng sau khi giải thích, thấy và biết được lý do chính đáng rồi, mọi người mới gục đầu và nhoẻn miệng cười một cách ý vị. Tôi bảo rằng: Sở dĩ Thầy chia buồn, vì cô cậu lâu nay sống tự do thoải mái, đi đâu và làm gì cũng không bị ràng buộc; ngay cả việc chi tiêu tiền bạc của ai nấy xài, chẳng ai hỏi ý ai. Còn bây giờ tất cả đều mất hết sự tự do. Vậy có gì vui mà chung vui. Cho nên Thầy xin chia buồn hay nói đúng hơn là chia xẻ với cô cậu sự mất mát ấy vậy.

Hiện tượng được vãng sanh của Sư Cô Hạnh Châu được thể hiện qua những sự kiện sau đây:

Việc thứ nhất là Sư Cô biết trước ngày ra đi của mình và chọn ngày lễ Vu Lan như đã dự định trước cũng như Sư Cô mong muốn có đông đảo chư Tăng Ni và Phật Tử hộ niệm cho Sư Cô trong lúc ra đi, thì điều nầy đã đạt thành sở nguyện.

Việc thứ hai là sau khi tắt thở miệng Sư Cô hả lớn; nhưng sau khi niệm Phật độ một tiếng đồng hồ thì miệng Sư Cô tự động đóng kín trở lại. Sau 8 giờ liên tiếp niệm Phật như vậy, quý Sư Cô khác trông lo việc lau mình tắm rửa cho Sư Cô; nhưng tuyệt nhiên cửu khiếu ( gồm chín đường ra vào của hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, miệng và đường đại tiện và đường tiểu tiện ) không tiết ra một chất dơ nào cả và thân thể Cô vẫn mềm mại như khi còn sống, mặc dầu để xác của Cô tại phòng ở chùa cho đến sáng thứ hai ngày 07 tháng 09 năm 2009 nhà quàng mới đến, để làm lễ tẩn liệm cho Sư Cô. Như vậy là sau hơn 40 tiếng đồng hồ mà thi thể vẫn không thay đổi.

Việc thứ ba là vào ngày 10 tháng 09 năm 2009 quan tài của Sư Cô được đưa trở lại chùa để tụng Kinh Địa Tạng qua hai đêm, chờ đến sáng thứ bảy ngày 12 tháng 09 năm 2009 thì đưa đám. Trong thời gian nầy trời quang mây tạnh, nhưng vồng cầu năm màu xuất hiện trên đỉnh tháp bảy tầng của chùa Viên Giác. Đây cũng là một hiện tượng của sự vãng sanh. Giống như trường hợp của cố Thượng Tọa Thích Thiện Thông mà tôi đã viết trong quyển: “Có và Không” trong những năm trước.

Trước khi Sư Cô tắt thở vào lúc 15 giờ chiều ngày thứ bảy 05 tháng 09 năm 2009 có một trận mưa rào thật lớn; giống như hoa rơi mà cả bằng ngàn người tham dự lễ Vu Lan hôm ấy tại chùa Viên Giác đều đã chứng kiến. Ngoài ra sau khi thiêu Sư Cô có để lại một ít xá lợi. Như vậy những điều như trên cho chúng ta thấy và hiểu ra được rằng sự thể hiện như vậy là hiện tượng của sự vãng sanh.

Theo như trong các kinh điển của Phật Giáo và kinh sách của Tây Tạng có cho biết rõ ràng về thân trung ấm của một chúng sanh như sau:

Nếu chúng sanh ấy sống trong đời nầy giữ tròn năm giới cấm của Phật chế. Đó là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu thì khi lâm chung, thần thức sẽ xuất ngay ra khỏi thi thể và tùy theo nghiệp lực cứ đi theo đó mà chọn nghiệp để đầu thai kể từ ngày thứ nhất cho đến 21 ngày và trể nhất là 49 ngày.

Nếu chúng sanh ấy sống trong đời nầy và đời trước hoàn toàn làm những việc thiện trong 10 thiện nghiệp. Có nghĩa là: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thêu dệt, không nói lời hung ác, không tham, không sân, không si thì những người như thế sau khi mất, thần thức sẽ được bay cao lên và sanh về cõi chư Thiên.

Ngay cả những người làm phước bố thí, cúng dường, tin vững lý nhân quả và Đại Thừa cũng sẽ được sanh vào ở những thế giới cao hơn.

Nếu chúng sanh ấy trong đời nầy hoặc trong những đời trước chỉ toàn làm những ác nghiệp như: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp Tăng và làm thân Phật ra máu cũng như Nhất Xiển Đề, khi chết không biết tàm quý và không có những Thiện Hữu Trí Thức hộ niệm thì thần thức sẽ rơi vào ngay nơi cõi Địa Ngục.

Còn những chúng sanh nào sau 49 ngày mà vẫn chưa đi đầu thai được thì sẽ trở thành cô hồn lang thang đây đó đầu ghềnh, thác nước, cây đa, bến đò, chùa, miễu .v.v. .những hồn cô độc nầy rất cần đến nhiều nơi cúng kiếng và nương tựa để được giải thoát.

Người Phật Tử phải tin vào nhân quả, vì nhân nào thì quả nấy, không sai mảy may chút nào cả.

Nhân quả xưa nay không lầm lẫn bao giờ.

Trong kinh Phật dạy rằng: “ Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Điều ấy có nghĩa là: Mọi pháp trong thế gian nầy cái gì cũng trở thành không hết cả; nhưng nhân và quả là những mắc xích dây chuyền với nhau, khi đã gây ra rồi thì phải chịu quả báo lành hay dữ là tùy theo hành động lành dữ, thiện ác của mình trong quá khứ dẫn dắt lại.

Sư Cô Hạnh Châu cũng đã chọn ra đi đúng với những ngày mà cá nhân của tôi tạm rãnh rỗi, không có Phật sự ở đâu cả. Ví dụ như ngày ra đi của Cô nhằm lễ Vu Lan và ngày tiển biệt Sư Cô vào sáng sớm ngày 12 tháng 09 năm 2009 cũng vậy.

Một điều khác khó nghĩ nữa là vào ngày 24 tháng 10 năm 2009 nhằm ngày mùng 07 tháng 09 âm lịch ( thứ bảy ) ngày ấy là ngày làm tuần 49 ngày của Sư Cô, tôi một lần nữa lại có mặt tại chùa và hôm đó chùa Viên Giác cũng như gia đình của Cô có làm lễ Trai Tăng và cũng có rất đông Tăng Ni, Phật Tử về tham dự.

Điều cuối cùng theo ước nguyện của Sư Cô Hạnh Châu là đem tro về rải trên đất Phật. Việc nầy cũng lại hy hữu nữa. Thông thường thì mỗi năm tôi đi Ấn Độ một lần và thường định trước chương trình cả năm và vé máy bay đã đặt trước đó ít nhất là 3 đến 6 tháng. Nhưng đây lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa. Sau tuần 49 của Sư Cô 1 tuần thì tôi đi Ấn Độ.

Do vậy tôi có nói cho Thầy Hạnh Giới rõ biết việc nầy và Thầy ấy đã liên hệ nhà quàn để lo giấy tờ thủ tục xuất gởi đi Ấn Độ. Vào ngày 01 tháng 11 năm 2009 vừa qua sau khi tham dự lễ Thọ Bát Quan Trai tại Chi Hội Nurnberg Tôi tiếp tục đi đến phi trường Munchen và máy bay cất cánh tại đó cùng với hài cốt của Sư Cô mang sang Thái Lan và cuối cùng đã đến Bồ Đề Đạo Tràng vào ngày 03 tháng 11 năm 2009 và tất cả đều thông suốt, không bị một trở ngại nhỏ nào cả. (xem videos)

Gần một tuần lễ để hài cốt của Sư Cô tại Trung Tâm Tu Học Viên Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng đến ngày 08 tháng 11 năm 2009 Cô được cúng chung với Sư Phụ của chúng tôi là cố Hòa Thượng Thích Long Trí đã viên tịch ở Hội An từ 11 năm về trước và sau lễ Trai Tăng, chư Tăng Ni đã lên xe, mang hài cốt của Sư Cô rải xuống sông Ni Liên Thiền; nơi Đức Phật đã tắm gội ở đây để trước khi lên đất liền, ngồi tỉnh tọa dưới gốc cây Bồ Đề trong vòng 49 ngày và sau đó ngài đạt được đại ngộ với danh hiệu là Phật Đà.

Tuy nước sông Ni Liên Thiền mùa nầy không có nhiều, vì là mùa nắng của Ấn Độ; nhưng khi mùa mưa đến sẽ mang cốt thiêu của Sư Cô hòa tan cùng với đất trời vạn vật để trở về cõi vô tung mà Sư Cô vẫn hằng mong ước. Vì đến đã không mang được gì ở cõi Ta Bà nầy ngoài nghiệp lực, thì sau khi đi cũng xin gởi lại tất cả ở chốn trần ai phiền lụy nầy.

Vì Lẽ:
Trăm năm trước thì ta chưa có
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi.

Đúng là như vậy. Dẫu cho Sư Cô sống gần một thế kỷ ở trên cõi đời nầy; nhưng thử hỏi trước 100 năm ấy Sư Cô là ai và từ đâu đến? Chắc chắn Sư Cô không thể trả lời được; nếu có, chỉ là một cái nhoẻn miệng cười. Rồi sau gần 100 năm ở trên trần thế nầy Sư Cô cũng đã có tất cả, không thiếu một thứ gì; nhưng khi chết đi hai bàn tay cũng buông xuôi, đâu có mang theo được một vật dụng tùy thân nào đâu. Cũng may là khi còn sống Sư Cô đã thức thời, biết cắt ái ly gia, biết làm phước, bố thí, cúng dường, biết nhơn quả, tội phước, biết gieo trồng căn lành cho đời sau . v.v. . chính nhờ tấm lòng từ bi ấy mà trên từ chư Tôn Đức thương tưởng, dưới đến các Phật Tử khắp nơi đều quý mến Sư Cô; cho nên cái còn ấy không hình tướng, mà nó lại còn hoài với đời, với Đạo. Cái mất có hình tướng, là cái mất của sự đối đãi, nó không bền chặt với thời gian và năm tháng.

Có nhiều vị Tôn Túc sau khi dự đám Tang của Sư Cô thì buột miệng nói rằng: “ Chưa chắc quý Hòa Thượng, quý Sư Bà khi ra đi mà phước ít, thì làm sao có được một sự ra đi giải thoát như vậy!”. Đây là sự thật; vì khi còn sống, nắp quan tài chưa đậy lại, ai muốn nói gì thì nói.

Bởi nhân quả chưa hiện ra rõ ràng; nhưng khi hơi thở cuối cùng đến với mọi người, lúc ấy mới rõ biết là:

Lênh đênh qua ải thần phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Bất cứ một việc làm gì, khi nhìn kết quả của sự việc, ta sẽ biết nguyên nhơn của việc ấy và ngược lại, nếu muốn biết kết quả của một việc xảy ra cho được tốt đẹp, thì ngay trong hiện tại phải lo gây cái nhân thật tốt là vừa. Câu kệ ngày xưa chư Tổ Sư truyền thừa cho đến ngày nay chắc vẫn còn hữu hiệu:

Dục tri tiền thế nhơn
Kim sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị

Nghĩa là:

Muốn biết nguyên nhơn của đời trước
Thì xem cái kết quả của đời nầy
Muốn biết cái quả ở ngày sau
Xin xem cái nhân đang gây ra trong hiện tại.

Đây được gọi là nhân quả trong 3 đời. Nếu nói nhân quả trong nhiều đời, nó lại càng chằng chịt nhiều hơn nữa; nhưng nói cho cùng thì kết quả của cái nầy, sẽ chính là cái nhơn của cái kia. Cái nầy sanh, cái kia cũng sanh; cái nầy diệt, thì cái kia cũng diệt. Nó biến đổi liên hoàn như vậy.

Mỗi chiều hay mỗi tối, có nơi mỗi khuya ở tại các chùa, khi tụng Kinh đến phần Sám thì hay cử các bài Sám: “Nhất tâm quy mạng” hay “ Sám Khể thủ” .v.v.. đại ý của những bài Sám nầy chư vị Tổ Sư muốn trùng tuyên lại ý nghĩa của việc cần cầu vãng sanh của chúng ta, đang sống ở thế giới Ta Bà đầy dẫy những oan khiên nghiệt ngã như thế nầy và ý nguyện của chúng ta, qua nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, sẽ được tiếp dẫn về thế giới Tây Phương Cực Lạc; nơi đó sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết và luân hồi sanh tử nữa.

Trong đời mạt pháp nầy pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn tối thắng. Do từ lực của Đức Phật A Di Đà mà ta sẽ được sanh sang nước Cực Lạc; nếu chúng ta chí tâm tha thiết muốn được sanh về thế giới của Ngài. Các vị Bồ Tát như Ngài Phổ Hiền cũng đều phát nguyện sau khi lâm chung đều được sanh về thế giới của Đức Phật A Di Đà. Hoàng Hậu Vi Đề Hy, sau khi thấy A Xà Thế giam Vua Tần Bà Sa La vào ngục thất, Bà cầu Đức Phật Thích Ca giúp bà sanh về thế giới nào mà không bị những chướng duyên như thế. Cuối cùng qua “ Kinh Quán Vô Lượng Thọ” chúng ta biết rằng Hoàng Hậu Vi Đề Hy phát tâm sanh về thế giới nầy. Rồi đến các vị Tổ của Trung Hoa như Ngài Huệ Viễn, Ngài Thiện Đạo, Ngài Ấn Quang Đại Sư .v.v. . tất cả đều nguyện sanh và đã sanh về thế giới Tây Phương. Ở tại Nhật Bản Ngài Pháp Nhiên, Ngài Thân Loan là những vị Tổ của Tịnh Độ Chơn Tông cũng đã nguyện sanh về cảnh giới giải thoát nầy. Ở Việt Nam chúng ta có Ngài Đàm Hoằng tu tại núi Tiên Du, Bắc Việt vào thế kỷ thứ 4 cũng đã vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ.

Những vị ở thế kỷ thứ 19, 20 tại Việt Nam cũng như Thái Lan viên tịch trong tư thế chấp tay niệm Phật và thác hóa như Ngài Hổ Phách Thiền Sư, Ngài Phổ Tế Thiền Sư ( Thái Lan ) .v.v. .ngày nay nhục thân các Ngài vẫn còn ngồi đó. Hay Sư Bà Đàm Lựu viện chủ chùa Đức Viên ở San Jose Hoa Kỳ, tu theo pháp môn niệm Phật, sau khi thiêu quả tim vẫn còn và hiện đang thờ tại chùa Đức Viên và còn vô số chư Tăng, Ni và nhiều Phật Tử khác cũng đã thực chứng được pháp môn nầy.

Vậy không có gì để nghi ngờ nữa, mà qua 6 chữ Hồng Danh “ Nam Mô A Di Đà Phật” chúng ta nên cố gắng hành trì qua ba điều quan trọng là Tín, Nguyện, Hạnh. Theo như Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta đã thực hành lâu nay; hoặc qua 5 tiến trình của sự giải thoát theo Tịnh Độ Tông Nhật Bản là: chí tâm, tín nhạo, dục sanh. Ba tâm nầy do hành giả tự phát nguyện và hai tâm sau như: nhiếp thủ và bất xả là do chư vị Bồ Tát và chư Phật gìn giữ chúng ta khi chúng ta đã được sanh về nơi Cửu Phẩm Liên Hoa.

Nay tôi viết bài nầy không chỉ để tán dương Sư Cô Thích Nữ Hạnh Châu, mà còn để giới thiệu một hành giả tu Tịnh Độ với tâm cương quyết vãng sanh, thì trước sau lời nguyện ấy cũng sẽ được chư Bồ Tát và chư Phật tế độ cho. Có nhiều người nói rằng: những gì không thấy không nghe, không hiểu không rõ biết thì khó tin theo và thực hành. Nhưng cũng có lắm điều chúng ta không thấy, mà chúng ta vẫn tin rằng: Nếu không có chúng thì chúng ta sẽ chết. Ví dụ như không khí chẳng hạn.

Do vậy đây cũng là lời cuối, xin nhắn gởi đến những ai chưa phát tâm thì hãy phát tâm và khi đã phát tâm rồi, nên dõng mãnh tinh tấn hơn nữa để được dự vào “ Liên Trì Hải Hội” của Đức Phật A Di Đà đang chờ đợi chúng ta.

Viết xong ngày 24 tháng 12 năm 2009 tại Tu Viện Đa Bảo Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất thứ 07
Thích Như Điển

31/32Đầu...10...303132