Đôi Dòng Tỏ Bày

Đôi Dòng Tỏ Bày

L à người học Phật chúng ta phải lấy chuyện giải thoát sanh tử luân hồi làm đại sự, tất cả mọi điều khác trên thế gian đều là thứ yếu. Trên con đường học đạo, tìm được đúng pháp môn hợp với căn cơ của mình rất quan trọng, nhưng điều tối quan trọng hơn cả là chọn pháp môn hợp với thời cơ. Ví như người vận y phục phải phù hợp theo mùa: mùa đông mặc áo bông, mùa hạ mặc áo vải. Nếu có một bộ y phục đẹp và vừa ý với mình nhưng mặc không đúng mùa thì cũng trở nên vô dụng. Trong kinh Đại Tập nói rằng thời Chánh Pháp (gồm 1.000 năm từ lúc Phật thành đạo) tu Giới Luật được thành tựu. Thời Tượng Pháp (1.000 năm kế tiếp) tu Thiền Quán được thành tựu. Thời Mạt Pháp (10.000 năm tiếp theo) tu Tịnh Độ được thành tựu. Hiện nay Phật lịch của chúng ta là năm 2554 (2010 DL) tức là chúng ta đang ở vào thời kỳ Mạt Pháp. Cho nên nếu người tu Phật thời nay muốn thành tựu lý tưởng giải thoát thì nên tu theo pháp môn Tịnh Độ (hay còn gọi là Niệm Phật).

Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng rằng:
Thời Mạt Pháp ức ức người tu hành hiếm có người đắc đạo. Duy chỉ có pháp môn Niệm Phật A Di Đà mà ra khỏi luân hồi.

Đã là một Phật tử tức là con Phật, chúng ta không thể không vâng theo lời dạy của đấng cha lành là đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng sanh thời xưa nhờ có phước báu nhiều nên mới có thể gặp được Phật và các bậc chứng đạo A La Hán, Bồ Tát để tu hành sớm ngày chứng quả. Thời nay do cách xa thời của Phật quá nhiều, phước báu của chúng sanh rất ít nhưng trái lại nghiệp chướng quá sâu dày. Nếu tu theo các pháp môn khác khó bề thành tựu cũng như khó tìm được người chứng quả để học đạo. Vì đã biết trước điều ấy nên đức Phật Thích Ca mới từ bi thương xót chỉ bày chúng ta tu theo pháp Niệm Phật (hay còn gọi là pháp môn Tịnh Độ). Tu theo pháp môn này được thành tựu vào thời bây giờ vì nhờ vào nguyện lực của một vị Phật, hiện ngài chưa nhập diệt và vẫn còn đang nói pháp tại cõi Tây Phương Cực Lạc, cách thế giới Ta Bà chúng ta 10 muôn ức cõi Phật. Thuở lâu xa trước khi ngài thành Phật, tiền thân của ngài là tỳ kheo Pháp Tạng đã có lời thệ nguyện cứu độ chúng sanh như sau:

Khi tôi thành Phật chúng sanh trong mười phương lúc lâm chung chí tâm niệm danh hiệu tôi dẫu từ một niệm cho đến mười niệm, nếu tôi không hiện thân ra trước mặt người ấy để tiếp dẫn về cõi nước tôi, tôi thề sẽ không ở ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác. (Kinh Vô Lượng Thọ – nguyện thứ 18)

Vị tỳ kheo ấy nay đã thành Phật được 10 kiếp hiệu là A Di Đà. Nếu ai TIN nghe theo lời trên, một lòng NGUYỆN được sanh về Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà sau khi mãn thân người, từ giờ cho đến ngày cuối đời chuyên TRÌ NIỆM danh hiệu A Di Đà Phật thì chắc chắn sẽ được vãng sanh (vãng sanh là khi lâm chung được Phật cùng Thánh chúng đến tiếp dẫn về cõi Phật.) Đó chính là pháp tu Tịnh Độ. Người tu theo các pháp môn khác để giải thoát sanh tử phải dùng tự lực của mình để đoạn hết các Kiến – Tư phiền não nên phải mất vô lượng kiếp mới thành tựu. Ví như đức Phật Thích Ca tu hành tại thế gian Ta Bà này đã mất 3 đại a tăng kỳ (tức 3 giai đoạn vô lượng kiếp không thể tính kể ra số được) mới thành Phật. Thế nhưng nếu chúng ta nương vào nguyện lực của Phật A Di Đà, không cần phải đoạn hết các phiền não và quyết tu cho được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, nơi ấy tuổi thọ của chúng sanh dài vô hạn cũng như được gần gũi với Phật và các vị bồ tát để học đạo thì chúng ta sẽ sớm ngày thành đạo quả. Như vậy Tịnh Độ pháp môn chỉ cần một đời hiện tại là chúng ta có thể thành công. Tu như thế được gọi là vừa có tự lực vừa có tha lực (tự nổ lực niệm Phật và tha lực tiếp dẫn vãng sanh của Phật). Người tu theo các pháp môn khác gọi là tự lực (tự mình tu cho đến khi phiền não dứt sạch và chứng được một trong bốn quả vị Thanh Văn mới có thể tự giải thoát khỏi vòng luân hồi.)

duong_ve_coi_tinh_avatarNgười tu theo pháp tự lực tựa như con mọt ở cuối thân tre muốn thoát ra khỏi ống tre phải đục thủng từng đốt tre theo chiều dọc từ gốc lên tới ngọn mới có thể chui được ra ngoài. Người tu theo pháp tha lực ví như con mọt đục ngang thân tre để chui ra ngoài rất mau chóng không cần mất nhiều thời gian. Hiểu được lý này chúng ta không thể bỏ qua pháp môn Tịnh Độ, chỉ cần một đời là có thể đạt được lý tưởng giải thoát. Điều này cũng không nằm ngoài lý nhân quả trong nhà Phật: gieo nhân nào gặt quả nấy. Nhân niệm Phật thì quả sẽ là thành Phật.

Để giúp cho các bạn đang cầu đạo tìm đúng hướng đi trên con đường giải thoát cũng như hợp với căn cơ của người bận rộn thời nay, Đường Về Cõi Tịnh được mở ra với mong ước các bạn có thêm sự tham khảo cần thiết cho việc tự học tự tu. Các tài liệu hầu hết được chúng tôi thu thập từ các chư cổ đức đã đi trước và các vị tổ sư Tịnh Độ qua các bài viết và lời giảng từ xưa đến nay.

Nếu như việc làm này có chút công đức nào, chúng tôi xin thành tâm hồi hướng tất cả cho chúng sanh thập phương thế giới, nguyện cùng kết pháp duyên, đồng sanh Tây Phương đồng thành Phật đạo.

Cao Nguyên Tình Xanh Washington
17 tháng 8 năm Canh Dần 2010
BBT Đường Về Cõi Tịnh

Tây Phương Tam Thánh tiếp dẫn vãng sanh

Nếu ai tin tưởng và một lòng nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc, chí tâm niệm hồng danh A Di Đà Phật đến cuối đời sẽ được Tây Phương Tam Thánh hiện thân đến tiếp dẫn vãng sanh. Từ trái qua phải: Đại Thế Chí bồ tát, A Di Đà Phật, Quán Thế Âm bồ tát (3 vị này được gọi là Tây Phương Tam Thánh).

Các Bài Pháp Khác:

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

1,039 Phúc đáp

  1. Trần Văn Thiên

    Thưa Thầy, Đệ Tử xin hỏi: chấp trước nghĩa là gì? Cái này Đệ Tử hình dung chưa rõ.
    Ngã mạn là gì? Đệ Tử hình dung chưa rõ.
    Xin Thầy giải đáp cho Đệ Tử.
    Kính chúc quý sư, quý Phật Tử mạnh khỏe.

    • Nguyễn Đạt

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Thưa Trần Văn Thiên, trước khi “Thầy” trả lời NĐ xin có chút ý kiến:
      Chữ “chấp” có nghĩa là bám víu vào; “trước” có nghĩa là dính chặt vào đó
      Để dễ hình dung ta tạm giải thích: Chữ “chấp” (執) phồn thể là chữ “hạnh” (幸) trong “hạnh phúc” cộng với chữ “hoàn” (丸) trong “hoàn tử” (丸子) [nghĩa là viên, vật nhỏ vê tròn]; như vậy có thể lý giải rằng “chấp trước” chính là đem một thứ nhỏ như “viên” coi là hạnh phúc, tức là coi trọng thứ không đáng, nắm lấy thứ chẳng đáng mà không buông bỏ. Tay cầm hạt viên, ý tứ đại để giống nhau, cũng không khác là mấy, cầm thứ chẳng đáng cầm.
      “…do tâm niệm của con người qua các việc như: Chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn, chấp ngã, chấp ái, chấp ta, chấp người v.v…
      Đầu tiên là chấp có. Ví dụ như chấp vào thân, tài sản, địa vị, sự nghiệp v.v… Thân nầy do tứ đại hợp thành, gồm có: đất, nước, gió, lửa; nhưng những thứ nầy không có thật tướng. Thoạt có, thoạt không. Thế mà ta nghĩ rằng nó vĩnh viễn có thật bên mình. Cái thân nầy từ trẻ đến già phải trải qua 4 giai đoạn của thành, trụ, hoại, diệt. Thế nhưng con người vừa chấp chặt vào nó, cho nó thật là của mình; nhưng trên thực tế thân nầy bị vô thường biến đổi. Điều nầy rất hợp với thuyết duyên khởi. Đó là: tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh. Tất cả các pháp đều do nhân duyên diệt và tự tánh của các pháp là không. Ai hiểu được pháp duyên khởi, người ấy sẽ hiểu được Phật Pháp và ai hiểu được Phật Pháp, người ấy sẽ hiểu được pháp duyên khởi.
      Chính vì chấp vào thân nầy là của ta, tài sản nầy của ta, vợ con nầy của ta, địa vị nầy của ta, con cái nầy của ta, sự nghiệp nầy của ta v.v… nhưng người học Phật phải nhìn kỹ và nhìn sâu vào sự việc để thấy bên trong tất cả những điều nầy đều ẩn chứa sự khổ và chính sự khổ nầy con người không biết diệt nó; nên mới sinh ra thất vọng, hối tiếc, bi quan. Vì lẽ ta chấp trước vào nó quá nhiều.
      Về chấp ngã cũng tương tự như vậy. Ta chấp cái nầy là của ta; cái nầy thuộc về ta. Đôi khi ta nổi lên sân si, giận dữ. Vì lẽ ta cho mình là đúng, còn người đối diện sai. Nhưng chắc gì ta đã đúng. Vì khi cơn giận dữ ngự trị nơi tâm thức, thì lúc ấy chân lý đi chỗ khác, không hiện hữu, chỉ còn lại sự chấp ngã, tồn tại. Sở dĩ ta nóng giận, vì ta muốn chứng minh cho mọi người biết rằng điều ta nói, điều ta suy nghĩ, điều ta hành xử là đúng. Do vậy mới chứng tỏ một một uy quyền để bắt người khác phải tuân phục. Đa phần sự nóng giận dẫn theo sự nghi ngờ và cố chấp. Từ đó sinh ra rất nhiều việc sai trái; nhưng cái ngã của ta không chịu thừa nhận mà lại còn kéo theo những cái liên hệ thuộc về ta nữa. Để đối trị lại vấn đề chấp ngã nầy ta nên quán sát nơi tự thân của mỗi người là cái ngã nầy không thật có. Nó chỉ là một ảo ảnh, một cảm giác. Thoạt có, thoạt không, ẩn ẩn, hiện hiện; không nơi chốn; nhưng lại hay tới lui cổ động việc dở xấu của mình. Hãy chiêm nghiệm và quán sát cho thật kỹ, vì cái ngã không có thật. Nếu ngã có thật thì ta phải làm chủ nó, tại sao ta phải bị lệ thuộc vào nó ?
      Về chấp trước của tâm thức nầy còn hay mất sau khi chết cũng như vậy. Có người thì cho rằng: Chết là hết, chẳng có cái gì theo sau nữa. Có người lại bảo rằng: Chết không phải là hết, mà còn mãi với thời gian nầy. Vậy đâu là sự thật ?

      Đức Phật với cái nhìn siêu việt của trí tuệ, Ngài thấy rõ và quán chiếu thế gian nầy cũng như tâm thức của chúng sanh trước khi sinh ra đến lúc đầu thai và sau cái chết. Tất cả đều được thay đổi theo nghiệp lực và thức biến hiện, để tạo thành một chúng sanh ở cõi nầy và nhiều cõi khác nữa.

      Theo kinh Đại Bảo Tích Phẩm Nhập Thai Tạng Pháp Giới, Đức Phật đã phân tích kỹ càng, chi tiết từng loại đi đầu thai như thế nào khi vào bụng mẹ. Thật ra khi một người nam và một người nữ có ý niệm hành dục với nhau, ngay lúc ấy một tâm thức hiện hữu bên ngoài đã cố bám víu vào để thành con của hai người nam nữ được gọi là cha mẹ đó. Như vậy một chúng sanh được hình thành từ tư tưởng lúc ban đầu của vợ chồng, khế hợp với tâm thức của một chúng sanh sắp gá vào sự phối hợp giữa nam và nữ để tạo thành một con người trong tương lai. Theo tánh dục, nếu tâm thức ấy là con gái, nó sẽ nhận cha nó trong tương lai, ngay lúc ấy là chồng của nó. Nếu tâm thức là con trai, nó sẽ nhận người mẹ trong tương lai, ngay lúc gá thai là vợ của nó. Từ đó nó yêu thương ấp ủ, sống chết để chờ ngày sinh ra báo ân hoặc báo oán. Rồi trưởng thành, rồi già chết, rồi tiếp tục đi đầu thai trong luân hồi sanh tử.

      Riêng các vị Bồ Tát chỉ gá vào thai mẹ để sinh ra đời. Cho nên Bồ Tát đứng bên hông phải của người mẹ, chứ không gá vào tử cung. Do vậy khi sinh ra, Bồ Tát từ hông bên phải của người mẹ để chào đời; chứ không ra khỏi cửa mình của người mẹ như bao đứa trẻ phàm phu khác. Đây là nhân duyên, đây là nghiệp lực, đây là sinh tử luân hồi. Cứ vay trả, trả vay hết đời nầy qua đời nọ; nhưng vì căn bản của chúng sanh là vô minh; nên dễ bị đắm trước bởi tất cả những chấp ngã, chấp ái, chấp thuờng, chấp đoạn ấy. Bậc trí thức sẽ biết rõ mình lối đi về, còn đa phần phàm phu không trí tuệ, cứ để cho nghiệp lực sai sử và dẫn dắt đi đến đâu thì nương vào đó, để rồi mãi mãi vẫn đau khổ, khổ đau mà thôi.
      Thương và ghét cũng như vậy. Đây là những cặp đối đãi của 8 loại gió nghiệp. Trên thực tướng chúng bị chi phối bởi sự chấp trước của con người. Ví dụ như khi thương thì „trái ấu cũng tròn“ mà ghét nhau thì „trái bồ hòn cũng méo“. Tại sao vậy ? Đây chính là do tâm chấp thủ của con người mà ra. Đối tượng để mình thương và được thương, vì nó hợp với nhãn quan qua tia quang phổ chấp vào tướng của mình. Mình cho người đối diện mình là đẹp, trong khi đó những người khác, thì ngược lại. Vì không hợp với tầng số của sóng ái; nên kẻ khác cho là xấu; nên không thương và trở nên xa lánh; nhưng sự thương, yêu ấy chẳng được bao lâu lại sanh ra ghét gỏng, đổ vỡ.Lý do là người nam đã thỏa mãn sự chiếm thủ rồi, bây giờ họ lo đi tìm đối tượng khác. Trong khi đó người nữ, khuynh hướng nương tựa, cậy nhờ không còn tiếp tục nữa; nên người nữ sinh ra thù ghét đối phương và tìm đủ cách để xa lánh. Vậy thì cái thương yêu mới đó nó đã đi đâu rồi ? Nó có thật chăng ? hay chỉ là một trò huyễn hóa ? Điều quan trọng của người học Phật là phải nhận chân ra mặt mũi thật, hư của nó.

      Giận hờn và oán trách cũng lại như vậy. Tất cả đều do sự chấp trước mà ra. Sở dĩ chúng ta tự giận mình hay giận người đối diện. Vì lẽ mình không tự làm vừa lòng mình hay người khác không làm thỏa mãn điều mình mong đợi; nên mình sinh ra hờn trách và oán than. Sở dĩ có việc nầy, vì ta lấy cái ta làm chủ thể để so sánh. Nó phải như thế nầy hay như thế kia. Nó phải như thế nầy hoặc như thế nọ. Nhưng tất cả sự hy vọng ấy nó không đến với mình, thế rồi cái ta đó làm chủ, nó khiến cho mình mù quáng, đâm ra hờn trách, giận giỗi đối phương. Đôi khi đối phương chẳng có lỗi nào. Lỗi ấy chính do mình tạo ra mà thôi. Nếu ta biết rằng: hãy đừng hy vọng gì nơi người đối diện thì chẳng có gì để thất vọng cả. Vì ta hy vọng quá nhiều; nên đâm ra thất vọng và từ đó sinh ra giận hờn và oán trách. Nếu chúng ta tự đặt mình ngược lại là đối phương, thì ta không có lý do gì để oán trách cả.
      Hạnh phúc và đau khổ cũng không nằm ngoài khuôn khổ của sự chấp trước nầy. Đa phần mọi người khi mới cưới hỏi nhau đều chúc cho nhau được „trăm năm hạnh phúc“. Nhưng không biết có được bao nhiêu cặp trên thế gian nầy có được đến cả trăm năm mà không có vấn đề nan giải trong cuộc sống ? Cái hạnh phúc ấy thật ra chẳng bao nhiêu mà sự khổ đau lại có quá nhiều hình tướng. Ít thấy ai trang trải hạnh phúc của mình cho người khác nghe, mà đa phần chỉ nghe về khổ đau và tục lụy. Vậy thì cuộc đời đâu có gì vui mà con người mãi bám víu như vậy.
      Nói về nghiệp thì cũng có thiên hình vạn trạng; nên chúng sanh cũng có nhiều loại khác nhau để thọ nghiệp nhân hay nghiệp quả. Thế nhưng nghiệp nầy cũng có thể hoán chuyển được; nếu chúng ta biết cách tu tập. Nó cũng giống như sự chấp trước bên trên. Nếu con người biết hoán chuyển thì ta có thể thoát ra khỏi sự chấp trước nầy. Ví như một nắm muối bỏ vào trong một ly nhỏ, ta không thể hòa nước ra để uống được; nhưng nếu cũng nắm muối ấy đem hòa vào trong nước giếng thì ta có thể uống như thường. Vì lẽ muối đã tan đi và nghiệp cũng thế. Nếu ta biết bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, Thiền định và Trí tuệ qua lục độ vạn hạnh nầy thì nghiệp ấy sẽ trải mỏng ra, khiến ta có thể nhanh chóng hội nhập vào con đường Bồ Tát hạnh. Nếu chúng ta vẫn luôn luôn chấp chặt, cố thủ thì sự chấp trước ấy khó mà nới lỏng ra để hòa tan cùng những hạnh nguyện khác. Nhanh hay chậm; tốt hay xấu. Tất cả đều do ta; không ai có thể thay thế cho chúng ta trong trường hợp nầy được cả. ” – Trích
      Kính chúc TVT mạnh khỏe, tu tập được lợi ích.
      Có sai sót mong chư vị tri thức góp ý. Con xin hoan hỉ tiếp thu.
      Nam Mô A Di Đà Phật!

    • Trần văn Thiên

      Chấp tức là nắm giữ, nắm chặt không buông ra. Trước tức là đã có.
      Chấp trước nghĩa là nắm chặt không buông cái gì đó đã có.
      Ngã mạn, ngã là tôi, mạn là coi thường.
      Tại sao có chấp trước? Vì không có trí tuệ.
      Chấp trước dẫn đến ngã mạn và nghi ngờ.

  2. Trần Văn Thiên

    Vậy: sân hận là biểu hiện của sự chấp trước.
    Si mê là biểu hiện của sự chấp trước.
    Tham lam, tham ái là biểu hiện của sự chấp trước.
    Không nghe người khác trình bày, mà tìm lỗi sai của người khác để khinh chê, nghi ngờ; phê bình… là biểu hiện của sự chấp trước.
    Cao ngạo, ngã mạn cũng là chấp trước.
    Khinh thường người khác cũng là chấp trước.
    Đệ tử nhận diện tính chấp trước như vậy.
    Thưa Quý Thầy, khi nó khởi lên Đệ Tử dùng câu danh hiệu Phật đối trị.
    Cảm ơn Quý Thầy!

  3. NMADDP

    Mình xin giới thiệu hội từ thiện Phật Giáo Từ Tế (慈濟 – Tzu Chi)dưới sự lãnh đạo của Ni Sư Chứng Nghiêm – Từ (bi) (cứu) Tế. Là một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận có mặt khắp thế giới. Nơi nào có khổ nạn hội Từ Tế đều đến giúp đỡ. Là hội Từ thiện Phật giáo lớn nhất thế giới.

    Mình rất hâm mộ những người làm nghĩa công trong hội từ thiện Phật Giáo Từ Tế này. Lúc làm bố thí, lúc nào cũng cúi chào và dâng bằng hai tay để giao tặng tài vật cho người nhận.

    Trang youtube của chi nhánh TZUCHI VIETNAM
    https://www.youtube.com/channel/UCv2GzBPGnN6RCfvbAk5TR_Q
    và trang khác
    https://www.youtube.com/user/Linhdancy111/videos

    Video nói về Ni Sư Chứng Nghiêm (phụ đề Việt ngữ)
    https://www.youtube.com/watch?v=R5GpqpHcoiY (1/3)
    https://www.youtube.com/watch?v=iyPOdiUgp-E (2/3)
    https://www.youtube.com/watch?v=-gxONZleRj0 (3/3)

    Video – Vì sao phải ăn chay
    https://www.youtube.com/watch?v=jlMamu6YCiQ

    Tzu Chi Việt Nam – Tin tức DAAI – 03/08/2017 – Phát tặng bồn nước inox tại Ba Tri – Bến Tre
    https://www.youtube.com/watch?v=fNA-aTuwqKo

    Tzu Chi Việt Nam – Tin tức DAAI – 01/06/2017 – Khám bệnh từ thiện tại Tiền Giang
    https://www.youtube.com/watch?v=NBNklNDI0wo

    Nam Mô A Di Đà Phật

  4. Trần Văn Thiên

    Thưa Quý Thầy, Đệ Tử xin hỏi: 4 nhiếp pháp, 4 vô lượng tâm, 37 phẩm trợ đạo, 6 ba-la-mật hiểu như thế nào về nghĩa của chúng?
    Trong kinh niệm phật ba-la-mật có nói: lại nữa, phải đem công đức hành 6 ba-la-mật, 4 nhiếp pháp, 4 vô lượng tâm, hoặc 37 phẩm trợ đạo mà hồi hướng…
    Vậy nghĩa là sao, hành như thế nào, công đức là thế nào, công đức của các pháp trên là gì?
    Hồi hướng là thế nào? Tại sao phải hồi hướng? Hồi hướng cho chúng sanh, cho cõi Tây Phương nghĩa là sao? Phải hồi hướng theo cách thức nào?
    Xin Quý Thầy giải đáp thắc mắc giúp Đệ Tử?

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT´

      Gửi bạn Trần Văn Thiên,

      *Những điều bạn hỏi có liên quan tới hạnh đại thừa hay còn gọi là Bồ tát hạnh, vì thế để tìm học thật sâu sắc giáo lý đại thừa là điều bạn cần phải cân nhắc thật kỹ lưỡng và nên chọn lọc những gì phù hợp với căn cơ cũng như đại nguyện của mình để tu học, như vậy sẽ có lợi lạc thiết thực.
      – Tứ nhiếp pháp bao gồm: Bố thí nhiếp; Ái ngữ nhiếp; Lợi hành nhiếp; Ðồng sự nhiếp.
      – Tứ vô lượng tâm bao gồm: Từ, bi, hỉ, xả
      – 6 Ba la mật còn gọi lục độ ba la mật bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ
      – 37 phẩm trợ đạo gồm: Bát chánh đạo; Tứ niệm xứ; Tứ chánh cần; Tứ như ý túc; Năm căn; 5 lực; Thất bồ đề phần.

      Bạn hoan hỉ tham khảo chi tiết tại đây nhé:
      1.Tứ nhiếp pháp
      2.Tứ vô lượng tâm
      3.Lục Độ Ba La Mật
      4. 37 Phẩm Trợ Đạo

      *Ý nghĩa của hồi hướng
      *Phước đức và Công đức

  5. NguyenPhu

    A Di Đà Phật.
    Năm mới lại đến, xin kính chúc toàn thể liên hữu cùng gia đình luôn luôn an lạc, đạo tâm vững chắc, cùng nhau tìm về đất Phật.
    Năm mới bình an.
    Năm mới bình bình an.

  6. Trần Văn Thiên

    Kính chúc Phật Tử hạnh phúc , bình an.
    Cẩn thận nhân quả.
    Không vi phạm.
    Tư duy kỹ lưỡng.
    Giúp mình, giúp người.
    Không màng tự lợi.
    Hiếu đạo phụng hành.
    Nhớ lời Phật dạy.
    Nhớ và làm.
    Nam mô A Di Đà Phật.
    Mỗi phúc giây phiền não.
    Mình lại niệm Di Đà.
    Chăm chú mà lắng nghe.
    Mỗi câu cho rõ ràng.
    Mỗi niệm cho phân minh.
    Buộc thân, tâm, ý một chỗ.
    Cứ nhất niệm cho đầy đủ.
    Hồng danh Phật Di Đà.
    Niệm xong nhớ hồi hướng.
    Cho gia đình và chúng sanh.
    Hưởng quả công đức này.
    Quay về bờ giác ngộ.
    Cùng đi về Cực Lạc.
    Hội ngộ chung một nhà.
    Kính Phật Di Đà.

  7. Trần Văn Thiên

    Thưa quý thầy, Đệ Tử xin hỏi: hồi hướng như thế nào thì người được hồi hướng, cha mẹ được hồi hướng, anh chị được hồi hướng,…được nhận được?

  8. Thượng Phẩm

    A DI ĐÀ PHẬT. Các chư vị cho con một vài thực đơn chay đễ làm được không ạ, cháu đọc quả báo ăn thịt lại thấy sợ, hiện tại là chay mặn tùy duyên nhưng vẫn cứ thấy áy náy, tiện thể để cùng thực hành với pháp môn niệm Phật cầu sanh Tây Phương và nếu có ăn chay mặn thế nào thì xin chư vị giúp cháu với, chia sẻ chút kinh nghiệm ạ.

  9. tây thiên hùng

    mình có một thắc mắc về cuốn Cực Lạc Du Lãm Ký của Khoan Tịnh Pháp Sư do hòa thương Thích Thiền Tâm Soạn. Cả hai vị đây đều là bậc cao tăng ,
    vậy quý liên hữu lấy bằng chứng nào mà nói cuốn cực lạc du lãm ký không nên lưu thông. tại sao trên you tube binh luân không được, có môt video ngài pS Tịnh Không nói thì không chỉ đích danh Pháp Sư Khoan Tịnh. Trong cuốn sách cực lạc du lãm ký phần hạ phẩm hạ sanh. bồ tát có giải thích rất rõ về người nữ,
    mong liên hữu hãy suy gẫm và đính chính lại,không cho phật tử nghi lầm nữa. Thật đáng thương thay!

    • Thượng Phẩm

      A DI ĐÀ PHẬT. Cháu cũng đã xem video của ngài Tịnh Không pháp sư rồi, và đối chiếu với cuốn Cực Lạc du lãm ký thì vấn đề này chúng ta là người phàm, trí tuệ chưa đủ để biết được hay xét xem thế nào cả, chúng ta là tu theo Pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu sanh Tây Phương nén cháu nghĩ chúng ta cứ niệm Phật đi, y theo pháp Phật dạy, bám sát vào bổn nguyện độ sanh của Phật A Di Đà và các lời trong các kinh như kinh A Đi Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, đấy có các kinh như thế thì cứ theo tình hình trong kinh mà theo, cứ niệm Phật đến khi được vững sanh lúc đó thấy Phật rồi lại ở Cực Lạc lại có chánh kiến riêng của mình đó, cho nên niệm Phật cho chân chính là điều tốt, chư Phật,Bồ tát sẽ hộ trì.Cháu – Thượng Phẩm

    • Tâm Từ

      A Di Đà Phật. Trong khi chờ đợi các vị thông thái giải đáp Phật pháp trên DVCT như cô Mỹ Diệp xinh đẹp dễ thương, cư sỹ Phước Huệ thân thiện hay sư huynh Thiện Nhân uyên bác vào góp ý cùng bạn, mình xin chia sẻ đôi điều ở đây nhé.

      Xin trích một đoạn trong Hạ Phẩm Hạ Sanh của pháp sư Khoan Tịnh:

      “Chưa nói được mấy câu đã đến ao sen hạ phẩm rồi. Thoáng nhìn qua, đã thấy bãi đất bằng như bàn tay đều do cát vàng trãi phủ kín, óng ánh vàng rực. Trên bãi đất rộng mênh mông ấy, có vô số các bé gái chừng 13, 14 tuổi….

      Ở đây có một vị Bồ Tát chủ trì, nếu vị ấy biến nam thì toàn bộ là nam, khi biến nữ thì toàn bộ đều là nữ. Thực ra dẫu có biến nam hay nữ thì tất cả đều từng ấy tuổi, và dẫu có biến nam hay nữ thì tất cả đều như nhau đâu có sự phân biệt khác phái được, hơn nữa từ hoa sen hóa sanh ra là không có máu thịt chỉ một thể dạng trong suốt, chỉ có thay đổi dáng dấp bề ngoài thôi. Ông nhìn lại xem có phải vậy không?

      Tôi nhìn lại thân thể mình đúng là trong vắt như pha lê chiếu sáng, không có xương thịt máu móng tay chân. Những người được vãng sanh đến ao hạ sanh hạ phẩm này đều là đối nghiệp vãng sanh, không luận là trai hay gái, trẻ hay già, sau khi từ hoa sen hóa sanh ra, nhất loạt biến thành bé 13-14 tuổi cùng một cách ngây thơ xinh đẹp như vậy.”

      Bây giờ chúng ta hãy căn cứ vào kinh điển của Phật để nhận biết đúng sai. Kinh Phật chính là lời Phật nói, ắt hẳn đáng tin cậy hơn ai hết. Theo kinh Vô Lượng Thọ, Nguyện 22:

      “Khi con thành Phật, nước con không có phụ nữ. ” (Nguyện trong nước không có người nữ). Phật đã nói là hoàn toàn không có phụ nữ, không có trường hợp ngoại lệ là ở Hạ Phẩm thì có phụ nữ con gái, còn ở các phẩm Thượng thì có đàn ông con trai.

      Còn Nguyện thứ 3:

      “Khi con thành Phật, các chúng sanh ở mười phương thế giới sanh về cõi con, thân tướng sắc vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng tốt, đủ tướng đại trượng phu, đoan nghiêm chánh trực, tất cả đồng một dung nhan… ” (Nguyện thân có sắc vàng ròng)

      Phật nói chúng sanh ở cõi nước Cực Lạc tất cả đều có thân tướng sắc vàng ròng, chứ không phải là “trong vắt như pha lê” như trong cuốn Cực Lạc Du Lãm Ký miêu tả.

      Như vậy, từ trong kinh điển chúng ta hãy đối chiếu với những gì chúng ta đọc được hàng ngày mà suy xét mọi việc có đúng chánh pháp hay không. Internet tuy rất có lợi xét về mặt không gian cũng như thời gian, vì chúng ta không phải đi xa đến đạo tràng nghe pháp, cũng như không phải mất nhiều thời giờ để tra khảo kinh điển. Chỉ cần gõ vài từ khoá vào Google là tìm thấy ngay. Tuy vậy, internet cũng có thể là con dao 2 lưỡi nếu chúng ta không cẩn thận và không khéo tư duy như chánh pháp. Siêu thoát hay đọa lạc cũng đều là do đây mà ra. Chúng ta hãy thật thận trọng khi tiếp xúc với thông tin trên internet. Hãy lấy kinh điển làm ngọn hải đăng trên lộ trình giải thoát giác ngộ. Đừng vội tin những gì chúng ta đọc mà hãy tư duy, nghiền ngẫm cho thật kỹ cũng như y cứ theo lời Phật dạy mà hành bạn nhé.

      A Di Đà Phật.

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi đạo hữu Tâm Từ và các bạn Sen,

      *Cho TN được phép đính chính một chút về lời tán thán của bạn: TN thiển nghĩ trên DVCT không có thầy, chẳng có trò, không có bồ tát cũng chẳng có chúng sanh, mà chỉ có những người tầm cầu đạo pháp chân chánh của Như Lai để giác ngộ và giải thoát. TN cũng là một trong số đó. Những gì TN chia sẻ trên DVCT chỉ là một chút sơ mọn Phật học và chỉ tồn tại ở dạng chia sẻ để chúng ta cùng nhau học hỏi và khai ngộ lẫn nhau. Ngoài ý niệm này ra TN không còn ý niệm nào khác. Nếu những lời TN chia sẻ khiến các bạn hiểu lầm, TN xin thành tâm sám hối.

      *TN rất tán đồng với chia sẻ của bạn vì chúng ta đều là phàm tục cả, mà đã làm phàm tục thì hễ khởi tâm động niệm đều là phân biệt, chấp trước. Lấy hai niệm này để học Phật pháp, dẫu có đắc định cũng là định trong phân biệt, chấp trước, nói khác đi là định trong vọng, chứ không phải là chân định.

      *Để các bạn Sen không mất nhiều thời gian tìm hiểu về nguồn gốc, đúng-sai của cuốn Tịnh Khoan Pháp Sư, TN xin trích một đoạn kinh văn quan trọng trong Kinh Tăng Chi Bộ, Phật dạy chúng ta những điều thiết yếu khi đối nhân, tiếp vật, mong các bạn Sen ráng tư duy thật kỹ lưỡng để không tốn thời gian vào những việc không lợi lạc cho việc tu hành.

      “Đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy từng được nghe nói đến, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được quảng bá rộng rãi, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do truyền thống để lại, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được kinh điển truyền tụng, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do một vị giáo chủ nói ra, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy đoán, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy luận, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì mình thấy điều đó có lý, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều đó phù hợp với thành kiến, quan điểm nhận thức của mình, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do thầy mình nói ra. Nhưng chỉ khi nào tự mình biết rằng những điều đó là không đúng, những điều đó không chính đáng, những điều đó bị người hiền trí phê phán, và khi chấp nhận, khi thực hành sẽ đưa đến tai hại và khổ đau thì các ngươi hãy từ bỏ những điều đó. Khi nào chính các người biết rằng những điều đó là chân chính, những điều đó không bị chê trách, những điều đó được người hiền trí khen ngợi, những điều đó khi được chấp nhận và thực hành sẽ dẫn đến an lạc hạnh phúc, thì các người phải nỗ lực mà thực hành” (Kinh Kalama, Tăng Chi Bộ kinh I).

      TN

    • Thượng Phẩm

      A Di Đà Phật. Tâm từ nói rất đúng ý cháu, cứ nương vào bổn nguyện của Phật A Di Đà và lời kinh như thế thì khỏi lo lắng, an tâm tu tập.

  10. Tuấn Linh

    “Thế giới Cực Lạc không có nữ nhân. Nữ nhân, súc sanh hễ sanh về thế giới ấy đều mang tướng đồng nam, liên hoa hóa sanh. Vừa từ trong hoa sen ra đều giống hệt như người trong thế giới Cực Lạc, chứ không phải là trước hết là nhỏ rồi sau đấy mới dần dần khôn lớn. Người trong thế giới ấy không có phiền não, không có vọng tưởng, không có chuyện tạo nghiệp. Do cậy vào Phật từ lực nên hết sức dễ sanh, nhưng phải lấy niệm Phật làm nhân; đã vãng sanh rồi thấy Phật nghe pháp, nhất định viên thành Phật đạo. Mười phương thế giới chỉ có cõi này là thù thắng vượt trội nhất. Trong hết thảy pháp môn tu trì, chỉ có pháp này dễ tu nhất mà công đức lại lớn nhất.”
    (Trích Thư trả lời cư sĩ Diệp Phước Bị – Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên)

  11. Phạm Thiện Tâm

    Nam Mô A Di Đà Phật !kính bạch quý thầy con có một câu hỏi muốn thỉnh giáo quý thầy mong quý thầy hoan hỉ cho con biết con muốn tụng kinh cầu an tại gia con phải tụng kinh nào cho đúng mong quý thầy hoan hỉ cho con biết con xin đội ơn quý thầy.Nam Mô A Di Đà Phật!

  12. Nguyễn Đăng kiêm

    Về tây phương cực lạc thì ai mà không muốn chứ, chẳng biết số phận con đi về đâu chứ từ nhỏ tới giờ con thấy mình nhiều tội quá rồi, lâu lâu còn vào duongvecoitinh xem rồi lại ra, con chẳng có câu hỏi gì cả chỉ viết ra đây vài câu thôi ạ, con chỉ cầu mong cái thứ dâm dục con hay nghĩ mỗi khi trời lạnh và những lần làm điều hổ thẹn một mình ấy được giải thoát, mong ông trời không cho con chịu quả báo nặng, con đang cố giải thoát mình, con là một kẻ ngốc và hiền nhưng chẳng làm gì được ở đời, do nhiều nhân duyên sinh ra con, con cũng chẳng biết duyên đó là gì, con cảm thấy sau này con dễ mắc bệnh gì đó do hút thuốc quá nhiều, thôi kệ vậy, con chỉ mong cái dâm dục con nghĩ đến đc hóa giải, tội lỗi từ nhỏ đến giờ được đấng tối cao tha thứ và hoa giải vì lúc đó con còn nhỏ dại chưa hiểu hết được chuyện đời… Nam mô quán âm bồ tát…nam mô A di da phat

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Nguyễn Đăng Kiêm,
      Ví như một cái lu có ít nước và một chút muối, nếu mình tiếp tục cho thật nhiều muối vào thì sẽ mặn chát, nếu mình không cho muối mà chỉ cho nước vào thì sẽ bớt mặn. Muối ví dụ cho việc xấu ác. Nước ví dụ cho việc thiện lành. Chỉ cầu nguyện suông ở miệng sẽ chẳng giúp gì được cho việc giảm mặn. Bạn cần phải bỏ công sức ra đổ nước vào lu và không bỏ muối vào nữa, bằng cách cố gắng tập cho tâm giảm được tham, sân, si,.. nhiếp tâm niệm Phật thường xuyên, đây đều là những việc thiện lành bậc nhất, như thế mới mong ít nhiều hoá giải được những việc không hay trước đây. Cho nên, bạn cần phải hành động, chứ chỉ cầu nguyện suông mà tâm không có thay đổi gì thì sẽ chẳng hoá giải được gì đâu bạn.
      Chúc bạn tỉnh giác, an lành.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Lặng

      Cư sĩ Phước Huệ có thể cho con xin địa chỉ gmail không ạ?

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Lặng,
      Vì lý do cá nhân nên tạm thời PH chưa thể chia sẻ email trên mạng. Nếu bạn ngại chia sẻ trên đây thì bạn hoan hỷ để lại địa chỉ email trên đây nhé, PH sẽ email đến bạn. Tuy nhiên, PH cũng mong bạn sẽ chia sẻ ngay trên diễn đàn để PH và các bạn sen cùng góp ý, và nếu chia sẻ của PH có điều không đúng hoặc thiếu sót thì sẽ có bạn sen nhắc nhở, ngoài ra PH cũng không thường kiểm tra email.
      Mong bạn hoan hỷ với PH nhé.
      Chúc bạn an vui.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Lặng

      Dạ,con đọc trên Kênh14 biết có trường hợp cô Kerry Hutchinson sống ở Rugeley,Staffordshire, Anh Quốc vì ảnh hưởng của căn bệnh ung thư cổ tử cung mà bị mất hai đứa con do sinh non, sảy thai 22 lần. Hiện giờ cô và chồng vẫn đang tiếp tục cố gắng nuôi dưỡng ước mơ được làm cha mẹ. Vì thế, con mong rằng ở đây có đạo hữu nào biết tiếng Anh có thể tìm địa chỉ Facebook, Instagram, Twitter,… để giúp cô Kerry biết đến Phật pháp, hoàn thiện ước mơ được làm mẹ của mình và không để đứa trẻ nào phải ra đi nữa. Con xin nhờ cư sĩ Phước Huệ và mọi người cùng giúp đỡ.
      Địa chỉ bài báo đây ạ:
      kênh14: Người mẹ mất con 2 lần, bị sảy thai 22 lần, bác sĩ chỉ nói rằng “vì cô không may mắn mà thôi.

    • Lặng

      Thêm một trường hợp nữa con muốn nhờ mọi người giúp đỡ, đó là hoàn cảnh của cháu Sang, một cháu bé không cha, mẹ bị bệnh động kinh. Bản thân cháu Sang bị phát hiện mắc căn bệnh hoại tử xương, 5 năm chống chọi với căn bệnh quái ác. Hiện nay cháu đang sống cùng bà ngoại và được bà chăm sóc. Thế nhưng gia cảnh thì khó khăn, bệnh nặng lại không có tiền chữa trị, bà ngoại cháu lại hết khả năng vay mượn. Mong đạo hữu nào có khả năng có thể quyên góp ủng hộ hai bà cháu, đồng thời giúp hai bà cháu biết đến Phật pháp để sớm được khỏe mạnh, an vui
      Địa chỉ: bà Hồ Thị Hường( bà ngoại bé Sang), thôn 5, xã Quỳnh Tân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
      Số đt: 0965.397.853 hoặc số tài khoản bà Hường:51510000336637, ngân hàng BIDV, chi nhánh Phủ Diễn.
      Địa chỉ bài báo: kênh14 Số phận nghiệt ngã của đứa trẻ không cha, mẹ bị động kinh bỏ nhà đi khi bé mới 6 tháng tuổi

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Lặng,
      PH có biết chút tiếng Anh, nhưng chắc chắn không đủ để nói về đạo Phật, và cũng không tham gia các mạng xã hội như Facebook, twitter,…Nhưng chính yếu vẫn là chưa đủ duyên (điều kiện khách quan, năng lực,..) để giúp được những trường hợp mà bạn đề nghị. Mong là các bạn sen khác có thể.
      Chúc bạn an vui.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

  13. Như Ý

    Nam mô a di Đà phật! Kính thưa các chư vị! Con có điều thắc mắc mà lâu nay không biết chia sẻ cùng ai, nay có duyên với phật pháp biết Duongvecoitinh mong các bậc tiền bối giải đáp dùm con. Ba của con mất nay đã được 21 năm, lúc đó con còn nhỏ không hiểu lý do gì mà ba con mất trên một quả đồi. Quý chư vị tiền bối cho con hỏi: ba con mất như vậy gd con chưa cầu hồn về nhà thì hồn ba con vẫn ở trên chỗ đó phải không? Cách đây mấy năm con có đi gửi ba con ở trên chùa, nhưng con nghe mọi người nói là không cầu hồn thì gửi vô chùa thì hồn vẫn ở chỗ ba con mất. Con mong các chư vị hoan hỉ chỉ bảo cho con giờ con phải làm như thế nào? Nam mô a di Đà phật!

  14. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Như Ý,

    Nếu gia đình bạn gửi Ba tại chùa và đã nói rõ về sự việc Ba bạn mất, chùa đã làm lễ an vị linh tức lễ rước Ba vô chùa thì như vậy là ổn rồi. Còn nếu chưa làm thì gia đình nên tham khảo ý kiến vị trụ trì nơi gia đình bạn có ý muốn gửi Ba vô đó rồi phát tâm làm theo thì tốt nhất. Nhưng bạn nên biết: người thân, sự quan tâm và tình thân mới dễ cảm hoá Ba hơn là giao phó cho người ngoài. Bản thân bạn nên phát tâm trì tụng kinh Địa Tạng Bổn Nguyện 49 ngày để trợ duyên cho Ba nữa thì tốt nhất.

    • Như Ý

      Gửi Trung Đạo!
      Mình xin gửi lời cám ơn chân thành tới bạn đã tận tình chỉ bảo. Mình sẽ làm theo cách của bạn.
      Chúc bạn thân tâm an lạc, mọi chuyện như ý, ngập tràn hạnh phúc, dồi dào sức khỏe! Nam mô a đi Đà phật .

  15. xin chào các bạn.người xưa có câu.khó nhất tu nhà,thứ hai tu chợ và thứ bà mới đến tu chùa.vậy tại sao ta không chọn con đường khó đi nhất nhưng nếu thành công, ta sẽ được giải thoát.tại sao phải tu ở chùa khi phật nằm trong chính bản thân ta rồi chứ có phải Ông phật tượng kia đâu.

  16. Trần Văn Thiên

    Kính thưa quý thầy, trong kinh niệm phật ba la mật Đức Phật có nói nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đủ lòng tin niệm phật trọn 6 thời trong ngày… vậy 6 thời là thế nào?

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Trần Văn Thiên,
      Bạn xem phần giải đáp trích từ tư vấn của quý Thầy trên báo Giác Ngộ như sau nhé.

      “Người Ấn Độ xưa chia thời gian một ngày đêm (24 giờ) thành sáu thời, mỗi thời tương ứng với 4 giờ hiện nay. Sáu thời gồm: Đầu ngày, giữa ngày, cuối ngày (3 thời ban ngày) và đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm (3 thời ban đêm).

      Sáu thời tương ứng với cách tính giờ hiện nay như sau: Đầu ngày (từ 6 giờ đến 10 giờ), giữa ngày (từ 10 giờ đến 14 giờ), cuối ngày (từ 14 giờ đến 18 giờ) và đầu đêm (từ 18 giờ đến 22 giờ), giữa đêm (từ 22 giờ đến 2 giờ), cuối đêm (từ 2 giờ đến 6 giờ).

      Khi Phật giáo truyền qua Trung Hoa (dù người Trung Hoa dùng 12 thời Tí, Sửu,… Tuất, Hợi) nhưng sáu thời (cách tính giờ của Ấn Độ) vẫn được chư Tăng, Ni Trung Hoa sử dụng trong sinh hoạt thiền môn. Thời Đông Tấn, ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn đã chế ra thủy thời kế (dụng cụ đo thời gian bằng nước) chia một ngày đêm thành sáu thời để tu niệm. Đời Đường, ngài Thiện Đạo soạn Lục thời lễ tán (Vãng sanh lễ tán), phương thức đảnh lễ tán dương công đức Phật và Bồ tát trong sáu thời, làm thời khóa tu tập cho các hành giả Tịnh Độ tông.”

      Như vậy, nói theo ngôn ngữ hiện đại, 6 thời là 24 giờ.
      Chúc bạn tinh tấn.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

  17. Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

    GIEO RUỘNG PHƯỚC
    Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

    Chúng tôi được đọc một mẩu chuyện ngắn về sự cúng dường. Chuyện có ý nghĩa rất thâm sâu, xảy ra ở nước Nhật, kể rằng Đại Sư Seisetsu cần kiến thiết thiền đường lớn hơn vì số thiền sinh quá đông. Thương gia Umezu quyết định cúng 500 đồng tiền vàng ryo để xây một nơi tu tập rộng rãi hơn. Sau đây là những gì xảy ra khi Đại sư nhận tiền từ vị thương gia:

    Seisetsu nói: “Được rồi. Tôi sẽ nhận.”

    Umezu biếu túi vàng cho Seisetsu nhưng Umezu không hài lòng thái độ của Seisetsu. Với 3 ryo người ta có thể sống trọn một năm, và ông thương gia không được Seisetsu cảm ơn việc ông tặng 500 đồng vàng này.

    Umezu ám chỉ: “Trong túi đó là 500 ryo.”

    Seisetsu đáp: “Ông đã nói với tôi rồi.”

    Umezu nói: “Mặc dù tôi là thương gia giàu có nhưng 500 ryo là một món tiền lớn.”

    Seisetsu hỏi: “Ông muốn tôi cảm ơn ông?”

    Umezu đáp: “Vâng, phải vậy.”

    Seisetsu hỏi: “Sao lại tôi. Người cho phải cám ơn chứ.” (1)

    Câu chuyện trên cho chúng tôi ý nghĩ rằng người làm việc bố thí, cúng dường không nên tỏ ý ngã mạn vì cứ nghĩ mình là người cho thì người nhận phải biết ơn, phải kính trọng mình, phải săn đón, tiếp đãi mình nồng hậu. Thật sự, suy xét kỹ, nếu không có những nơi, những người cần sự giúp đỡ thì mình đâu có chỗ để cúng dường, bố thí. Tiền, của cải của mình vẫn còn nằm nguyên đó. Lúc chết, tiền của kia đâu có đem đi được, duy chỉ có PHƯỚC sẽ theo ta như hình với bóng. Theo đó, thử hỏi PHƯỚc kia từ đâu mà có? Chắc chắn là từ sự bố thí, cúng dường, làm việc thiện lành, v.v… Còn những người, những nơi nhận tiền, của cúng dường, bố thí của ta là những Ruộng Phước để người đời gieo nhân lành vào đó. Cứ so sánh kết quả đem lại tới “bên cho” và “bên nhận”, chúng ta thấy “bên cho” có nhiều lợi lạc. Tức họ có được Phước. Những ai hiểu được đạo lý này và thực hành đúng thì chẳng những đem lại PHƯỚC BÁO cho mình mà cả cho con cháu về sau nữa. Còn ngược lại, lúc nào cũng cho mình là kẻ ban ơn, rồi khi không được người nhận biểu lộ sự biết ơn thì giận, tức. Vậy là PHƯỚC sẽ bị giảm đi như trường hợp của vị thương gia trong mẩu chuyện ở trên.

    Để giúp mình không vướng mắc vào việc CHO ĐI mà không nhận được sự PHẢN HỒI, hãy luôn nhớ câu “Hạnh phúc nằm ở chữ CHO, chứ không phải chữ ĐÒI.” (Trích từ: “Đừng Tìm Hạnh Phúc”- Tác giả: Khuyết Danh). Xin chuyển thành văn vần như sau:

    “Hạnh phúc là CHO, chẳng phải ĐÒI,”
    Nhận là chân lý, nhớ mãi thôi.
    Cõi lòng nhẹ nhõm, không vướng mắc,
    Khi đã CHO ĐI, chẳng PHẢN HỒI.

    Đó cũng là ý Đức Phật thường khuyên dạy:

    – Thi ân bất cầu báo.
    – Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đáp trả là thi ân có mưu tính.
    – Coi sự thi ân như đôi dép bỏ.

    Vừa rồi là phần trình bày tổng quát. Bây giờ xin đi vào chi tiết hơn. Đạo Phật thường dạy Tâm làm chủ. Nếu ta làm việc lành thiện, với tâm thanh tịnh tức không mong gì và kính trọng đối tượng ta hướng tới, thì Phước báo được hưởng trọn vẹn. Còn làm với tâm cầu danh (2), cầu lợi, và trong đầu có ý coi thường nơi nhận, phước sẽ bị hao tổn. Xin được tóm tắt để nhớ lâu:

    Phàm khi bố thí hoặc hộ trì,
    Chớ để lợi, danh dẫn mình đi,
    Tâm luôn cung kính, lòng thanh tịnh,
    Được vậy, phước lành hưởng trọn y.

    Trước đây lúc chưa hiểu Đạo, chúng tôi cứ nghĩ, tiền cho là tiền mất hẳn. Đó cũng là suy nghĩ của nhiều người. Về sau biết mình hiểu sai nên đã đặt mấy câu văn vần để nhớ:

    Nhiều người lầm tưởng tiền cho đi,
    Là tiền mất trắng, chẳng lợi chi,
    Chính ra tiền ấy gieo ruộng phước,
    Con cháu mai sau hưởng ruộng phì (nhiêu).

    Còn việc bố thí hay cúng dường nhiều hay ít không quan trọng bằng tấm lòng chí thiết và thành kính của mình lúc dâng hiến. Chúng tôi có mấy câu ghi lại sự việc ấy:

    Bố thí ít, nhiều quan trọng chi,
    Lòng thành tâm rộng mới đáng ghi,
    Chỉ hai xu muối tha thiết cúng,
    Hiện đời hưởng quả làm Chánh phi. (3)

    Vậy nên Đức Phật đã dạy: “Người phát tâm rộng lớn bố thí, của chỉ bằng hạt cải mà quả báo như núi Tu Di. Ngược lại, người ôm lòng nhỏ hẹp bố thí, của bằng núi Tu Di, công đức chỉ bằng hạt cải.”:

    Hiến rồi, đòi được cám ơn
    Ấy tâm tính toán thiệt hơn: hẹp lòng,
    Dù cúng trăm lượng vàng ròng,
    So lòng rộng mở, một đồng vẫn hơn.

    Đó là trường hợp của cô gái ăn xin và vị thương gia Umezu.

    Sau đây là phần ghi lại những ý chính vừa trình bày ở trên qua bài văn vần:

    Gieo Ruộng Phước.
    Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

    Khi làm điều thiện cho người,
    Xin chớ ngã mạn, nhớ lời dạy răn:
    Người nhận mới thật ân nhân.
    Người cho là kẻ thọ ân rõ ràng.
    Nếu họ không tỏ thiếu, cần,
    Tiền ta nằm đó, mười phần còn y.
    Lúc chết, tiền chẳng ích gì!
    Chỉ PHƯỚC là bạn sẽ đi theo cùng.
    Hiểu vậy phải gắng khiêm cung,
    Ai cần, ta giúp: vui mừng đúng thôi,
    Nhờ đó PHƯỚC báo vun bồi.
    Ta thọ ơn họ, đúng rồi khắc sâu
    Giúp, phải nhớ Tám ruộng (4) sau:
    Cúng Dường Tam Bảo, Bắc Cầu, Bệnh Nhân,
    Hiếu Dưỡng Cha, Mẹ rất cần,
    Những Nơi Hiểm Trở San Bằng giúp dân,
    Đào Giếng, Giúp Kẻ Khó Khăn,
    Trai Đàn Chẩn Tế siêu thăng cô hồn.
    Mở lòng, ruộng phước gieo luôn,
    Đời ta hạnh phúc, người thường được vui.

    Tại sao cần phải GIEO RUỘNG PHƯỚC?

    Theo quan niệm đạo Phật, hằng ngày chúng ta làm bất cứ hành động gì đều có ảnh hưởng đến PHƯỚC ta có. Làm lành thì tăng PHƯỚC, làm ÁC thì tổn PHƯỚC. Vậy nên, một người thành công hay thất bại cũng từ Phước mà ra. Ví dụ, trong cuộc sống quanh ta, có khi ta thấy một người làm ăn rất phát đạt, được một thời gian thì lụn bại. Sở dĩ có vậy là vì nhờ có phước nhiều, người này mới làm ăn hưng vượng, tức họ đang dùng Phước tồn trữ. Nhưng dùng Phước mà không tạo Phước thêm nên lâu ngày “Ruộng Phước” cạn dần. Có khi vì những nguyên nhân khác làm cho phước TỔN nhiều nên lụn bại càng nhanh. Chẳng hạn khi giàu có, rồi tiêu xài phung phí, chơi game, cá độ, khinh khi kẻ nghèo khó, hống hách, khoe khoang, thất tín, sống keo kiệt, bất hiếu với cha mẹ… Đó là những triệu chứng để tai ương, hoạn nạn đến.

    Phước báo dùng nhiều cũng hết đi,
    Nếu không tạo mới sẽ có khi,
    Tai ương, hoạn nạn dồn dập đến,
    Tiền tài, danh vọng chẳng còn chi !

    Chúng ta chịu khó để ý sẽ thấy những người thành công biết sống khiêm nhường, đạo đức, biết chia sẻ bớt cho đời phần dư dả của mình thì những người này rất khó bị thất bại. Vì những việc làm vừa ghi đang tạo Phước thêm cho họ. Xin mời quí vị đọc thêm bài “Tự Nhủ Về Tu Phước”, “Học Hạnh Khiêm Cung”,v.v… của chúng tôi và sách giới thiệu “Làm Chủ Vận Mệnh” trong website nuiansongtra.com để có thêm kinh nghiệm.

    Cuối cùng, chúng tôi xin nhắc lại lời Phật dạy trong kinh Pháp Cú rồi hằng ngày cố gắng thực hành để Tăng Phước và không Tổn Phước:

    Chớ làm các việc ác.
    Chăm làm các điều lành.
    Giữ tâm ý trong sạch.
    Ấy lời Chư Phật dạy.

    Xin được chuyển ý trên qua mấy câu văn vần cho dễ nhớ:

    Việc Thiện nhỏ chớ bỏ qua.
    Còn việc Ác nhỏ tránh xa đừng làm.
    Luôn giữ trong sạch nơi Tâm.
    Ấy lời Phật dạy, phải chăm thực hành.

    Nếu lỡ trong cuộc sống, có khi làm một điều gì đó quá đáng, ta hối hận vì biết rồi sẽ tổn Phước. Xin đừng lo. Với người có tâm biết hối cải xin làm như sau:

    Lầm lỗi cải đổi làm sao?
    Phải biết hổ thẹn khi nào làm sai.
    Tâm khắc khoải lo nghĩ hoài,
    Chí thành sám hối, tội sai tiêu liền.
    Sám hối là Công đức chớ quên!
    Phải đem hồi hướng về miền Lạc Bang!

    Có trường hợp có người làm sai, thậm chí sai rất nặng, nhưng họ chẳng bao giờ chịu sửa lỗi. Họ nghĩ chẳng ai biết nên cứ tảng lờ. Thật sự không phải vậy đâu. Xin mời đọc:

    Long Thần, Hộ Pháp ở bên ta,
    Lành, dữ ta làm khó giấu qua,
    Phàm khi làm việc gì dù nhỏ,
    Biết là việc ác phải tránh xa.

    Đây là bài viết chúng tôi tự nhắc mình phải:

    – cố tu tập để làm sao cho tâm được AN khi làm điều thiện gieo vào “Ruộng Phước”.
    – và hiểu rõ cách làm điều thiện để đạt được kết quả tốt.

    Nay, xin được phổ biến. Nếu phần trình bày có giúp cho bạn đọc nào làm tốt những điều chúng tôi vừa nêu thì người viết xin đem công đức có được này hồi hướng về cho cha mẹ nhiều đời, oan gia nhiều kiếp và tất cả pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.

    * * *

    Chú thích:

    (1) Đoạn đối thoại ở trên giữa vị Thiền Sư và người thương gia trích từ “ Dâu Trăm Họ.” Tác giả Vĩnh Hảo đăng trong Phật Giáo Đại Chúng. Đây là một mẩu chuyện trong sách “Góp Nhặt Cát Đá”.Tác giả Thiền Sư Muju. Bản dịch của Đỗ Đình Đồng.)

    (2) Cầu danh: khi vừa phát tâm làm việc bố thí, cúng dường thì đã có ý nghĩ mong:

    -Được thấy tên mình trong danh sách cúng dường, bố thí.
    – Được nghe tên mình trên đài phát thanh, truyền hình.
    – Được khắc tên mình trên bia đá v.v…

    Trường hợp ngoại lệ: Có người cúng dường, bố thí với tâm vô tư, nhưng nơi nhận lại muốn ghi tên họ vào những nơi nói trên.

    (3): Chuyện kể tóm lược rằng có một người con gái vì cha mẹ chết sớm, không nơi nương tựa nên phải đi xin ăn. Một lần nọ, cô nghe người ta nói Rằm Tháng Bảy đi Chùa, cúng dường Tam Bảo được phước nhiều lắm. Cô mới nghĩ, mình phải làm điều gì đó tạo phước để thoát khỏi cảnh nghèo khó này. Một hôm, cô xin được hai xu, mà lại có tâm tha thiết muốn cúng dường một thứ gì, làm sao cho toàn thể quí thầy trong chùa đều thọ dụng, nên đã mua 2 xu muối rồi đem đến chùa nhờ nhà bếp giúp. Người nhà bếp nêm muối vào nồi canh. Vậy là tất cả chư tăng đều dùng hết. Làm xong, cô bẵng quên chuyện ấy đi. Rồi một ngày kia, một vị quan trong Triều đi tuần tra, qua chỗ cô nằm trong lều chợ, thấy có vầng mây đỏ tụ bên trên khoảng không chỗ cô nằm, nghĩ đây là dị nhân phước lớn nên lại xem. Vị quan thấy một người con gái xinh đẹp mà phải đi xin ăn nên động lòng thương, đem về nuôi làm dưỡng nữ. Thời gian sau, Thái tử con vua chọn vợ. Đã có không biết bao nhiêu cô gái đẹp khắp nơi trong nước đưa đến cho Thái tử chọn nhưng Thái tử không chịu ai. Cuối cùng, khi gặp cô, Thái tử ưng ý ngay. Rồi Thái tử lên làm vua. Cô làm chánh phi.

    (4) Trích từ vnbet.vn:

    Mặt khác, tám việc làm với tâm ý thiện lành sau đây cũng được gọi là “8 loại Ruộng Phước”

    (4.1): Đào Giếng ở những con đường hẻo lánh xa thành phố, xóm làng, giúp cho người qua lại có nước uống đỡ khát. Đó là Ruộng Phước. (Ghi thêm của người viết: Quanh một số Thánh Tích Phật Giáo chính tại 2 bang Bihar và Uttar Pradesh của Ấn Độ, người dân rất cần giếng khoan để dùng tập thể.)

    (4.2): Bắc Cầu qua mương, rạch. Xây cầu ở bến nước, bờ sông v.v…để giúp người qua lại thuận tiện, đỡ bị tai nạn rớt xuống nước. Đó là Ruộng Phước.

    (4.3) San Bằng Những Nơi Hiểm Trở; Mở rộng những chỗ chật hẹp để tránh nguy hiểm cho người qua lại. Đó là Ruộng Phước.

    (4.4): Kính Phụng Hiếu Dưỡng Cha Mẹ để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục. Đó là Ruộng Phước.

    (4.5) : Cung Kính Cúng Dường Tam Bảo. Đó là Ruộng Phước.

    (4.6) : Thương xót, cung cấp thuốc thang để chữa trị cho người bệnh, an ủi người bệnh, làm cho họ thân tâm được an lạc. Đó là Ruộng Phước.

    (4.7): Thương xót, cung cấp vật thực và những nhu cầu thiết yếu cho kẻ nghèo thiếu. Đó là Ruộng Phước.

    (4.8) :Lập Trai Đàn Chẩn Tế để cứu độ cho tất cả chúng cô hồn, hoạnh tử, nhờ Phật lực mà họ thoát được các cảnh giới đau khổ, sinh vào các cõi lành. Đó là Ruộng Phước./.

    * * *

    • Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

      Đối với Đức Phật, việc BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN là vô cùng quan trọng nên trong Kinh Tăng Nhất A Hàm có ghi lời Phật dạy như sau:

      “Này các thầy Tỳ Kheo! Nếu người nào BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù ở cách xa Ta ngàn dặm nhưng Ta vẫn xem người đó như đứng hầu gần bên Ta. Còn nếu như người nào KHÔNG BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù người đó có đứng hầu gần bên Ta nhưng Ta vẫn xem họ cách xa ngàn dặm”.

      Sau khi đọc lời Đức Phật dạy, chúng tôi viết bài sau đây để biểu lộ lòng biết ơn:

      QUÃNG ĐỜI KHÓ QUÊN
      Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

      Viết thay cho con gởi tặng mẹ: Trần Thị Anh Loan
      Các con đọc để thấm thía nỗi khổ cực của mẹ vào những năm tháng đầu đổi đời.

      Tuổi mẹ mới hơn hai mươi,
      Từ giã đèn sách, theo đời làm dâu.
      Lấy cha qua mối tình đầu,
      Mẹ cha mong có con mau, vui nhà.
      Bốn năm, ba đứa theo ra,
      Rồi thời thế đổi, đưa cha vào tù.
      Đời yên như nước hồ thu, Cuồng phong nổi dậy mịt mù khắp nơi.
      Chỉ mới hăm sáu tuổi đời,
      Mẹ phải bươn chải tức thời, nuôi con.
      Do “tàn cuộc” của không còn,
      Cha dốc hết vốn xây phòng dạy thêm.
      Đúng là “thành sự tại thiên” (1)
      May mẹ còn giữ chút tiền chạy buôn. (2)
      Nhan sắc từ đó héo hon,
      Thân hình gầy rộc, khó lòng nhận ra.
      Bởi do đạp xe đường xa,
      Mua gạo, chuyển gạo đem ra tận đường (3)
      Đón xe, họ không chịu dừng, (4)
      Sợ trễ phiên chợ, còng lưng đạp về. (5)
      Tới nơi mỏi mệt ê chề,
      Vội mau bán gấp, còn về, con mong, (6)
      Người mua be bợ lúc đong. (7)
      Chỉ cầu đủ vốn đừng hòng lời ra.
      Rồi lại, còn phải thăm cha
      Trong trại cải tạo nơi xa ôm đùm.
      Nhiều khi lội suối, qua rừng,
      Thấy dấu chân cọp rõ từng bước đi.
      Thầm nghĩ, lỡ gặp điều gì,
      Ai nuôi con nhỏ, chồng thì tù xa.
      Gia đình chỉ còn mẹ già,
      Làm sao cáng đáng việc nhà cho xong.
      Cũng may, rồi cũng hanh thông,
      Giờ xin nối tiếp đôi dòng nuôi con.
      Ba đứa tuổi còn rất non, (8)
      Gạo không đủ nấu, ăn còn thèm ăn.
      Nên chi quên để dành phần,
      Mẹ ngồi ăn cháy, hai hàng lệ rơi.
      Thấy con tuổi ăn, tuổi chơi,
      Mà nay quá khổ, mẹ tôi thẫn người.
      Thiếu ăn, bị bệnh không ngơi.
      Hết sốt xuất huyết,… trở trời suyễn lên. (9)
      Lắm đêm nhấp nhổm không yên,
      Chong đèn róc mía thêm tiền nuôi con. (10)
      Đã hết đâu, chuyện hãy còn,
      Chuẩn bị các thứ đồ đoàn thăm nuôi.
      Khổ nhất, rang lớ phải ngồi
      Bên cạnh bếp lửa một hồi bỏng tay. (11)
      Thêm khói vào mắt, xé cay.
      Xong nửa bao lớ mặt mày bừng ran. (12)
      Tuy khổ, lòng thấy rất an,
      Giúp chồng đỡ đói hàng ngàn canh thâu. (13)
      Ai thấu cảnh cực này đâu!
      So cực của mẹ làm sao bì bằng !
      Anh cha, mẹ cũng đi thăm (14)
      Vì bác chưa vợ, bỏ ngang sao đành !
      Năm năm xuôi ngược, tảo tần, (15)
      Nuôi chồng, con dại: ấy phần ân sâu.
      Chuyện còn nhiều,… kể hết đâu!
      Bao la lòng mẹ như bầu trời cao!
      Mong mẹ khỏe mạnh, sống lâu,
      Để được đền đáp phần nào công lao.
      Tóc mẹ nay đã ngả màu,
      Mừng bên con cháu cùng nhau sum vầy.
      Thật khó nói hết ra đây,
      Chuyện khổ đời mẹ còn dài triền miên (16)
      Nay chỉ nhắc nhở nhau nên:
      Học theo gương mẹ, sống quên thân mình. (17)
      Khổ cực mấy, vẫn ngậm thinh,
      Chồng con no đủ là mình vui thôi.
      Xin gởi mẹ bấy nhiêu lời,
      Để nhớ kỷ niệm Quãng Đời Khó Quên. (18)./.

      * * *

      Chú thích:

      (1): “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”: Nghĩa là: Sắp đặt việc do người, nên việc do trời.

      Cha xây phòng dạy thêm, trong đầu tính toán nhiều thứ, sao giống hệt như chuyện “Cô bé bán sữa”, truyện ngụ ngôn của La Fontaine vậy. Cô bé tính: bán sữa xong mua 100 trứng gà. Sau đó có bầy gà. Đem bán bầy gà mua heo. Bán heo mua bò. Bò sinh một bầy bê. Vui mừng quá cô nhảy tung tăng. Bình sữa rớt vỡ tan tành.

      (2): “chạy buôn”: Xin mời đọc đoạn này và một đoạn dài sau nữa, cha viết nói về cảnh cực khổ của mẹ sau khi cha đi cải tạo. Cha đã đưa toàn bộ cảnh khổ ấy vào truyện ngắn “Hoa Quỳnh Nở Muộn” (đăng trong website “nuiansongtra.com”) cho bài viết thêm hấp dẫn. Hai nhân vật chính trong truyện không phải là cha và mẹ:

      “Trước đây, cả gia đình sống nhờ vào đồng lương. Nay không biết lấy đâu ra một số thu nhập như đã có, để chi dùng. Trong khi ấy, chồng phải đi học tập, con cái còn nhỏ dại, không làm thì lấy gì ăn. “Bụng đói, đầu gối phải bò”. Mẹ nghĩ duy nhất có một con đường là ra chợ tìm cách mua bán. Chỉ có cách ấy mới mong chóng có gạo đem về nuôi sống gia đình hằng ngày. Buôn thì buôn gì đây? Mẹ đi dạo xem đây đó, thấy hàng gì bán chạy, liền đi mua về bán. Lúc đầu mới đổi đời, hàng xe đạp bán chạy lắm. Mẹ vào các tiệm lớn mua dăm cái vỏ xe, ruột xe hoặc các đồ phụ tùng, ra ngồi dọc lề đường bán. Về sau, mặt hàng này không còn kiếm ăn được nữa. Mẹ phải chuyển qua mua bán thứ khác như đạp xe lên chợ huyện mua gà, vịt hay mít, ổi, thơm, xoài…đem về chợ thị xã bán cũng kiếm được chút ít lời.”

      (3): Vào Mộ Đức, cách thị xã khoảng 20 cây số, mua gạo hơn 20 kg, ở các máy xay gạo, cách Quốc lộ chừng một cây số, đem về chợ trong Cống Kiểu bán. (các địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi).

      (4): Thời kỳ chưa sắm nổi xe đạp, mẹ mua gạo từ máy xay, phải vác ra tới đường Quốc lộ và đón là có xe ngay. Bây giờ có xe đạp, đón xe họ không dừng, có thể vì xe đầy khách, mà cũng có thể vì chiếc xe đạp mẹ đem theo cồng kềnh, họ chịu chở, phải ràng cột, mất thời giờ. Vậy là, mẹ phải đạp xe đi, vừa thở hồng hộc, vừa nghĩ : “ không có xe đạp đã khổ, mà có xe đạp cũng khổ”.

      (5): Sau xe là bao gạo hơn 20kg nên phải còng lưng đạp cho kịp phiên chợ. Về tối sẽ không có người mua hoặc có người mua sẽ bị dìm giá.

      (6): Mẹ về tối, ba đứa con ra ngõ đứng chờ. Hôm nào về tới chợ trễ là ruột mẹ cồn cào, mong bán cho nhanh để về với con.

      (7): Hồi đó, người dân Quảng Ngãi mua bán gạo ngoài chợ đều dùng lon sữa bò để đong. Gạo không phải chỉ ở trong lon mà còn dính ở bàn tay, cánh tay vẫn thuộc về người mua. Đong xong, vì người mua be bợ quá nhiều, người bán thấy không có lời thì từ chối. Còn kẹt lắm mới phải bán đổ bán tháo cho họ.

      (8): Vào thời điểm này, đứa nhỏ nhất khoảng 3 tuổi. Đứa lớn nhất 6 tuổi.

      (9): “trở trời suyễn lên”: Con đau suyễn cả ba đứa. Nghe họ bày cho chúng ăn thịt cắc kè bay sẽ hết suyễn, vậy là mẹ đăt mua cắc kè bay sống về làm thịt. Làm mà run. Vì con nên mẹ đã phải sát sanh rất nhiều. Nay mẹ đau khắp mình, có lẽ bị quả báo.

      (10): Con đau, lo lắng, ngủ không được, mẹ thức dậy đốt đèn dầu hỏa, róc mía thuê kiếm thêm tiền nuôi con và chồng ở trại cải tạo. Không dùng đèn điện vào việc này, sợ trả tiền nhiều. Xin được ghi thêm giai đọan lấy mía về nhà: đặt một bó mía đủ nặng để một người đàn ông có thể vác được, chừng 30 tới 40 cây, một đầu lên trên ghi đông xe đạp, đầu còn lại để trên yên xe, đẩy từ nhà chủ xe nước mía về tới nhà khoảng 2 cây số. Róc mía bằng dao nên chậm. Róc xong lại dùng xe đạp đưa bó mía đã róc tới nhà chủ. Chủ vừa ý mới được nhận tiền. Cứ vậy mà tiếp tục. Công việc rất vất vả! Thật đúng là “Bói rẻ hơn ngồi không.”

      (11): Củi đắt, mẹ phải dùng lá cây khô ngoài vườn để rang lớ. Lá khô, gặp lửa là cháy bùng lên.

      (12): nửa bao lớ: nửa bao lọai đựng cát thường dùng trước năm 1975.

      (13): Ăn thiếu, lao động nhiều, đêm tới là thấy đói rồi. Lớ là phương thuốc trị đói tuyệt vời, nhất là vào những đêm đông giá buốt ở vùng Tây nguyên.

      Tùy theo người làm, lớ có thể làm từ bắp, gạo, các loại đậu (xanh, đen), v.v… Tất cả phải được rang chín, rồi đưa tới máy xay, xay nhuyễn như bột. Xong đem trộn với đường. Đói, xúc một hoặc hai muỗng bỏ vào miệng, uống ngụm nước là có thể ru giấc ngủ dễ dàng qua đêm.

      (14): Anh cha: là anh ruột của cha. Thời gian đầu bác ở khác trại, trại Sơn Nham, trại nổi tiếng là rừng thiêng nước độc.

      (15): 5 năm: Chỉ thời gian cha ở trại cải tạo.

      (16): “Chuyện khổ đời mẹ còn dài triền miên”: Xin mời đọc đoạn này là phần tiếp của chú thích (2).

      “Trong thời gian đi buôn, mẹ thật khó quên những ngày buôn gạo. Lúc này chưa có tiền sắm nổi chiếc xe đạp, thành thử đi xa gần gì cũng phải lội bộ. Mỗi buổi sáng, từ chín giờ đã phải ăn cơm trưa để đi bộ đến bến xe lam, mất khoảng một giờ. Rồi đi vào Mộ Đức, tới các máy xay gạo, mua gạo. Mua được khoảng vài chục kí, phải vội vã vác ra đường quốc lộ, chờ đón xe lam hoặc xe khách ra chợ trong Cống Kiểu bán. Đây là lúc thật hồi hộp. Hôm nào người mua đong ít be bợ thì bữa đó đem gạo về được khá. Còn chẳng may gặp kẻ thiếu tình người, họ đong sao mà gạo dính tới tận khuỷu tay. Những hôm như thế, đi suốt một ngày vô cùng vất vả, chỉ đem về có hai lon gạo. Ôi, bây giờ có giấy bút nào đủ để mô tả lại hết những cảnh chạy đôn, chạy đáo, những sự bươn chải, lặn lội mua bán vô cùng khổ cực của những người vợ như mẹ.

      Mẹ biết có nhiều người rất giỏi giang, xốc vác, đã từng chịu khổ trước kia. Chừng khi đổi đời, họ cũng rất khó khăn mới làm đủ nuôi gia đình. Huống chi như mẹ, đã từng “lên voi” rồi “xuống chó” một cách quá đột ngột, làm sao có khả năng kham, nuôi sống đầy đủ cho cả nhà. Vậy nên, ở nhà lắm khi gạo không có ăn, phải chạy vay mượn từng vài lon. Có lúc, chỉ còn chút ít gạo, bận không đi mượn được, phải ghế củ thật nhiều để ăn cho đủ bữa. Đứa lớn nhất cố gắng moi tìm lấy cơm không cho em, nhưng thấy toàn một màu đen của củ, chứ chẳng thấy cơm đâu. Những đứa nhỏ, tuổi đang lớn, ăn như tằm ăn lên. Sợ cơm không đủ con ăn, lúc nào mẹ cũng phải nhường cho chúng ăn trước. Đứa lớn, tuổi mới độ lên sáu, ra vẻ như người lớn, dặn các em ăn, nhớ để phần cho mẹ. Nhưng chúng còn nhỏ quá, có biết gì đâu, cứ ăn cho no bụng mới thôi. Chừng chúng xong bữa rồi, mẹ trông vào nồi, chỉ thấy trơ những về cơm cháy dưới đáy. Mẹ ăn mà nước mắt lưng tròng, lòng vừa cảm động, vừa tủi thân. Cảm động vì thấy cơm chỉ toàn củ mà các con tuổi tuy còn rất nhỏ, dường như hiểu được nỗi khổ của mẹ, mẹ đã tận lực rồi và chỉ có thế, nên chúng cũng vui vẻ chịu ăn, chứ không chê. Tủi thân vì nghĩ mình không được như một số người, có tiền dư của để. Khi “tan hàng”, chỉ vỏn vẹn có hai bàn tay trắng nên con cái phải chịu khổ cực đến mức này.

      Ăn uống kham khổ, thiếu thốn như vậy làm sao có đủ sữa cho con bú. Đêm, con đói sữa đòi bú, mẹ vạch vú ra, vú teo như vú bà già, mặc dầu lúc ấy tuổi đời mới độ hai mươi lăm. Con nhây mãi, rát cả đầu vú mẹ mà chẳng ra chút sữa nào. Con nhả vú, úp mặt vào vú mẹ, khóc thét lên. Mẹ ôm chặt con vào lòng, nức nở khóc theo. Những lần như thế, trước đây, để dỗ con, mẹ thường khuấy bột bích chi cho con ăn. Nay bột đã hết mấy ngày mà chưa mua được vì không tiền. Mẹ phải xuống bếp, nghiêng thùng đựng gạo, vét lấy một nắm, bỏ nấu, lấy ít nước cháo cho con uống. Đứa bé lúc ấy mới độ bảy tháng tuổi. Ở vào tuổi này, những anh, chị nó, hết sữa guigoz đến babilac còn èo uột không chịu uống. Bây giờ chỉ một tí cháo khuấy nhuyễn cùng một chút muối, nó đã uống ngon lành và thiêm thiếp nép vào người mẹ ngủ liền ngay. Mẹ thấy con dễ chịu quá mà thương, rồi xúc động khóc nữa.

      Lo đủ ăn cho gia đình đã là khó. Còn nỗi lo khó hơn là có khi một tháng, có khi hai tháng phải đi thăm nuôi chồng. Tất cả đồ thăm nuôi phải mua để dành từ từ, chứ có tiền đâu mua một lúc. Đường phải mua từng ký, lựa loại còn mật cho rẻ, rồi đem phơi khô để cất cho khỏi chảy nước. Các con nhỏ thấy mẹ phơi đường, mắt nhìn hau háu, thèm ăn lắm, nhưng sợ mẹ rầy la nên vội lẻn đi chơi. Chồng cần lớ phải mua gạo, bắp, đậu…về rang. Củi đắt không dám dùng nhiều, phải lấy lá cây khô trong vườn, bỏ dặm vào để rang cho đỡ tốn. Lửa gặp lá khô cứ cháy bùng lên. Khi rang xong đủ một nửa bao cát lớ cho chồng thì cánh tay và mặt rát bỏng lên, cũng phải ráng chịu. Sống trong cảnh thiếu thốn triền miên như thế trong nhiều năm, vậy mà khi đi thăm nuôi chồng, lúc nào cũng ráng lo cho đủ những thứ chồng cần. Lớ, đường, bánh tráng, chà bông, thịt kho sả là những thứ chủ yếu. Thỉnh thoảng có kí sữa bột, đáng lẽ để dành lại cho con, nhưng vì thương chồng, sợ chồng ăn uống thiếu thốn, cần bồi bổ thêm cho khỏi đau ốm, cũng đem lên cho chồng. Nếu so sánh nỗi khổ của hai bên: chồng trong trại tù có nỗi khổ thiếu ăn, lao động vất vả, mất tự do và nhớ nhà. Còn những người vợ như mẹ còn phải chịu biết bao nhiêu là thứ khổ.

      Chẳng hạn như cảnh đi thăm nuôi. “Đến hẹn lại lên”. Tới kỳ phải đi thăm, sợ chồng trông chờ tội nghiệp. Nào các địa danh như Vực Liêm, Hành Tín, Sơn Nham, Gia Trung không nơi nào là không có bàn chân của mẹ đặt đến. Đi thăm nuôi, cực nhất là vào mùa đông giá rét.

      Nơi thăm nuôi vất vả và nguy hiểm nhất phải kể là Sơn Nham. Lắm khi mẹ phải thuê xe Honda thồ, khởi hành từ quá nửa đêm. Trời tháng chín, tháng mười, mưa cứ tầm tã đổ. Thêm vào, gió mùa đông bắc thổi về, lạnh như cắt ruột. Có lần đi đến trên Núi Tròn, mưa và gió dữ quá. Bao nylon bọc quanh đồ thăm nuôi đã đủ nhiều nhưng vẫn sợ nước thấm hết vào đồ ăn, thật uổng công một chuyến đi thăm. Vậy là, mẹ đã phải lấy áo mưa mặc trong mình, che đồ đem đi thăm cho khỏi ướt. Mưa suốt liền cả mấy tiếng đồng hồ, thấm ướt, rét run cũng phải đành ráng chịu. Phải nói sức chịu đựng của cơ thể lúc ấy, sao mạnh quá.

      Rồi đến đoạn qua sông Sơn Hà. Vào mùa nắng ráo, nước chỉ tới mắt cá chân. Nhưng tới mùa mưa, nước có khi lên đến quá đầu gối. Nước từ trên nguồn chảy xuống rất xiết vẫn cũng phải cố lội qua sông. Các bà đi thăm nuôi, một tay cầm tay nhau, còn tay kia giữ đồ thăm nuôi trên đầu. Chỉ lỡ sơ xuất trợt chân là có thể bị ngã xuống nước, đồ bị cuốn trôi đi mất.

      Đi qua sông chỉ nguy hiểm vào mùa mưa thôi, chứ còn nạn đi qua cầu khỉ thì phải phập phồng cả bốn mùa. Cầu làm bằng những thân tre già, bắc ngang vắt vẻo qua một khúc suối, dài chừng khoảng mươi thước. Đàn bà như mẹ có bao giờ đi qua những chiếc cầu như thế đâu. Mẹ lại yếu thần kinh, không khi nào dám đứng trên cao nhìn xuống, nhưng nay đành phải đi qua chiếc cầu khỉ khẳng khiu này. Đã vậy, còn phải mang trong tay một số đồ thăm nuôi nữa. Đi thì phải cố nhìn thẳng về phía trước, không dám nhìn xuống, lỡ thấy khoảng sâu hoắm dưới kia, chóng mặt, sẽ ngã xuống mất.

      Còn điều này cũng làm lạnh xương sống không kém. Mẹ phải đi bộ từ bờ sông vào đến trại khoảng chừng ba, bốn cây số đường rừng. Đường đi khúc khuỷu, gập ghềnh, đầy những đá lởm chởm, hai bên cây cối um tùm. Đi mà cứ ngay ngáy lo, cọp hoặc thú rừng khác bất thần tấn công. Những đợt như vậy, khi về đến nhà mới biết là mình được bình yên. Đôi khi nghĩ dại, lỡ có điều nào xấu xảy ra, rồi bà nội, chồng mình, con mình sẽ ra sao ?!

      Chưa hết đâu. Đó chỉ là nỗi khổ về thể xác, một hai tháng mới có một lần. Còn nỗi khổ khác làm cho tinh thần mẹ phải bạc nhược, mất ăn, mất ngủ và xảy ra thường xuyên hơn. Đó là nỗi lo lắng mỗi khi con cái bệnh nặng. Vì ăn uống thiếu thốn, gần như tuần nào, ba đứa con cũng có một đứa đau. Nhiều hôm phải thức trắng đêm vì chúng, như lúc chúng đau, gặp dịch sốt xuất huyết lan tràn. Có khi thấy triệu chứng bất thường, biết ở nhà không lo được, dù đã quá nửa đêm và ngoài trời mưa phùn, gió rét căm căm, mẹ cũng phải trùm chăn kín người cho con, rồi bế chạy thẳng tới nhà y tá. Bình thường mẹ rất sợ bóng đêm, giờ vì thương con, đã dám băng mình đi trong đêm tối đen như mực mà không chút sợ hãi.

      Sau này, lắm khi ngồi hồi tưởng lại chuyện đã qua, mẹ cảm thấy rùng mình và tự hỏi làm thế nào mẹ có thể chịu nổi những cảnh như vậy trong nhiều năm.”

      (17): “sống quên thân mình” : người biết sống vì người khác, trước là hưởng được nhiều niềm vui; sau là tạo được phước. Còn người:
      Chỉ biết sống cho mình thôi,
      Với thân thuộc, mình thừa rồi còn chi !

      (18): Quãng đời khó quên: từ sau 1975 tới khi cha ra trại cải tạo.

      Nguồn:Trích từ tập thơ và truyện ngắn tựa đề “Sống Đạo Vui Đời”, chưa xuất bản, gồm nhiều bài thơ tu tập những điều Phật dạy và những truyện ngắn ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống.

      * * *

  18. NMADDP

    Nhạc Kinh Chú Tiếng Hoa
    Ca Sĩ: Kiều An Vũ 喬安舞

    地藏菩薩本願經 見聞利益品
    Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
    Phẩm Thứ Mười Hai: Thấy Nghe Ðược Lợi Ích
    https://www.youtube.com/watch?v=lY1QwTc9TnU

    般若波羅密多心經 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
    https://www.youtube.com/watch?v=GnDjIX5ZPpI

    彌陀心 Di Đà Tâm
    https://www.youtube.com/watch?v=Z7zOADSJR9Q

    六字大明咒 – Om Mani Padme Hum – Án Ma Ni Bát Di Hồng
    https://www.youtube.com/watch?v=ktiAxTROMW8

    開經偈 Khai Kinh Kệ
    https://www.youtube.com/watch?v=EqKG8lINEEs

    三皈依 Tam Quy Y
    https://www.youtube.com/watch?v=ldGczDKJdWE

    Những bản nhạc Kinh Phật khác do ca sĩ Kiều An Vũ 喬安舞 hát
    https://www.youtube.com/user/goodmcgoodmc/videos

    Nam Mô A Di Đà Phật
    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
    Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

  19. Niệm Phật

    Nam mô A Di Đà Phât.
    Trong kinh A di đà :
    ”NHƠN HẠNH VÃNG SANH
    Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.
    Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn.
    Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó.
    Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. [13]
    Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.
    Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.”
    Nếu như có người lòng tin không vững , hoặc không có lòng tin , mà vẫn hành pháp này , một lòng hướng về Phật , mong vãng sanh Cực Lạc.
    Cho phép con hỏi , người như vầy có thể thành tựu không ạ ? . Và đây có phải là một pháp mà Phật mở ra để cứu vớt những người,tuy không có lòng tin , thiếu thiện căn nhưng một lòng kính Phật , hướng Phật ?
    Mong quý thiện tri thức hoan hỉ phúc đáp.
    Nam mô A Di Đà Phật.

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      A Di Đà Phật
      Bạn nói chi tiết hơn đi thì người khác sẽ dễ trả lời hơn:
      Bạn nói không tin là không tin điều gì,pháp môn này có nhiều điều khiến người ta không tin,vì vậy bạn không tin điều gì thì phải nói cụ thể ra
      -Tại sao bạn nói mình hướng Phật,kính Phật ,nguyện sanh Cực Lạc và hành pháp này.Những điều bạn nói thì thường người ta phải có lòng tin người ta mới làm.Tại sao bạn bạn làm hết những điều đó rồi mà bạn lại ko tin,điều không tin ấy là gì,bạn phải nói rõ ra.
      A Di Đà Phật

    • Hữu Đại

      PHẨM BỐN MƯƠI – BIÊN ĐỊA, NGHI THÀNH
      Đức Phật bảo ngài Từ Thị: “Nếu có chúng sanh do tâm nghi hoặc làm các công đức, nguyện sanh về Cực Lạc, không rõ Phật trí, bất tư nghì trí bất khả xứng trí, Đại thừa quảng trí, Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, đối với các trí này nghi ngờ không tin, nhưng vì tin tội phước mà tu tập hạnh lành, nguyện sanh về Cực Lạc.
      Lại có chúng sanh chứa nhóm thiện căn, mong cầu Phật trí, phổ biến trí, vô đẳng trí, oai đức quảng đại bất tư nghì trí, đối với căn lành không sanh lòng tin, ý chí còn do dự đối với sự vãng sanh cõi Phật thanh tịnh, không có tinh chuyên, nhưng vì liên tục nhớ nghĩ không thôi kết thành thiện nguyện cũng được vãng sanh.
      Do những nhân duyên đó, những hạng người này tuy được sanh về Cực Lạc, nhưng không thể đến thẳng cõi Đức Phật Vô Lượng Thọ được, chỉ đến biên giới cõi Phật, ở trong thành thất bảo thôi. Không phải Đức Phật muốn như vậy, mà vì chính họ tạo nên tâm đến đó vậy. Ở đó cũng có ao sen thất bảo, tự nhiên thọ thân, ăn uống sung sướng như cõi trời Đao Lợi, nhưng ở trong thành đó không thể ra khỏi, nhà ở trên đất, không thể tùy ý cao lớn.
      Ở đó năm trăm năm không thấy Phật, không nghe được pháp, không thấy Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn, trí huệ không sáng suốt, biết kinh pháp lại ít, tâm không mở mang, ý không vui vẻ, nên ở đó gọi là thai sanh.
      Nếu có chúng sanh tin rõ Phật trí, cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, gieo các thiện căn làm các công đức, chí tâm hồi hướng, nên được hóa sanh ngồi kiết già trong hoa thất bảo, khoảnh khắc được thân tướng quang minh, công đức trí huệ thành tựu đầy đủ như các bậc Bồ Tát vậy.
      Di Lặc Bồ Tát phải biết, hạng hóa sanh đó có trí huệ thù thắng. Hạng thai sanh kia trong năm trăm năm không thấy Tam bảo, không biết phép tắc của Bồ Tát, không được tu tập công đức, không có nhân duyên cúng dường Phật Vô Lượng Thọ, phải biết hạng người này do đời trước không có trí tuệ, sanh tâm nghi hoặc mà ra.
      (Trích Kinh Vô Lượng Thọ)
      Nam mô A Di Đà Phật

  20. Niệm Phật

    Con không tin là không tin cõi Cực Lạc có thật. Mặc dù con đã đọc các gương vãng sanh và các tác phẩm khuyến tín , và cũng rất muốn tin , nhưng như có cái gì đó cản lại khiến con không tin được.Con cũng rất buồn, sợ sẽ bỏ lỡ pháp môn vi diệu này , không biết bao giờ mới gặp lại.
    Con còn nghe niệm phật có thể hết nghi.
    Thật như vậy đúng không ạ.
    Kính mong quý thiện tri thức hoan hỉ giải đáp.
    Nam mô A Di Đà Phật.

    • Thiện Nhân

      A Di Đà Phật

      Gửi bạn Niệm Phật,

      Bạn không tin cõi Cực Lạc có thật là rất đúng, bởi ngay cả các vị Bồ tát sơ phát tâm cũng không tin cõi đó. Nguyên do vì sao? Bạn hãy lắng tâm, nghe thật kỹ câu Phật dặn Ngài Xá Lợi Phất trong Kinh A Di Đà: “Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của ta và của các đức Phật nói”. Lời “của Ta” là lời của Bổn Sư và lời của các đức Phật nói tức lời của 10 phương, 3 đời chư Phật.

      Bổn sư và các đức Phật mười phương nói gì vậy?

      *Lời đầu tiên các ngài nói với chúng sanh là phải thấu nhân, hiểu quả. Nhân quả 3 báo ứng ba đời không sai lệch. Nếu chúng sanh không tin nhân quả thì chẳng cứ pháp niệm Phật, cho dù là pháp đích thân Phật khai thị, chúng sanh đó vẫn mê mờ đoạ lạc như thường.
      *Kế đó là thân người khó được, Phật pháp khó gặp, khó nghe.
      *Kế nữa là sanh tử vô thường chỉ trong hơi thở. Một hơi thở ra không kịp hít vào là mạng sống chấm dứt.
      *Kế nữa là chúng sanh 6 cõi luân hồi luôn gắn liền với 8 nỗi khổ: sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội và ngũ ấm xí thạnh khổ.
      *Kế nữa là đoạn hết thảy việc ác, tu hết thảy việc thiện, nguyện giữ tâm thanh tịnh.
      *Kế đến mới là: phát bồ đề tâm=tín-nguyện-hạnh; nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật=một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu; nguyện sanh Tịnh Độ.

      Những lời dạy này bạn đã lý giải, đã hiểu thấu chọn chưa? Nếu chưa mà bạn đã vội ngồi niệm Phật, hoặc niệm luôn cả 6 thời, 6 oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ, niệm tới mưa chẳng thể dính thân, bạn cũng vẫn đoạ lạc trong tam ác đạo. Lý do đoạ lạc bạn có thể lý giải cùng các bạn Sen không?

      Do vậy TN thành thật khuyên các bạn: Chớ nên phát khởi tin vào bất cứ một pháp môn nào, cho dù pháp đó là do Phật nói, nếu các bạn không biết lý do, nói khác đi là nhân duyên mà Phật thuyết giảng. Lý do Phật nói về Tịnh Độ là gì? Tại sao Phật phải nói về Tịnh Độ? Muốn về Tịnh Độ phải làm gì? Nói khác đi là hành trang nào để giúp chúng ta có thể về tịnh độ?
      Tất cả những điều này chúng ta đừng quên đặt ra cho mình trước khi bước vào thực hành pháp niệm Phật.

      TN

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Niệm Phật,
      PH hiểu là bạn không muốn bỏ qua cơ hội vãng sanh, nhưng lại nghi ngờ cõi Cực Lạc không có thật. PH xin chia sẻ với bạn như sau.

      – Bạn hãy thành tâm cầu Tam Bảo gia hộ cho mình dẹp trừ đi lòng nghi này. Ngày xưa có vị Tăng, tu Tịnh Độ nhưng nghi ngờ nguyện lực tiếp dẫn của đức Phật A Di Đà. Vị này một mặt vẫn niệm Phật, một mặt cầu Tam Bảo gia hộ phá nghi. Ngày kia, trong lúc đang xây chùa, thấy cây xà ngang (PH nhớ không chính xác, tạm cho là cây xà ngang) mà người thợ gác lên, bỗng dưng khởi niềm tin. Vị đó tự nghĩ đại khái ý như “chỉ là một người thợ, cũng đã có sự tính toán tỉ mỉ mới làm được việc gác cây xà vừa vặn, khớp như vậy. Huống hồ gì với trí tuệ của một vị Phật, thì việc tiếp dẫn có khó gì”. Nên vị ấy đã không nghi mà tin sâu và được vãng sanh.

      – Bạn nghi điểm nào thì phá điểm đó. Ví dụ, bạn không tin là cõi Cực Lạc có thật là vì tự mình không thấy được nên không tin. Phá nghi: trong nước và không khí vốn có vô số vi khuẩn, sinh vật rất nhỏ và ta không thể nào thấy được. Nếu không nhờ kính hiển vi thì ta mãi mãi không thể biết là có chúng. Như vậy, chỉ trông cậy vào mắt thường như hiện giờ (phải thấy) mới tin là không đúng rồi.

      – Gắng đọc, nghe thường xuyên các kinh về Tịnh Độ. Chuyện kể ngày xưa mẹ Mạnh tử nghe người ta nói con mình giết người, hai lần đầu thì bà không tin vì bà biết con bà như thế nào, nhưng đến lần thứ ba thì bà bị hoảng, bắt đầu tin. Qua câu chuyện đó, cho thấy niềm tin là thay đổi được. Bạn cần xây dựng, đắp bồi nó bằng những chất liệu thích hợp (kinh, sách Tịnh Độ). Song song đó, tuyệt đối không được đọc, nghe các bài giảng bác bỏ Tịnh Độ.
      Mong bạn sẽ phá được nỗi nghi này.
      Chúc bạn tinh tấn.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Mỹ Diệp

      A Di Đà Phật

      Dù pháp môn niệm Phật là pháp khó tin, song đã có hằng hà sa số chúng sanh được sinh về cõi Tây Phương, lại cũng có vô số chúng sanh không niệm Phật, không tin Phật pháp- đây đều là do nhân duyên (cái duyên bị chi phối bởi nhân quả). Chắc hẳn trong tiền kiếp bạn đã gieo nhân xấu, khiến người khác sanh tâm thối thất hoặc là cản trở họ trong con đường niệm Phật tu hành, nên kiếp này bạn đang nhận quả.

      Chúng sanh cầu giải thoát là rất hợp với bản ý chung của chư Phật. Do vậy trong các thời khóa bạn nên thành tâm sám hối hết thảy các ác nghiệp đã tạo, một lòng cầu Phật gia bị cho tín- nguyện được kiên cố, vững chắc; tất bạn nhận được sự gia trì của Phật.

      Tu hành không khó, giải thoát mới khó. Nếu không khó ức người tu, ức người chứng quả, sao Phật- Bồ Tát phải nhọc nhằn phân thân khắp mọi nơi để độ chúng sanh? Thời gian không còn dài nhưng cũng đủ để hành giả chúng ta niệm 10 câu A Di Đà Phật, điều tối quan trọng là có giác ngộ thật sự hay ko?

      Nam Mô A Di Đà Phật

  21. Niệm Phật

    Cho con hỏi : Nếu chỉ niệm phật và thầm cầu phật a di đà gia hộ thì có được sanh tín tâm không ạ .
    Xin được giải đáp

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      Nam Mô A Di Đà Phật

      Pháp môn này khó nghĩ khó bàn,trường hợp bạn nói mình cũng ko khẳng định là có hay không,chỉ chia sẻ như thế này
      Tín và hạnh niệm Phật liên quan tới nhau.Hạnh phải từ tín lưu xuất ra thì hạnh ấy mới quay trở lại vun đầy tín.Hạnh là hạnh của tín,không phải là hạnh của cái khác,hai cái nương nhau để dẫn phát giống như gương càng mài càng sáng.
      Ngay như Phật đầu tiên cũng phải lập nguyện,rồi từ nguyện khởi hạnh tu bồ tát để tương ứng với nguyện.Và khi hạnh viên mãn thì nguyện cũng thành tựu.Hạnh xong nguyện thành gọi là công đức thành tựu.Nếu hạnh không phải là của nguyện thì liên quan gì tới nhau,nó ko vun đầy cho nguyện được,khi ấy hạnh có xong mà nguyện cũng ko thành
      Nên nếu bạn ko tin,rồi từ ko tin ấy khởi hạnh niệm Phật thì dường như gốc ngọn trái nghịch nhau,thật là khó.Thật ra mình nghĩ ít nhiều bạn cũng có tin,vì bạn lo sợ bỏ lỡ mất pháp môn này.
      Cho nên phương án tốt là hãy tin mà niệm Phật,niệm Phật rồi thì lại càng vun đầy niềm tin,tin rồi thì lại tiếp tục niệm Phật,cứ thế dẫn phát cho nhau.
      Bạn nói ko tin cõi cực lạc có thật,bạn có thể nói từ 1 lý do trở nên khiến bạn ko tin ko,bạn càng nói cụ thể càng tốt,vì như thế các liên hữu ở đây mới dễ trả lời cho bạn

      A Di Đà Phật

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn Niệm Phật,

      *Tín tâm phải tự mình phát khởi, chẳng thể nhờ người khác giúp mình được. Phật A Di Đà chính là tự tánh, là pháp thân của chính bạn, nếu ngay cả tự tánh, pháp thân của chính mình mà bạn còn không tin, không muốn nương nơi chính mình thì ai có thể giúp bạn?

      *Trên ĐVCT đã có khá nhiều chia sẻ về tín-nguyện-hạnh rồi, nếu bạn tịnh tâm tư duy một chút thôi bạn sẽ hiểu: tu bất cứ pháp môn nào nếu thiếu niềm tin vững chắc, hoặc bạn sẽ thối thâm, hoặc sẽ sanh tà kiến, hoặc chỉ là pháp kết duyên.

      *Muốn biết Tịnh Độ là thật hay giả chúng ta phải hiểu tịnh độ là gì? Muốn biết A Di Đà là thật hay giả, chúng ta phải biết A Di Đà là gì? Kế đó mới có thể phát khởi niềm tin để tu học. Do vậy pháp của Phật giống như người ăn cơm, uống nước vậy, phải tự ăn, tự uống thì mới biết no, biết hết khát, nói khác đi là mới có thực chứng. Còn nếu chúng ta cứ mải mê chạy lòng vòng ngắm chỗ nọ, thăm viếng chỗ kia rồi khởi kiến chấp cho là hay-dở, thật-giả… thì trọn đời chúng ta không làm được điều gì hữu ích cả.

      TN

  22. Niệm Phật

    Xin cảm ơn các vị đã trả lời và phúc đáp.
    Con không tin là bởi nghĩ cõi ấy quá xa xôi với mình , trông mà xa vời quá , chẳng thể biết thực hay hư. Mặc dù biết nhiều lí do cho thấy cực lạc là thật , nhưng có cái tâm cố chấp vẫn khiến con nghi ngờ.Con cũng rất muốn tin nhưng cái tâm đó lại cản con.
    Mong được quý thiện tri thức hoan hỉ giải đáp giùm.
    Nam mô A di đà phật.

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      Nam Mô A Di Đà Phật

      Bạn dành 30 phút xem clip 10 Điều Khó Tin Về Pháp Môn Tịnh Độ để xem mình thuộc loại nào trong đó.
      https://www.youtube.com/watch?v=C6wwvjz8dgY
      1.Bạn không tin cõi cực lạc cũng dễ hiểu,vì niềm tin không phải tự nhiên mà có,thường những gì trải nghiệm trong quá khứ đúc kết thành niềm tin.Nếu 1 cô gái chỉ toàn gặp những người đàn ông xấu thì cô ta sẽ ko có niềm tin vào quan hệ nam nữ nữa.
      Chúng ta và các oan gia do ở lâu trong luân hồi,mà thời gian ở ác đạo thì nhiều hơn thiện đạo.Ở trong ác đạo thì phải tranh giành ăn nuốt nhau khổ không nói hết thành lời.Chính những trải nghiệm đã đúc kết thành những niềm tin tiêu cực,nên khi nghe đến những thế giới trang nghiệm thì cố chấp không tin được.
      -Có thế giới chỉ toàn là khổ,có thế giới khổ ít vui nhiều,có thế giới khổ nhiều vui ít,có thế giới chỉ toàn là vui.Thời gian trong ác đạo nhiều làm cho tiềm thức chúng ta không tin có thế giới chỉ toàn là vui.Đây là một niềm tin tiêu cực cần phải thay đổi.
      -Tâm cố chấp có thể là do nghiệp chướng của chính mình,do oan gia ngăn cản,họ không muốn bạn thoát khỏi thế giới này,bạn phải ở lại cùng với họ.
      Bạn có thể tụng thêm sám hối nghiệp chướng để hòa giải với các oan gia tại đây
      http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2011/07/cach-giai-tru-oan-thu-cua-oan-gia-trai-chu/
      2.Bạn có hỏi “Cho phép con hỏi , người như vầy có thể thành tựu không ạ ? . Và đây có phải là một pháp mà Phật mở ra để cứu vớt những người,tuy không có lòng tin , thiếu thiện căn nhưng một lòng kính Phật , hướng Phật ?”
      -Muốn thoát khỏi luân hồi thì phải có công đức,những phước thiện của chúng ta cho dù có làm vẫn không đủ,công đức ấy Phật đã tích lũy đủ rồi
      -Nếu bạn gặp được bản nguyện của Phật tức là có nhân duyên
      -Nếu bạn chịu tin thưởng đón nhận nguyện lực của Phật tức là bạn có thiện căn
      -Nếu bạn có thể niệm Phật cầu vãng sanh tức là bạn có phước đức.
      Thiện căn là do bạn LỰA CHỌN,đôi khi LỰA CHỌN đúng còn quan trọng hơn cả sự nỗ lực cố gắng. LỰA CHỌN sai thì cả đời uổng phí.
      Muốn có LỰA CHỌN đúng cần phải có trí huê,muốn có trí huệ thì chịu khó nghe kinh.Rất nhiều người khi nghe kinh một thời gian dài đã phát khởi niềm tin.
      Tóm lại bạn có thể kết hợp nghe giảng kinh về tịnh độ và sám hối oan gia để dẹp bỏ cái tâm cố chấp không tin
      3.” Con không tin là bởi nghĩ cõi ấy quá xa xôi với mình , trông mà xa vời quá , chẳng thể biết thực hay hư”
      -Cõi ấy vượt khỏi luôn hồi thì tất nhiên là xa rồi.Nhưng đâu phải là xa mà bạn bảo là nó không có thật.
      -Chẳng biết thực hay hư.Cái lưng của bạn có thật không,bạn đã bao giờ nhìn thấy cái lưng của mình chưa,nếu có nhìn thấy thì chỉ qua ảnh thôi.Ngay cái lưng trên thân bạn mà bạn còn không nhìn thấy được,chỉ nhìn thấy ảnh tượng của nó qua tấm gương hoặc chụp hình.
      -Đâu phải lúc nào cái gì thấy được cũng gọi là thực,cái ko thấy được thì bảo là hư.Lưng của bạn không thấy được không lẽ bạn bảo đó là hư.Còn lưng bạn thấy trong tấm gương thì bạn nói đó là thật.

      A Di Đà Phật

  23. Niệm Phật

    Cái nghi này của con bắt nguồn từ việc không tin phật thích ca. Ngài có thật không, có thật đã giác ngộ , pháp của ngài có thể đem lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sanh.
    Phải thấy những gì, nghe những gì mới có thể trọn tin vào ngài.
    Nếu tin được vậy thì con nghĩ mình sẽ thật tin được cõi tịnh độ.
    Và cần phải đọc tụng,nghe những bộ kinh nào mới có thể tăng trưởng tín tẫm.
    Mong quý thiện tri thức giải đáp gium.

    • Thanh Phong

      TP nghĩ điều cần thiết đối với bạn bây giờ là phải thực hành, đem những lời Phật dạy áp dụng vào cuộc sống, bạn sẽ tự cảm nhận được lợi ích và an lạc.

    • Cư sĩ Phước Huệ

      Chào bạn Niệm Phật,
      Phật Thích Ca là một nhân vật trong lịch sử, ở điểm này mà bạn còn hồ nghi thì là do tâm cố chấp của bạn quá lớn.
      Về hồ nghi “pháp của ngài có thể đem lại hạnh phúc, lợi ích cho chúng sanh hay không”, bạn hãy tự dùng trí tuệ của mình suy gẫm và áp dụng rồi sẽ tự nhận ra là có lợi ích cho chính mình và những người, chúng sanh chung quanh mình không. Bạn hãy bắt đầu bằng ngũ giới. Hãy tự mình suy nghĩ xem nếu một người không sát sanh, không trộm cắp,…thì có đem lại lợi ích, hạnh phúc cho mình và cho những chúng sanh khác hay không. Nếu ở điểm này mà vẫn không biết rõ, thì hãy lùi lại một bước, nghĩ xem thế nào là thiện, là ác.
      Đạo Phật là đạo của trí tuệ, chứ không phải tin suông. Chúng ta quy y nương tựa theo Phật vì ngưỡng mộ trí tuệ, đạo hạnh,..của ngài, và muốn được như ngài, vì chúng ta thật rõ biết nếu ta thực hành theo đúng lời ngài dạy thì sẽ đạt an lạc cho mình và cho chúng sanh khác.
      Hãy tự mình suy gẫm bạn nhé.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Niệm Phật

      Con phải học và tìm hiểu từ đâu như thế nào. Xin được hướng dẫn ạ.
      Con cám ơn

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Niệm Phật,
      Vì bạn chưa có lòng tin chân thật vào Tam Bảo, nên PH nghĩ nếu bạn đọc kinh thì cũng sẽ không có tác dụng gì nhiều vì kinh là Pháp của Phật dạy, mà bạn thì lại đang hồ nghi cái Pháp đó. Ở giai đoạn này bạn cần tư duy để có sự đánh giá chắc thật của riêng mình. PH xin gợi ý các vấn đề sau, bạn hãy tự tư duy nhé.
      – Thế nào là thiện? Thế nào là ác?
      – Khi biết rõ thiện, ác rồi thì bắt đầu tư duy giáo lý cơ bản của Phật. Nhân quả là gì? Thế nào là gieo nhân, thế nào là gặt quả? Có thật sự việc trong cuộc sống vận hành theo nhân quả không? Tại sao?
      – Có nên giữ 5 giới tại gia không? Tại sao?
      Trong nhiều ngày tới, bạn hãy tập trung suy nghĩ thật kỹ, thật sâu những vấn đề đó, tự mình đưa ra những phản bác, lý luận để có cái hiểu chuẩn xác, không hồ nghi. PH tin rằng một khi bạn tự suy xét, ngẫm nghĩ, tự mình hiểu cho đúng thì tự bạn sẽ biết làm gì tiếp theo. Bạn lưu ý là phải tự mình nghiền ngẫm, không bắt chước ý nghĩ của người khác.
      Chúc bạn tinh tấn.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Niệm Phật

      Trước đây, lúc mới gặp pháp môn tịnh độ, con đã không hề nghi ngờ mà rất tin tưởng và niệm phật được một thời gian , lúc đó con nghĩ chắc chắn sẽ vãng sanh,tin tưởng vô cùng.Nhưng rồi tâm niệm phật của con thối thất dần. Sau đó là vào một hôm con tự nhiên nghi ngờ vô cớ(không phải là do nghe tà kiến của ai hết , tự tâm con sinh ra) ,và cái nghi ấy cứ đeo bám con mãi. Con khổ tâm lắm. Nhưng do niềm tin trước đó đã ăn sâu vào con, nên con thành ra nửa tin nửa ngờ. Đối với Phật , con một lòng thành kính nhưng chưa thể thật tín.

      Con rất mong được cảm thông giúp đỡ.

    • Thanh Phong

      A Di Đà Phật.
      TP vừa tìm được một cuốn sách khá hay, bạn có thể tham khảo xem sao:
      Lời Báo Cáo của một Nhà Khoa học
      NGHIÊN CỨU KINH PHẬT
      http://www.tuvienquangduc.com.au/khoahoc/01loibaocao.html

    • Cư sỹ Phước Huệ

      Chào bạn Niệm Phật,
      Có hai kiểu nghi. Một là tự dưng khởi nghi, mà không có lý do gì cụ thể. Thì đó là một dạng vọng niệm, đừng nuôi dưỡng, đừng để ý nó thì nó sẽ không có lực để làm mình suy nghĩ, nghi ngờ. Dạng thứ hai là có lý do cụ thể, ví dụ: cõi Cực Lạc xa vậy, liệu mình có đi tới không,…thì với loại nghi này, ta cần đọc lại kinh điển, tự mình suy gẫm, nhờ thiện tri thức giảng giải, nhờ Tam Bảo gia hộ,.. để phá nghi.
      Bạn xem xem nghi của mình thuộc dạng nào để xử lý nhé.
      Chúc bạn tỉnh giác.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

  24. Nguyễn Đạt

    Nam Mô A Di Đà Phật
    Hôm nay con vừa kết thúc khóa tu dài ngày ở chùa, con đã học thêm được rất nhiều điều,
    Hôm qua kết thúc khóa tu thì thầy trụ trì cho phép con quy y tam bảo và đặt pháp danh cho con là : Diệu Âm Thanh Tịnh. Làm con rất đỗi xúc động.
    1) Nhưng khi thầy trụ trì cho con thọ giới bất sát (không sát sanh) thì không hiểu sao lúc đó con nhất quyết không thọ giới này, chỉ thọ bốn giới còn lại, lúc đó con thoáng nghĩ: bây giờ con chưa ăn chay được (lý do con để bên dưới ạ) lại ăn thịt thì sợ sát sanh, với lại nhỡ đi lại mà dẵm phải con gì nhỏ nhỏ mà mình không biết thì sao?

    2) Tuy ở chùa thầy đã hướng dẫn con ăn chay, ngày 3 bữa nhưng không hiểu sao cứ khoảng được 3 ngày thì bụng con lại khó chịu, rối loạn tiêu hóa rất khó chịu làm những hôm đó con bỏ ít bữa, thầy hỏi thì con không dám nói chỉ ra ngoài uống thuốc thì êm nhưng khoảng 3,4 ngày thì lại khó chịu bụng.(mọi người khác không bị sao mà họ còn khỏe ra vì ăn chay) Con không biết phải làm sao nữa, mong các thiện tri thức cho con lời khuyên????

    Nam Mô A Di Đà Phật

    • Thanh Phong

      1) Trong An Sĩ Toàn Thư có dạy phương pháp này, bạn có thể thử xem sao:
      Sáng sớm vừa thức dậy nên trì tụng 7 lần bài kệ và chú không làm tổn hại côn trùng, sau đó mới đặt chân xuống giường bước đi, với sự tỉnh giác sẽ không giẫm đạp nhằm các loại côn trùng, kiến, gián… Bài kệ và chú như sau:

      Tùng triêu dần đán trực chí mộ,
      Nhất thiết chúng sinh tự hồi hộ.
      Nhược ư túc hạ ngộ thương thời,
      Nguyện nhữ tức thời sinh Tịnh độ.

      Dịch nghĩa:
      Sáng sớm đến chiều tối,
      Nguyện muôn loài chúng sinh,
      Thảy thảy tự phòng hộ.
      Chúng sinh nào vô tình,
      Bị giẫm đạp mất mạng,
      Xin nguyện cho tất cả,
      Đều sinh về Tịnh độ.

      Án, địa lợi chi lợi ta bà ha.

      2) Điều này có thể là do nghiệp chướng của bạn tạo ra, bạn nên thành tâm sám hối trước Tam Bảo, kiên trì một thời gian xem sao.

    • Trung Đạo

      A Di Đà Phật

      Bạn Nguyễn Đạt,

      1/ Bạn chưa thực hiểu về việc phát nguyện thọ trì ngũ giới. Khi phát nguyện, vị bổn sư thọ giới cho các Phật tử sẽ phải khai thị cụ thể từng giới, và sẽ có lời khuyên các phật tử phải tự cân nhắc thật kỹ rồi nguyện xin giữ hay nguyện sẽ cố gắng giữ. Trước Tam bảo bạn từ chối thọ giới không sát sanh, điều này cho thấy bạn chưa thực dũng mãnh khi quy y cũng như tu học. Việc bạn lo ngại còn ăn mặn, hàng ngày dẫm đạp lên chúng sanh rồi lấy đó làm lý do không dám thọ giới là sai lầm. Hãy quán sát xem nơi nào xung quanh bạn không có chúng sanh? những chúng sanh mà bạn nhìn thấy đã là vô số, nhưng mắt trần không nhìn thấy cũng là vô số. Mỗi miếng ăn, miếng uống của bạn, có miếng nào không làm tổn hại chúng sanh? Nếu vậy thì không ai dám thọ giới nữa sao? Bạn nên tư duy kỹ điều này. Không sát sanh không phải ở việc tự tay giết, sai, bảo, khuyến khích, vui ưa giết, đó là nghĩa đen. Vi tế nghĩa là không khởi ý giết, sát mới là giữ giới sát.

      2/ Sở dĩ bạn ăn chay mà bụng có vấn đề không vì đồ ăn mà do tâm bạn khởi niệm không an khi ăn chay. Phật nói tướng do tâm sanh, cảnh tuỳ tâm chuyển. Tâm bạn bất an khi nghĩ tới ăn uống, nên ăn vô là đau bụng. Muốn chuyển hoá, khi ăn hãy khởi nghĩ: con ăn miếng ăn này là để giúp thân không bị héo gày và vì con muốn thành tựu đạo quả của Như Lai, giác ngộ giải thoát, cứu độ chúng sanh rồi ăn trong chánh niệm, không khởi nghĩ bất cứ điều gì khác. Đó gọi là ăn trong chánh niệm. Chánh niệm ăn sao còn có chuyện đau bụng được. Như vậy việc bụng khó chịu là do tâm ý bạn bất tịnh mà nên.
      Bạn phải chân thành mà sám hối trước tam bảo thì mới chuyển hoá được vì đó là nghiệp chướng đường tu của bạn.

    • Thanh Tịnh

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Kính thầy Thanh Phong
      thầy Trung Đạo,
      Bây giờ suy nghĩ lại lúc đó con quả thực vô cùng mù quáng, tự nhiên ý nghĩ đó nảy ra. Thật là nghiệp chướng sâu dày. Con xin sám hối, con xin sám hối.
      Con xin cảm ân thầy đã chỉ bảo con làm con tỏ ngộ. Con vô cùng ân hận. Vậy thưa thầy nếu con muốn thọ giới còn lại thì như thế nào ạ? Tại chùa nơi con tu ở xa quá. !

      Con xin cảm ân thầy
      Nam Mô A Di Đà Phật

    • Thượng Phẩm

      A DI ĐÀ PHẬT. Nguyễn Đạt bình thường niệm Phật A Di Đà khi ăn thì ăn cũng rất tự tại và chuyển hóa tốt nữa. Chúc Nguyễn Đạt tinh tấn tu học.

    • Thanh Tịnh

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Kính TP,
      Vô cùng hoan hỉ và cảm ân lời khuyên của TP

  25. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Nguyễn Đạt,

    1/ Thọ giới chỉ là bước khởi đầu, giữ giới mới là quan trọng. Phật dạy tam vô lậu học lấy giới làm đầu. Vì có giữ giới thì mới có định, có định mới sanh huệ. Thọ giới sát là nguyện không sát người hại vật là bước đầu, nhưng vì tập quán ăn mặn đã quá sâu nặng, ngay một lúc chuyển đổi là khó, cho nên Phật mới khuyên không được sát sanh mà được ăn tam hay ngũ tịnh nhục, ăn lục chay, bát chay, thập chay. Tuy nhiên đó là dành cho người sơ phát tâm, nhưng khi đã phát tâm một đời tu học để sanh về tịnh độ, cứu độ chúng sanh mà tâm vẫn còn muốn ăn mặn thì lời nguyện của mình là không chân thật. Bởi Phật vốn chẳng ăn thịt chúng sanh. Về tịnh độ là về cõi phật, về để tu cho thành phật mà tâm phật chưa định hình thì làm sao chúng ta về được? Như thế bạn sẽ hiểu quy y chỉ là hình thức, giữ và trì giới mới là tối trọng.

    2/ Việc thọ giới sát là nên làm nhưng không nhất thiết phải làm cho xong, vì quan trọng vẫn là việc bạn đã sẵn sàng để thọ giới này chưa? Hiện nay nhiều người xin thọ tam quy ngũ giới xong thì coi như đã là hoàn thành xứ mệnh một người phật tử rồi lại tiếp tục sống trong dòng đời ngũ dục. Như thế là thọ giới không còn ý nghĩa, là trái đạo.

    • Thanh Tịnh

      Nam Mô A Di Đà Phật,
      Kính thầy, TĐ,
      Con quả thật vô cùng ngu muội, nghiệp chướng sâu dày, suy nghĩ chưa thấu đáo, tưởng rằng khó thông hiểu được dù đọc rất nhiều. Nay lại nhờ được thầy khai thị con đã hiểu được vấn đề này. Con vô cùng hoan hỉ và cảm ân thầy.

      Thưa thầy, cho con hỏi thêm vấn đề nữa, khi mãn khóa tu về thì thầy trụ trì có tặng con kinh sách, một bức tượng Phật A Di Đà màu vàng .
      +) Con sắp đi học xa mà con có 1 cái vali đựng quần áo, vậy con mang theo kinh sách thì nên gói hay để như nào cho khỏi bất kính thưa thầy?

      +) Tượng Phật con vô cùng muốn mang theo (vì trước nay con chỉ niệm quay mặt về Tây). Nhưng to vậy không biết mang theo kiểu gì mà gửi thì lại sợ họ vận chuyển làm ẩu hỏng hóc hoặc để không đúng đầu cuối,… Với lại nhà trọ sợ không có/ không đủ chỗ để nên con không biết làm thế nào ạ???

      Mong thầy hoan trả lời, con vui thích muốn nghe.
      Nam Mô A Di Đà Phật

  26. Thượng Phẩm

    A DI ĐÀ PHẬT. Gửi Đạo Hữu Niệm Phật, Đạo Hữu giống TP, ngay vài hôm trước cũng bị vậy. Trước khi xảy ra chuyện này thì TP niệm Phật rất tinh tấn, sau đó tự nhiên bị thế đó, và TP đã nghĩ đó là nghiệp chướng, định là sẽ lên chùa đảnh lễ Phật A Di Đà, mong tìm lại được niềm tin trước kia. Thế nhưng do một tuần mưa mấy ngày liền (Do là hình như bị ảnh hưởng của bão nên có những tỉnh, huyện, bị ngập lụt tỉnh thành nơi TP ở cũng bị mưa), thế là không đến được. TP đã rất phiền não, sợ không được vãng sanh vì phải có đủ Tín-Nguyện-Hạnh thì mới được vãng sanh, sau đó TP đã thử đọc Kinh A Di Đà trên mạng nhưng tình trạng đó vẫn cứ xảy ra, có đoạn đọc mà tâm cứ kiểu như bị cái gì đó ngắt lại, đúng không, Đạo Hữu? Cái cảm giác đó khiến TP nghĩ là niềm tin đã bị thoái chuyển, TP muốn vãng sanh trong đời này, không muốn đợi hẹn kiếp sau nữa đâu, bởi TP đã trải qua “vô lượng” kiếp trong luân hồi rồi. Tưởng chừng sẽ tiếp diễn nhưng bây giờ TP đã cải thiện được tình trạng đó, bởi vì có một ngày TP đã đọc một số truyện về Đức Phật Bổn sư-Đức Phật Thích-Ca Mâu-ni ở trang:http://daibaothapmandalataythien.org/ ở mục “Cuộc đời Đức Phật theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa”, lúc đọc TP chăm chú và đọc xong mới khởi lại niềm tin lại với Đức Phật, Đạo Hữu cứ thử đọc xem nhé? Hoặc Đạo Hữu lên mạng tra “Phật thuyết A Di Đà Kinh” có video người ta làm phim đấy, hình ảnh, lồng tiếng cũng rất hay, hoặc Đạo Hữu muốn thoát khỏi tình trạng đó thì, Đạo Hữu có thể cầu xin, cầu xin Đức Phật A Di Đà cứu thoát con khỏi cái nghi hoặc này, và cứ thế Đạo Hữu với tâm tha thiết cầu khẩn, cố găng thắng lại cái nghi hoặc vô cớ đó. Đấy là các cách của TP, nếu có gì thắc mắc và vướng mắc gì thì Đạo Hữu có thể phúc đáp lại nhé. Chúc Đạo Hữu sớm lấy lại niềm tin chân thật.

  27. tâm thành

    nam mô a di đà phật con có một lời sám hối tội lỗi về tất cả các nghiêp ác trong đó có nghiêp sát sinh và phá thai nay con đang phải chịu quả báo con muốn hóa giải nghiệp này phải làm sao kính bạch quý thầy ,xin quý thầy giúp con hóa giải nghiệp oan con xin đội ơn quý thầy nam mô a di đà phật

  28. An Lạc

    Kính bạch quý Cô Chú đồng tu, con tình cờ biết dc trang Phật Pháp này, lòng cảm thấy thật may mắn, con có rất nhiều thắc mắc về việc tu học nên mạn phép lên đây thưa hỏi mong nhận dc lời chỉ dẫn từ quý Cô Chú.
    Con từng may măn dc đi tham dự các thời khóa công phu của một số chùa, tịnh xá, và thấy mỗi nơi có cách tu học khác nhau, nên đôi khi con cảm thấy ko quen, thấy lạ. Nên con đã tự đề ra thời khóa công phu của mình, con xin trình bày bên dưới, vì con cảm thấy rất quen thuộc, an lạc khi trì tụng các kinh chú như bên dưới, còn khi tụng trì những loại kinh, chú khác con cảm thấy không chuyên tâm được. Hai thời công phu của con như vậy không biết có ổn không, thứ tự tụng như vậy được chưa. Mong Chú Thiện Nhân, Trung Đạo, Mỹ Diệp, CS Phước Huệ,… cho con lời khuyên.

    * Công phu sáng
    – Chú Đại Bi
    – Phẩm Phổ môn
    – Niệm Danh hiệu Phật A Di Đà( nhiều ít tùy vào thời gian)
    – Ma ha bát nhã tâm kinh
    – Chú vãng sinh
    – Hồi hướng

    * Công phu tối
    – Chú Đại Bi
    – Kinh A Di Đà
    – Niệm Danh hiệu Phật A Di Đà( nhiều ít tùy vào thời gian)
    – Thập Hạnh Phổ Hiền
    – Chú vãng sinh
    – Hồi hướng

    • Trung Đạo

      A Di Đà Phật

      Bạn An Lạc,

      TĐ xin góp ý cùng bạn vài điểm:

      1/ Chư Tổ dạy: tu học thời nay nên một môn thập nhập, trường kỳ huân tu. Điều này ý nói nếu chúng ta liền một lúc muốn tu học quá nhiều pháp của Phật e rằng vừa không đủ thời gian, vừa không có lợi ích thiết thực. Do vậy khi tham gia cộng tu bạn nên chọn một nơi nào đó phù hợp với pháp bạn đang tu học thì tốt nhất. Tu nghĩa là sửa những phiền não, sai quấy trong tâm. Do vậy tu tại gia hay tu ở chùa đều không vượt ra ngoài nghĩa này. Hiện có rất nhiều liên hữu rất ham ưa tu học thật nhiều đạo tràng, nghe thật nhiều giảng sư, học tụng thật nhiều kinh, chú, với ý niệm là hiểu biết nhiều Phật pháp. Thực tế thì một pháp thông, các pháp đều thông. Một câu A Di Đà Phật mà thông thì các pháp đều thông suốt. Điều này bạn phải khéo léo quán chiếu để không bị lạc vào rừng pháp rồi không có lối ra.

      2/ Công khoá của bạn như vậy cũng tốt. Nhưng tối trọng khi thời khoá vẫn là tâm thanh tịnh. Phật dạy tâm tịnh cõi Phật tịnh. Khi tâm bạn tịnh thì cho dù bạn niệm Phật, tụng kinh, trì chú hay làm gì chăng nữa đều có ích lợi thiết thực cả.

      3/ Bạn nên dành nhiều thời gian cho niệm Phật và nên coi công phu niệm Phật là trọng yếu. Tụng kinh quan trọng là hiểu nghĩa kinh, có hiểu thì tu học mới có kết quả.

      4/ Niệm Phật nên chú trọng 3 yếu điểm: miệng-tai-tâm. Miệng niệm rành rõ từng câu, từng chữ. Tai nghe rành rõ từng câu từng chữ. Tâm nhớ rõ từng câu từng chữ. Ngoài ra không cần quan tâm tới bất cứ điều gì khác. Nếu bạn nhiếp tâm tu học theo cách này, chỉ ít thời gian sau sẽ có định lực trong công khoá niệm Phật.

      Chúc tinh tấn.

    • Mỹ Diệp

      A Di Đà Phật

      Chào bạn An Lạc!

      MD không biết bạn có đề ra hướng tu tập không, hay chỉ là tu chung chung, bởi không ít người họ đọc rất nhiều kinh chú, nghe rất nhiều pháp. Như cô bán thuốc Tây ở nơi MD, MD vẫn thường ghé mua; mỗi lần đến đều thấy cô vừa bán hàng vừa nghe Pháp và của mỗi vị sư khác nhau; MD có hỏi: cô tu theo pháp môn nào? Thì cô trả lời: làm lành, nghe Pháp vậy thôi. Rõ ràng khi tu tập mà đạt được sự an lạc là một dấu hiệu tốt, song nếu chỉ tu hành theo lối chung chung mà không vạch ra một phương pháp cụ thể thì chẳng khác nào chúng ta mang hành lý ra đi mà chẳng biết đi đâu, không xác định chốn về vậy.

      Giả như An Lạc đang rơi vào tình trạng MD đã nói trên thì cần vạch ra cho mình một hướng tu tập: tu hành để làm gì? Phương pháp nào là nhanh chóng thành tựu đạo nghiệp. Còn như An Lạc đã chọn pháp môn niệm Phật thì theo thiển ý của MD, trong hai thời khóa bạn nên điều chỉnh, lượt bỏ bớt những phần phụ trợ để tập trung cho chánh hạnh niệm Phật. Vừa niệm Phật, vừa tụng kinh, vừa trì chú nếu xét về sự thì đã có sự xen tạp mất rồi; chắc chắn sẽ không có lợi ích bằng một câu A Di Đà Phật tịnh niệm tương tục.

      Nam Mô A Di Đà Phật

  29. Đào Hạnh

    A di đà phật. Con có nhân duyên biết đến phật pháp sau khi gia đình con gặp đại nạn.Đến nay đã 3 năm rồi,con gái lớn của con đột ngột ra đi ở tuổi 23 vì TNGT.Gia đình con vô cùng đau buồn và đã làm nhiều việc theo lời các thầy sư và phật tử chỉ bảo hồi hướng cho cháu.Cháu có báo mộng là đã siêu thoát và về Tây Thiên rồi.Trong 3 năm qua, lần lượt các bát hương nhà con đều hóa, ban đầu là bát hương thổ công, rồi đến bát hương gia tiên, sau đó là bát hương thờ Phật{ ban riêng), và hôm qua là bát hương bà cô ông mãnh. Con ko lý giải được hiện tượng này, kính mong Quý thầy cô, cư sỹ phật tử hoan hỷ chỉ bảo ạ.Hiện nay gia đình con vẫn tỳu duyên làm việc phúc thiện như cúng dường tam bảo, phóng sinh, niêm Phật… hồi hương cho cháu, cửu huyền thất tổ, oan gia trái chủ…ạ.Nam mô A DI ĐÀ PHẬT.

  30. Mỹ Diệp

    A Di Đà Phật

    Thầy Thích Minh Quang trụ trì chùa Địa Tạng Phi Lai Tự, tại thôn Ninh Trung, xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đang kêu gọi mọi người: “Cúng dường Thầy 100 triệu không bằng 1 quyển Kinh Địa Tạng chép tay” và “Đủ 1 vạn quyển Thầy sẽ dựng tượng ngài Địa Tạng trên đỉnh núi”.

    Vậy mong các đạo hữu cùng phát tâm chép Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện gửi về cho Thầy Minh Quang theo địa chỉ trên. Nguyện cầu hồng tam bảo gia hộ cho ý nguyện của Thầy sớm thành để Bồ Tát Địa Tát sớm thị hiện trên đỉnh núi.

    Mong BBT mở 2 ảnh này:

    https://photos.google.com/u/2/photo/AF1QipMlkCCASmivA8hF1VioDVojabwcTS1jXPOI1ymU

    https://photos.google.com/u/2/photo/AF1QipMIPIYt0muwcE6rkKgIQEtBFhFbCjK-pnwoPQuj

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Đường Về Cõi Tịnh: Rất tiếc đường link bị hỏng nên chúng tôi không thể link hình được. Mong đạo hữu hoan hỉ.

  31. Trương Thị Kim Chi

    Dạ thưa Thầy ,

    Cho con hỏi thăm , khi khâm liệm người chết mà có đặt theo 1 lưỡi dao thép thì có vấn đề gì với người chết và con cháu của người chết không ạ ? Vì gia đình con mới cải táng mộ cho cha con đã mất 27 năm , có phát hiện có lưỡi dao được đặt trong người cha con lúc tẩm liệm ạ . Mong Thầy giải thích dùm con ạ , Con xin cảm ơn Thầy

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn Trương Thị Kim Chi,

      *”con dao” theo luận lý thế gian giống như một vũ khí để giúp cho người chết không bị quấy nhiễu. Điều này cũng thường xảy ra với những người còn sống, ví thử: đêm ngủ, gặp ác mộng, nhiều người khuyên nên để con dao dưới chiếu, hay dưới gối thì ma quỷ sẽ không có cơ hội quấy phá nữa. Thực tế đó là những ý niệm rất mê tín và xa rời nhân quả. Bởi con dao là vật vô tri thì làm sao có thể tự nó gây tổn hại cho người khác được, trừ khi người đó dùng con dao để doạ nạt hay làm tổn hại người khác. Như vậy luận theo lý nhân quả thì con dao chỉ là phương tiện sát người, hại vật, nhưng nhân để sát hại là khởi từ tâm oán thù của chúng sanh. Con người sống trong đời luôn xoay vòng trong 4 nhân duyên: báo ân, trả nợ, báo oán, đòi nợ. Một người có tâm thiện lành, khi ngủ ắt chẳng phải lo lắng gặp ác mộng; nhưng một người tâm đại gian, đại ác, chuyên hành bất thiện, giấc ngủ sẽ chẳng thể tránh khỏi ác mộng. Lý do? Bởi Phật dạy: tướng do tâm sanh! Tâm bất thiện sẽ tự chiêu cảm cảnh giới bất thiện. Đó chính là gieo nhân ắt gặp quả.

      TN sơ lược đôi dòng để bạn hiểu nếu Ba bạn ăn ở hiền lương, nhân đức và lại tu đạo, trì giới, khi xả báo thân an nhiên tự tại mà gia đình khi khâm liệm lại cho con dao vào áo quan để giúp cha bạn phòng thân=mê chồng lên mê. Bởi một người hành thiện, tâm thiện lại tu đạo, trì giới thanh tịnh, khi chết có sự hướng dẫn, hộ niệm của đồng đạo, họ sẽ lập tức đi theo vào cảnh (cõi thánh, trời, người, a tu la); ngược lại người cả đời đại gian, đại ác, phút lâm chung, dù mâm cao, cỗ đầy, dù có thỉnh tăng, hộ niệm cũng chỉ là gieo một chút duyên cho hậu kiếp, còn quả báo đại gian, đại ác chính là tam ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) thì không thể tránh khỏi. Đó gọi là nhân quả quyết không sai lệch, tự mình làm tự mình gánh chịu.

      Như vậy bạn có thể tự lý giải: “con dao” để trong mộ của Ba bạn là hoàn toàn mê tín và phi nhân quả. Gia đình bạn nên dõng mãnh sám hối với Ba bạn vì tội vô minh rồi phát tâm trì tụng KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN, ăn chay, phóng sanh, niệm Phật, bố thí…tất cả phước thiện này hồi hướng cho Ba bạn, như vậy sẽ ý nghĩa hơn và Ba bạn sẽ nhận được sự trợ duyên mà hướng về đạo Phật, tu học, giác ngộ mà tự giải thoát.

      *Bạn nên đọc những Kinh Phật dạy về nhân quả báo ứng để tự mình khai sáng, không mê mờ, nhờ đó mà tiến thân tu đạo để tự độ mình và giúp người thân.

      Bài Tham Khảo:

      Bài tham khảo:
      1. Kinh A Nan Vấn Phật Chuyện Cát Hung
      2. Kinh Nhân Quả 3 Đời
      3. Kinh Tội Phúc Báo Ứng
      4. Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt
      5. Liễu Phàm Tứ Huấn
      6. Cảm Ứng Thiên

Gửi hồi âm đến Tâm Lương Đào Mạnh Xuân Bấm để hủy hồi âm.

Your email address will not be published. Required fields are marked *