Tứ Liệu Giản

Tứ Liệu Giản

Đại cương Phật giáo chẳng ngoài năm tông. Năm tông là: Luật, Giáo, Thiền, Mật và Tịnh. Luật là căn bản Phật pháp, nghiêm giữ tịnh giới để mong Tam nghiệp thanh tịnh, nhất tánh viên minh. Ngũ uẩn đều không, các khổ đều độ. Giáo là y theo giáo tu quán, lìa ngón tay thấy mặt trăng, triệt ngộ Phật tánh vốn đầy đủ. Nhưng người này chỉ thấy Phật của tự tánh thiên chân mà gọi là thành Phật, chẳng phải liền thành ông Phật chứng đạo Bồ-đề. Mật thì lấy tam mật gia trì, chuyển thức thành trí, gọi là tức thân thành Phật. Đây cũng chỉ là lấy ngay thân này liễu sanh tử làm thành Phật, mà chẳng phải thành ông Phật phước tuệ viên mãn. Ba tông này đều có thể thu nhiếp vào Thiền tông, vì khí phận giống nhau. Cho nên, chỗ cần yếu tu trì Phật pháp thật chỉ có hai môn: Thiền và Tịnh.

Thiền thì chuyên nhờ tự lực, nếu chẳng phải kẻ túc căn thành thục thì không được lợi ích thật sự. Tịnh thì gồm nhờ cả Phật lực. Phàm kẻ nào đầy đủ tín, nguyện, hạnh đều có thể mang nghiệp vãng sinh, chỗ khó dễ của hai tông xa cách nhau một trời, một vực. Nên ngài Vĩnh Minh thiền sư đời đầu nhà Tống, là bậc cỡ Phật thị hiện sinh ở thế gian, triệt ngộ nhất tâm, trọn tu vạn hạnh, mỗi ngày làm 108 Phật sự. Đến đêm, qua núi bên cạnh hành đạo niệm Phật. Ngài sợ rằng kẻ học đời sau chẳng hiểu rõ tông yếu nên làm bài kệ Tứ liệu giản, để kẻ học biết chỗ xu hướng.

Kệ rằng:
Có Thiền, có Tịnh độ
Như hổ mọc thêm sừng
Đời nay làm thầy người,
Đời sau là Phật tổ.

Không Thiền có Tịnh độ
Muôn tu muôn vãng sinh
Nếu được thấy Di-Đà
Lo gì chẳng khai ngộ.

Có Thiền không Tịnh độ
Mười người chín chần chờ
Cảnh Trung ấm hiện ra
Liền theo nó mà đi.

Không Thiền không Tịnh độ
Giường sắt và cột đồng
Muôn kiếp cùng ngàn đời
Không một ai nương tựa.

Tám chục chữ này là cương yếu một đời giáo hóa của đức Như Lai, là khuôn vàng cho kẻ học liễu sinh thoát tử ngay trong hiện kiếp. Kẻ học trước phải biết rành rẽ thế nào là Thiền, thế nào là Tịnh độ; thế nào là Có Thiền, thế nào là có Tịnh độ. Thiền và Tịnh là theo Lý, theo Giáo mà nói; có Thiền, có Tịnh là theo cơ, theo tu mà bàn. Lý, Giáo hai pháp không khác, còn cơ, tu thì hai pháp khác nhau. Lời nói tuy giống nhau mà ý thì khác xa, cần phải chú ý mới chẳng phụ tấm lòng nhân từ của ngài Vĩnh Minh.

Sao gọi là Thiền? Tức là chân như Phật tánh của chúng ta vốn đầy đủ. Tông môn chỗ bảo là: bổn lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sinh ra. Lời của Tông môn chẳng nói thẳng ra, chỉ khiến người tham thiền tự mình được ngộ, nên mới nói như thế. Thật ra, không có năng sở, ly niệm linh tri (ly niệm linh tri không có chút suy nghĩ phân biệt mà vẫn thấu rõ cảnh giới trước mắt.)

Sao gọi là Tịnh độ? Tịnh độ tức là tín, nguyện, chấp trì danh hiệu, cầu sinh Tây Phương, chẳng phải nghiêng lệch duy tâm Tịnh độ, tự tánh Di-đà mà nói.

Có thiền tức là cực lực tham cứu, niệm tịch tình vong, thấy suốt bổn lai diện mục khi cha mẹ chưa sinh ra, minh tâm kiến tánh. Có Tịnh độ tức là thực hành việc phát tâm Bồ-đề, sinh tín, phát nguyện, trì danh hiệu Phật A-di-đà, cầu sinh Tây Phương.

Nếu như tham thiền chưa ngộ, hoặc tuy ngộ mà chưa triệt ngộ, đều chẳng được gọi là có Thiền. Nếu như niệm Phật chỉ thiên chấp duy tâm, mà không có tín nguyện, hoặc có tín nguyện mà chẳng tha thiết, đều chẳng được gọi là có Tịnh độ. Đến như tuy tu Tịnh độ mà tâm còn nghĩ tưởng trần lao, hoặc cầu phước báo nơi cõi Trời, cõi Người, hoặc cầu kiếp sau xuất gia làm vị Tăng, nghe ít giác ngộ nhiều, đắc đại Tổng trì, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, đều chẳng được gọi là người tu Tịnh độ. Vì họ chẳng chịu y theo Phật pháp các kinh Tịnh độ dạy, bậy bạ lấy thông khắp giáo nghĩa làm tiêu chuẩn, thế thì kiếp sau có thể chẳng mê mà liễu thoát, muôn người khó có một. Hạng người bị phước làm mê, từ chỗ mê lại vào chỗ mê thật là rất nhiều. Quả nhiên có thể hiểu sâu nghĩa này, mới là người tu Tịnh độ.

Kẻ chẳng biết nghĩa chân thật, cứ bảo hễ tọa thiền, tham thiền tức là có thiền; hễ niệm Phật tức là có Tịnh độ, tự làm lầm mình, lại làm lầm người khác, di hại vô cùng.

Đại sư Ấn Quang khai thị

Các Bà Nội Trợ Làm Cách Nào Để Tu Bồ Tát Đạo Ngay Trong Đời Sống Hàng Ngày

Các Bà Nội Trợ Làm Cách Nào Để Tu Bồ Tát Đạo Ngay Trong Đời Sống Hàng Ngày

Mỗi ngày làm một số công việc lập đi lập lại hoài nhất định sẽ cảm thấy buồn chán, nhất là những bà nội trợ hình như vĩnh viễn cảm thấy không có ngày nào giải thoát ra được, rất nhiều người cảm thấy quá khổ não! Nếu như có thể đem quan niệm này đổi ngược lại thì sẽ cảm thấy vô cùng sung sướng. Trong quan điểm thông thường của phàm phu chúng ta có cái ‘ngã’ (tôi). Tôi đang làm, tôi rất khổ, tại sao tôi phải làm cho họ hưởng? Càng suy nghĩ phiền não càng nhiều. Nếu học Bồ Tát đạo, phát nguyện phổ độ chúng sanh, thì cách nhìn cách suy nghĩ của họ sẽ khác liền.

Hành Bồ Tát đạo đầu tiên là phải tu ‘bố thí ba la mật’. Những bà ‘nội trợ Bồ Tát’ trong khi săn sóc lo lắng phục vụ cho mọi người trong gia đình là đang tu bố thí ba la mật đó. Bố thí gồm có bố thí tài, bố thí pháp, và bố thí vô uý. Bố thí tài có nội tài và ngoại tài. Ngoại tài là kiếm tiền cúng dường nuôi duỡng người trong nhà. Nội tài là dùng sức lực và đầu óc của mình phục vụ cho người trong nhà. Làm việc nhà có đầy đủ hết ba loại bố thí này. Nếu bạn sắp xếp dọn dẹp trong nhà được gọn gàng sạch sẽ làm cho mọi người trong nhà rất thoải mái dễ chịu, hàng xóm láng giềng phải hâm mộ khen ngợi, đây là ‘trì giới ba la mật’. Trì giới nghĩa là giữ luật lệ. Bạn có đủ nhẫn nại để làm, không cảm thấy mệt nhọc, đây là ‘nhẫn nhục ba la mật’. Mỗi ngày phải cải tiến hy vọng là ngày mai sẽ được tốt hơn hôm nay, đây là ‘tinh tấn ba la mật’. Tuy là mỗi ngày làm rất nhiều việc trong nhà, tâm địa vẫn thanh tịnh, một tí gì cũng không nhiễm, đây là ‘thiền định ba la mật’. Tâm thanh tịnh thường sanh trí huệ, pháp hỷ sung mãn, đây là ‘bát nhã ba la mật’. Như vậy thì biết rằng, tất cả lục độ ba la mật của Bồ Tát đều nằm trong sự lau bàn, quét nhà, giặt áo, nấu cơm, tất cả đều thành tựu viên mãn. Ðây cũng giống như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử biểu diễn đi học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo.

Bạn đem công việc nhà làm được tốt đẹp tức là làm gương tốt cho tất cả bà nội trợ trên thế gian, cho tất cả gia đình. Như vậy có thể độ được người hàng xóm, mở rộng ra thì có thể ảnh hưởng đến xã hội, quốc gia, thế giới, cho đến tận hư không biến pháp giới. Cho nên mới biết Bồ Tát ở nhà quét dọn, lau bàn, nấu cơm, giặt áo đều là đại nguyện đại hạnh độ tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới. Ðây là học Phật, là chánh niệm, là thật tướng của chư pháp, nếu có thể quan sát như vậy thì sẽ đạt được pháp hỷ sung mãn (niềm vui của đạo) thì làm sao còn sanh phiền não nữa! Học Phật nhất định phải đem thực hành trong đời sống sanh hoạt thường ngày, nếu không như vậy thì vô dụng. Nếu hiểu được điểm này rồi từ đó suy ra, đi làm ở công ty thì cũng tu lục độ ba la mật. Bồ Tát ở mọi ngành mọi nghề, thị hiện ra người nam, nữ, già, trẻ, thân phận vai trò không giống nhau, đều trong môi trường sinh hoạt của mình tu học, tất cả đều bình đẳng giống nhau, tất cả đều đứng hạng nhất, không có hạng nhì.

Trích trong Tịnh Tông Nhập Môn, phần Phụ Lục
Lão Pháp sư Tịnh Không giảng tại Dallas, 1996
Ngô Chân Ðộ ghi chép lại

Niệm Phật – Mô Phật Mọi Lúc Mọi Nơi

Niệm Phật – Mô Phật Mọi Lúc Mọi Nơi

Sẽ không ngoa khi nói niệm Phật là câu cửa miệng của người Phật tử Việt Nam. Vì bất cứ nơi nào có bóng dáng Tăng Ni Phật tử và chùa viện thì ở đó tiếng niệm Phật – Mô Phật râm ran. Mà cũng lạ, tiếng niệm Phật của người Việt được vận dụng với nhiều âm điệu, ngữ cảnh và cách biểu cảm khác nhau nên hàm nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng. Chính vì thế mà niệm Phật – Mô Phật trở nên thiết thân, ứng khẩu, mọi lúc mọi nơi.

Khởi nguyên và cốt tủy của Phật giáo Việt Nam là thiền, song tu thiền tịnh là khuynh hướng tu học về sau, chí ít là bắt đầu vào thời Lý-Trần. Pháp môn Tịnh độ ở xứ ta dường như chưa bao giờ được định hình như một dòng phái chính thống kiểu Tịnh độ tông Trung Hoa và Nhật Bản. Ngay cả hiện nay, không ít người tự nhận mình tu tập pháp môn Tịnh độ nhưng phổ hệ và thế thứ truyền thừa thì vẫn là “Lâm Tế chánh tông” (Thiền phái Lâm Tế – Trung Hoa). Ấy vậy mà việc thực hành niệm danh hiệu Phật A Di Đà lại luôn âm thầm, bền bỉ và tạo nên sức sống mạnh mẽ trong đời sống tâm linh Việt.

Tiếng niệm Mô Phật hiện nay là kết tinh của Nam mô A Di Đà Phật, Lục tự Di Đà. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là pháp tu phổ biến nhất, được nhiều người ứng dụng thực hành nhất. Dù rằng Lục tự Di Đà đã là sự giản lược đến gần cùng cực của Thánh hiệu Phật A Di Đà. Sau đó, Lục tự được ước lược thêm nữa còn A Di Đà Phật, Nam mô Phật và về sau chỉ còn Mô Phật.

Ngoài những thời khóa niệm Phật cố định trong ngày, người tu tranh thủ niệm Phật mỗi khi có thể, hóa thân tiếng niệm Phật vào nhiều tình huống, mọi lúc mọi nơi. Khi Tăng Ni và Phật tử gặp nhau, việc đầu tiên là họ chắp tay hình búp sen trước ngực, cung kính vái chào, niệm Mô Phật, A Di Đà Phật. Thiền sư Nhất Hạnh đã thi hóa nét đẹp của sự chào hỏi chốn thiền môn bằng hai câu kệ để dễ dàng quán niệm “Sen búp xin tặng người. Một vị Bụt tương lai”. Họ nhắc nhau mỗi người đều có tánh Phật, là Phật sẽ thành đồng thơi nhắc nhở nhau niệm Phật A Di Đà, vì để được vãng sanh phải niệm thật nhiều, niệm đến nhất tâm bất loạn. Hiện nay không ít chư Tăng Ni, nhà chùa và Phật tử đã có thói quen nhấc điện thoại không a-lô theo thông lệ mà trịnh trọng và thiền vị: Mô Phật, xin nghe! Tiếng niệm Phật nghe thanh thản, thân thiện và quá đỗi nhiệm mầu.

Thường thì chư Tăng ở trong liêu phòng có thể họ đang làm việc, nghỉ ngơi hoặc tịnh tọa. Vì thế, muốn tìm gặp trước phải gõ nhẹ cửa ba lần, sau đó mới gọi tên. Khi nghe ai gọi tên mình, dù chưa biết có chuyện gì nhưng trước phải ứng khẩu đáp nhanh Mô Phật. Các Phật tử lúc gọi nhau cũng đều ứng đáp như vậy. Tiếng niệm Phật trong trường hợp này mang hàm ý xác nhận là tôi đây, tôi đang ở đây.

Để thưa hỏi, cầu thỉnh hay muốn thăm hỏi, trao đổi với thầy hoặc bằng hữu thì lời đầu tiên thường là Mô Phật, rồi sau đó mới trình bày sự việc. Tiếng niệm Phật lúc này thường nhỏ nhẹ, trong trẻo như một sự đánh động, nhằm báo hiệu, gây sự chú ý cho người nghe. Trong quá trình hầu chuyện với thầy hoặc các bậc tôn đức, mỗi khi mở lời tham gia đàm luận hàng học trò nên bắt đầu bằng Mô Phật cho khiêm cung và nền nã hơn.

Quan trọng là trong những lúc giật mình hốt hoảng, thì tiếng kêu cứu bật ra cũng là Mô Phật. Thường thì trong các tình huống ấy, người ta hay kêu cứu cha ơi, mẹ ơi hoặc trời ơi nhưng hiếm khi gọi Phật ơi, cứu con. Chỉ có những ai huân tập niệm Phật lâu ngày đến thuần thục, lúc bất giác ấy mới bật ra được danh hiệu Phật. Tiếng niệm Mô Phật tuy có phần thất thanh, thảng thốt nhưng thể hiện công phu sâu dày và người niệm nhanh chóng định thần, làm chủ thân tâm, chủ động và sáng suốt để khắc phục sự cố. Đặc biệt nhất là trước những chuyện không thể tin được, không thể chấp nhận được, người ta cũng chắp tay xá dài… Mô Phật! Tuy thất vọng vô cùng, tiếng niệm Phật não nề như một tiếng thở dài nhưng cũng hàm chứa và thể hiện được bản chất con nhà Phật là hỷ xả từ bi.

Trong kinh Phật có huyền ký rằng, vào giai đoạn cuối của thời mạt pháp, lúc ấy kinh điển đều hoại mất nhưng Thánh hiệu Phật vẫn còn. Giai đoạn ấy hẳn còn xa, nhưng cách đây không lâu, khi đất nước vừa thống nhất, thời ấy vai trò của tôn giáo chưa được nhận thức đúng đắn, chúng tôi có chuyến hành hương ra miền Bắc khảo cứu, chiêm bái các di tích, Thánh tích Phật giáo và đã tận mắt chứng kiến khá nhiều chùa tháp hoang lạnh, đìu hiu mà tê tái cõi lòng. Có những ngôi danh lam ở đất Hà thành trong ngày sóc vọng cũng lác đác có vài cụ già hom hem gần đất xa trời xì xụp lễ bái. Không có Sư làm lễ, không kinh điển để tụng đọc, chỉ còn lại một tấc lòng thành. Lạ lùng hơn, đứng trước bất cứ pho tượng nào trong chùa, không cứ gì Phật Thích Ca, Phật Di Đà hay Phật Dược Sư và cũng chẳng thiết là Đức Ông hay Thánh tăng La hán, các già đều lâm râm Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật rồi nguyện xin đủ điều.

Vậy mà đến khi tham gia trẩy hội Yên Tử, chứng kiến hai dòng người ngoăn ngoèo bất tận nối đuôi nhau lên xuống đỉnh chùa Đồng và tiếng niệm Phật vang rền chốn Tổ của khách hành hương, chúng tôi thật sự xúc động. Thật lạ kỳ, từ nam thanh nữ tú hiếu kỳ cho đến các già run rẩy hy vọng lên chôn Tổ lần cuối, tất cả đều mệt phờ vậy mà không ai bảo ai đều góp lời niệm Phật. Họ niệm Phật như chào và động viên nhau hướng thiện, làm lành với lòng nhẹ như sương khói lãng đãng phù vân. Chỉ cần thấy người dân niệm Phật thành tâm như vậy là chúng tôi tin tưởng đạo pháp sẽ được phục hưng. Và quả đúng như vậy, ngày nay phần lớn chùa chiền đã được trùng tu, tiếng chuông chùa cùng với lời tụng kinh niệm Phật lại rền vang mỗi sớm chiều.

Có một điều lạ nhất và buồn cười nhất là đám trẻ con từ thành thị cho đến nông thôn, không biết chúng tiếp cận niệm Phật từ đâu (chắc là nhiễm từ phim võ hiệp Thiếu Lâm) mà cứ mỗi lần gặp các sư Tăng, đứa thì lấm lét thận trọng quan sát, có đứa can đảm hơn gập người cúi chào kiểu sư Tăng Thiếu Lâm – A Di Đà Phật! Thiện tai, thiện tai, rồi ù té chạy… Chúng vui vẻ và phấn khởi lắm như gặp anh hùng, ắt hẳn chúng còn có dịp kể lại cho nhau nghe đã từng đối mặt với các “cao thủ Thiếu Lâm” mà đâu biết rằng, trò nghịch ngợm vô tình kia, theo kinh Pháp Hoa cũng là tác nhân cho quả Phật ở vị lai.

Mô Phật, A Di Đà Phật!

NGUYỄN TÂM

Tín – Nguyện – Hạnh và Cách Thức Niệm Phật

Tín – Nguyện – Hạnh và Cách Thức Niệm Phật

Niệm từ buổi mai khi mới thức dậy, cho đến buổi tối, cả ngày niệm không xen hở. Khi gần đi ngủ, ngồi xếp bằng, bán già, hay kiết già, chắp tay mà nguyện rằng: Con tin lời của Đức Phật A-Di-Đà, giữ một lòng niệm danh hiệu Phật, nguyện đời này bao nhiêu tội chướng thảy đều tiêu sạch, đến khi lâm chung được Phật và các vị Bồ-Tát, đến tiếp dẫn chúng con về Cực-Lạc.

Muốn được vãng sanh phải đủ 3 yếu tố: Tín, Hạnh, Nguyện như đảnh 3 chân thiếu 1 tất ngã.

TÍN: Là tin có: tự, tha, nhơn, quả, sự và lý.

HẠNH: Là chấp trì danh hiệu Phật cho được “nhất tâm bất loạn”.

NGUYỆN: Là quyết muốn thoát khỏi cõi Ta-Bà, cầu sanh về nước Cực-Lạc.

Dưới đây là đại khái 6 lối tin về Tịnh-Độ.

Tin tự: Tin chắc rằng mình có Phật tánh sáng suốt, đủ vô lượng công đức. Nếu mình cố công lo niệm Phật thì quyết có thể chứng ngộ được.

Tin tha: Công nhận rằng lời dạy của Đức Phật Thích-Ca không luống dối; Đức Phật A-Di-Đà luôn luôn nhiếp thọ tùy theo cơ cảm của mình mà ứng.

Tin nhơn: Đinh ninh công hạnh niệm Phật hiện tại của mình có năng lực giải thoát.

Tin quả: Tin chắc ở chín phẩm sen vàng là nơi sẽ về của ta sau này.

Về được đó thì dù hạng nào cũng không thối chuyển.

Tin sự: Xác nhận ngoài cõi Ta-Bà có một cõi Cực-Lạc đúng như lời Phật nói.

Tin lý: Tin tự tâm ta cũng tức là Tịnh-Độ, nếu một khi nó đã được trong sạch.
Sự và lý viên dung không tách biệt.

Tóm lại, không tin thì thôi, nếu có tin cần phải tin sâu, tin chắc, và tin rồi phải thực hành.

HẠNH: Là thực hành, phải cho kiên nhẫn và đúng pháp.

Kế đây là bài dịch ý của mấy vần thơ mà Tổ Đức Nhuận đã bàn về sự niệm Phật để giúp vào một phần nào cho sự thực hành ấy được đúng.

Xét ra niệm Phật dễ mà không
Ý, khẩu buông lung giữ chẳng đồng
Miệng niệm Di-Đà tâm toán loạn
Dầu cho bể cổ vẫn là không

Ấy đó, niệm Phật cốt phải giữ tâm và miệng đi đôi, nghĩa là miệng niệm thì tai phải nghe, tâm phải chú ý nghĩ nhớ Phật và nhất là tâm ý phải không tán loạn, không nghĩ xằng xiêng mới có hiệu quả.

Đây là bước thứ nhất của sự niệm Phật, nếu ai chưa được mà vội trách móc, vội ngã lòng rằng sao niệm hoài mà không thấy gì hết, rằng sao càng niệm chừng nào càng rối rắm chừng nấy v.v… thì thiệt là một điều oan uổng và đáng tiếc!

Để giúp sự niệm Phật được dễ dàng tôi xin nêu ra đây những bí quyết thành công của Ngài Giác Minh Diệu Hạnh đã dạy mà Thượng Tọa Trí Tịnh đã lược giải trong quyển “Đường về Cực-Lạc”:

Ðiều kiện thứ nhứt, trong lúc niệm, phải rành rẽ rõ ràng.

Rành rẽ là chữ câu rành rẽ không lộn lạo, mù mờ. Rõ ràng, là tiếng nói rõ ràng, không trại tiếng.

Ðiều kiện thứ hai, tiếng phải hiệp với tâm, tâm phải duyên theo tiếng, tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

Ðiều kiện thứ ba, phải chí thành tha thiết, với đức Từ Phụ, lòng ta như con thơ nhớ mẹ, với cõi Cực Lạc lòng ta như viễn khách tưởng cố hương.

Ðiều kiện thứ tư, không cho xen lộn một mảy tưởng niệm thế sự; nghĩa là phải luôn nhiếp tâm trụ nơi tiếng niệm Phật, không xao lãng. Nếu lỡ xao lãng phải liền nhiếp thâu lại.

Với trường hợp đây, chú tâm nhận chắc lấy tiếng của mình niệm là công hiệu nhất.
Trong quyển Niệm Phật Luận ngài Đàm Hư Đại lão Pháp sư đã nói:

Một khi niệm câu A-Di-Đà Phật được tương ứng, liền đó hành giả được 6 căn thanh tịnh. Vì:

1/ Mắt thường nhìn Phật thì nhãn căn thanh tịnh.

2/ Tai nghe tiếng niệm của mình và của đại chúng thì nhĩ căn thanh tịnh.

3/ Mũi nghe biết hương thơm của nhang, trầm thì tỷ căn thanh tịnh.

4/ Lưỡi cử động để niệm Phật thì thiệt căn thanh tịnh.

5/ Thân ở trong đạo tràng mà lạy Phật thì thân căn thanh tịnh.

6/ Trong khi niệm, lạy, tâm thường tưởng Phật thì ý căn thanh tịnh.

NGUYỆN: Nguyện phải cho thiết tha, cho quyết định.

Chúng ta có thể lựa một trong các bài văn phát nguyện rồi học thuộc lòng, để trước khi lên giường ngồi xếp bằng hướng về Tây-Phương phát nguyện xong sẽ nằm ngủ.

Hoặc những vị kém trí nhớ hằng ngày phát nguyện TRÌ-DANH NIỆM-PHẬT – Niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật, đi, đứng, nằm, ngồi đều niệm, ăn cũng niệm, làm việc cũng niệm, cho đến những chỗ không sạch sẽ cũng đều niệm được cả (nhớ những lúc này niệm thầm, vì niệm lớn sanh tội bất kính).

Niệm từ buổi mai khi mới thức dậy, cho đến buổi tối, cả ngày niệm không xen hở. Khi gần đi ngủ, ngồi xếp bằng, bán già, hay kiết già, chắp tay mà nguyện rằng: Con tin lời của Đức Phật A-Di-Đà, giữ một lòng niệm danh hiệu Phật, nguyện đời này bao nhiêu tội chướng thảy đều tiêu sạch, đến khi lâm chung được Phật và các vị Bồ-Tát, đến tiếp dẫn chúng con về Cực-Lạc.

Trích từ: An Dưỡng Tập và Phật-Học phổ-thông
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm biên khảo từ nhiều tác giả khác

Cụ Dư Thị Ky Vãng Sanh [Audio]

Cụ Dư Thị Ky Vãng Sanh [Audio]

Học Phật, nếu thấu rõ đường đi, thấy rõ kết quả thì mình vui nhiều lắm. Còn nếu mờ mịt thì sống thấy khổ, tu hành cũng dễ chao đảo, dễ mất niềm tin, mất nguồn vui. Vãng sanh là sống mà đi vãng sanh, vui vẻ cho mình, vui vẻ lớn lao cho gia đình. Bác Dư Thị Ky, người Việt gốc Hoa, người thấp hơi tròn, ít nói và hiền lành, sinh năm Ất Hợi, thọ 68 tuổi, trước đây gia đình ở tại thị xã Cần Thơ, bán tạp hóa. Gia đình được qua Ðức quốc năm 1985, di cư qua Úc 1988.

Năm 2001, bác Ky đã quy y Tam Bảo và được ngài Tịnh Không cho pháp danh là Diệu Âm.

247/250Đầu...10...246247248...250...Cuối