Đại Nguyện Lực Thứ 18-19 Của Đức Phật A Di Đà

Đại Nguyện Lực Thứ 18-19 Của Đức Phật A Di Đà

Thưa các liên hữu Phật tử!

Ai cũng biết đá nặng thì không thể qua biển được, nhưng có thuyền to chở qua thì dễ dàng. Chúng sanh cũng vậy, tội nhiều chướng nặng thì không thể liễu thoát sanh tử, nhưng có thuyền nguyện lực của chư Phật đưa qua biển sanh tử dễ dàng.

Pháp môn Tịnh độ là một pháp tha lực, là thuyền từ cứu độ chúng ta. Riêng bản thân tôi tự xét nghiệp chướng nặng, tự sức mình biết khó giải thoát đường sanh tử nổi, nhưng may quá tôi đã gặp được thuyền nguyện lực của đức Phật và đã bước lên thuyền (đủ Tín-Nguyện-Hạnh) từ lâu, chỉ chờ thuyền cập bến là đến cõi Phật.

Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, (trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch cùng hủy báng chánh pháp), thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm tu các công đức nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nều tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Phần tôi có chỗ nương tựa rồi, nhìn thấy còn bao nhiêu chúng sanh chơi vơi trong biển khổ, do đó tôi muốn kêu gọi mọi người cùng bước lên thuyền, cùng được về cõi Phật. Chính vì vậy, từ lâu tôi muốn viết một tập sách nhỏ, trong đó nói rõ về nguyện lực thuyền từ của Phật để giới thiệu cho mọi người cùng biết. Nhưng vì lực bất tòng tâm, ý muốn mà sức khỏe… không cho phép. Cho đến hôm nay vì tha thiết ơn dày của Phật mà tôi cố gắng đem hết sức của mình luận giảng viết thành quyển sách nhỏ gởi tặng đến quý liên hữu để cùng tìm hiểu, tu học.

Thưa các liên hữu Phật tử, điều nguyện thứ 18-19 là nguyện lực quan trọng của Phật A Di Đà để tiếp dẫn chúng ta, nhưng phần nhiều khi giảng đến pháp môn Tịnh độ, thường chỉ chú tâm đến điều nguyện thứ 18 mà ít luận giảng nguyện 19, nên thường khuyên các Phật tử lúc lâm chung phải niệm Phật được 1 hoặc 10 lần mới được vãng sanh, do đó người tu thấy khó mà tự mất lòng tin của mình, không tin chắc mình được vãng sanh vì lo ngại không niệm được lúc lâm chung. Chính vì chỗ nghi ngại này mà tự ngăn cách mình với Phật (nên không cảm ứng đạo giao được). Để phá mọi nghi chấp đó, tôi xin giảng rõ 2 điều nguyện 18-19 của Phật A Di Đà để mọi người tin chắc mình được vãng sanh với điều kiện hành cho đúng văn nguyện của Phật.

Này các Phật tử! Trong nhà Phật thường nói đến “Nhân-Duyên: Nhân là hạt giống duyên là đất, nước, phân… có nhân, đủ các duyên hòa hợp lại thì sanh ra hoa quả”. Trái lại, có nhân thiếu duyên hoặc có duyên mà thiếu nhân thì không sanh ra quả được. Pháp tu Tịnh độ cũng không ngoài hai chữ Nhân Duyên. Nhân Tịnh độ là lời đại nguyện của Đức Phật lập ra, đây là phần của Phật đã tạo nhân sẵn dành cho chúng ta. Duyên Tịnh độ là lòng tin Phật-chí nguyện và hạnh niệm Phật. Duyên đây là phần của chúng ta phải tạo ra cho đủ. Như vậy có nhận đủ duyên hòa hợp nhau rồi, thì chỉ thời gian sinh trưởng và kết quả chúng ta được vãng sanh Cực Lạc còn Đức Phật thì mãn nguyện từ bi. Nếu chúng ta thiếu một trong ba điều kiện Tín-Nguyện-Hạnh là thiếu duyên Tịnh độ, nên không thể hòa hợp với nhân nguyện của Phật và không có quả vãng sanh được. Như vậy nhân nguyện của Phật là thuyền từ bi cũng đành bỏ trống. Vậy từ hôm nay, các Phật tử chúng ta phải tạo duyên Tịnh độ, lòng tin-chí nguyện-hạnh niệm Phật cho đủ, được như vậy là đúng với nhân nguyện của Phật, coi như mình đã bước chân lên thuyền Đại nguyện của Phật rồi, và yên tâm chỉ chờ thuyền cập bến Cực Lạc nữa là xong. Có nghĩa là đủ Tín-Nguyện-Hạnh rồi thì chỉ chờ mãn Báo Thân cõi Ta Bà liền vãng sanh qua Cực Lạc Nước của Phật A Di Đà.

Này các Phật tử: nếu các vị y theo điều nguyện 18-19 của Phật mà Tôi luận giảng tu niệm, mà không được vãng sanh khi lâm chung, thì Tôi xin nguyện: bao nhiêu tội khổ của quý Phật tử Tôi xin chịu thay và đọa xuống địa ngục cho đáng.

Này các Phật tử! Tôi dám nguyện như vậy là vì Tôi tin chắc các vị y theo nguyện 18-19 của Phật thì đều được vãng sanh tất cả. Nếu các Phật tử hành đúng văn nguyện 18-19 rồi mà không được vãng sanh, chẳng những tôi chịu đọa địa ngục, mà Phật A Di Đà cũng phải từ chức ngôi vị Chánh Giác.

Này các Phật tử! Một pháp tu có tôi phát nguyện, có Phật bảo hiểm có tánh cách quyết định cho đường sinh tử. Nếu không phải căn lành quá khứ của quý vị đã mùi, duyên lành xui đến thì làm gì quý vị gặp được thuyền nguyện lực của Phật và bài giảng của tôi. Cho nên tập sách nhỏ này tôi rút hết tâm huyết của mình và để tặng các Phật tử hữu duyên Tịnh độ. Tập sách này ngắn gọn nhưng có tánh cách quyết định.

Mong các quý vị xem kỹ hành cho đúng văn nguyện 18-19 của Phật, thì có tôi phát nguyện, có Phật đảm bảo trên đường về Cực Lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay, Tôi giảng điều nguyện thứ 18-19 của Phật A Di Đà. Vì phần nhiều ai cũng có thể niệm Phật được, nhưng hiểu cho rõ cái nguyên nhân và mục đích của sự niệm Phật thì ít ai hiểu được cho đúng. Do đó người tu niệm Phật rất nhiều mà kết quả thì rất ít, bởi vì niệm Phật mà không đúng cái mục đích mà Phật đã dạy chúng sanh niệm Phật.

Thông thường người đời cũng thường nói “Tu Niệm”. Như vậy chữ tu nó dính liền chữ niệm, có nghĩa người tu thì phải niệm Phật, niệm kinh… nên chữ tu người ta hiểu là phải niệm. Như vậy họ chỉ biết tu phải niệm, còn niệm để làm gì, và mục đích thì họ hoàn toàn không rõ. Cho nên nhiều người cả đời đi chùa niệm Phật chỉ cầu phước, cầu an, tai qua nạn khỏi… cầu như vậy cũng có đức tin vào chư Phật, cũng thuộc về thiện lành rất tốt, nhưng cầu như vậy không đúng cái mục đích mà Phật dạy chúng sanh, nên chúng ta phải hiểu thẳng rằng: niệm Phật để sanh qua thế giới của chư Phật. Tại sao niệm Phật mà được sanh qua thế giới của chư Phật? Vì Phật đã phát hoằng thệ nguyện: “Nếu chúng sanh nào muốn về nước Ngài niệm từ 10 niệm nếu không được sanh thì Ngài không ở ngôi Chánh Giác”.

Do cái nhân nguyện này mà Phật Thích Ca mới thị hiện vào đời mà dạy chúng sanh niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà để được sanh qua thế giới Cực Lạc của Ngài. Cho nên lời dạy của Đức Phật Thích Ca là dạy chúng sanh niệm Phật để sanh qua Cực Lạc của Đức Phật. Mà chúng sanh niệm Phật để cầu an cầu phước… như vậy nó không đúng cái mục đích Phật đã dạy mặc dầu chúng ta niệm Phật có niềm tin cũng gieo căn lành với đức Phật, nhưng niệm như vậy hiện tiền nó không được kết quả mỹ mãn vì nó sai mục đích của Ph-ật dạy. Cho nên hôm nay, tôi luận giảng điều nguyện 18-19 của Đức Phật A Di Đà để chúng ta biết chúng ta niệm cho trúng ý nghĩa mục đích, để kết quả một đời này vãng sanh về với Đức Phật.

Bây giờ tôi giảng “nguyện là gì?”. Nguyện là lời thề thốt hứa hẹn với mình, cho nên những vị phát tâm tu hành hướng về đạo quả Bồ đề được gọi là phát Tâm Bồ Tát. Các Ngài thường phát ra lời thề thốt, để lời thề thốt đó gọi là nguyện lực. Nó có sức mạnh nung nấu tinh thần để các Ngài y theo lời hứa hẹn đó mà tiến lên con đường tu để thành đạt cái ý chí đó, thực hành theo ý chí đó mà độ chúng sanh, gọi là lời thề nguyện. Nên nguyện lực là sức mạnh của lời hứa hẹn, gọi là lời thề. Cũng như người sắp ra chiến trận, họ biết trong chiến trận có nhiều sự gay go, gian khổ, nguy hiểm, người sợ thối chí đổi lòng nên người ta kết bạn thề vói nhau “Thà chết chứ không hàng” nên khi giao chiến dầu có khó khăn, nguy hiểm, người ta nhớ cái lời này mà dũng mãnh chiến đấu, sức mạnh của nó làm cho người ta vượt qua những khó khăn mà được chiến thắng, nên các Ngài Phát Tâm tu hành trước hết người ta có lời thề, cái tâm nguyện người ta muốn đạt cái mục đích đó, nhưng nếu phát ra mà chỉ tự với mình thì chưa đủ làm cho ý chí đó mạnh mẽ, nên cần có người khác chứng biết.

Cho nên tiền than Đức Phật A Di Đà còn là một vị Vua tên là Vô Tránh Niệm. Khi Vua Vô Tránh Niệm cùng quan phu tướng tên là Bảo Hải đến dự Pháp Hội của Phật Bảo Tạg Như Lai , khi vua Vô Tránh Niệm thấy Đức Phật Bảo Tạng Vương Như Lai dung sức thần thông phóng đạo hào quang cho thấy 10 phương quốc độ thế giới của Chư Phật. Tất cả cảnh giới hiện rõ trên đài Hào quang tròn (Giống như đài truyền hình chiếu phim).

Vua theo dõi nhìn từng Quốc độ hiện ra. Vua thấy có cảnh giới thì chúng sanh an vui thụ hưởng tự nhiên, thân vàng tướng đẹp, đất vàng bằng phẳng, thọ mạng lâu dài. Có cảnh chúng sanh khan khổ đói nghèo, thiếu thốn, nhều bệnh tật, đát đai hầm hố thô xấu… Vua mới thắc mắc vì sao các quốc độ không đồng nhau, thì Phật Bảo Tạng giải rằng : Do tâm thanh tịnh nên cảm ra thế giới thanh tịnh. Còn tâm bất tịnh thì cảm ra thế giới xấu nhơ… như vậy tất cả cảnh giới đều do tâm tạo.

Khi vua Vô Tránh Niệm hiểu được nguyên nhân rồi Ngài mới dung cái trí suy nghĩ để sắp đặt cái chí nguyện của mình dung cái tâm thanh tịnh mà hành đạo Bồ Tát để kết hợp thành một cảnh cực kỳ trang nghiêm đẻ Ngài nhiếp thủ chúng sanh đem về giáo hoá cho thành Phật.

Trong khi Ngài suy nghĩ sắp đặt xong rồi thì vua liền đến trước pháp hội của Phật Bảo Tạng, cầu Đức Phậtvà chúng hội Bồ tát chứng minh cho Ngài . Ngài thuẩta 48 lơì thề nguyện của mình để hứa hẹn với chúng sanh . Đại ý của 48 đại nguyện đó là nguyện kể từ nay Ngài phát48 lời nguyện để trang nghiêm tịnh độ , để thành lập một cõi cực lạc hoàn toàn an vui, một lần sinh ra từ hoa sen hoá sanh và sống mãi cho đến ngày thành Phật (không còn sanh tử dời đổi đi đâu nữa).

Khi vua Vô Tránh Niệm quỳ gối chắp tay đối trước Phật Bảo Tạng và chúng hội trường thuật 48 lời Đại nguyện xong thì trời đất chấn động, trên không hoa rơi xuống như mưa. Đức Bảo Tạng thọ ký cho vua Vô Tránh Niệm về sau thành Phật hiệu là A Di Đà Phật thống lãnh cõi nước tên là Cực Lạc (tức Tây Phương Cực Lạc bây giờ). Khi Phật Bảo Tạng thọ ký xong rồi thì vua Vô Tránh Niệm kể từ đó mới tu Bồ tát Đạo.

Gọi là nguyện hạnh , vì cái lời nguyện là cái tâm của n=mình muốn đậtcí việc nình đã muốn , nên khi nguyện có người chứng biết rồi , bắt đầu Ngài phải thi hành theo cơ sở nguyện là tu Bồ Tát Đạo .

Bố thí
Trì giới
Nhẫn nhục
Tin tấn
Thiền định
Trí huệ

Nếu nguyện mà không thành là nguyện suông cho nên nguyện lớn là đã khó rồi mà hành để đạt hoàn thành viên mãn sở nguyện là rất khó. Cho nên Đức A Di Đà tiền thân là vua Vô Tránh Niệm đã phát 48 điều Đại nguyện , nó bao chứa tất cả lòng từ bi để trang nghiêm cõi Phật độ.Trong 48 điều nguyện của Phật A Di Đà, tất cả các điều nguyện nhằm vào trang nghiêm tịnh độ Chỉ có 2 điều nguyện 18-19 là nhằm vào sự nhiếp thủ chúng sanh để đem về tịnh độ nên 2 điêu nguyện này thật quan trọngvà có tính quyết định.

Khi vua Vô Tránh Niệm phát 48 nguyện lực được Phật Bảo Tạng thọ ý rồi thì vị quan phụ tướng của vua tên Bảo Hải cũng phát nguyện rằng: cho đến khi tôi thành Phật . Tôi ngự trị vào cõi đời tối tăm đau khổ để giới thiệu chỉ daỵ cho chúng sanh . Biết được nguyện lực của Phật A Di Đà để nương nhờ nguyện lực của Ngài mà mau giải thoát đường sanh tử sớm thành Phật. Và Phật Bảo Tạng Vương thọ ký cho quan phụ tướng Bảo Hải về sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà Này.

Từ khi vua Vô Tránh Niệm và quan phụ tướng Bảo Hải được Phật Bảo Tạng thọ ký rồi, hai Ngài trải qua vô số tăng kỳ kiếp tu hạnh Bồ tát, lợi ích chúng sanh, đến kỳ viên mãn phước huệ của đạo bồ tát thì vua Vô Tránh Niệm thành Phật Di Đà làm giáo chủ cõi Cực Lạc. Trong khi Ngài thành Phật đã trãi qua 10 kiếp rồi mà thế ở thế giới Ta bà này chúng ta chưa biết, vì đức Phật Thích Ca chưa thị hiện vào đây. Cho đến khi Đức Thích Ca thị hiện vào đây rồi và Ngài dung Phật nhãn nhớ lại quá khứ Đức A Di Đà và Ngài đã nguyện nên Ngài mới dạy pháp môn Tịnh Độ , dạy chúng sanh niệm Phật để được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.

Như kinh Vô Lượng Thọ Phật nói lại lịch sử tiền thân của Đức Phật A Di Đà . Trong khi kinh Bi Hoa nói tiền thân Phật A Di Đà là vua Vô Tránh Niệm phát 48 đại nguyện nơi Pháp hội của Phật Bảo Tạng và từ đó chuyên tu hạnh Bồ Tát vô số kiếp. Sau đó lại chuyển sanh làm Pháp tạng tỳ kheo ở thời kỳ pháp hộ của Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai , và muốn nhắc lại lời nguyện của mình với chúnh sanh nên Ngài mới tường thuật 48 đại nguyện một lần nữa , trong kinh vô lượng thọ , Phật Thích Ca nói Pháp tạng tỳ kheo này phát 48 đại nguyện trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai và hành 6 độ Ba la mật để thành tựu sở nguyện của mình , Trải qua vô số kiếp ngài thực hành trọn vẹn 6 độ ba la mật nên Ngài thành Phật hiệu A Di Đà ở phương Tây.

Như vậy vua Vô Tránh Niệm là thân trước , pháp tạng là hậu thân sau đều nhằm vào 48 đại nguyện của mình , cho nên bây giờ Ngài thành tựu hiện là A Di Đà, và dùng 48 lời nguyện đó luôn đứng bên cõi Cực Lạc danhg tay tiếp đón những người niện Phật khắp mười phương đem về giáo hoá cho thành Phật .

Nên hôm nay tôi giảng rõ điều nguyện thứ 18-19 cho các Phật tử biết nguyên nhân và lòng từ bi của Phật A Di Đà đã hứa hẹn với chúng ta, cái lời nguyện là lời hứa hẹn. Cũng như bây giờ trồng trọt, mình hứa với mọi người: “nếu tôi trúng mùa tôi sẽ cho anh cùng hưởng…” nhưng chúng ta hứa hẹn mà không có ai làm chứng , khỉtún mùa nhưng đôi khi do lòng tham nó làm cho mình đổi lòng và quên lời hứa trước. Người đời thường là như vậy , nên muốn thủ tín cho người tin lời hứa của mình thì cần phải cần người làm chứng . Nếu sau đó đổi lòng thì bị xấu hổ , mất mặt với thiên hạ. Cho nên Đức A Di Đà tiền than là vua Vô Tránh Niệm vì lòng từ bi muốn độ chúng sanh nhưng sợ chúng sanh nghi ngờ nên vua Vô Tránh Niệm và hậu thân sau là pháp tạng tỳ kheo mới phát lời thề và cầu đức Phật chứng minh lời hứa của mình để làm tin cho chúng sanh nên khi Ngài thành Phật rồi , Ngài y theo bổn nguyện của mình mà tiếp độ chúng sanh . Nên chúng sanh khắp 10 phương mà nương cái nhân duyên niệm Phật là đúng vao bổn nguyện của ngài, thì đều được Ngài độ thoát.

Trong 48 lời đại nguyện , Ngài nguyện nếu có một nguyện nào mà Ngài không thực hiện đúng như lời thệ nguyện thì ngài không thủ ngôi Chánh Giác. Nghĩa là quả vị Phật đó các Phật tử và Ngài đã thực hiện trọn vẹn cho nên Ngài mãi mãi là một vị Phật mà mười phương chư Phật đều khên ngợi là đệ nhất. Chính Đức Thích Ca thấy lời Đại nguyệnnày nên Ngài vào cõi đời mà dạy chúng sanh phải y theo cái nhân nguyện mà tạo duyên tín-nguyện-hạnh để được đức Di Đà độ thoát.

Bây giờ tôi giảng chánh văn : “Điều nguyện thứ 18 lúc toi thành Phật , thập phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh được về nước tôi nhẩm đến 10 niệm như nếu không được sanh thì tôi không thủ ngôi chánh giác.(Trừ kẻ tội phạm ngũ nghịch và huỷ báng chánh pháp mà thôi)”.

Điều nguyện thứ 18 này hứa với chúng sanh rằng: “Lúc tôi thành Phật” có nghĩa trên đường tu Bồ tát hạnh và đến cái thời viên mãn trên đường Bồ tát hạnh đó là lúc Ngàu thành Phật . Thành Phật là lúc phước huệ viên mãn trí huệ thần thông tự tại gọi là toàn năng toàn trí toàn giác.

Thập phương chúng sanh.
Thập phương chúng sanh: có nghĩa là 10 phương: Đông – Tây – Nam – Bắc – Đông Nam – Tây Nam – Đông Bắc – Tây Bắc – Thượng Hạ.

Chúng sanh: chữ chúng có nghĩa gọi chung là chỉ chung cho tất cả chúng sanh . Sanh có nghĩa là sanh mạng, trên từ Bồ Tát xuống đến tận địa ngục gọi là 9 giới chúng sanh , đối với Phật gọi chung là chúng sanh.

Ngài nói thập phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh về nước tôi chí tâm có nghĩa là ý chí, cái tâm con người gọi là tâm ý mà tâm ý nó gom lại tột độ để làm chi ? để tin mộ , là đem cái tâm chí cao độ nó tin tưởng Ngài là một vị Phật đã thành toàn năng toàn trí toàn giác có long từ bi có Đại nguyện lực.

Chúng ta tin tưởng Ngài đã thành Phật như Phật Thích Ca , có đầy đủ thần thông và nguyện lực. Và tin cái cõi Cực lạc do 48 nguyện lực của Ngài thành lập thật là trang nghiêm , an vui gọi là chí tâm tin . tin rồi bắt đầu mình mộ , mộ có nghĩa là gì? Chữ mộ có nghĩa là mến , nên chữ mộ ở đây gọi là tín mộ , nghĩa là mình đem hết cái tâm thành thật tin tưởng Ngài và quốc độ Ngài rồi mình mới cảm được cái ơn đức sâu dày của Ngài. Vì lòng từ bi mà phát 48 đại nguyện rồi thực hành đại hạnh trải qua nhiều số kiếp cho đến hôm nay thành một vị Phạt mà không vào Niết bàn an nghỉ, luôn đứng xoè tay mà tiếp đón chúng sanh từ khắp 10 phương mà đem về miền Cực Lạc.

Cũng như ngườ mẹ hiền tận tuỵ với đàn con thơ ấu dại xa bỏ quê hương lăn lội xứ người , người mẹ ngày đêm thao thức để rước đón con về để giáo hoá cho thành Phật . Nên mình cảm ái ơn đức sâu dày của Phật , ròi mình mới mến thương Đức Phật gọi là mộ .Mộ rồi mình muốn về nước Ngài , muốn có nghĩa là cái long muốn về Cực Lạc sống chung với Phật để nhờ Ngài dùng lòng từ bi giáo hoácho mình nên gọi là muốn .

Muốn sanh về nước tôi nhẫm đến 10 niệm , ở câu hiệu này có nghĩa chữ nhẫn không phải là nhẫn nhục mà ý nói tắt là muốn về nước tôi nhẩm đến 10 niệm nếu không được sanh thời tôi không ở ngôi Chánh Giác. Như vậy muốn về nước Ngài niệm được 10 niệm mà không được sanh thì Ngài không thủ ngôi Chánh Giác , chỉ trừ người phạm tội ngũ nghịch và huỷ bang chánh pháp mà thôi. Cái điều nguyện chỗ này chúng ta nên chú ý cho kỹ là Ngài nói tín mộ muốn về nước Ngài rồi niệm nhẩn đến 10 niệm nếu không được sanh Ngài không thủ ngôi Chanh Giác. Chỗ này chúng ta phải hiểu Ngài nói nếu không được sanh , có nghĩa là phải được sanh, nhưng được sanh Ngài không cho biết sanh ở đời này hay đời sau. Nên chỗ này chúng ta cần phải nêu ra đẻ luận rõ, vì cái nguỵên là cái nhân không thể nào mà thay đổi được .Nếu chúng ta thực hành đúng cái nhân này thì nhất định sẽ được đức Phật độ. Còn nếu chúng ta thực hành sai thì không thể khiếu nại được , nên cái chỗ này chúng ta cần phải để ý. Ngài nguyện rằng nhẩm đến 10 niệm nếu không được sanh, có nghĩa là phải được sanh.

Như vậy có người chí tâm tín mộ niệm 10 niệm rồi sau không tu niệm nữa có được sanh không? Nhất định dược sanh nhưng mà nó lọt về vô số kiếp về sau mới được sanh. Bởi vì tín tâm ham muốn và niệm được mười niệm , tức là mười niệm này nó kết vào chủng tử hạng thức A Lại Da , lâu đời lâu kiếp nó hiện hành phát sanh ra đến kiếp vị lai nó mùi mới được Phật độ. Như vậy , người tín tâm ham muốn niệm 10 niệm sau không niệm nữa thì được sanh ở kiếp về sau như vậy đường sanh tử nó còn dài. Nên cái câu mà Đức Phật nguyện niệm 10 niệm của điều nguỵện 18 của Phật A Dia Đà được Đức Thích Ca dạy rõ trong Quán Kinh và Kinh Niệm Phật Ba La Mật, nói 10 niệm được sanh một đời này này là niệm vào lúc lâm chung. Cho nên chúng ta phải hiểu cái lời nguỵện của Đức A Di Đà đã nguỵên cho đúng nghĩa trong Kinh Niệm Ba La Mật , Đức Thích Ca dạy 10 niệm được vãng sanh , là khi lâm chung phải cố giữ niệm cho được 10 niệm nối nhau thì liền được vào Phổ Đẳng tam muội của PhậtA Di Đà liền được sanh qua Cực Lạc .

Còn Quán Kinh cũng dạy 10 niệm vãng sanh là niệm lúc lâm chung . Như vậyđiều niệm thư 18 nói niệm 10 niệm được vãng sanh là ý Ngài nguyện lúc lâm chung ai niệm 10 lần thì Ngài liền đến tiếp dẫn sanh qua cực lạc bằng không Ngài không thủ Ngôi Chánh Giác. Vậy thì quá rõ rồi, nên chúng ta muốn sanh qua Cực Lạc phải niệm 10 lần vào lúc lâm chung (là lúc sắp chết). Mà muốn lúc lâm chung niệm được thì bây giờ phải tập niệm cho quen gọi là tích luỹ nghiệp Có nghĩa là lúc chúng ta đi, đứng, nằm ,ngồi chúng ta vẫn phải luôn niệm Phật hoặc niệm ra tiếng hoặc niệm trong tâm. Niệm: “Nam mô A Di Đà Phật” hoặc A Di Đà Phật đềi được cả, và phải niệm cho lien tục trong lòng chỉ trừ khi làm việc bằng trí óc thì chúng ta mới tạm ngưng , nhất là lúc sắp ngủ chúng ta niệm cho đến lúc ngủ quên mới thôi. Chúng ta niệm được như vậy là nó tích luỹ câu Phật hiệu , huân tập chất chứa trong tạng thức , nó thành cái chủng tử niệm Phật nó thành một cái tràng niệm Phật nó thành một sức mạnh niệm Phật , nó thành thói quen niệm Phật gọi là Tịnh nghiệp niệm Phật. Đến khi thân hoại mạng chung do cái thói quen niệm Phật này , nên vừa tác ý niệm Phật thì câu Hồng danh nó liền bung tràn ra do chúng ta đã huân tập sẵn nên nó rất dễ niệm . Còn nếu bình thường chúng ta không huân tập niệm Phật đến lúc lâm chung nào thì bệnh đau hành khổ , nào là thương con tiếc của rồi nghiệp tạo trong đời và nghiệp đời quá khứ nó hiện ra nên chúng ta khó mà niệm được. Cho nên Kinh A Di Đà Đức Phật dạy phải niệm từ 1 đến bảy ngày cho tâm không loạn để lúc lâm chung được vãng sanh. Và kinh Niệm Phật Ba La Mật đức Phật dạy ta thường đi dứng, nằm, ngồi phải luôn niệm Phật cho chuyên nhất , cho nó thành thói quen. Như vậy,đức A Di Đà nguyện là chúng sanh niệm chỉ có 10 niệm lúc lâm chung thôi . Nhưng đức Thích ca thấy chúng ta nghiệp chướng quá sâu nặng mà muốn niệm được lúc lâm chung thì phải huân tập. Cho nên chúng ta niệm Phật thường thì hiện đời được nghiệp chướng tiêu trừ được tai ưua nạn khỏi (mặc dầu chúng ta không có cầu an). Và đến khi lâm chung , do ta đã huân tập sẵn nên niệm Phật đựoc dễ dàng và sự vãng sanh được đảm bảo chắc chắn.

Có nhiều người nói: “Nếu vậy tôi đợi lúc lâm chung rồi niệm 10 niệm còn bây giờ chơi cho đã tu niệm mệt lắm?” Xin thưa bình thường không huân tập thì đến giờ chết không tài nào niệm được đâu . Cho nên muốn niệm được thì bình thời hãy niệm cho quen đi. Như vậy , ai đã tín mộ Ngài và niệm 10 niệm trong lúc lâm chung thì đều được vãng sanh , thì đều được vãng sanh , chỉ trừ người tạo tội ngũ nghịch. Tội ngũ nghịch là gì ? 1-là tội giết mẹ, 2-là tội giết cha , 3-là tội giết bậc A La Hán, 4-làm than Phật ra máu, phá hoà hợp tăng. Đây gọi là tội ngũ nghịch vì sao ? Vì cha mẹ có công nuôi dưỡng mình mà mình nhẫn tâm sát hại nó trái với đạo lý nên gọi là nghịch , còn những bậc A La Hán là người chơn tu hiền từ đã đắc đạo quả Thánh mà mình đem cái tâm ác giết hại , cho đến Đức phật có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh , Ngài ra đời để cứu độ chúng sanh mà mình đem tâm ác giết hại cũng như Đề Bà Đạt Đa đem cái tâm lăn đá đè chân Phật chảy máu – gọi là phạm tội ngũ nghịch.

Ngày nay Phật không còn tại thế , nhưng ai ác tâm phá huỷ chùa tháp tượng phật thì đồng tội làm thân Phật ra máu . Còn tội phá hoà hợp tăng nghĩa là gì ? Là chúng tăng đoàn tụ hội nơi tu hành , nếu dung thế lực để chia rẽ , phân tán hoặc đâm thọc them bớt cho bất hoà nhau đều là phạm tội phá hoà hợp tăng. Nguyện của Phật chỉ trừ những người phạm 5 tội này và tội huỷ báng Chánh Pháp . Huỷ báng Chánh Pháp là gì ? Chánh Pháp là những lời Phật dạy cuả chư Phật gọi là “Kinh Luật” mà ai đen tâm khinh chê chống đối bài bác gọi là huỷ báng Chánh Pháp. Như vậy những người ác kiến không tin và những ngoại đạo hay chê bai giáo lý của Phật. Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận vì không khéo thì có lúc những người tu cũng dễ vướng phạm, là vì Pháp tu của Phật dạy rất nhiều, tổng cộng có đến 84 ngàn pháp môn tu , ai có duyên với pháp môn nào thích hợp thì họ tu theo pháp môn đó . Cũng như Pháp mon Tịnh đọ của chúng ta đang tuđây tuy dễ , nhưng những người không có duyên với Phật A Di Đà nên họ không tu theo , mà họ thích tu Thiền tông … đây là các pháp tự lực mặc dầu khó nhưng cũng là pháp của phật dạy chúng ta không được chỉ trách chê bai.

Nếu chúng ta khinh chê là phạm tội huỷ báng chánh pháp của Phật , cho nên Phật tử phải cẩn thận . Như vậy , nguyện 18 của Phật loại trừ người phạm tội ngũ nghịch và tội huỷ báng chánh pháp ra , tất cả chúng sanh trong 9 giới (1-Bồ tát 2-Thanh văn 3-Duyên giác Độc giác 4-Thiên 5-Nhơn 6-A tu La 7-Súc sanh 8-Ngạ quỷ 9-Địa ngục). nếu niệm danh hiệu Phật lúc lâm chung thì Ngài liền tới tiếp sanh về Cực Lạc. Như vậy, chúng ta thấy nguyện 18 này bao chứa tràn đầy lòng từ bi trong đây.Chỗ trừ tội ngũ nghịch , có nghĩa những tội đó thì Ngài không có đảm bảo . Còn các tội thông thường khácnhw 5 giới , 10 giới , 250 giới nếu có lỡ phạm mà biết hết long hướng về niệm danh Ngài lúc lâm chung thì nhất định có Ngài bảo trợ và tiếp độ , nếu không như vậy thì Ngài phải từ chức , tức là “không thủ ngôi Chánh Giác “.Có như vậy mới gọi là tha lực , là thuyền từ cứu độ chúng sanh .

Có người nói rằng như vậy 10 niệm của điều nguyện 18 được vãng sanh một đời này là phải niệm lúc lâm chung , như vậy nó còn sự khó khăn cho chúng sanh. Vì lúc lâm chung là lúc sắp chết, mà chết có nhiều cách khác nhau, đâu phải chết từ từ như chết bệnh chết đau mà còn có nhiều cái chết đột tử bất ngờ như chết đuối, té núi,trúng độc,trúng gió, xe đụng,sung đạn tai nạn bất ngờ… gọi là bất đắc kỳ tử thì làm sao mà niệm kịp mười niệm,như vậykhông niệm phật được1 hoặc 10 niệm thì coi như công tu một đời này phí uổng hay sao ? Cho nên chúng ta cần luận rõ lại là điều nguyện thứ 18 này có tánh cách gấp rút , cấp cứu chụp giựt và có phần chưa an tâm. Cho nên điều nguyện này thì có phần khó. Gấp rút là gì? Là đức phật nói chỉ cần tin mộ muốn về nước ngài nhẩm mười niệm có nghĩa là gấp rút , điều nguyện này lúc đầu có vẻ rất dễ, tại vì Đức Phật không có ra điều kiện phát Bồ đề tâm hoặc tu các công đức nên nó rất là dễ . Người bình thường , người khong có tu sẵn mà chỉ phát tâm tin tưởng mến mộ muốn sanh về nước Ngài mà niệm được 10 niệm khi lâm chung liền được vãng sanh . Dầu được vãng sanh nhưng phẩm vị rất thấp, ở các bậc hạ phẩm.

Vì sao, vì gấp rút nên người này không có sẵn các tu đức , không có phát tâm Bồ đề , không có niệm nhiều mà chỉ niệm được 10 niệm trúng vào văn nguyện của Phật nên được lòng bi nguyện của Phật tiếp độ người này với tính cách gấp rút , vì do người này chưa dự bị sẵn , hoặc chưa biết giáo lý Tịnh độ , mà đến lúc lâm chung gặp bậc thiện tri thức dạy nên chỉ tin và niệm kịp 10 niệm mà thôi. Như vậy cái nguyện 18 này dùng độ những người chưa chuẩn bị trước hoặc gặp Phật pháp quá muộn , nên y theo điều nguỵen này thì chúng ta cần phải có người trợ niệm lúc lâm chung nhắc cho mình nhớ niệm Phật , mình nương tiếng trợ niệm để niệm theo lúc cuối 10 niệm, và nương nguỵện của Phật mà được vãng sanh. Như vậy căn cứ văn nguyện 18 này thì chưa ổn , và chưa chưa yên tâm vì phải chờ kết quả giờ lâm chung , có niệm Phật được hay không mới biết được vãng sanh hay không. Chính vì lý do này mà phần nhiều người tu Tịnh độ không tin chắc mình có được vãng sanh hay không . Vì rất lo ngại đến lúc lâm chung biết có được tỉnh táo để niệm Phật hay không , mặc dầu mình có huân tập niệm Phật sẵn . Đây là một lo ngại chính đáng chung . Vì chúng ta là hạng phàm phu nghiệp chướng nặng nề nên chúng a phải lo. Trước kia tôi cũng có những ái ngại lo cho mình chỗ này. Và chính vua Vô Tránh Niệm ở kiếp quá khứ về trước lúc suy nghĩ lập nguyện Ngài cũng thấy rõ sự lo ngại của chúng sanh ở điều nguyện này (chưa an tâm) do đó Ngài mới phát nguyện tiếp điều nguyện thứ 19 để hỗ trợ nguyện 18 cho chúng ta an tâm.

“Nguyện thứ 19 lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm, tu các công đức nguyện sanh về nước tôi, đến khi lâm chung nếu tôi chẳng cùng Đại chúng hiện trước người đó, thời tôi không thủ ngôi Chánh Giác”.

Giảng: là 10 phương chúng sanh phát Bồ đề tâm, có nghĩa là cái tâm rộng lớn, tâm quyết tu cho thành Phật để cứu độ cho chúng sanh, chứ không chịu dừng để nghỉ ngơi ở địa vị Bồ tát hay La Hán, người có cái tâm chí mong mõi được thành Phật gọi là phát tâm Bồ Đề. Cái tâm này nó không có đòi hỏi ở vật chất giàu nghèo sang hèn hay than thể xấu đẹp, nên từ vua chúa đến kẻ ăn mày đều có thể phát được tâm này nên người tu niệm Phật phải phát bồ đề tâm mới đúng với lời nguyện 19 của Phật rồi tiếp tu các công đức. Các công đức là gì ? các công đức gồm có tự lợi và lợi tha. Tự lợi là mình giữ giới ăn chay đọc tụng kinh, niệm phật, lợi tha là bố thí, cúng dường, ấn tống, thuyết giảng Chánh Pháp hướng người tu hành… tất cả các việc làm này gọi là tu các công đức. Tùy theo sức của mỗi người mà các công đức ít nhiều tùy khả năng điều kiện nhưng phải có các công đức đó. Làm các công đức đó rồi nguyện sanh về cõi nước tôi .

Chữ nguyện là muốn nói lòng mình mong muốn về cõi Phật rồi mình phát ra cái lời văn nguyện .
Ở điều 18 chỉ nói lòng ham muốn là chỉ cho trong tâm. Còn nguyện 19 nói nguyện sanh, là tâm muốn rồi phải phát nguyện ra lời nguyện, và nguyện bằng văn phát nguyện để nhắc tâm. Thân tâm hợp nhất hướng về một chỗ cho nó mạnh cũng gọi là nguyện lực , là sức mạnh của lời nguyền như trước đã giảng. Như vậy điều nguyện này nói phát Bồ đề tâm , tu các công đức rồi xoay các công đức đó thệ nguyện được sanh qua nước Cực Lạc. Đến lúc lâm chung, là đến lúc chết nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện trước người đó thời tôi không ở Ngôi Chánh Giác.

Đến đây chúng ta mới thấy rõ sự an ổn của điều nguyện 19 này , nó có sự bảo hiểm cho chúng ta . Vì điều nguyện 19 này đầu tiên Phật ra điều kiện phải phát Bồ đề tâm , Bồ đề tâm này phải đứng đầu và bồ đề tâm này đâu có khó , vì nó đâu đòi hỏi phải có tiền mới phát được , cho nên ai có tâm là đều phát được , là ý nguyện mong sau này được thành Phật để độ chúng sanh. Nếu có tâm này rồi thì đã có bồ đề tâm.Mình phải tự kiểm lại coi mình có tâm này chưa , nếu chưa thì liền phát cho nó đúngvowis văn nguyện của Phật. Tiếp nữa là tu các công đức , như vậy ít nhiều Phật không buộc ở số lượng nhưng phải có tu các công đức mới đúng văn nguyện . Nhưng nếu ai tu công đức nhiều thì sanh phẩm cao , còn ai tu công đức ít thì sanh phẩm thấp. Mình tu công đức rồi là đã ăn khớp với văn nguyện của Phật . rồi mình dây cái công đức đó , thề nguyện sanh về nước Ngài tức cõi Cực Lạc. Chữ nguyện này tôi xin nói cho rõ là lòng mình ham mộ mong muốn , nó rạo rực ấp ủ trong lòng mình luôn hướng về đức Phật , mình mới phát ra cái thệ nguyện.

Như vậy , chúng ta phải hiểu , chớ có nhiều người sơ sót lớn chữ nguyện này nên cứ đứng trước bàn phật đọc bài văn cầu sanh Tây phương và cho là mình đã có nguyện rồi , còn tâm thì không thường hướng về Tây phương mà ngược lại lo tiền của thế gian. Như vậy thuộc giả nguyện rồi, dầu cho có lòng thành trong lúc nguyện đọc , rồi sau buông ra tâm lại lo đam mê thế gian, đó là gián đoạn nguyện chứ không phải là chuyên , như vậy chưa kịp với lời nguyện 19 của Phật . Như vậy chỉ có thể gieo nhân lành về sau mà thôi , chớ chưa được độ trong đời này vì chưa nguyện thiết với Phật. Như vậy các Phật tử phải lập nguyện làm sao cho tâm mình luôn hướng về với Phật , giống như người con xa nhà nhớ quê hương , cha mẹ và luôn mong mỏi được trở về . Lòng mình phải thường hướng nghĩ như vậy mới gọi là có nguyện , đây cũng gọi là nguyện thiết.

Trong tư liệu giảng của Vĩnh Minh thiền sư nói tu Tịnh độ thuộc về giáo còn có tịnh độ hay không là thuộc về người . Mà giáo lý Phật dạy rồi , ai cũng tu được nhưng tu cho nó đúng Tịnh độ thì đâu phải ai cũng có đâu. Nên có vị thiền sư hạch vấn , nếu có 10 người tu 10 người đổ , vậy sao tôi thấy nhiều người tu niệm Phật vô số mà không mấy người khi chết được thoại ứng điềm lành , được vãng sanh ? Thì Liên Mộ pháp sư trong cuốn đường về Cực Lạc của Hòa Thượng Trí Tịnh , Liên Mộ pháp sư nói: Vì tu Tịnh độ mà chưa có Tịnh Độ . cái miệng niệm Phật um sùm còn tâm thì đam mê lục dục cõi Ta bà nên kết quả không có thoại ứng điềm lành vãng sanh . Nên các người không hiểu pháp tu. Chỉ thấy người niệm Phật thì cho rằng tu Tịnh độ , nhưng tại sao lúc chết lại không có thoại ứng điềm lành vãng sanh . Nên họ sinh nghi và họ thoái tâm không tin kinh dạy của Phật. Nên hôm nay nhữ nguyện này phải lập nguyện cho đúng văn.

Bây giờ tôi thí dụ cho Phật tử hiểu đúng chữ Nguyện. Cũng như có một người con vì nghĩa vụ đất nước phải tạm xa cha mẹ quê hương để thi hành nghĩa vụ . Anh ta xa quê hương nhưng lòng luôn nhớ thương cha mẹ hoặc người thân yêu (bạn bè), nhất là vào các đêm thanh vắng thao thức. Lòng chỉ mong cho mau tròn xong nhiệm vụ để trở về, chứ không thích mến ở lâu trong quân ngũ.

Chữ Nguyện của Tịnh độ cũng y như vậy. Nghĩa là lòng luôn hướng về Cực Lạc, nhớ thương Phật A Di Đà như nhớ thương mẹ hiền. Tuy thân sống cõi Ta bà, vì phải trở cái nợ cũ nhưng lòng không mê thích ở đây. Tâm tâm niệm niệm ấp ủ chờ ngày xong nợ trần để đoàn tụ nơi quê hương Cực Lạc .

Này các Phật tử được như vậy gọi là nguyện thiết , là đúng văn ngyện 19 rồi thì đến lúc lâm chung có Ngài và Đệt tử Thánh Chúng hiện ra. Chúng ta nguyện xét cho kỹ lời văn nguyện này thì chúng ta thật là an tâm, vì không sợ chết bất đắc kỳ tử, hoặc cận tử nghiệp. Vì văn nguyện 19 này gồm có 4 phần:

Là phát Bồ Đề tâm
Là tu công đức
Là nguyện về nước Ngài
Lâm chung Ngài hiện ra.

Như vậy 3 phần đầu là Bổn nguyện của chúng ta tu tạo , còn thứ 4 là phần của Phật , nên nếu 3 phần đầu tat u tạo đủ thì bổn phận của Ngài cùng Đại chúng hiện ra lúc lâm chung , như vậy chúng ta đủ 3 phần của văn nguyện 19 rồi thì chỉ còn chờ phần của phật khi lâm chung Ngài hiienj ra , miễn lâm chung là có Ngài , chớ Ngài không có ra điều kiện lâm chung lành hay dữ, tốt hay xấu. Như vậy chúng ta có Bồ đề tâm tu các công đức rồi nguyện thiết rồi thì dù lân chung bằng cách nào cũng được Phật hiện thân ra tiếp dẫn. Vì nếu Phật không hiện ra ,Phật phải từ chức ngôi vị chánh giác như lời nguyện của mình. Người đời sự nhất là các chứng bệnh nan y vì một khi vướng phải thì chết . Còn người tu ngoài pháp môn Tịnh Độ thì sợ nhất là bất đắc kì tử và cận tử nghiệp. Còn pháp môn tịnh độ này nếu chúng ta tu chỉ y theo điều nguyện thứ 18 thì chúng ta vẫn sợ như thường Nhưng đến điều nguyện thứ 19 này là có một thứ thần được trừ chứng nan y như cận tử nghiệp và bất đắc kỳ tử, vì sao vậy?

Vì Phật nói lâm chung Ngài đến. Thì thí dụ chúng ta bị té cây chết hoặc trúng độc chết đột ngột …
Đây gọi là bất đắc kỳ tử, có nghĩa là không biết trước kỳ chết . Không biết trước kỳ chết là ý muốn nói người phàm mình thôi, vì quá đột ngột nên mình không biết trước được . Nhưng đối với Phật thì làm sao gọi là bất đắc kỳ tử được? Vì Phật là nhất thiết chủng trí thấy biết rõ suốt quá khứ , vị lai từng mỗi chúng sanh , chừng nào chết và sanh đi đâu , Phật đều biết hết nên mình đã hành đúng nguyện 19 rồi . Nên xe co tong vô thì Phật đã hiện ra liền . Và Phật rước cái thần thức mình vãng sanh ngay lúc đó . Lúc đó chỉ còn lại cái xác vô tri . Xe tong chết thì có gì mà đau đớn mà sợ các Phật tử ? Hoặc chẳng hạn một chút nữa ta bị thuốc độc làm chết ta không hề biết nhưng Phật đã hiện ra rồi . Ta vừa hớp thuốc độc vô thì thì Phật liền hiện ra tiếp ta . Đây là thí dụ trường hợp những người nghiệp nặng phải trả bằng cách phải chết dữ như vậy. Nhưng Phật đâu có nói hiền dữ miễn hành đúng lời nguyện của Ngài thì lâm chung có Ngài tới. Vậy điều kiện quan trọng của mình không sợ cận tử nghiệp hoặc chết dữ. Mà mình chỉ sợ thiếu Bồ đề tâm tu các công đức , và lòng mình không thật sự nguyện về cõi Phật. Mình chỉ sợ mình thiếu các điều kiện đó thôi , chớ mình đủ rồi thì chết cách nào cũng không sợ. Còn cận tử nghiệp là gì? Là nghiệp ác đời trước của mình nó hiện ra giờ sắp chết , mà lúc chết đã có Phật hiện ra rồi thì cận tử nghiệp nào dám đối dầu với Phật , cận tử nghiệp là dành cho người tu pháp tự lực , vì sức tu còn yếu nên bị cái nghiệp ác của mình đời trước nó nặng hơn nên nó hiện ra lúc sắp chết để nó giật tay đôi với nghiệp hiện đời . Mà nghiệp quá khứ mạnh hơn nên nó dẫn mình bị đọa lạc. Còn chúng ta nương vào tha lực của Phật.

Giờ lâm chung có Phật và thánh chúng hiện ra rồi thì nghiệp nào dám hiện ra chống phá, đối đầu với Phật. Như vậy chúng ta kết hợp 2 điều nguyện 18 và 19 lại thì chúng ta sẽ vững vàng trên đường vãng sanh chúng ta chỉ còn chờ mãn báo thân này nữa là xong , bảo đảm chết đến là được vãng sanh.

Ở điều nguyện 18 nói niệm 10 niệm được vãng sanh là niệm ở lúc lâm chung, mà lâm chung niệm 10 niệm chúng ta còn e ngại sợ chết bất đắc kỳ tử và sợ cận tử nghiệp. Nhưng tiếp qua điều nguyện thứ 19 đây thì chúng ta hết sợ. Vì chúng ta đã hành đúng văn nguyện 19 có Bồ đề tâm , tu công đức nguyện sanh Cực Lạc rồi, lâm chung có Phật hiện ra .Mà có Phật hiện ra thì 1 niệm, 10 đâu có khó khăn gì nữa. mà niệm 10 niệmmj là trúng cả hai điều nguyện . Như vậy là chúng ta trúng số độc đắc cả cặp , tắt hơi là qua Cực Lạc lãn đài vàng liền. Nên thật sự người tu Tịnh độ đúng pháp rồi cái chết đến với họ như người đời trúng số cả cặp vậy , mừng quá bây giờ đi lãnh . Bởi vì người tu Tịnh độ lúc chết cái mặt lại vui hơn lúc bình thường mặt mày thần sắc họ tươi rói . vì thấy Phật tới rồi làm sao hổng vui được . trăm kiếp ngàn đời trong lục đạo này bao nhiieu cay đắng nó nhầu nhúng ta , bây giờ được đức A Di Đà đến đón rước về Cực lạc vĩnh viễn không còn sinh lão bệnh tử , được đầy đủ pháp lực của Bồ tát để độ người thân kẻ oán thì hỏi làm sao mà không mừng được. Nên hôm nay tôi đã luận giảng kỹ 2 điều nguyện 18 -19 này. Các phật tử phải hành cho đúng thì không còn lý do gì để lo sợ không được vãng sanh. Có nhiều người niệm phật rất giỏi , nhưng mà chỉ biết niệm thôi , chứ không biết phát Bồ đề tâm , không tha thiết mong mỏi về với Phật nên lúc chết nào tiếc của nào thương con ,có niệm đi nữa cũng chỉ gieo phước thôi chứ làm sao có thoại ứng điềm lành thấy phật hào quang qua rước.

Này các phật tử hôm nay tôi không có khỏe lắm , nhưng tôi phát hiện chỗ bảo hiểm của điều nguyện 19 này tôi rất an tâm . Tôi muốn nói ra cho những người đồng nghiệp tu hành hieur rõ để không còn phải lo sợ cận tử nghiệp và bất đắc kỳ tử nữa. Như vậy nguyên nhân của sự niệm Phật các Phật tử đã có rồi , là niệm Phật đẻ qua thế giới của Phật. Lời nguyện của Phật như biển, ai niệm trúng cái nhân nguyện của Phật là được biển thệ của đức Như Lai , nhớ cái đức từ bi nguyện lực của Phật mà tội chướng người đó được tiêu trừ nên mình niệm 10 niệm lúc lâm chung được vãng sanh còn lúc bình thời niệm nhiều thì nó tăng phần công đức nên phẩm vị vãng sanh càng cao. Nên Ngẫu Ích Đại sư nói: người được vãng sanh hay không là do nơi tín nguyện có cùng không . nếu có tín nguyện thì nhất định được vãng sanh . Còn niệm Phật làm công đức nhiều thì sanh phẩm cao , niệm Phật ít thì sanh phẩm thấp nhưng được vãng sanh hay không mới quan trọng , còn phẩm cao hay thấp không thành vấn đề. Cho nên chữ tín -nguyện trong Tông Tịnh độ các phật tử phải tạo cho có và cho kiên cố , mà cái chữ nguyện nó nắm cái vai trò chủ chốt quan trọng , ví sao vậy ? Vì trong nguyện nó bao gồm cả tín và hạnh rồi , còn tín có thể nó không bao gồm nguyện và hạnh trong đó. Vì sao ? Cũng như bây giờ cõi Cực Lạc do Phật Thích Ca giới thiệu thì cảnh Đông Phương giáo chủ của Phật dược sư cũng do đức Thích Ca giới thiệu.

Cho nên chúng ta tin cõi Cực Lạc thì chúng ta cũng phải tin cõi Đông Phương . Như vậy đối với Đông Phương chúng ta có tin mà không có hạnh nguyện . còn ngược lại có những chúng sanh cầu về Đông Phương họ cũng tin tây phương nhưng họ cũng không có hạnh nguyện về tây phương. Tôi nói ra để biết chữ tin nó nằm riêng rời ra, còn chữ nguyện thì không có đứng riêng rời được .như người nguyện về Cực Lạc thì đã có chữ tín thu theo rồi, chớ không tin thì nguyện đi đaau , nhờ có tin nên mới nguyện . Chữ nguyện này nó đứng chủ chốt quan trọng mà quan trọng này nó mới có sự vận hành niệm Phật theo , thành ra cái người năng nổ niệm Phật là phải biết người đó chí nguyện rất sâu mà cái nguyện này phải nhấn mạnh vào nó thì tự nhiên cái hạnh rất dễ niệm theo , chớ không phải ép niệm và có nguyện thì cái niệm mới thoải mái chớ không bị căng thẳng thần kinh. Cũng như pháp tu Thiền dung cái lý duy tâm Tịnh độ tự tánh Di Đà , họ mượn cái tên đức phật mà họ niệm để tự khai thị sáng Phật tánh của mình , họ không có chí nguyện gì với Phật hết hết, những người này tuy có niệm Phật nhưng không có mùi vị gì hết , nên nó rất căng thẳng mệt mỏi người này dầu có niệm phật được nhất tâm đi nữa thì cũng để tự khai thị tự tánh mà thôi .không có tin nguyện nên không cảm đến Phật thì không do đâu Phật trợ lực người này được. Còn chúng ta có nguyện rồi , niệm nhất tâm thì phẩm vị cao , còn nếu chúng ta không niệm nhất tâm thì phẩm vị thấp. Cho đến lúc lâm chung mà chúng ta y nguyện 19, chúng ta không niệm Phật được cũng quyết được vãng sanh .Vì nguyện 19 hoàn toàn không có bảo niệm nhưng để kết hợp nguyện 18 chúng ta phải niệm nếu kịp , còn không niệm cũng có phần bảo hiểm phần bảo hiểm của của điều nguyện 19 này. Còn nếu chỉ y theo điều nguyện 18 mà không kiêm tu theo nguyện 19 thì khi lâm chung phải niệm 10 câu niệm Phật mới được vãng sanh . Nếu không niệm kịp hoặc quên hoặc hôn mê thì coi như ở lại đường sinh tử chờ kết quả đời sau . Mà đời bây giờ đang nhằm lúc hiếp đạo đức ngày càng suy , bạo ác càng thịnh , người lành càng ít, người dữ nhiều nên nếu không quyết chí để vãng sanh đời này thì đời sau lên e khó tu hơn.

Hai điều nguyện này có cái đặc biệt của nó. Như nguyện 18 dùng để cứu vớt những người tu muộn người ác lúc lâm chung mới gặp thiện tri thức dạy tu . Vì lúc cấp bách này làm sao họ tu theo nguyện 19 kịp và cần có sự trợ niệm cho họ .Còn nguyện 19 có tính cách sẵn sàng chuẩn bị và được sự bảo hiểm của Phật . Nên có hộ niệm hoặc không , thậm chí không niệm Phật kịp hoặc hôn mê cũng quyết được vãng sanh . Nên chúng ta cần phải kết hợp hai điều kiện 18 -19 và hành cho đúng như lời giảng của tôi thì nhất định sẽ được vãng sanh. Này các Phật tử , nếu các Phật tử y theo lời giảng của 2 điều nguyện 18 và19 này nói rất quan trọng và trợ giúp với nhau mà mọi người y theo 2 lời nguyện này tu là vững chắc , không có lý do nào mà không được vãng sanh.

Một người ở thế gian họ không có tu , mà những người gọi là quân tử , một khi họ hứa với ai thì phải giữ lời , gọi là quân tử nhất ngôn . Còn Đức Phật của chúng ta nguyện đây là tự nguyện vì lòng từ bi tràn đầy với chúng sanh , nên muốn đem chúng sanh từ cõi khổ đến cõi an vui và giáo hóa cho thành Phật , tự tâm ngài phát nguyện ra nên cái nguyện là cái mực thước đo lòng ngài , mà lòng ngài từ bi quá độ nên cây thước 48 lời nguyện này là tột đỉnh tấm lòng từ bi của ngài đối với chúng sanh bao la hải hà nên tự nguyện , tức nhiên ngài phải làm tròn cái lời nguyện của mình. Vì quân tử thế gian còn không thất hứa với ai huống chi là một vị Phật lại quan trọng là đã hứa trước chúng hội có Đức Phật của mình đã chứng minh , và ngài thành Phật 10 kiếp đã qua rồi. Trong kinh niệm Phật Ba La Mật Đức Thích Ca nói lòng từ nguyện lực của ngài sâu dày nên từ quá khứ đến nay 10 kiếp đã qua chưa từng bỏ sót một người nào ,dầu người đó có phạm vào ngũ nghịch thập ác.

Điều nguyện 18 nói trừ người tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp nhưng mà quán kinh nói những người phạm ngũ nghịch thập ác biết hồi tâm sám hối niệm Phật một niệm , hoặc 10 niệm Phật A DI ĐÀ liền tiếp trước .Như vậy nguyện 18 nói trừ người tạo tội ngũ nghịch ….là ý đức Phật muốn rào đón trước . Cho mình đừng có dính vào những tội này , vì ai mà vướng vào cái tội này thì khó hồi tâm sám hối niệm Phật được. Bởi vì phạm vào rồi thì cực trọng nghiệp nó hành cho người này khổ đau , đâu có yên tâm mà hồi hướng sám hối được , cho nên triệu người mà phạm tội này may ra có vài người chịu ăn năn sám hối niệm Phật. Nên đức Phật vì lòng từ bi muốn cho chúng ta được bảo đảm vãng sanh nên Ngài rào đón trước bằng cái lời trừ ra .Nhưng mà ai lỡ phạm mà chịu quay đầu thì lòng từ của ngài không bỏ .Nên kinh Ba La Mật Đức Thích Ca nói đức Di Đà chưa từng bỏ xót một chúng sanh nào dầu người đó phạm vào ngũ nghịch là cái ý này đây. Cho nên chúng ta phải tin triệt để vào lời nguyện của Phật .Chúng ta hành cho đúng lời nguyện của ngài thì chúng ta không lo gì hết. Chẳng lẽ 10 kiếp đã qua đức Phật không bỏ xót ai hết mà bây giờ Ngài lại bỏ xót mình hay sao. Nếu đức Phật bỏ xót một người nào mà người đó hạnh đúng nguyện 18-19 tức thời Ngài phải từ chức ngôi vị Chánh Giác liền .Mà chẳng lẽ vì một người mà phá hoại ngôi vị Phật được sao .Thành ra chúng ta phải yên tâm không có bị một lý thuyết nào bài bác cho chúng ta ngã lòng .Gỉa sử Đức Thích Ca có hiện hình trở lại nói ta có pháp khác tu mau thành Phật hơn , mình cũng lạy mà xin tạ từ vì con chỉ nguyện 1 lòng theo đức A di Đà mà thôi . Như vậy đến như Phật hiện ra mà ta còn không thay đổi ý chí huống là các người thế gian bài bác phá hoạiys chí ta được. Được như vậy gọi là chí nguyện kiên cố , dầu tất cả mọi người trên cõi Tam Thiên này mới đẻ ra liền niệm Phật , niệm này đêm đến 100 năm rồi chết không có thoại ứng vãng sanh . Cũng không vì đó mà chúng ta sanh nghi , tại sao? Chẳng qua họ niệm nhiều mà thiếu chí nguyện và lòng tin. Thành ra Đức Di Đà đâu có bảo chúng ta niệm nhiều , 10 niệm thôi , nhưng 10 niệm đó phải có đủ lòng tin chí nguyện trong đó. Cho đến điều nguyện 19 Ngài không có vấn đề niệm gì hết , chỉ phát Bồ Đề tâm , tu các công đức nguyện sanh về nước tôi , lúc lâm chung tôi hiện ra trước người đó, hiện trước người đó để làm chi ? Vì tiếp độ nên Ngài mới hiện ra.

Như vậy điều nguyện thứ 19, Phật không có đề cập đến vấn đề niệm Phật , nhưng vì hỗ trợ cho nên chúng ta cần phải niệm Phật , vì tu các công đức công đức nào bằng công đức niệm Phật ,niệm Phật là công đức lớn nhất. Cái câu lúc tôi thành Phật thập phương chún sanh tu các công đức trong đó có công đức niệm Phật rồi . Như vậy niệm Phật tùy ích nhiều chúng ta kết hợp lại điều nguyện 18 – 19 thì an toàn bảo đảm nhất. Có nhiều người không tu , họ thấy mình niệm Phật họ hù dọa niệm thì niệm chứ không chắc đâu vì giờ chết cận tử nghiệp nó mới quan trọng. Ý họ nói họ không cần niệm Phật , họ có làm các đi nữa tới giờ chết họ niệm cũng được . Còn mình niệm cho nhiều biết đâu đến giờ chết cận tử nghiệp nó lôi mình trở lại , ý họ đánh giá như vậy. Thì bây giờ nguyện 19 này có Phật bảo hiểm lúc chết nên chúng ta an tâm . Vì cận tử nghiệp nào dám đối đầu với Phật , nghiệp ngũ nghịch thập ác còn không cản được Phật.

Người phạm tội ngũ nghịch là cái nghiệp cực mạnh mà niệm Phật còn độ được huống hồ chúng ta đã phát bồ đề tâm , tu các công đức và nguyện sanh về cõi Ngài đã trúng y lời văn nguyện 19 thì cận tử nghiệp nào dám hiện ra , bất đắc kỳ tử nào mà qua được Phật . Bất đắc kỳ tử là đối với phàm còn Phật là nhất thiết chủng trí làm sao không biết chúng sanh giờ nào chết mà biếtb rồi là Ngài hiện ra . Cho nên chúng ta phải giải cho thông, nguyện lực cho dõng mãnh , tin cho vững chắc thì chỉ còn thời gian mãn kiếp Ta bà liền sanh TỊNH ĐỘ.

Thích Thiện Thuận

48 Đại Nguyện Của A Di Đà Phật Ở Thế Giới Tây Phương Cực Lạc [Video]

48 Đại Nguyện Của A Di Đà Phật Ở Thế Giới Tây Phương Cực Lạc  [Video]
  1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
  2.  

  3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
  4.  

  5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi

Pháp Môn Một Đời Thành Tựu

Pháp Môn Một Đời Thành Tựu

Chỉ nương pháp niệm Phật sẽ được qua biển sinh tử.

Kinh Đại Tập nói rằng: ”Thời đại mạt pháp hàng trăm triệu người tu hành, ít có một người đắc đạo, chỉ nương niệm Phật sẽ qua được biển sinh tử”.Thời đại mạt pháp, căn khí chúng sinh ngu si yếu đuối. Không nương tựa vào sức đại từ, đại nguyện của đức Phật A Di Đà mà có thể đời này thành tựu sự giải thoát sinh tử, trong ức ức vạn người khó có một. Vậy hãy cẩn thận tuân theo lời chỉ dạy của đức Phật. Xin khuyên các vị hãy thành thật niệm Phật, một cửa thâm nhập, bằng không thì khó lo xong việc lớn sinh tử!

Chẳng biết tốt xấu

Thời mạt pháp nếu bỏ đi pháp môn niệm Phật thì không có bất cứ pháp môn nào có thể giải thoát được sinh tử. Bạn chẳng biết được tốt xấu, chẳng biết mình là phàm phu ngã mạn, trí tuệ mờ tối, chướng sâu, phước mỏng, nghiệp dày. Không chịu căn cứ vào lời dạy của đức Phật, thành thật tu hành nương nhờ sức Phật cứu giúp. Pháp môn niệm Phật không thể nghĩ bàn. Lại theo ý riêng tu hành các pháp môn khác thì không có cách gì đạt được lợi ích và thọ dụng chân thật, lại không thể giải thoát khổ đau sinh tử trong đời này!

Nguyên nhân Như Lai ra đời

Đại sư Thiện Đạo nói rằng: ”Nguyên nhân Như Lai ra đời chỉ nói bản nguyện của Phật A Di Đà“. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại đời ác năm trược nói pháp 49 năm, điều quan trọng nhất là dạy chúng ta niệm Phật một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, giới thiệu cho chúng ta pháp môn Tịnh Độ thù thắng, có thể một đời thành tựu việc giải thoát sinh tử.

Người niệm Phật có đại phước báo

Người có thể nghe và tin đến được một câu Nam Mô A Di Đà Phật này, họ đã nhiều đời nhiều kiếp đến nay tích lũy bao nhiêu nhân duyên căn lành phước đức, mới có thể đời nay gặp nghe và thọ trì pháp môn Tịnh Độ. Vì thế, người hay niệm Phật đều có phước báo lớn.

Phước báo trời, người

Đời nay nếu không niệm Phật cầu vãng sinh, tất cả sự nỗ lực chỉ là phước báo nhân thiên, không có cách gì đời nay thoát khỏi sinh tử, vẫn còn trở lại luân hồi nơi sáu đường, quả thật đáng tiếc.

Tro tàn

Tro tuy đã tàn nhưng hơi nóng vẫn còn ngấm ngầm bên trong, chỉ cần một làn gió thoảng qua cũng làm nó lóe sáng lên, rồi sau đó trở lại nguội như trước. Tâm của người tu hành cũng nên tập như đống tro tàn, không sinh thêm chuyện phiền phức, khởi tâm phân biệt phải trái. Chỉ cần một câu A Di Đà Phật giữ vững đến cùng!

Thiền thâm diệu vô thượng

Kinh Đại Tập nói rằng: ”Người tu hành chỉ niệm A Di Đđà Phật, đó gọi là thiền thâm diệu vô thượng. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chính là thiền, mà thiền này lại là vô cùng sâu xa”.

Thần chú thật đơn giản và chân thật

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chính là mật. Sáu chữ hồng danh này y theo phạn văn, chưa phiên dịch một chữ, nên sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật là thần chú rất đơn giản và chân thật.

Niệm Phật bằng với việc tụng hết thảy Kinh

Trọn bộ kinh Đại Bát Nhã cô đọng lại chính là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Lại còn nói thêm rằng: ”Tam tạng mười hai bộ kinh gói gọn trong một câu Nam Mô A Di Đà Phật”. Vì thế, niệm Phật liền bằng với tụng hết Tam tạng kinh điển.

Niệm Phật không thể nghĩ bàn

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật đã là thiền, là mật rồi, lại còn tổng quát hết Tam tạng kinh điển. Nên pháp môn niệm Phật thật không thể nghĩ bàn.

Niệm Phật là hạnh chánh

Kinh Di Đà nói rằng: ”Không thể dùng chút ít nhân duyên căn lành phước đức mà được sinh về cõi Cực Lạc”. Nên người niệm Phật phải thường niệm Phật để làm hạnh chánh, lấy sáu độ và vạn hạnh làm phụ thêm. Không nên để tâm phan duyên. Đối với các duyên xấu cần phải hết sức tránh xa, đối với các duyên tốt cần phải nỗ lực tùy duyên mà làm. Nhưng cần phải có trí tuệ cân nhắc và có chừng mực. Không nên bỏ gốc theo ngọn, các hạnh chánh và hạnh phụ lộn xộn. Chỉ đuổi theo phước báu trời người mà quên mất việc lớn giải thoát sinh tử của chính mình.

Một môn thâm nhập

Thời đại mạt pháp, người học Phật nên dùng tâm thành thật niệm Phật làm phép tắc. Duy chỉ dùng một môn trì danh niệm Phật để thâm nhập. Khởi phát phải dính dáng tới quán tưởng hay quán tượng Phật. Nhân vì chúng sinh thời mạy pháp căn cơ chậm lụt, nên việc quán tưởng và quán tượng chẳng phải người thượng căn thì không thể thành tựu. Chỉ có hết lòng chân thật tụng một câu Thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” sẽ vô cùng bảo đảm.

Niềm tin sâu

Chúng ta là những người tu học theo pháp môn Tịnh Độ. Đối với thế giới Cực Lạc ở Tây phương, không những chỉ có niềm tin mà cần phải tin cho thật sâu. Đối với thế giới Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà và pháp trì danh hiệu Phật, có được niềm tin sâu sẽ vãng sanh không nghi. Dù cho bất kỳ sự cản trở phỉ báng nào, đều không dao động đến tín tâm, cầu sinh Tịnh Độ của chúng ta. Được vậy mới gọi là người có niềm tin sâu.

Nguyện cấp thiết

Chúng ta đã tin sâu lòng đại từ đại bi không bờ bến của đức Phật A Di Đà. Chúng ta nên phát nguyện cầu sinh về thế giới Cực Lạc. Không chỉ là nguyện thôi, mà phải nguyện cấp thiết. Trong tâm phải hết lòng thiết thực chán chia lìa cái khổ vô cùng của thế giới Ta Bà, vui mừng cầu cái vui vô cùng của thế giới Cực Lạc. Lập nên nguyện rộng lớn, chắc chắn cầu sinh về cõi Cực Lạc ở phương Tây. Dù cho bất cứ tiếng tăm và lợi dưỡng nào, hoặc bệnh khổ hành hạ đều không thể thay đổi tâm nguyện cầu sinh Tịnh độ của chúng ta. Được vậy mới gọi là người có nguyện tha thiết.

Tự hỏi lương tâm

Nếu hiện tại đức Phật A Di Đà hiện thân trước mặt chúng ta, mở rộng cánh cửa của thế giới Cực Lạc ở phương Tây để tiếp dẫn chúng ta đi về với Ngài, ngay tại đây, người có nguyện đi ít lại càng ít. Đây là do người tu học pháp môn Tịnh Độ có niềm tin nhưng không được sâu, có nguyện nhưng nguyện không tha thiết, có thực hành nhưng thực hành không đủ sức, y như cứ quyến luyến cõi Ta Bà. Đối với danh lợi thế tục, tình duyên con cái nhiều thứ ràng buộc. Vẫn còn nhiều duyên không buông xuống. Mọi người tự hỏi lương tâm mình. Đối với thế giới Cực Lạc, ba món tư lương “Tín, Nguyện và Hạnh” của các bạn đầy đủ được bao nhiêu? Đối với danh lợi trần duyên của thế giới Ta Bà, bạn đã buông bỏ được bao nhiêu?

Thành thật niệm Phật

Chân thật niệm Phật chính là thành thật đem một câu A Di Đà Phật làm “bổn mạng nguyên thần” của chính mình. Cần phải rành mạch, rõ ràng, miên mật, khít khao mà trì niệm. Tuyệt đối không vì bất cứ phương pháp huyền diệu, thần kỳ nào hay bất cứ người có danh vọng học vấn làm cho dao động.

Sống chuyển thành chín, chín chuyển thành sống

Người hành trì pháp môn niệm Phật cần phải thực hành hai nguyên tắc lớn “chỗ sống chuyển thành chín, chỗ chín chuyển thành sống”, nghĩa là phải đem một câu Nam Mô A Di Đà Phật niệm cho thật nhiều. Luôn thúc giục chính mình trong bốn oai nghi đi đứng, nằm ngồi; luôn để khởi một câu Phật hiệu. Lâu ngày dài tháng niệm thành thói quen tốt niệm Phật. Đến phút lâm chung rất quan trọng, Phật hiệu tự nhiên liền có thể đề khởi lên được, lúc này nguyện vãng sinh đã có phần nắm chắc trong tay.

Tức một tức ba

Niệm Phật chính là tịnh, là thiền mà cũng chính là mật. Một tức ba, ba tức một. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật bao gồm tất cả tinh hoa mà Thế Tôn thuyết pháp trong 49 năm. Niệm Phật đích thực là không thể nghĩ bàn. Hãy hết lòng thành thật, đem một câu Nam Mô A Di Đà niệm liên tục đều đặn. Tất cả tinh túy của Phật giáo trọn ở trong đó.

Nương tự lực hay nương Phật lực?

Học thiền, mật sở dĩ khó thành tựu là do nương tựa ở sức mình. Điều đó chỉ có căn cơ bậc thượng mới có thể thành tựu. Nguyên nhân niệm Phật dễ thành tựu là biết nương vào sức Phật. Đức Phật A Di Đà có đại từ, đại bi. Hãy nương vào bổn nguyện tiếp dẫn chúng sinh của Ngài. Đã nương vào sự gia hộ của Phật, các bậc thượng, trung, hạ căn đều được nhiếp thọ. Cắt ngang sinh tử hèn hạ, một đời thành tựu vượt phàm vào thánh.

Niệm Phật mới là chân chánh cứu cảnh, lại còn bủa khắp cả ba căn thượng, trung, hạ. Không có hạng nào không thu nhiếp. Thử xem kinh Hoa Nghiêm, ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 53 lần tham học, về sau ngài Bồ Tát Phổ Hiền còn dạy lấy mười Đại Nguyện Vương dẫn dắt quay về Cực Lạc. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm là vô thượng kinh vương. Sau khi Thế Tôn thành đạo, vì 41 vị pháp thân Đại sĩ ở nơi hội Hoa Tạng Hải, dạy dỗ và dẫn dắt, đều khuyên Đại Bồ Tát niệm Phật cầu sinh Tây Phương để viên mãn Phật quả. Chúng ta là hạng phàm phu, lại coi thường niệm Phật, cho niệm Phật là cạn cợt, bảo đó là chỗ hành trì của hành nam nữ ngu si. Chúng ta thật quá ngu si mê muội, thật đáng thương không thể cứu được!

Bí quyết niệm Phật

Bí quyết niệm Phật không gì lạ, chính là cần nhiều niệm. Niệm từ lúc thô sơ cho đến khi thuần thục, nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật. Đem một câu Nam Mô A Di Đà Phật hết lòng cung kính niệm, ứng dụng vào các việc như ăn mặc, đi đứng thường ngày. Lâu ngày như thế, tự mình có thể biết được sự mầu nhiệm trong câu niệm Phật.

Niệm Phật lớn tiếng

Khi niệm Phật nếu vong niệm dấy khởi liên miên, tâm thức tạp loạn, không thể chuyên chú, ắt cần phải niệm lớn tiếng để nhiếp tâm. Dùng tai lắng nghe có thể trừ được vọng niệm. Kinh Nghiêp Báo Sai Biệt nói rằng: ”Niệm Phật lớn tiếng có 12 thứ công đức. Một, có thể trừ bệnh ngủ gật. Hai, thiên ma kinh sợ. Ba, tiếng biến khắp mười phương. Bốn, dứt khổ trong ba đường ác. Năm, âm thanh bên ngoài không lọt vào tai. Sáu, tâm chẳng toán loạn. Bảy, tinh tấn dũng mãnh. Tám, Chư Phật hoan hỷ. Chín, Tam Muội hiện tiền. Mười, vãng sinh Tịnh Độ”.

(Tam muội: Còn gọi là Tam Ma Đề hoặc Tam Ma Địa. Trung Hoa dịch là Chánh Định, tức là lìa các tà niệm, tâm trụ một chỗ không các tà niệm).

Cách hành trì của người học Phật

Điều tối quan trọng trong cách hành trì của người học Phật là cần phải thâm nhập một môn, thành thật chấp trì Thánh hiệu A Di Đà Phật. Dù cho biển động, núi tan hoặc trải qua thời gian lâu dài, tuyệt không hề thay đổi. Mọi hành vi trong cuộc sống đều không nên sát sinh, ăn chay làm đầu cho hạnh đoạn các điều ác. Lấy việc chuộc mạng phóng sinh làm trước cho hạnh làm các điều thiện.

Nội công và ngoại công

Phần nội công và ngoại công của người học Phật cần phải song song và được coi trọng. Nội công chấp trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật đến chết giữ không quên. Khi đi đứng, nằm ngồi luôn nhớ niệm. Ngoại công là Lục độ vạn hạnh, đoạn ác tu thiện, không sát sinh, ăn chay, phóng sinh và giúp đỡ mọi người. Nội công là chính, ngoại công là phụ. Nội công là chủ, ngoại công là kẻ tùy tùng. Tiếc cho người đời chỉ trọng ngoại công mà quên nội công, bỏ gốc theo ngọn, ngu si điên đảo thật đáng tiếc lắm vậy!

Khó hành đạo – dễ hành đạo

Ước muốn được thành Phật, chúng ta chọn pháp tu như Thiền tông, Mật tông hay Luật tông đều phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, ròng ra tu hành mới có thể thành công, bởi chỉ nương vào tự lực nên rất khó. Khi chọn tu pháp môn Tịnh Độ, chúng ta nương vào một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, liền có thể một đời thành tựu vượt phàm vào Thánh. Nguyên do là chúng ta nương tựa vào sức bổn nguyện của Ngài sẽ được Ngài gia hộ cho nên dễ dàng thành tựu.

Đại sư Liên Trì dạy: ”Giúp cha mẹ giải thoát sinh tử, mới tròn bổn phận làm đạo con”. Hạnh hiếu lớn nhất ở thể gian không gì hơn khuyên cha mẹ niệm Phật, phát nguyện vãng sanh thế giới Cực Lạc. Giả sử chúng ta cúng dường cha mẹ rất nhiều vàng ngọc châu báu, xây nhà cao đẹp lộng lẫy cho cha mẹ ở, nhưng lúc già chết đến, cha mẹ không thể mang theo được. Trong cuộc sống dẫu nhiều năm được gần gũi bên cha mẹ, ân cần thăm hỏi với tâm mến thương, tất cả đều chỉ là hư giả, tạm thời. Chỉ có khuyên cha mẹ thường niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật mới tròn đạo hiếu thảo. Đây mới thật sự mời đón cha mẹ đến chỗ hoàn toàn lợi ích. Nguyện khắp thiện hạ, những người con có tâm hiếu thảo, cố gắng phụng dưỡng và báo đáp công ơn cha mẹ với tâm hiếu thảo này.

Tự thanh tịnh ý mình

Giáo nghĩa chư Phật dạy không ngoài 16 chữ “việc ác chớ làm, siêng làm việc lành, thanh tịnh ý mình, lời chư Phật dạy”. Trong 16 chữ ấy quan trọng nhất là bốn chữ “thanh tịnh ý mình”. Với người niệm Phật để thanh tịnh được ý mình, phải bền vững nắm chắc một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Dùng nhất tâm niệm Phật để chặt đứt và hàng phục muôn vàn vọng niệm, thanh tịnh từ tâm. Nếu niệm Phật không gián đoạn, sẽ hiện rõ tánh Phật xưa nay có sẵn nơi mỗi chúng ta.

Chỉ và quán

Có người nói rằng: Thế nào gọi là Chỉ và Quán? Quả thật chỉ niệm một câu A Di Đà Phật chính là chỉ và quán rồi. Có thể chuyên niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đến khi không còn khởi niệm, vọng niệm không sinh gọi là chỉ. Khi niệm danh hiệu Phật thường biết từng niệm, từng niệm rõ ràng đều đặn gọi là quán. Có thể nương vào chương đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm: ”Thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Chân thật chấp trì danh hiệu Phật chính là Chỉ và Quán vậy.

Tức tâm tịnh độ

Dù bạn dốc sức nghiên cứu các pháp môn Chỉ Quán, có thể nơi giáo chỉ tông Thiên Thai đã dung hội và quán thông. Thậm chí còn có thể tụng thuộc làu làu Tam tạng kinh điển, đều không có chỗ dùng. Bạn vẫn là kẻ phàm phu còn trói buộc trong vòng luân hồi sinh tử. Muốn thành Phật phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp. Tuy cái gì bạn cũng không biết, nhưng chỉ cần bạn thành thật chấp trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật với lòng tin sâu xa và tâm nguyện tha thiết cầu sinh về cõi Cực Lạc, là có thể thành tựu việc giải thoát sinh tử một đời, sẽ vượt phàm vào thánh. Pháp môn niệm Phật thật không thể nghĩ bàn. Xin khuyên tất cả Phật tử hãy biết tâm mình là cõi Tịnh Độ, nên an tâm niệm Phật chớ để thời gian qua suông, vì mạng người có hạn!

Thời mạt pháp niệm Phật dễ thành tựu

Đức Phật là bậc thông suốt Tam Giới. Ngài dạy rằng: ”Thời đại chánh pháp giải thoát thành tựu. Thời đại tượng pháp thiền định thành tựu. Thời đại mạt pháp niệm Phật thành tựu”. Những lời này chúng ta đã hiểu biết rõ ràng. Thời đại mạt pháp ngày càng xa cách Thánh nhân. Vận mạng pháp môn ngày càng suy giảm. Căn cơ chúng sinh ngày càng châm lụt, phước báo mong manh, trí tuệ thô thiển, tội nghiệp sâu nặng, không đủ tư cách để nói đến trì giới và thiền định. Chỉ còn nương tựa vào nguyên lực đại từ đại bi của đức A Di Đà. Nương tựa vào một câu Thánh hiệu hết sức cao thượng, hết sức đơn giản và chân thật, mới có thể vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi

Niệm Phật càng về sau càng quan trọng

Thời mạt pháp tương lai sẽ đến đoạn cuối cùng. Pháp môn niệm Phật nhất định càng về sau càng quan trọng. Chúng sinh đời vị lai phước báu mỏng dần, nghiệp chướng nặng thêm. Như ngày này một bộ kinh điển quý báu, để mặc cho hư hết, không xem tới. Có thể đến cuối cùng, Phật giáo tại thế gian còn lưu truyền một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Chúng sinh đã quá đau khổ, nương tựa một câu Phật hiệu là nương tựa vào sức thệ nguyện đại từ đại bi của Phật A Di Đà. Chỉ cần đơn giản chấp trì danh hiệu Phật, tin và nguyện vãng sinh, liền có thể nương nhờ sức Phật cứu vớt thoát khỏi biển khổ sinh tử. Như đây có thể thấy một câu Nam Mô A Di Đà Phật thật tinh hoa vô cùng trong Tam tạng kinh điển của Phật giáo.

Thành thật niệm Phật

Đại sư Liên Trì là bậc Tổ sư của tông Tịnh độ vào đời nhà Minh. Trước khi vãng sinh Cực Lạc đại chúng cầu thỉnh để lại lời di chúc. Đại sư dạy rằng ”Thành thật niệm Phật”. Tổ sư một đời tu hành chỉ để lại bốn chữ đơn giản, nhưng bốn chữ ấy đã nhiếp tất cả cương lĩnh của người tu hành thật sự bên trong. Vào thời mạt pháp, ma mạnh pháp yếu, chúng tà đầy dẫy. Chúng ta chỉ cần nắm chắc bốn chữ “thành thật niệm Phật” này làm nguyên tắc cho việc tu hành thì không bị tất cả tà ma ngăn trở, mê hoặc điên đảo.

Đệ tử Phật chân chánh

Tất cả việc tu hành không nên xa rời pháp niệm Phật, tất cả sự hành trì không nên trái với sự thành thật. Không niệm Phật, tu hành không thể thành tựu; không thành thật, tu hành không thể được đắc lực. Nhớ kỹ lời giáo huấn để lại của Đại sư Liên Trì; “Thành thật niệm Phật”. Chúng ta chỉ có thành thật trì danh hiệu Phật mới đúng là đệ tử chân chánh của Ngài.

Học Phật chân chánh

Nếu chúng ta đã chân chánh học Phật thì càng học càng đạt đến chỗ đơn giản và thuần thục, càng học nhất định càng khiêm tốn và luôn biết hổ thẹn. Đơn giản và thuần thục đến mức trong sinh hoạt chỉ là một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật tràn ngập trong tâm; tâm khiêm tốn đến lúc chỉ thấy tất cả mọi người đều là Bồ Tát, duy chỉ có mình ta là phàm phu. Lòng hổ thẹn nên tất cả việc tốt chỉ hướng cho người khác, nếu có việc xấu, lỗi lầm mình nhận lấy hết. Người có tâm lượng cao cả này trên đường học Phật sẽ đạt được thành tựu chân chánh.

Đầy đủ lòng tin và tâm nguyện

Đại sư Ngẫu Ích trong “Di đà yếu giải” giảng rất rõ ràng: ”Được sinh Cực Lạc hay không, phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn do nơi niệm Phật sâu hay cạn”. Người niệm Phật chỉ cần đầy đủ niềm tin và tâm nguyện, khiến khi lâm chung mười niệm cũng quyết được vãng sinh. Nhưng sao hiện nay người niệm Phật rất nhiều mà người vãng sinh thì rất ít? Then chốt chính là niềm tin và tâm nguyện không rõ ràng, sự tu hành quá thô thiển không cố gắng tới cùng.

Một câu niệm Phật nhiếp hết tất cả

Đại sư Ngẫu Ích nói: ”Niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật thuần thục, thì tất cả tinh hoa của Tam tạng kinh điển đều ở trong ấy. Một ngàn bảy trăm công án, các cơ quan hướng thượng cũng ở bên trong, ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Tam tụ tịnh giới cũng ở trong ấy”. Một danh hiệu Phật đầy đủ tất cả thiền, giáo, mật chú và tất cả phương pháp tu hành. Một danh hiệu Phật đầy đủ tất cả Giới, Định, Tuệ pháp môn Tịnh độ đích thực không thể nghĩ, không thể bàn!

Niệm Phật chính là thiền

Bạn nghĩ cần phải học thiền ư? Hãy niệm Phật đi! Vì trong kinh Đại Tập dạy chúng ta rằng: ”Niệm Phật chính là thiền vô thượng thậm thâm vi diệu”.

Niệm Phật chính là mật

Bạn nghĩ cần phải học mật tông ư? Hãy niệm Phật đi! Bởi một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, sáu chữ hồng danh này nương vào Phạn văn chưa phiên dịch một chữ. Đó là mật chú đơn giản, chân thật nhất.

Niệm Phật chính là giáo

Bạn nghĩ cần phải học kinh giáo ư? Hãy niệm Phật đi! Vì niệm Phật chính là tụng hết thảy kinh. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là tinh hoa cô đọng của ba tạng kinh điển.

Niệm Phật chính là Giới, Định, Tuệ

Giải thích và phát huy hết ý nghĩa của ba tạng kinh điển chẳng qua chỉ có ba chữ Giới, Định, Tuệ mà thôi. Nhưng một câu Nam Mô A Di Đà Phậtđầy đủ và viên mãn phước đức và trí tuệ. Nói hết tất cả lời tốt trong thiên hạ chẳng bằng không nói một lời mà chỉ thầm niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Làm hết tất cả việc tốt trong thiên hạ chẳng bằng không làm gì, chỉ chuyên niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Học hết tất cả học vấn của thế gian không bằng không biết một chữ, chuyên niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật.

Đại Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền đều niệm Phật

Trong kinh Quán Phật Tam muội, ngài Bồ Tát Văn Thù nói kệ rằng:

Nguyện tôi khi mạng chung,
Diệt hết các chướng ngại.
Đối diện Phật Di Đà,
Sinh về nước Cực Lạc.

Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện kinh Hoa Nghiêm, ngài Bồ Tát Phổ Hiền nói kệ:

Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung
Trừ sạch tất cả các chướng ngại.
Mắt thấy rõ đức Phật Di Đà,
Tức được sinh về nước Cực Lạc.

Đến như những bậc đại Bồ Tát như Ngài Văn Thù, Phổ Hiền còn niệm Phật, nguyện cầu sinh về thế giới Cực Lạc. Ngày nay không ít người coi thường việc niệm Phật phát nguyện vãng sinh. Thật đáng tiếc! Đáng thương thay! Bạn tự cho mình là hạng người gì? Đức Phật chỉ dạy, khuyên bảo chúng sinh sinh về cõi Cực Lạc Phương Tây, bạn lại không chịu nghe lời Phật dạy. Đem “giá trị Liên Thành” vô giá đổi một văn tiền có giá trị vứt bỏ bên đống rác. Đáng trách bạn không biết tốt hay xấu. Có mắt không tròng, nên nhìn không thấy Thái Sơn, nghiệp chướng quá nặng, phước báu lại mong manh!

Pháp môn đặc biệt

Đại sư Ấn Quang tán thán pháp môn Tịnh độ: ”Chín cõi chúng sinh lìa pháp môn này không thể viên thành quả Phật, mười phương chư Phật bỏ pháp môn này dưới không thể lợi khắp các hạng chúng sinh”. Niệm Phật là pháp môn đặc biệt. Đức Phật một đời chỉ dạy, căn cơ thượng, trung và hạ đều được lợi ích. Tất cả chúng sinh trong pháp giới đều nên tu tập. Trên đến Bồ Tát Đẳng Giác, dưới đến kẻ buôn bán nhỏ, hạng đầy tớ thấp hèn, chỉ cần chịu niệm Phật đều giống như nhau; thừa cơ nương vào sức Phật cứu độ, chót vót vượt phàm vào Thánh thoát khỏi sinh tử. Niệm Phật là pháp môn vô thượng, rất cao siêu, huyền diệu không thể nghĩ bàn, chỉ trong một đời là thành tựu.

Bình thường rất cao, thành thật rất diệu

Tâm bình thường thì đạo càng cao, lòng thành thật thì pháp phật mầu nhiệm. Pháp môn tu hành cao siêu, mầu nhiệm chính là giữ tâm rất bình thường. Tu hành và học vấn sâu xa chính là hết lòng thành thật. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật rất bình thường nhưng rất cao siêu và mầu nhiệm. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật rất thành thật nhưng rất sâu xa. Chúng ta có thể giữ tâm như ngu, nhưng bình thường và thành thật, thường niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Từ thủy đến chung, vĩnh viễn không thay đổi, chính là hạng người bậc nhất trong số người tu tập Phật pháp.

Tu pháp niệm Phật là vững vàng nhất

Thiền sư Bách Trượng nói rằng: ”Tu hành, dùng pháp môn niệm Phật là vững vàng nhất”. Đây là một trong 20 điều phép tắc. Thiền sư Bách Trượng là bậc cao đức trong Thiền Tông, vì dạy dỗ đệ tử mà đề xuất ra. Pháp niệm Phật là con đường tu hành rất an ổn, vì niệm Phật được nương vào sức đại từ đại bi của Phật A Di Đà và sẽ được Ngài nhiếp thọ. Đây là con đường tu hành thành công tuyệt đối có bảo chứng. Tham thiền, học giáo và các pháp môn khác chỉ nương tựa vào sức mình. Chúng sinh thời mạt pháp căn cơ ngu đần và yếu đuối, nghiệp chướng sâu nặng, không nương sức bồn nguyện của Phật làm sao mà hành cho thông!

Hãy nhanh quay về niệm Phật

Quá trình lịch sử là một tấm gương. Bao nhiêu thí dụ về sự tu hành của chư vị cổ đức đều để cảnh giác chúng ta. Hiện tại, người tri thức về học vấn rất thích tham thiền và nghiên cứu giáo lý, lại coi rẻ việc niệm Phật, xem niệm Phật là cạn cợt, là pháp môn của kẻ nam nữ ngu si. Xin những người này hãy tự hỏi lại lương tâm. Trí tuệ của quý vị có sánh được Thiền sư Bách Trượng, Đại sư Liên Trì, Triệt Ngộ hay không? Sự tu hành tinh tấn của quý vị có vượt trội như chư vị cổ đức hay không? Chư vị cổ đức với nghị lực và trí tuệ hơn người, đã tiêu phí tâm huyết hơn mấy mươi năm đều không có cách gì ở trong tham thiền đạt được thành tựu. Quý vị tự cho mình là hạng người gì, còn lớn tiếng không thẹn thùng, chỉ muốn tham thiền không nguyện niệm Phật? Có thể nói rõ với quý vị, tất cả sự nỗ lực đều phí tổn tâm huyết mà thôi, tuyệt không có cách gì thành công được. Hãy nhanh quay về niệm Phật đi, chớ nên coi thường việc này. Rất mong! Rất mong!

Phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng

Nghĩ muốn tiêu trừ nghiệp chướng phải cần nội công và ngoại công song hành, hạnh chánh và hạnh phụ gồm tu. Nội công là hạnh chánh, đó là niệm Phật lễ Phật . Niệm Phật trong sinh hoạt phải luôn nhớ thầm niệm một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Dùng nhất niệm vạn đức hồng danh chí tôn vô thượng để trung hoà tất cả vọng niệm và thói xấu tham, sân, si từ vô thủy kiếp đến nay. Những nghiệp chướng nặng nề này sẽ dung hòa vào một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, và được đức Phật A Di Đà đại từ đại bi và tất cả chư Phật trong mười phương hộ niệm, che chở và bao bọc, giúp tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình. Lạy Phật chính là kính lễ chư Phật để sám hối nghiệp chướng của chúng ta. Mỗi ngày lễ 88 vị Phật hoặc chuyên lạy Phật A Di Đà để sám hối. Trong quá trình lễ lạy, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh nương vào sức bồn thệ nguyện của chư Phật, dùng sức mạnh sám hối để diệt trừ tội lỗi và tiêu trừ nghiệp chướng. Ngoại công là hạnh phụ có thể giúp thành tựu đạo nghiệp của chúng ta. Ngoại công chính là ăn chay và phóng sinh. Chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày không nên làm điều ác, nhớ phải tu nghiệp lành. Việc cực ác chính là ăn thịt và giết hại. Vì thế, muốn dứt điều ác trước hết phải ăn chay. Việc thiện lớn nhất là chuộc mạng phóng sinh. Vì thế, muốn tu điều thiện, trước phải lo chuộc mạng phóng sinh. Ăn chay và phóng sinh là hai bài tập quan trọng nhất của người tu Phật

Nếu như có thể nội công và ngoại công cùng tu, thì dùng nội công niệm Phật, lạy Phật làm chính; lấy hạnh ăn chay và phóng sinh làm phụ. Cần phải hết lòng chí kính nỗ lực tinh tấn thì sẽ thành tựu nhanh chóng.

Một câu danh hiệu Phật

Trong Phật giáo, pháp tu đơn giản nhất chính là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Pháp tu sâu xa nhất cũng là một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Rất đơn giản chỉ dành cho hạng người buôn bán nhỏ, người bình dân, kẻ tôi tớ. Quá sâu xa thì trên đất Bồ Tát Đẳng giác cũng không thể hiểu hết. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật cũng rất đơn giản, rất sâu xa, tột cùng viên mãn những thuần thục, hết sức bình thường nhưng huyền diệu, dễ hành trì nhưng cũng khó giải thích. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là mục đích chủ yếu mà Phật thị hiện nơi cõi đời ô trược này cũng là đại pháp vô thượng thông suốt bổn nguyện của đức Phật. Đó cũng là tinh hoa trí tột của ba tạng giáo điển. Một câu Nam Mô A Di Đà Phật vượt lên tất cả pháp Giáo, Thiền, Mật và Luật học, nhiếp hết tất cả pháp môn.

Trích Liên Trì Cảnh Sách
Việt dịch: Thích Quảng Ánh

Dự Tri Thời Chí

Dự Tri Thời Chí

Những người tu theo Pháp Môn Tịnh Độ, cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng không lạ gì với 4 chữ trên.

Bốn chữ ấy có nghĩa là: “Biết trước giờ chết”. Chỉ có 4 chữ thôi; nhưng người ta phải chiến đấu với tự thân, phải hành trì miên mật mới có thể đạt đến cảnh giới an nhàn khi hơi thở không còn tự mình làm chủ được nữa.

Đa phần khi sống, chúng ta ít để ý hay quan tâm đến những gì đang hiện hữu bên ta hay trong ta. Ví dụ như hơi thở hay tế bào. Kể từ khi còn nằm trong thai mẹ, ta đã thở cùng nhịp thở của mẹ và khi ta chào đời cho đến ngày nhắm mắt, khi nào hơi thở cũng ở bên ta; nhưng nào ta có quan tâm và chú ý đến. Trong khi ta thức hay ngủ, hơi thở vẫn tồn tại với đất trời và vạn vật để thải thán khí ra và buồng phổi của ta sẽ nhận khí Oxy vào; nhằm nuôi sống cơ thể nầy. Nhưng mấy ai để ý tận tường suốt cả một giòng đời về hơi thở trong 50, 60, 70 hay 80 năm ấy đâu. Để một ngày nào đó hơi thở dồn dập, đứt khoảng và cho đến khi không còn hít vào thở ra được nữa thì ta lại lo toan cho biết bao nhiêu nổi khác nữa. Người còn sống lo cho người đang chết nằm đó và người chết đang lo chọn nghiệp để đi đầu thai.v.v. .

Khi còn trẻ, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng cái già và cái chết chưa đến với mình; nếu nó có đến, nó đến với người khác già hơn mình, bệnh hơn mình, chứ chưa đến phiên mình đâu mà lo, mà sợ. Rồi cứ như thế, dong ruỗi theo giòng đời trong sóng gió ba đào ấy, trồi lên hụp xuống không biết bao nhiêu lần, để rồi một ngày nào đó nhìn lại thân thể của chính mình đã không còn đẹp đẽ như ngày nào nữa. Bây giờ da đã nhăn, tóc đã bạc, răng đã bắt đầu đau, lưng không còn ngồi thẳng được như xưa nữa và nhất là sắc diện của da, của các tế bào đâu còn hồng hào đẹp đẽ như lứa tuổi 20, 30 nữa. Lúc bấy giờ người ta mới ngồi để nhẩm lại thời gian và quyết làm cái gì đó cho thật có ý nghĩa, trước khi từ giả cõi đời nầy. Nhưng đa phần nhiều người đến lúc chết vẫn chưa biết quan tâm về sự vô thường, lẽ sinh diệt cũng như định luật thành, trụ, hoại, không. Họ cứ thế chạy mãi theo vật chất và lợi danh, khiến mình trở thành con thiêu thân trong sự luân hồi sanh tử lúc nào cũng chẳng hay biết nữa.

Có nhiều người đi xuất gia lúc còn trẻ. Vì căn duyên đời trước họ đã có nhơn lành với Tam Bảo; nên đời nầy họ sớm bỏ tục để xuất gia và vào chùa học đạo, lúc tuổi còn thiếu niên. Cũng có lắm người sống ở đời đã kinh nghiệm và đã từng trải với bao nhiêu cuộc bể dâu của nhân thế rồi, nên sau đó mới xin thế phát quy y, xuất gia đầu Phật. Việc nầy xưa nay đã xảy ra rất nhiều.

Hôm nay tôi muốn viết bài nầy để gởi đến quý độc giả xa gần, nhằm giới thiệu một “Hiện tượng vãng sanh” đã biết “Dự tri thời chí” để cho mọi người xuất gia cũng như tại gia có một ít bằng chứng, nhằm tô bồi thêm cho niềm tin của mình khi phát nguyện vãng sanh.

Từ năm 1982 đến năm 2010, trong gần 30 năm đó, tôi đã độ cho 50 người đệ tử xuất gia. Người Đức có, người Việt có, người Việt gốc Hoa, gốc Mỹ cũng có và sau gần 30 năm ấy có 4 Sư Cô đã ra đi với hình hài vóc dáng của mình là một Tăng nhân; khoảng 10 người đã trả lại áo cho Thiền Môn và gia nhập lại đoàn quân thế trần để tiếp tục chiến đấu với sanh tử. Số còn lại 36 người vẫn còn tiếp tục tu hành và đa phần thực tập cũng như hành trì theo pháp Môn Tịnh Độ.

Trong 4 Sư Cô đã ra đi đó có 3 Sư Cô lớn tuổi là: Sư Cô Hạnh Niệm, Sư Cô Hạnh Tịnh và Sư Cô Hạnh Châu. Ba vị nầy ra đi ở tuổi trên 70 và gần 90. Riêng Sư Cô Hạnh Như trẻ hơn và khi Cô ra đi không bị cái già, cái bịnh nó chi phối. Vì lẽ Cô chỉ biết cái khổ của khi sinh và khi chết; còn 2 giai đoạn của tuyến đường sanh tử trong 4 cái khổ ấy, Cô đã thoát được khỏi cả hai.

Câu chuyện hôm nay đặc biệt tôi viết về Sư Cô Hạnh Châu, người mới theo Phật vào mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2009 nầy để mọi người cùng chiêm nghiệm. Tôi sợ để lâu ngày tháng qua đi, sẽ quên dần những điểm chính yếu trong sự vãng sanh thì uổng phí cho những người muốn tìm hiểu đến việc nầy.

Sư Cô đến chùa Viên Giác tại Hannover kể từ khi chùa còn bên đường Eichelkampstr. Lúc ấy Sư Cô đã ngoài 60 tuổi rồi. Người Huế ăn nói nhỏ nhẹ và lễ phép như xưa nay vậy. Sau một thời gian làm công quả ở chùa, Cô có ý muốn xuất gia. Tôi hơi do dự; nhưng cuối cùng lại đồng ý. Vì lẽ Cô đã lớn tuổi rồi, muốn cầu giải thoát sanh tử mà mình không cho, quả là hẹp hòi. Nhưng cái lệ của người muốn xuất gia tại chùa Viên Giác là phải thuộc hai thời công phu bái sám trước khi xuống tóc, mà khó nhất là Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm. Trong khi Cô không rành mặt chữ mấy. Vì thế hệ của nhiều người Việt Nam mình, khi sanh vào đầu thế kỷ thứ 20, đôi khi ngày sanh ra đời, cha mẹ còn không nhớ, có đâu nhớ đến việc cho con cái đi học ở trường. Người Việt mình sinh con hơi nhiều, là vì xứ nông nghiệp và muốn có người chăm lo đồng áng cho gia đình. Chứ ngày xưa khi sinh con ít có người quan niệm rằng: phải lo cho con cái ăn học thành tài. Ngay cả ngày nay những dân tộc văn minh nhất nhì trên thế giới; nhưng người không biết chữ cũng không phải là ít.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nhiều lúc trong khi giảng pháp Ngài cũng có nhiều lần đề cập đến Mẹ của Ngài. Ngài cho biết rằng: Mẹ Ngài cũng không biết chữ; nhưng cái tình thương từ mẹ Ngài đã nuôi Ngài lớn như ngày hôm nay và sở dĩ lòng từ bi mà Ngài có được hôm nay không phải từ Tôn Giáo Ngài nhận được, mà chính là từ tình thương của người Mẹ không biết chữ kia. Như vậy có nghĩa là văn hóa nó chỉ giúp cho con người mở rộng tầm hiểu biết; chứ chữ nghĩa không sinh ra từ tình thương và lòng từ bi được. Vì đây là những việc tự nhiên, không cần phải đi học ở trường đời hay trường Đạo mới có được.

Mỗi tuần hay hai tuần tôi thường hay dò bài quý Cô, quý Chú một lần và lần nào thấy Cô Hạnh Châu cũng thuộc bài; Tôi có hỏi Cô cách học Kinh như thế nào khi không làu chữ quốc ngữ, thì Cô bảo rằng: “con nhờ Sư Chú đọc qua 1 câu rồi 2 câu cho đến 5 câu và con lắp vần lắp chữ, lắp câu lại để nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần. Cho nên con thuộc được”. Đó là cách học của Cô. Còn nhiều người ỷ mình thông minh, giỏi chữ nghĩa; nhưng không định tâm để học thì 3 năm, 5 năm hay nhẫn đến 10 năm cũng khó mà thuộc được Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm. Vì đây là loại Kinh khó đọc, khó tụng và khó hiểu nhất. Cho nên trong chùa hay nói rằng: “Làm lính sợ ải, làm sãi sợ Lăng Nghiêm” là vậy. Ai đi lính rồi, qua đèo qua ải mà chẳng sợ. Ai đã một lần cạo tóc làm nhà Sư rồi , thì biết Lăng Nghiêm nó khó vào bực nào. Nhưng sau Lăng Nghiêm lại còn Kinh Di Đà, Hồng Danh Sám Hối, Mông Sơn Thí Thực, và 2 quyển luật Tỳ Ni,Oai Nghi nữa. Quả là một núi chữ; nhưng cuối cùng Sư Cô đã vượt qua hết, để được thọ Sa Di Ni, Thức Xoa Ma Na (Nữ học giới ). Từ Thức Xoa muốn thọ Tỳ Kheo Ni phải ít nhất 2 năm nữa và phải thuộc hay trả lời rành rẽ luật của Sa Di Ni, Thức Xoa và Quy Sơn Cảnh Sách. Đây là những cái ải cuối cùng của những người muốn dự vào chốn: “tuyển Phật Trường”. Nghĩa là người đi xuất gia, thọ giới là người muốn tham dự vào chốn tuyển người làm Phật; nên không có cái khó nào của thế gian có thể sánh được cho cùng.

Dầu cho tuổi lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa; nhưng khi đã phát tâm xuất gia, thọ giới thì phải thức khuya, dậy sớm, học Kinh, Luật, Luận hằng ngày và làm công quả trong những giờ rảnh để vun trồng phước đức cho chính tự thân của mỗi người. Công việc tuy nhẹ. Vì thấy hơi nhàn hạ. Cho nên có nhiều người mới buộc miệng bảo rằng: “Muốn rảnh rang thì vào chùa mà ở”. Điều nầy hẳn lầm! ở chùa thân và tâm lúc nào cũng bận rộn hết. Người nào muốn tìm sự nhàn hạ thì không nên ở chùa. Khi vào chùa với tâm niệm “ xúc sự diện tường” như vậy, quả là tạo thêm gánh nặng cho nhà chùa và làm hao mòn cơm gạo của Đàn Na Tín Thí.

Cuối cùng rồi Cô cũng đã thọ được giới Tỳ Kheo Ni và mỗi sáng sớm Cô vẫn thường hay ngồi thiền, tụng Kinh Lăng Nghiêm, đi kinh hành nhiễu Phật trên chánh điện của chùa mới từ năm 1991 đến năm 2005. Suốt trong gần 15 năm ấy Sư Cô Hạnh Châu vẫn tinh tấn tu học. Giờ học nào của quý Thầy dạy cũng đều có mặt Cô. Giờ tụng giới Bồ Tát, An Cư kiết hạ . . . cho đến mùa An Cư sau cùng của năm 2009 Sư Cô vẫn tham dự. Quả là một sức chịu đựng dẻo dai của người gần 90 tuổi như vậy.

Những năm sau nầy tôi thấy Sư Cô già yếu quá; nên bảo Cô và Sư Cô Hạnh Ân mỗi sáng khi chư Tăng tụng Kinh tại Chánh Điện quý Sư Cô có thể hành trì niệm Phật tại phòng riêng của mình; chứ già rồi, lên xuống thang cấp của chùa nhọc nhằn lắm. Thế là những tiếng trì Kinh và niệm Phật của quý Sư Cô lớn tuổi lại vang vọng hằng đêm và vào mỗi sáng tinh sương tại liêu phòng ở tầng một của quý Sư Cô không sót một ngày nào. Dầu cho có bịnh cũng không về nhà, cốt làm phiền con cháu. Lúc nào cũng tâm niệm rằng: sống cũng ở chùa mà chết cũng ở tại chùa. Do đó lúc nào quý Sư Cô cũng chỉ nhiếp tâm trong câu niệm Phật hiệu A Di Đà.

Những năm gần đây Cô hay thưa với tôi rằng: “Khi con chết con muốn mất tại chùa và lúc ấy có chư Tăng đông đủ cùng Sư Phụ nữa”. Tôi hay cười và trả lời rằng: “ Cô cứ nguyện như thế đi, biết đâu đủ duyên thì được. Còn tôi hay đi chỗ này chỗ nọ, làm sao mà biết trước được”. Cô cũng cười chỉ còn trơ lại hai hàm nướu và răng chẳng còn sót lại cái nào; nên tôi hay nói với Cô rằng: “Pháp Danh của Cô bây giờ là: Hăng rết ( hết răng ) chứ không còn là Hạnh Châu nữa”. Cô vẫn cười và tiếp tục chống gậy đi, trên tay luôn luôn có mang theo một tràng hạt.

Cuối đời của Cô, Cô hay để dành tiền và dùng tiền già, tiền lì xì của con cháu và Phật Tử cho Cô, Cô đem ấn tống Kinh sách, giúp người nghèo tại Việt Nam hoặc giả để dành lo cho hậu sự; nhưng lúc nào cũng vui vẻ, hoan hỷ. Chưa bao giờ thối thác khi có người đem sổ đến quyên tiền, Cô cúng không nhiều thì ít lúc nào cũng có.

Trước mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2009 Sư Cô thưa với tôi rằng: “ con muốn đi trong mùa Vu Lan nầy quá và sau khi thiêu xác, con muốn đem về nơi đất Phật để rải cốt tại đó”. Tôi bảo: “ Cô còn mạnh; sao nói đến chuyện chết được”. Việc nầy cũng có nhiều lý do: Vì ở tuổi 90 Cô chưa hề lẩn và quên một việc gì, ai đến thăm Sư Cô, Cô đều nhớ tên hết. Điều đặc biệt hơn nữa là không làm phiền quý Cô khác khi đêm đến hay sáng ra, mà Cô tự lo chăm sóc cho thân già của Cô về việc vệ sinh cá nhân; chứ không trách móc, tủi thân hay buồn bực, mà lúc nào trên môi Cô cũng có câu niệm Phật. Đôi khi người ta còn trẻ mà vẫn mê muội lú lẩn như thường; còn ở đây già ngần ấy tuổi mà vẫn còn sáng suốt như vậy thì ai mà chẳng muốn sống lâu.

Đến ngày 04 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 16 tháng 07 âm lịch năm Kỷ Sửu thì sức khoẻ của Sư Cô yếu dần thấy rõ. Bác Sĩ Dienemann khuyên đem vào bệnh viện để chuyền nước biển; nhưng Cô chối từ và muốn được ở lại chùa. Cuối tuần đó là Lễ Vu Lan của chùa Viên Giác tổ chức nên chùa cũng bận rộn không phải là ít. Kẻ đến người đi, kẻ vào người ra nhộn nhịp vô cùng. Những giờ cuối của ngày thứ sáu nhằm 04 tháng 09 năm 2009 ấy tuy Cô rất mệt, thở ra vào khó khăn lắm; nhưng ai đến Cô cũng biết và Cô muốn được ra đi trong mùa Vu Lan nầy. Ý nghĩ ấy hiện ra rõ trên nét mặt của Cô nhiều hơn nữa, nhất là sau những cái trở mình và ngồi dậy như người chẳng có chuyện gì đã xảy ra trước đó.

Khoảng 21 giờ đêm ngày 04 tháng 09 năm 2009 sau thời giảng pháp của Hòa Thượng Thích Kiến Tánh trên chánh điện, tôi và Ngài vào phòng Sư Cô để trợ niệm vãng sanh mấy tràng hạt niệm Phật hộ niệm và tụng một biến Kinh A Di Đà. Tiếp đó Thầy Hạnh Vân, Hạnh Hòa, Hạnh Giới, Hạnh Lý và quý Sư Cô cũng như quý Phật Tử trợ niệm suốt cả đêm tối ấy cho đến sáng ngày thứ bảy nhằm ngày 17 tháng 07 âm lịch. Lúc nầy mọi người về chùa càng lúc càng đông và ai nghe nói Sư Cô sắp ra đi cũng đều đến phòng để chung lời hộ niệm. Thế là tiếng niệm Phật vang dội khắp nơi dưới tầng một của chùa.

Đúng 3 giờ chiều ngày thứ bảy sau khi tôi giảng pháp và cầu nguyện trên Chánh Điện xong, thì Sư Cô Hạnh Bình lên báo tin là: Sư Cô Hạnh Châu đã ra đi rồi và tất cả mọi người hiện diện đều đồng thanh hộ niệm: “Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật” ba lần và giờ ấy tôi chính thức báo tin rằng: chúng tôi xin vô cùng hoan hỷ báo tin cùng chư Tôn Đức và quý Phật Tử xa gần rằng: “Sư Cô Thích Nữ Hạnh Châu đã thuận thế vô thường ra đi trong trạng thái vãng sanh vào lúc 15 giờ ngày 05 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 17 tháng 07 năm Kỷ Sửu với thế thọ 90 tuổi; hạ lạp 14 và xuất gia niên lạp 22”. Ai ai cũng tỏ vẻ vui mừng. Vì Sư Cô đã chọn đúng theo điều ước nguyện của mình.

Ở chùa Viên Giác với những đám cưới thân quen, tôi thường hay chia buồn với cô dâu và chú rễ. Những người tham dự hơi ngạc nhiên; nhưng sau khi giải thích, thấy và biết được lý do chính đáng rồi, mọi người mới gục đầu và nhoẻn miệng cười một cách ý vị. Tôi bảo rằng: Sở dĩ Thầy chia buồn, vì cô cậu lâu nay sống tự do thoải mái, đi đâu và làm gì cũng không bị ràng buộc; ngay cả việc chi tiêu tiền bạc của ai nấy xài, chẳng ai hỏi ý ai. Còn bây giờ tất cả đều mất hết sự tự do. Vậy có gì vui mà chung vui. Cho nên Thầy xin chia buồn hay nói đúng hơn là chia xẻ với cô cậu sự mất mát ấy vậy.

Hiện tượng được vãng sanh của Sư Cô Hạnh Châu được thể hiện qua những sự kiện sau đây:

Việc thứ nhất là Sư Cô biết trước ngày ra đi của mình và chọn ngày lễ Vu Lan như đã dự định trước cũng như Sư Cô mong muốn có đông đảo chư Tăng Ni và Phật Tử hộ niệm cho Sư Cô trong lúc ra đi, thì điều nầy đã đạt thành sở nguyện.

Việc thứ hai là sau khi tắt thở miệng Sư Cô hả lớn; nhưng sau khi niệm Phật độ một tiếng đồng hồ thì miệng Sư Cô tự động đóng kín trở lại. Sau 8 giờ liên tiếp niệm Phật như vậy, quý Sư Cô khác trông lo việc lau mình tắm rửa cho Sư Cô; nhưng tuyệt nhiên cửu khiếu ( gồm chín đường ra vào của hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, miệng và đường đại tiện và đường tiểu tiện ) không tiết ra một chất dơ nào cả và thân thể Cô vẫn mềm mại như khi còn sống, mặc dầu để xác của Cô tại phòng ở chùa cho đến sáng thứ hai ngày 07 tháng 09 năm 2009 nhà quàng mới đến, để làm lễ tẩn liệm cho Sư Cô. Như vậy là sau hơn 40 tiếng đồng hồ mà thi thể vẫn không thay đổi.

Việc thứ ba là vào ngày 10 tháng 09 năm 2009 quan tài của Sư Cô được đưa trở lại chùa để tụng Kinh Địa Tạng qua hai đêm, chờ đến sáng thứ bảy ngày 12 tháng 09 năm 2009 thì đưa đám. Trong thời gian nầy trời quang mây tạnh, nhưng vồng cầu năm màu xuất hiện trên đỉnh tháp bảy tầng của chùa Viên Giác. Đây cũng là một hiện tượng của sự vãng sanh. Giống như trường hợp của cố Thượng Tọa Thích Thiện Thông mà tôi đã viết trong quyển: “Có và Không” trong những năm trước.

Trước khi Sư Cô tắt thở vào lúc 15 giờ chiều ngày thứ bảy 05 tháng 09 năm 2009 có một trận mưa rào thật lớn; giống như hoa rơi mà cả bằng ngàn người tham dự lễ Vu Lan hôm ấy tại chùa Viên Giác đều đã chứng kiến. Ngoài ra sau khi thiêu Sư Cô có để lại một ít xá lợi. Như vậy những điều như trên cho chúng ta thấy và hiểu ra được rằng sự thể hiện như vậy là hiện tượng của sự vãng sanh.

Theo như trong các kinh điển của Phật Giáo và kinh sách của Tây Tạng có cho biết rõ ràng về thân trung ấm của một chúng sanh như sau:

Nếu chúng sanh ấy sống trong đời nầy giữ tròn năm giới cấm của Phật chế. Đó là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu thì khi lâm chung, thần thức sẽ xuất ngay ra khỏi thi thể và tùy theo nghiệp lực cứ đi theo đó mà chọn nghiệp để đầu thai kể từ ngày thứ nhất cho đến 21 ngày và trể nhất là 49 ngày.

Nếu chúng sanh ấy sống trong đời nầy và đời trước hoàn toàn làm những việc thiện trong 10 thiện nghiệp. Có nghĩa là: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thêu dệt, không nói lời hung ác, không tham, không sân, không si thì những người như thế sau khi mất, thần thức sẽ được bay cao lên và sanh về cõi chư Thiên.

Ngay cả những người làm phước bố thí, cúng dường, tin vững lý nhân quả và Đại Thừa cũng sẽ được sanh vào ở những thế giới cao hơn.

Nếu chúng sanh ấy trong đời nầy hoặc trong những đời trước chỉ toàn làm những ác nghiệp như: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp Tăng và làm thân Phật ra máu cũng như Nhất Xiển Đề, khi chết không biết tàm quý và không có những Thiện Hữu Trí Thức hộ niệm thì thần thức sẽ rơi vào ngay nơi cõi Địa Ngục.

Còn những chúng sanh nào sau 49 ngày mà vẫn chưa đi đầu thai được thì sẽ trở thành cô hồn lang thang đây đó đầu ghềnh, thác nước, cây đa, bến đò, chùa, miễu .v.v. .những hồn cô độc nầy rất cần đến nhiều nơi cúng kiếng và nương tựa để được giải thoát.

Người Phật Tử phải tin vào nhân quả, vì nhân nào thì quả nấy, không sai mảy may chút nào cả.

Nhân quả xưa nay không lầm lẫn bao giờ.

Trong kinh Phật dạy rằng: “ Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Điều ấy có nghĩa là: Mọi pháp trong thế gian nầy cái gì cũng trở thành không hết cả; nhưng nhân và quả là những mắc xích dây chuyền với nhau, khi đã gây ra rồi thì phải chịu quả báo lành hay dữ là tùy theo hành động lành dữ, thiện ác của mình trong quá khứ dẫn dắt lại.

Sư Cô Hạnh Châu cũng đã chọn ra đi đúng với những ngày mà cá nhân của tôi tạm rãnh rỗi, không có Phật sự ở đâu cả. Ví dụ như ngày ra đi của Cô nhằm lễ Vu Lan và ngày tiển biệt Sư Cô vào sáng sớm ngày 12 tháng 09 năm 2009 cũng vậy.

Một điều khác khó nghĩ nữa là vào ngày 24 tháng 10 năm 2009 nhằm ngày mùng 07 tháng 09 âm lịch ( thứ bảy ) ngày ấy là ngày làm tuần 49 ngày của Sư Cô, tôi một lần nữa lại có mặt tại chùa và hôm đó chùa Viên Giác cũng như gia đình của Cô có làm lễ Trai Tăng và cũng có rất đông Tăng Ni, Phật Tử về tham dự.

Điều cuối cùng theo ước nguyện của Sư Cô Hạnh Châu là đem tro về rải trên đất Phật. Việc nầy cũng lại hy hữu nữa. Thông thường thì mỗi năm tôi đi Ấn Độ một lần và thường định trước chương trình cả năm và vé máy bay đã đặt trước đó ít nhất là 3 đến 6 tháng. Nhưng đây lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa. Sau tuần 49 của Sư Cô 1 tuần thì tôi đi Ấn Độ.

Do vậy tôi có nói cho Thầy Hạnh Giới rõ biết việc nầy và Thầy ấy đã liên hệ nhà quàn để lo giấy tờ thủ tục xuất gởi đi Ấn Độ. Vào ngày 01 tháng 11 năm 2009 vừa qua sau khi tham dự lễ Thọ Bát Quan Trai tại Chi Hội Nurnberg Tôi tiếp tục đi đến phi trường Munchen và máy bay cất cánh tại đó cùng với hài cốt của Sư Cô mang sang Thái Lan và cuối cùng đã đến Bồ Đề Đạo Tràng vào ngày 03 tháng 11 năm 2009 và tất cả đều thông suốt, không bị một trở ngại nhỏ nào cả. (xem videos)

Gần một tuần lễ để hài cốt của Sư Cô tại Trung Tâm Tu Học Viên Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng đến ngày 08 tháng 11 năm 2009 Cô được cúng chung với Sư Phụ của chúng tôi là cố Hòa Thượng Thích Long Trí đã viên tịch ở Hội An từ 11 năm về trước và sau lễ Trai Tăng, chư Tăng Ni đã lên xe, mang hài cốt của Sư Cô rải xuống sông Ni Liên Thiền; nơi Đức Phật đã tắm gội ở đây để trước khi lên đất liền, ngồi tỉnh tọa dưới gốc cây Bồ Đề trong vòng 49 ngày và sau đó ngài đạt được đại ngộ với danh hiệu là Phật Đà.

Tuy nước sông Ni Liên Thiền mùa nầy không có nhiều, vì là mùa nắng của Ấn Độ; nhưng khi mùa mưa đến sẽ mang cốt thiêu của Sư Cô hòa tan cùng với đất trời vạn vật để trở về cõi vô tung mà Sư Cô vẫn hằng mong ước. Vì đến đã không mang được gì ở cõi Ta Bà nầy ngoài nghiệp lực, thì sau khi đi cũng xin gởi lại tất cả ở chốn trần ai phiền lụy nầy.

Vì Lẽ:
Trăm năm trước thì ta chưa có
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi.

Đúng là như vậy. Dẫu cho Sư Cô sống gần một thế kỷ ở trên cõi đời nầy; nhưng thử hỏi trước 100 năm ấy Sư Cô là ai và từ đâu đến? Chắc chắn Sư Cô không thể trả lời được; nếu có, chỉ là một cái nhoẻn miệng cười. Rồi sau gần 100 năm ở trên trần thế nầy Sư Cô cũng đã có tất cả, không thiếu một thứ gì; nhưng khi chết đi hai bàn tay cũng buông xuôi, đâu có mang theo được một vật dụng tùy thân nào đâu. Cũng may là khi còn sống Sư Cô đã thức thời, biết cắt ái ly gia, biết làm phước, bố thí, cúng dường, biết nhơn quả, tội phước, biết gieo trồng căn lành cho đời sau . v.v. . chính nhờ tấm lòng từ bi ấy mà trên từ chư Tôn Đức thương tưởng, dưới đến các Phật Tử khắp nơi đều quý mến Sư Cô; cho nên cái còn ấy không hình tướng, mà nó lại còn hoài với đời, với Đạo. Cái mất có hình tướng, là cái mất của sự đối đãi, nó không bền chặt với thời gian và năm tháng.

Có nhiều vị Tôn Túc sau khi dự đám Tang của Sư Cô thì buột miệng nói rằng: “ Chưa chắc quý Hòa Thượng, quý Sư Bà khi ra đi mà phước ít, thì làm sao có được một sự ra đi giải thoát như vậy!”. Đây là sự thật; vì khi còn sống, nắp quan tài chưa đậy lại, ai muốn nói gì thì nói.

Bởi nhân quả chưa hiện ra rõ ràng; nhưng khi hơi thở cuối cùng đến với mọi người, lúc ấy mới rõ biết là:

Lênh đênh qua ải thần phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Bất cứ một việc làm gì, khi nhìn kết quả của sự việc, ta sẽ biết nguyên nhơn của việc ấy và ngược lại, nếu muốn biết kết quả của một việc xảy ra cho được tốt đẹp, thì ngay trong hiện tại phải lo gây cái nhân thật tốt là vừa. Câu kệ ngày xưa chư Tổ Sư truyền thừa cho đến ngày nay chắc vẫn còn hữu hiệu:

Dục tri tiền thế nhơn
Kim sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị

Nghĩa là:

Muốn biết nguyên nhơn của đời trước
Thì xem cái kết quả của đời nầy
Muốn biết cái quả ở ngày sau
Xin xem cái nhân đang gây ra trong hiện tại.

Đây được gọi là nhân quả trong 3 đời. Nếu nói nhân quả trong nhiều đời, nó lại càng chằng chịt nhiều hơn nữa; nhưng nói cho cùng thì kết quả của cái nầy, sẽ chính là cái nhơn của cái kia. Cái nầy sanh, cái kia cũng sanh; cái nầy diệt, thì cái kia cũng diệt. Nó biến đổi liên hoàn như vậy.

Mỗi chiều hay mỗi tối, có nơi mỗi khuya ở tại các chùa, khi tụng Kinh đến phần Sám thì hay cử các bài Sám: “Nhất tâm quy mạng” hay “ Sám Khể thủ” .v.v.. đại ý của những bài Sám nầy chư vị Tổ Sư muốn trùng tuyên lại ý nghĩa của việc cần cầu vãng sanh của chúng ta, đang sống ở thế giới Ta Bà đầy dẫy những oan khiên nghiệt ngã như thế nầy và ý nguyện của chúng ta, qua nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, sẽ được tiếp dẫn về thế giới Tây Phương Cực Lạc; nơi đó sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết và luân hồi sanh tử nữa.

Trong đời mạt pháp nầy pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn tối thắng. Do từ lực của Đức Phật A Di Đà mà ta sẽ được sanh sang nước Cực Lạc; nếu chúng ta chí tâm tha thiết muốn được sanh về thế giới của Ngài. Các vị Bồ Tát như Ngài Phổ Hiền cũng đều phát nguyện sau khi lâm chung đều được sanh về thế giới của Đức Phật A Di Đà. Hoàng Hậu Vi Đề Hy, sau khi thấy A Xà Thế giam Vua Tần Bà Sa La vào ngục thất, Bà cầu Đức Phật Thích Ca giúp bà sanh về thế giới nào mà không bị những chướng duyên như thế. Cuối cùng qua “ Kinh Quán Vô Lượng Thọ” chúng ta biết rằng Hoàng Hậu Vi Đề Hy phát tâm sanh về thế giới nầy. Rồi đến các vị Tổ của Trung Hoa như Ngài Huệ Viễn, Ngài Thiện Đạo, Ngài Ấn Quang Đại Sư .v.v. . tất cả đều nguyện sanh và đã sanh về thế giới Tây Phương. Ở tại Nhật Bản Ngài Pháp Nhiên, Ngài Thân Loan là những vị Tổ của Tịnh Độ Chơn Tông cũng đã nguyện sanh về cảnh giới giải thoát nầy. Ở Việt Nam chúng ta có Ngài Đàm Hoằng tu tại núi Tiên Du, Bắc Việt vào thế kỷ thứ 4 cũng đã vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ.

Những vị ở thế kỷ thứ 19, 20 tại Việt Nam cũng như Thái Lan viên tịch trong tư thế chấp tay niệm Phật và thác hóa như Ngài Hổ Phách Thiền Sư, Ngài Phổ Tế Thiền Sư ( Thái Lan ) .v.v. .ngày nay nhục thân các Ngài vẫn còn ngồi đó. Hay Sư Bà Đàm Lựu viện chủ chùa Đức Viên ở San Jose Hoa Kỳ, tu theo pháp môn niệm Phật, sau khi thiêu quả tim vẫn còn và hiện đang thờ tại chùa Đức Viên và còn vô số chư Tăng, Ni và nhiều Phật Tử khác cũng đã thực chứng được pháp môn nầy.

Vậy không có gì để nghi ngờ nữa, mà qua 6 chữ Hồng Danh “ Nam Mô A Di Đà Phật” chúng ta nên cố gắng hành trì qua ba điều quan trọng là Tín, Nguyện, Hạnh. Theo như Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta đã thực hành lâu nay; hoặc qua 5 tiến trình của sự giải thoát theo Tịnh Độ Tông Nhật Bản là: chí tâm, tín nhạo, dục sanh. Ba tâm nầy do hành giả tự phát nguyện và hai tâm sau như: nhiếp thủ và bất xả là do chư vị Bồ Tát và chư Phật gìn giữ chúng ta khi chúng ta đã được sanh về nơi Cửu Phẩm Liên Hoa.

Nay tôi viết bài nầy không chỉ để tán dương Sư Cô Thích Nữ Hạnh Châu, mà còn để giới thiệu một hành giả tu Tịnh Độ với tâm cương quyết vãng sanh, thì trước sau lời nguyện ấy cũng sẽ được chư Bồ Tát và chư Phật tế độ cho. Có nhiều người nói rằng: những gì không thấy không nghe, không hiểu không rõ biết thì khó tin theo và thực hành. Nhưng cũng có lắm điều chúng ta không thấy, mà chúng ta vẫn tin rằng: Nếu không có chúng thì chúng ta sẽ chết. Ví dụ như không khí chẳng hạn.

Do vậy đây cũng là lời cuối, xin nhắn gởi đến những ai chưa phát tâm thì hãy phát tâm và khi đã phát tâm rồi, nên dõng mãnh tinh tấn hơn nữa để được dự vào “ Liên Trì Hải Hội” của Đức Phật A Di Đà đang chờ đợi chúng ta.

Viết xong ngày 24 tháng 12 năm 2009 tại Tu Viện Đa Bảo Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất thứ 07
Thích Như Điển

Những Mẫu Chuyện Linh Ứng Quán Thế Âm [Audio]

Những Mẫu Chuyện Linh Ứng Quán Thế Âm [Audio]

Trong tập sách này, chúng tôi ghi thuật lại những mẫu chuyện linh ứng về đức Quán Thế Âm Bồ Tát do tự thân chứng nghiệm, cùng những mẫu chuyện sưu soạn và chọn lọc có liên quan đến hạnh nguyện cứu khổ của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngoài các mẫu chuyện linh ứng của đức Quán Thế Âm, chúng tôi còn có trình bày thêm phần thực tập thiền quán qua đề mục niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và có phần Nghi thức trì tụng phẩm kinh Phổ Môn, nói rõ hạnh nguyện và năng lực cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Nghe tập sách này, mà bạn khởi phát được niềm tin sâu vững nơi Bồ Tát Quán Thế Âm, nguyện nổ lực cần mẫn trên tiến trình học hạnh yêu thương và giúp đỡ người thân đồng loại, đó chính là nhờ công năng quán chiếu tu tập hạnh lành của bạn theo tinh thần Từ Bi của đức Quán Thế Âm. Riêng quý vị đã có sẵn tín tâm, duyên lành với hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm, sau khi đọc xong tập sách này, chắc quý vị có thêm kinh nghiệm và tư liệu sống thực để hằng truyền phổ sâu rộng về công đức, hạnh nguyện thù thắng của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngay nơi bản thân chúng tôi, nhờ tin tưởng, xưng niệm, phụng thờ, lễ bái và thực hành hạnh nguyện thương yêu, lắng nghe đức Quán Thế Âm Bồ Tát mà mỗi ngày tăng phần an lạc và hạnh phúc. Bằng vào đó mà chúng tôi tin tưởng vào năng lực cứu khổ mầu nhiệm cùa Bồ Tát Quán Âm một cách tuyệt đối. Nhờ vậy mà chúng tôi càng thêm vững chí trên đường tu tập và hành đạo. Mong bạn đọc qua những mẫu chuyện linh ứng Quán Thế Âm sẽ:

– Thấu rõ hạnh nguyện cứu khổ sâu rộng, mầu nhiệm của Bồ Tát Quán Thế Âm.

– Tin sâu vào bản thể từ bi, diệu dụng, hóa hiện độ sinh bất khả tư nghì của Bồ Tát Quán Thế Âm.

– Tin sâu đạo lý nhân quả và duyên sanh giữa ta và người, giữa hạnh phúc và đau khổ.

– Hằng phát nguyện hạnh thực tập và lắng nghe và cứu khổ bình đẳng của Bồ Tát Quán Thế Âm.

– Hằng chuyên cần và nhất tâm xưng danh hiệu,lễ bái đức Quán Âm Bồ Tát không hề mỏi mệt.

– Nguyện cho mọi người, mọi loài sớm biết thực tập lời di huấn, giới răn, thiền định của Phật dạy để tiếp xúc được tự tánh thanh tịnh, từ bi, trí huệ ngay trong long thực tại.

– Hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm có mặt khắp mọi nơi và mọi thời. Ở đâu có đau khổ, có hận thù tăm tối là ở đó có Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

– Xưng niệm, lễ bái, phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm và muốn lời cầu nguyện có hiệu lực ta nên xả bỏ những tâm lý oán cừu, phiền hận và tham chấp.

– Phát nguyện làm điều lợi ích, cứu giúp, ban bố niềm vui cho người; xa lánh những điều ác, tránh sự giết hại, trộm cướp, gian dối, tà dục. Ðó chính là những điều kiện tốt để ta có cơ hội tiếp xúc với sự mầu nhiệm, linh cảm của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Ðức Quán Âm Bồ Tát
Ðã thành Phật lâu xa
Vì hạnh nguyện cứu khổ
Hết mọi loài chúng sanh
Trong luân hồi sáu nẻo
Ứng hóa vô lượng thân
Hiện ngàn muôn diệu ứng
Vào khổ cảnh ngục lao
Cứu giải trừ ách nạn
Ðem tin lành muôn nơi
Người tôn xưng Thánh Mẫu
Người gọi đức Quán Âm
Bậc đại hiền tự tại
Chăm kỉnh lể phụng thờ
Chuyên lòng trì danh hiệu
Vượt thoát mọi tai ương.

Thân chúc bạn đọc thường trau dồi hạnh phúc bằng chất liệu yêu thương, bằng khả năng quán chiếu; hằng đem tâm khách quan, tha thiết trong việc học hỏi, chiêm nghiệm, thực tập hạnh nguyện ban vui, cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm để niềm phúc lạc, bình an có mặt đích thực trong cuộc sống.

Thành kính tri ân quý pháp hữu, quý ân nhân, các đệ tử thân cận đã hết lòng góp phần tài chánh, đánh máy, trình bày và sữa soạn kịp thời cho tập sách này có đủ nhân duyên xuất bản như tâm nguyện.

Thích Tịnh Từ (trụ trì Tu Viện Kim Sơn)
Diễn đọc: Huy Hồ, Đức Uy, Kim Phượng

249/255Đầu...10...248249250...Cuối