<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	
	>
<channel>
	<title>
	Comments on: Câu Chuyện Về Mê Đắm Sắc Của Tôn Giả Nan Đà Và Sự Thức Tỉnh	</title>
	<atom:link href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/</link>
	<description>Con Đường Tắt Một Đời Thoát Ly Sanh Tử</description>
	<lastBuildDate>Mon, 18 May 2020 16:54:19 +0000</lastBuildDate>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>
		By: Mỹ Diệp		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-30802</link>

		<dc:creator><![CDATA[Mỹ Diệp]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 12 Oct 2016 02:31:25 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-30802</guid>

					<description><![CDATA[THÀ KHUẤY ĐỤC NƯỚC NGHÌN SÔNG CHỨ KHÔNG LÀM ĐỘNG TÂM NGƯỜI TU ĐẠO.

http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2016/03/tha-khuay-duc-nuoc-nghin-song-chu-khong-lam-dong-tam-nguoi-tu-dao/]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>THÀ KHUẤY ĐỤC NƯỚC NGHÌN SÔNG CHỨ KHÔNG LÀM ĐỘNG TÂM NGƯỜI TU ĐẠO.</p>
<p><a href="http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2016/03/tha-khuay-duc-nuoc-nghin-song-chu-khong-lam-dong-tam-nguoi-tu-dao/" rel="ugc">http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2016/03/tha-khuay-duc-nuoc-nghin-song-chu-khong-lam-dong-tam-nguoi-tu-dao/</a></p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Thiện Nhân		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14808</link>

		<dc:creator><![CDATA[Thiện Nhân]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 19 Dec 2014 06:45:42 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-14808</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783&quot;&gt;Trọng&lt;/a&gt;.

A Di Đà Phật

Gửi bạn Trọng,
Câu hỏi của bạn thật hay và ý nghĩa là vô cùng tận. Hai chữ „Khổ“ và „Không“ nếu chúng ta hiểu được, quán chiếu được, tất con đường về Tịnh Độ – Vĩnh ly khổ ách đã có thể nắm chắc trong tay vậy.
 
Quán chiếu theo lời Phật dạy thì: Nơi nào còn sự sanh-diệt=nơi ấy còn sự khổ, vì thế „Khổ“ là vô cùng, vô biên, vô tận. Với trí phàm phu của chúng ta khó có thể lý giải một cách viên mãn. TN thấy đây cũng là một nhân duyên thù thắng nên mạo muội chép lại toàn bộ Phẩm Hiện Bệnh Thứ 18 trong Kinh Đại Niết Bàn. Nhân duyên có phẩm này là do lòng đại từ, đại bi của Phật, trước khi Nhập Niết Bàn, thấy các chúng sanh chưa hiểu liễu nghĩa được 8 nỗi khổ luôn rình rập, rằng xé, cướp phá, bức hại thân mạng của chúng sanh trong từng giây phút, vì thế Ngài đã thị hiện giống như một người bệnh, nằm bất động, để tạo duyên cho các bậc Bồ tát thưa hỏi. Ca Diếp Bồ Tát đã nhận ra điều đó và Ngài khởi lòng từ, đã vì chúng sanh đời mạt pháp chất vấn Phật về „hiện tượng ngã bệnh, hay còn gọi là khổ bệnh của đức Thế Tôn“…
 
Dưới đây là là toàn bộ lời lý giải của Phật về 8 nỗi khổ lớn của một kiếp người. TN khẩn mong bạn và tất cả quý đạo hữu có duyên hãy lắng lòng, đọc đi đọc lại Phẩm 18 này để thấy được: Ta Bà là khổ, cực khổ! Cực Lạc là vui, cực vui, từ đó mà dũng mãnh phát tâm bồ đề nhất tâm niệm Phật nguyện cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nguyện cầu đức Bổn Sư gia hộ để tất thảy quý đạo hữu đều hiểu được chọn vẹn nghĩa kinh này. 
Về chữ „Không“ Thiện Nhân sẽ nguyện được cùng các Đạo hữu chia sẻ trong những hồi đáp kế tiếp. 
A Di Đà Phật
TN

         ****************************************************

&lt;strong&gt;PHẨM HIỆN BỊNH THỨ MƯỜI TÁM &lt;/strong&gt;
 
&lt;em&gt;Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn đức Như-lai đã khỏi tất cả tật bệnh, không còn đau khổ, không sợ sệt. Thế-Tôn ! Tất cả chúng sanh có bốn mũi tên độc : Tham Dục, sân-khuể, ngu si và kiêu mạn. Bốn thứ độc nầy là nhân sanh ra bệnh. Nếu có bệnh nhơn, thời có bệnh sanh ra tức là những thứ bệnh hàn, nhiệt, bệnh phổi, ói mữa, da thịt ngứa xót, buồn nôn ngăn nghẹn, đi chảy, bệnh kiết, tiểu dải lâm dịch, nhức tai, xốn mắt, đau lưng, bụng đầy, điên cuồng, ốm gầy, quỉ mị dựa, các thứ thân bịnh tâm bịnh như vậy. Chư Phật dầu không còn có những thứ bịnh ấy. Hôm nay đức Như-Lai cớ sao bảo Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát rằng Phật đau lưng, các ông nên vì đại chúng mà thuyết pháp ? 
Bạch Thế-Tôn ! Có hai nhơn duyên thời không bệnh khổ ! Một là thương xót tất cả chúng sanh, hai là cung cấp thuốc men cho người bịnh. Từ xưa đức Như-Lai đã tu đạo Bồ-Tát trong vô lượng muôn ức kiếp : Thường thật hành lời nói dịu dàng, thân yêu, lợi ích cho chúng sanh chẳng để họ phải khổ não, bố thí các thứ thuốc men cho người bịnh. Cớ sao hôm nay lại tự nói là có bịnh ? 
Thế-Tôn ! Trong đời, người có bịnh, hoặc ngồi, hoặc nằm chẳng yên, hoặc đòi uống đòi ăn,  dặn bảo người nhà coi sóc sản nghiệp. Cớ sao đức Như-Lai nằm yên lặng, chẳng dạy bảo hàng Thanh-Văn đệ tử những giới luật, Thiền- Định giải thoát tam muội, tu hạnh chánh cần. Cớ sao chẳng giảng nói kinh điển đại thừa rất sâu vi diệu. Cớ sao đức Như-Lai chẳng dùng vô lượng phương tiện dạy ngài Đại Ca-Diếp cùng các hàng đại-nhơn cho họ đặng bực bất thối vô thượng bồ- đề. Cớ sao chẳng trị phạt các ác Tỳ-kheo nhận chứa tất cả vật bất tịnh. Đức Thế-Tôn thiệt không có bệnh tật, sao lại yên lặng nằm nghiêng bên mặt. 
Các vị Bồ-Tát phàm cung cấp thuốc men cho người bịnh, đem căn lành ấy ban cho chúng sanh, đồng hồi hướng nhứt thế chủng trí.  Vì trừ các thứ phiền não chướng, nghiệp chướng, và báo chướng cho chúng sanh. Phiền não chướng là tham dục, sân khuể ngu si, phẫn nộ, triền cái, tập não, tật đố, xan lẫn, gian trá, siểm khúc, vô tàm vô qúi, mạn, mạn mạn, đại mạn, bất như  mạn, tăng thượng mạn, ngã mạn, tà mạn, kiêu mạn, phóng dật, cống cao, phẫn hận, tránh tụng, tà mạn, siểm mị, dối bày tướng lạ, dùng lợi cầu lợi, cầu quấy cầu nhiều, không cung kính, chẳng tùy thuận lời dạy bảo, gần gũi ác hữu, tham lợi không nhàm, ràng buộc khó mở, mong mỏi điều ác, tham lam việc ác chấp thân chấp có, chấp không, vươn vai ưa ngủ, ngáp dài chẳng vui, tham uống tham ăn, tâm trí mờ tối, tâm tưởng sai lầm, chẳng khéo suy nghĩ, thân và miệng  nhiều lỗi ác, hay mừng, nói nhiều, căn tánh ám độn, lời nói phần nhiều rỗng tuếch, thường bị các giác quán : Dục giác, khuể giác, hai giác che đậy. Tất cả trên đây gọi là phiền não chướng. 
    
Nghiệp chướng là năm tội vô gián, những bịnh nặng dữ. 
Báo chướng là sanh vào địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, hủy báng chánh pháp và nhứt xiển đề. 
Ba chướng như vậy gọi là căn bịnh lớn. 
Các vị Bồ-Tát lúc tu hạnh bồ-đề trong vô lượng kiếp, cung cấp thuốc men cho tất cả người tật bịnh, thường nguyện rằng làm cho tất cả chúng sanh dứt hẳn ba chướng. 
Bồ-Tát lúc tu hạnh bồ đề cung cấp thuốc men cho tất cả người bịnh thường nguyện rằng : Nguyện cho chúng sanh dứt hẳn tật bịnh đặng thân kim cương của Như-Lai. Lại nguyện vì tất cả chúng sanh làm diệu dược dứt trừ tất cả những bệnh nặng, bịnh dữ. Nguyện các chúng sanh đặng thuốc A-Dà-Đà, thuốc nầy có công hiệu trừ vô lượng độc dữ. Nguyện chúng sanh không thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác, mau đặng thành tựu vô thượng Phật đạo, tiêu trừ tất cả mũi tên độc phiền não. Nguyện chúng sanh tinh tấn tu hành, thành tựu thân kim cương của Như-Lai, làm thuốc hay vi diệu trị lành các thứ bịnh, chẳng để có người sanh lòng tránh tụng. Cũng nguyện chúng sanh làm dược thọ lớn, trị lành tất cả những bịnh dữ bịnh nặng. Lại nguyện chúng sanh nhổ mũi tên độc đặng thành quang minh vô lượng của Như-Lai. Lại nguyện chúng sanh đặng vào trí huệ của Như-Lai, thông đạt pháp tạng vi mật. 
Thế-Tôn ! Bồ-Tát đã phát nguyện nầy trong vô lượng trăm ngàn muôn ức na-do- tha kiếp làm cho chúng sanh không còn bịnh tật. Cớ sao hôm nay đức Như-Lai lại xướng rằng có bịnh. 
Thế-Tôn, trong đời có người bịnh không ngồi dậy được, không thể cúi ngước cựa động, ăn uống không đặng, đổ nước chẳng xuống, cũng không thể dặn bảo con cái xem sóc gia nghiệp. Cha mẹ, vợ con, anh em, thân thuộc đều nghĩ rằng : Người nầy quyết định chết. Cũng vậy, hôm nay đức Như-Lai nằm nghiêng bên hữu, không nói năng đàm luận, nơi Diêm-Phù-Đề nầy, có những người ngu sẽ nghĩ rằng : Đức Như-Lai chánh giác quyết sẽ diệt tận nhập Niết-Bàn. Nhưng thiệt ra tánh như, Như-Lai chẳng rốt ráo nhập Niết-Bàn. Vì Như-Lai thường trụ không biến đổi. Do cớ nầy đức Như-Lai chẳng nên nói rằng : Nay ta đau lưng. 
Thế-Tôn ! Trong đời có người bịnh. Thân thể ốm gầy, hoặc nằm nghiêng nằm ngữa trên giừơng nệm, gia quyến người đó sanh lòng ghét bỏ, cho rằng người đó ắt chết. Cũng vậy, nay đức Như-Lai sẽ bị chín mươi lăm phái ngoại đạo khinh mạn, cho là vô thường. Các ngoại đạo đó sẽ nói rằng : Chẳng bằng chúng ta do ngã tánh thường còn, thời tiết tự tại, các pháp vi trần v.v…, mà làm thường trụ không có biến đổi. Sa-Môn Cừu-Đàm bị vô thường thuyên chuyển, đó là biến đổi. Do nghĩa nầy, hôm nay đức Thế-Tôn chẳng nên yên lặng nằm nghiêng bên mặt. 
Thế-Tôn ! Trong đời người có bịnh tứ đại tăng tổn không điều thích, ốm gầy mất sức. Vì thế nên không thể ngồi đứng tùy ý, phải nằm trên giường nệm,. Tứ đại của Như-Lai điều hòa thích, sức lực đầy đủ, cũng không ốm gầy. 
Thế-Tôn ! Như sức của mười con trâu nhỏ, chẳng bằng sức của một con trâu lớn. Sức của mười con trâu lớn không bằng sức của một con thanh ngưu. Sức của mười con thanh ngưu không bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường không bằng sức của một con voi rừng. Sức của mười con voi rừng chẳng bằng sức của một con voi hai ngà. Sức của mười con voi hai ngà chẳng bằng sức của một con voi bốn ngà. Sức của mười con voi bốn ngà chẳng bằng sức của bạch tượng ở núi Tuyetá-sơn. Sức của mười bạch tượng ở Tuyết-sơn chẳng bằng sức của một hương tượng. Sức của mười hương tượng không bằng sức của một thanh tượng. Sức của mười thanh tượng không bằng sức của một huỳnh tượng. Sức của mười huỳnh tượng chẳng bằng sức của một xích tượng. Sức của mười xích tượng không bằng sức của một bạch tượng vương. Sức của mười bạch tượng vương không bằng sức của một sơn tượng. Sức của mưới sơn tượng không bằng sức của một ưu-bát-la-tượng. Sức của mười ưu- bát-la tượng không bằng sức của ba-đầu-ma tượng. Sức của mười ba-đầu-ma tượng không bằng sức của một câu-vật-đầu-tượng. Sức của mười câu-vật- đầu tượng không bằng sức của một phân-đà-lợi tượng. Sức của mười phân-đà- lợi tượng không bằng sức của một đại lực sĩ trong loài người. Sức của mười đại lực sĩ không bằng sức của một bát-kiền-đề. Sức của mười bát-kiền-đề chẳng bằng sức của bát-tý na-la-diên. Sức của mười na-la-diên không bằng sức một lóng tay của vị Thập trụ Bồ-Tát. 
Các lóng xương trong thân của người thường, đầu xương chẳng đến nhau. Đại lực sĩ trong loài người đầu xương đến nhau. Thân của bát-kiền-đề các lóng xương tiếp nhau. Thân của Na-La-Diên đầu xương móc nhau, Thân của Thập- trụ của Bồ-Tát đầu những lóng xương kết liền với nhau. Vì thế nên sức mạnh của Bồ-Tát rất lớn. Lúc thế giới thành lập từ kim cang tế có tòa kim cang nổi lên đến đạo tràng dưới cây Bồ-Đề. Bồ-Tát ngồi trên tòa đó, tâm liền chứng đặng mười trí lực. 
Nay đức Như-Lai chẳng nên như trẻ con thơ bé. Trẻ nít ngu si không biết nói năng, tùy ý nằm ngữa nằm nghiêng không ai quở trách. Đức Như-Lai Thế- Tôn có trí huệ lớn hiểu biết tất cả, là bực tối tôn trong loài người, đầy đủ oai đức lớn, thành tựu đại thần thông, dứt hẳn lưới nghi, đã nhổ tên độc đi đứng an lành, đặng tự tại vô sở úy, giờ đây cớ chi nằm nghiêng bên mặt, làm cho hàng nhơn thiên lo rầu khốn khổ ? 
Ca-Diếp  Bồ-Tát liền ở trước Phật mà nói kệ rằng : 
Như-Lai đại thánh đức,  Xin dạy giảng pháp mầu.  Chẳng nên như trẻ thơ,  Người bịnh nằm giường nệm,  Điều-Ngự-Thiên-Nhơn-Sư. Nằm dựa nơi song thọ,  Kẻ phàm phu ngó thấy,  Cho rằng ắt Niết-Bàn.  Chẳng biết kinh Đại- thừa,  Hạnh của Phật rất sâu.  Chẳng thấy tạng vi mật.  Như mù chẳng thấy đường.  Duy các vị Bồ-Tát,  Văn-Thù-Sư-Lợi thảy.  Hiểu được mật tạng nầy,  Ví như người bắn giỏi.  Chư Phật trong ba đời,  Đại-bi làm căn bản, Đại-từ-bi như vậy. Nay ở tại chỗ nào ? Nếu là không đại bi,  Thời chẳng gọi là Phật.  Phật nếu ắt Niết-Bàn. Thời chẳng gọi là thường. Ngưỡng mong đấng vô thượng,  Nhận lời mời của tôi, Lợi ích các chúng sanh,  Xô dẹp những ngoại đạo. 
Lúc bấy giờ đức Thế-Tôn, đại-bi huân nơi lòng, rõ biết tâm niệm của đại chúng muốn tùy thuận để đại chúng được lợi ích rốt ráo, liền dậy ngồi kiết-gìa, dung nhan vui vẻ sáng rỡ như vàng ròng,  mặt mắt xinh đẹp dường như trăng tròn, hình dung thanh tịnh không có những cấu-uế, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp hư không. Ánh sáng đó hơn cả trăm ngàn mặt trời chiếu suốt mười phương thế giới, ban bố trí huệ cho chúng sanh, diệt trừ vô minh hắc ám, làm cho trăm ngàn ức na-do-tha chúng sanh bồ-đề tâm vững chắc. 
Đức Thế-Tôn lòng không nghi lự. Như sư tử vương dùng ba mươi hai tướng đại nhơn, tám mươi thứ tốt trang nghiêm nơi thân. Mỗi lổ chơn lông trên thân đều hiện ra một hoa sen. Hoa sen ấy đủ ngàn cánh thuần màu vàng ròng, cọng bằng lưu ly, tua bằng kim cang, gương bằng ngọc mai khôi, hình lớn tròn như bánh xe. Những hoa sen ấy đều phóng ra ánh sáng nhiều màu : Xanh, vàng, đỏ, trắng, màu tía, màu pha lê, các ánh sáng ấy chiếu suốt đến địa ngục A-Tỳ cùng các đại địa ngục, chúng sanh đang bị khổ đốt, nấu, đâm, chém, lột da v.v…, gặp ánh sáng nầy đều được khỏi khổ, an ổn mát mẻ. Trong ánh sáng ấy lại tuyên nói tạng bí mật của Như-Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Chúng sanh trong địa ngục nghe pháp âm rồi, liền bỏ thân sanh lên cõi trời hay trong loài người. Chúng sanh trong hàn-băng địa ngục ánh sáng của Phật chiếu đến cũng được khỏi khổ, được nghe pháp và được sanh lên cõi trời hay trong loài người. Bao nhiêu địa ngục nơi cõi Diêm-Phù-Đề nầy và các thế giới khác thảy đều trống không, không người thọ tội, trừ kẻ nhứt-xiển-đề. 
Loài ngạ-quỹ khổ vì đói khát tóc vấn lấy thân, cả trăm ngàn năm chưa từng được nghe tên nước, đồ uống, họ gặp ánh sáng của Phật liền hết đói khát. Trong ánh sáng ấy cũng nói tạng vi mật của Như-Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. 
Nhờ nghe pháp âm nầy loài ngạ quỹ được sanh lên trời hay trong loài người, trừ những kẻ hủy báng kinh điển Đại-thừa Phương-đẳng. 
Những loài súc sanh, giết hại ăn nuốt lẫn nhau. Chúng nó gặp ánh sáng của Phật trừ được  tâm hung ác. Trong ánh sáng ấy cũng nói tạng vi mật của Như- Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. 
Những loài súc sanh nhờ nghe pháp âm sau khi chết sanh lên cõi trời hay trong loài người, trừ những kẻ hủy báng chánh pháp. 
Trên mỗi hoa sen đó đều có một đức Phật Viên-Quang rộng một tầm. Màu vàng chói sáng, ba mươi hai tướng, tám mươi thứ đẹp trang nghiêm nơi thân. Trong các đức Phật đó có vị thì ngồi, có vị thì đi, có vị thì đứng, có vị thì nằm, có vị nổi tiếng sấm, có vị rưới mưa, có vị phóng chớp sáng, có vị nổi gió, có vị phóng khói lửa, có vị thị hiện những núi bảy báu, suối , ao, sông, ngòi, núi rừng, cây cối, có vị hiện ra cõi nước bảy báu, thành ấp xóm làng cung điện nhà cửa. Có vị hiện ra voi, ngựa, sư tử, cọp, sói, chim công, phụng hoàng. Có vị làm cho bao nhiêu chúng sanh trong Diêm-Phù-Đề đều được thấy địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, nhẫn đến thấy sáu cõi trời dục giới. Trong các đức Phật đó lại có vị thuyết về ấm, giới, các nhập, nhiều sự tội lỗi. Cóvị nói pháp tứ-đế. Có vị nói pháp thập nhị nhơn duyên. Có vị nói những phiền não, những nghiệp đều do nhơn duyên sanh. Có vị nói pháp ngã cùng vô ngã. Có vị nói hai pháp khổ và lạc. Có vị nói pháp thường và vô thường. Có vị nói pháp tịnh cùng bất tịnh. Lại có đức Phật vì các Bồ-Tát nói sáu pháp ba-la-mật. Lại có đức Phật nói công đức của Đại Bồ-Tát . Lại có đức Phật nói công đức của chư Phật Thế-Tôn. Lại có đức Phật nói công đức của hàng Thanh-Văn. Lại có đức Phật nói tùy thuận nhứt-thừa. Hoặc có đức Phật nói tam-thừa thành đạo. Có đức Phật hông bên trái hiện ra nước, hông bên hữu hiện ra lửa. Có đức Phật thị hiện giáng sanh, xuất gia ngồi đạo tràng  dưới cây bồ-đề chuyển pháp luân vi diệu, nhập Niết-bàn. Lại có đức Phật thuyết pháp làm cho trong đại đội nầy có người chứng đặng sơ quả, nhị quả, tam quả, nhẫn đến tứ quả. Hoặc có đức Phật nói vô lượng nhơn duyên thoát ly sanh tử. 
Những chúng sanh trong Diêm-Phù-Đề nầy được ánh sáng của Phật chiếu đến người mù được thấy,  người điếc được nghe, người câm nói được, người què bại đi được, người nghèo được của, kẻ bỏn xẻn phát tâm bố thí, kẻ sân hận sanh lòng từ. Người không chánh tín bèn có chánh tín. Chúng sanh trong thế giới không có ai làm việc ác, trừ hạng nhứt xiển đề. 
Tất cả trời, rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu la, khẩn-na-la, ma- hầu-la- già, la-sát, kiện-đà, ưu-ma-đà, a-bà-ma-la, nhơn, phi nhơn v.v… đều đồng tiếng xướng rằng : Lành thay ! Lành thay ! Đấng Vô Thượng Thiên-Tôn, làm sự lợi ích lớn. Tất cả đều vui mừng hớn hở, hoặc ca hoặc múa, đem các thứ hoa rải trên Phật và chúng Tăng. Đó là những hoa cõi trời : Hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha-mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha-mạn-thù-sa, hoa tán-đà-na, hoa ma-ha tán-đà-na, hoa lư-chỉ-na, hoa ma-ha-lư-chỉ-na, hoa hương, hoa đại-hương, hoa thích-ý, hoa đại thích-ý, hoa ái-kiến, hoa đại ái- kiến, hoa đoan-nghiêm, hoa đệ nhứt đoan-nghiêm. 
Lại rải các thứ hương : Hương trầm-thủy, hương đa-dà-lâu, chiên-đàn, uất-kim, hương pha trộn, hương hải ngạn. 
Lại đem tràng phan lọng báu cõi trời, kỹ nhạc cõi trời : đờn tranh, đờn sắt, ống dịch, ống sanh, không hầu, khảy, thổi cúng dường lên Phật, đồng nói kệ rằng : 
Tôi nay đãnh lễ đức  Đại Tinh Tấn Đấng Lưỡng-Túc-Tôn vô thượng chánh giác.  Đại chúng trời người chẳng thể biết thấu,  Chỉ có đức Cù-Đàm mới rõ được.  Đức Thế-Tôn thuở trước vì chúng tôi,  Trong vô lượng kiếp siêng tu khổ hạnh,  Tại sao một mai bỏ thệ nguyện cũ,  Mà bèn xả mạng muốn nhập Niết-bàn ?  Tất cả chúng sanh chẳng thể thấy biết, Tạng bí mật của chư Phật Thế-Tôn,  Do nhơn duyên nầy khó đặng xuất ly,  Luân chuyển trong sanh tử đọa ác đạo.  Như Phật đã từng nói A-La-Hán.  Tất cả đều sẽ đến nơi Niết-Bàn,  Công hạnh rất sâu củaPhật như vậy.  Hạng phàm phu ngu mê ai biết được.  Ban pháp cam lồ cho các chúng sanh,  Vì muốn dứt trừ hết những phiền não,  Nếu có người uống chất cam lộ nầy,  Chẳng còn lại thọ sanh lão bịnh tử.  Đức Như-Lai Thế- Tôn vì chữa trị,  Trăm ngàn vô lượng tất cả chúng sanh.  Bao nhiêu những bịnh nặng của chúng sanh,  Đều làm tiêu diệt không còn thừa sót. Đức Thế-Tôn từ lâu khỏi bịnh khổ.  Nên đặng gọi là đức Phật thứ bảy,  Ngưỡng mong ngày nay lại rưới mưa pháp,  Nhuần thấm giống công đức của chúng tôi.  Đại chúng trời người trong pháp hội nầy, Thỉnh cầu như vậy rồi đều yên lặng. 
Phật bảo Ca-Diếp bồ-Tát : Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện-nam-tử, ông đã đầy đủ trí huệ vi diệu rất sâu như vậy, chẳng bị tất cả tà ma ngoại đạo phá hoại. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Nay ông thành tựu biện tài vô ngại. Ông đã từng cúng dường vô lượng hằng hà sa chư Phật quá khứ, nên có thể hỏi đức Như-Lai những nghĩa như vậy. 
Nầy Thiện-nam-tử ! ta đã từ vô lượng vô biên ức na-do-tha trăm ngàn muôn kiếp, trừ hết bịnh căn, lìa hẳn sự dựa nằm, vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Vô-Thượng-Thắng, đầy đủ mười hiệu. Đức Phật đó vì hàng Thanh-Văn nói kinh Đại-thừa Đại-Niết-Bàn nầy. Thuở đó ta cũng làm Thanh-Văn của đức Phật ấy. Ta thọ trì kinh điển Đại-Niết-Bàn như vậy, đọc tụng thông thuộc, biên chép quyển kinh, rồi ta rộng vì người khác phân biệt giảng thuyết. Ta đem căn lành đóhồi hướng vô thượng Bồ-Đề. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Từ đó trở đi, ta chưa từng có những phiền não nghiệp ác, chẳng đọa nơi ác đạo, chẳng hủy báng chánh pháp làm nhứt xiển đề, chẳng thọ thân hoàng môn, chẳng phạm năm tội nghịch, bốn tội trọng. Từ đó đến nay thân tâm ta an ổn, không có các sự khổ não. 
Nầy Thiện-nam-tử ! nay ta thiệt không có tất cả tật bịnh. Vì chư Phật Thế- tôn từ lâu đã xa lìa tất cả bịnh khổ. Các chúng sanh chẳng biết giáo pháp bí mật Đại- thừa Phương-Đẳng, bèn cho rằng đức Như-Lai thiệt có bịnh. 
Nầy thiện-nam-tử ! Như nói đức Như-Lai là sư tử trong loài người nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải là sư tử . Như nói đức Như-Lai là rồng lớn trong loài người, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải rồng. Đức Phật từ vô lượng kiếp đã xa lìa ác nghiệp. Nên biết những lời như vậy chính là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
Nầy Thiện-nam-tử  ! Như nói đức Như-Lai là người, là trời, nhưng thiệt ra đức Phật chẳng phải người, chẳng phải trời, cũng chẳng phải quỉ thần, càn- thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, chẳng phải ngã, chẳng phải mạn, chẳng phải dưỡng dục, chẳng phải sĩ phu, chẳng phải làm, chẳng phải không làm, chẳng phải thọ, chẳng phải không thọ, chẳng phải Thế-Tôn chẳng phải Thanh-Văn, chẳng phải thuyết, chẳng phải không thuyết. Những lời như vậy đều là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
Nầy Thiện-nam-tử !  Như nói đức Như-Lai dường như biển cả, như núi tu-Di, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải vị mặn, cũng chẳng phải đồng như đá núi. Phải biết lời nói như vậy là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
Nầy Thiện-nam-tử  ! Như nói đức Như-Lai như hoa Phân-Đà-Lợi, nhưng thiệt ra đức Phật chẳng phải hoa Phân-Đà-Lợi. Như nói đức Như-Lai dường như cha mẹ, nhưng thiệt ra đức Như-Lai chẳng phải cha mẹ. Như nói đức Như-Lai là Đại Thuyền-Sư, nhưng đức Như-Lai  chẳng phải Thuyền-Sư . Như nói đức Như-Lai như Thương-chủ, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải Thương-chủ. Những lời như vậy cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Như nói đức Như-Lai hay trừ dẹp loài ma, nhưng thật ra đức Như-Lai không có ác tâm muốn khiến ma bị xô dẹp. Như nói đức Như- Lai trị được ung thư ghẻ độc, nhưng thật ra đức Phật chẳng phải thầy thuốc trị ung nhọt. Những lời như vậy cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
    
Nầy Thiện-nam-tử ! Như đức Phật trước kia đã nói, nếu có thiện-nam, tín nữ nào có thể khéo tu hành ba nghiệp thân, khẩu, ý, lúc người đó chết, dầu trong thân tộc hoặc đem thi hài thiêu đốt, hoặc ném xuống sông, hoặc bỏ trong gò mã, chồn sói cầm thú cùng nhau đến xé ăn, những tâm ý thức của người đó liền sanh nơi cõi lành. Tâm thức như vậy thiệt không đi, không lại cũng không chỗ đến, chỉ là trước sau giống nhau, nối nhau, tướng mạo chẳng sai khác. Lời nói như vậy là giáo pháp bí mật của Như-Lai. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Nay ta nói rằng có bịnh cũng như vậy, cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai. Đức Như-Lai Đẳng Chánh-Giác thiệt không có bịnh nằm nghiêng bên hữu, cũng không rốt ráo nhập nơi Niết-bàn. Nầy Ca-Diếp Bồ- Tát ! Đại-Niết-bàn đây thiệt là thiền định rất sâu  của chư Phật. Thiền định nầy chẳng phải cảnh giới của Thanh-Văn, Duyên-Giác. 
Nầy thiện-nam-tử ! Vừa rồi ông hỏi cớ chi đức Như-Lai dựa nằm chẳng ngồi dậy, chẳng đòi uống ăn, chẳng dặn bảo quyến thuộc coi sóc sản nghiệp. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Tánh hư không cũng chẳng ngồi dậy, chẳng đòi uống ăn, chẳng dặn bảo quyến thuộc coi sóc sản nghiệp, cũng không đi, không lại, không sanh diệt, không già, trẻ, không mọc lặn, hư bể, giải thoát, ràng buộc, cũng không nói mình, nói người, cũng không hiểu mình hiểu người, chẳng phải ăn, chẳng phải bịnh. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Chư Phật Thế-Tôn cũng như vậy, dường như hư không, thế nào sẽ có những bịnh khổ ư ? 
Nầy Thiện-nam-tử ! Trong đời có ba hạng người bịnh khó trị : Một là kẻ hủy báng Đại-thừa, hai là kẻ phạm tội ngũ nghịch, ba là hạng nhứt-xiển-đề, ba hạng bịnh nầy là rất nặng ở trong đời. Hàng Thanh-Văn Duyên-Giác và Bồ-Tát đều không thể trị được. 
                 
Nầy Thiện-nam-tử ! ví như có bịnh khó trị chắc chết, dầu có săn sóc, tùy ý thuốc men, hoặc không săn sóc, tùy ý thuốc men, người bịnh ấy chắc chết chẳng nghi. Ba hạng người trên đây cũng như vậy, dầu có Thanh-Văn, Duyên-Giác và Bồ- Tát thuyết pháp cho, hay chẳng thuyết pháp, đều không thể làm cho họ phát tâm vô thượng bồ-đề. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Ví như người bịnh có sự săn sóc, tùy ý thuốc men, thời có thể lành bịnh, nếu không ba việc này, thời bịnh chẳng lành. Cũng vậy, hàng Thanh-Văn, Duyên-Giác, theo Phật và Bồ-Tát đặng nghe pháp rồi liền có thể phát tâm vô thượng bồ-đề. Không phải chẳng nghe pháp mà có thể phát bồ-đề tâm. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Ví như người bịnh, nếu được săn sóc, tùy ý thuốc men, hoặc không săn sóc, tùy ý thuốc men, đều được lành bịnh. Cũng vậy, có một hạng người, hoặc gặp Thanh-Văn hay chẳng gặp, hoặc gặp Duyên-Giác hay chẳng gặp, hoặc gặp Bồ-Tát hay chẳng gặp, hoặc gặp Như-Lai hay chẳng gặp, hoặc đặng nghe pháp hay chẳng đặng nghe, tự nhiên đặng thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đây là hạng người nào ? Chính là người vì thân mình hay vì người khác, hoặc vì sợ sệt hoặc vì lợi dưỡng, hoặc vì dua nịnh, hoặc vì phỉnh gạt người mà biên chép kinh Đại-Niết-Bàn nầy, rồi thọ trì đọc tụng cúng dường cung kính, giải nói cho người khác. 
Nầy Thiện-nam-tử ! Có năm hạng người đối với kinh điển Đại-thừa Đại- Niết- Bàn nầy có bịnh mà tu hành, chẳng phải là đức Như-Lai. Những gì là năm hạng ? 
Một là bực dứt kiến-hoặc trong tam giới đặng quả tu-đà-hoàn, chẳng đọa địa ngục, súc sanh, ngã-quỉ, bảy lần sanh trong loài người, trên trời, dứt hẳn các sự khổ nhập Niết-bàn. Đây gọi là hạng người thứ nhứt có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai, qua khỏi tám muôn kiếp sẽ đặng thành vô thượng chánh giác. 
Bực thứ hai dứt kiến-hoặc trong tam giới, tham, sân, si, mạn, đặng quả tư-đà- hàm, còn một lần sanh trong loài người, trên trời, dứt hẳn các khổ nhập Niết- Bàn. Đây gọi là bực thứ hai có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi sáu muôn kiếp, sẽ đặng thành vô thượng chánh giác. 
Bực thứ ba dứt kiến-hoặc trong tam giới, tư-hoặc cõi dục đã dứt, đặng quả a-na- hàm, chẳng còn sanh trong loài người, dứt hẳn các khổ nhập Niết-Bàn. Đây gọi là bực thứ ba có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi bốn muôn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác. 
Bực thứ tư dứt hẳn tham dục, sân-khuể, ngu si, đặng quả a-la-hán, không còn phiền não nhập Niết-Bàn, cũng chẳng phải hạnh kỳ-lân độc nhứt. Đây gọi là bực thứ tư có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi hai muôn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác. 
Bực thứ năm dứt hẳn tham dục, sân khuể, ngu si, đặng quả Bích-Chi Phật phiền não hết sạch nhập Niết-Bàn, thiệt là hạnh kỳ-lân độc nhứt. Đây gọi là bực thứ năm có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi mười ngàn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác. 
Đây gọi là năm hạng người có bịnh tu hành, chẳng phải đức  Như-Lai vậy.&lt;/em&gt;]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783">Trọng</a>.</p>
<p>A Di Đà Phật</p>
<p>Gửi bạn Trọng,<br />
Câu hỏi của bạn thật hay và ý nghĩa là vô cùng tận. Hai chữ „Khổ“ và „Không“ nếu chúng ta hiểu được, quán chiếu được, tất con đường về Tịnh Độ – Vĩnh ly khổ ách đã có thể nắm chắc trong tay vậy.</p>
<p>Quán chiếu theo lời Phật dạy thì: Nơi nào còn sự sanh-diệt=nơi ấy còn sự khổ, vì thế „Khổ“ là vô cùng, vô biên, vô tận. Với trí phàm phu của chúng ta khó có thể lý giải một cách viên mãn. TN thấy đây cũng là một nhân duyên thù thắng nên mạo muội chép lại toàn bộ Phẩm Hiện Bệnh Thứ 18 trong Kinh Đại Niết Bàn. Nhân duyên có phẩm này là do lòng đại từ, đại bi của Phật, trước khi Nhập Niết Bàn, thấy các chúng sanh chưa hiểu liễu nghĩa được 8 nỗi khổ luôn rình rập, rằng xé, cướp phá, bức hại thân mạng của chúng sanh trong từng giây phút, vì thế Ngài đã thị hiện giống như một người bệnh, nằm bất động, để tạo duyên cho các bậc Bồ tát thưa hỏi. Ca Diếp Bồ Tát đã nhận ra điều đó và Ngài khởi lòng từ, đã vì chúng sanh đời mạt pháp chất vấn Phật về „hiện tượng ngã bệnh, hay còn gọi là khổ bệnh của đức Thế Tôn“…</p>
<p>Dưới đây là là toàn bộ lời lý giải của Phật về 8 nỗi khổ lớn của một kiếp người. TN khẩn mong bạn và tất cả quý đạo hữu có duyên hãy lắng lòng, đọc đi đọc lại Phẩm 18 này để thấy được: Ta Bà là khổ, cực khổ! Cực Lạc là vui, cực vui, từ đó mà dũng mãnh phát tâm bồ đề nhất tâm niệm Phật nguyện cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nguyện cầu đức Bổn Sư gia hộ để tất thảy quý đạo hữu đều hiểu được chọn vẹn nghĩa kinh này.<br />
Về chữ „Không“ Thiện Nhân sẽ nguyện được cùng các Đạo hữu chia sẻ trong những hồi đáp kế tiếp.<br />
A Di Đà Phật<br />
TN</p>
<p>         ****************************************************</p>
<p><strong>PHẨM HIỆN BỊNH THỨ MƯỜI TÁM </strong></p>
<p><em>Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn đức Như-lai đã khỏi tất cả tật bệnh, không còn đau khổ, không sợ sệt. Thế-Tôn ! Tất cả chúng sanh có bốn mũi tên độc : Tham Dục, sân-khuể, ngu si và kiêu mạn. Bốn thứ độc nầy là nhân sanh ra bệnh. Nếu có bệnh nhơn, thời có bệnh sanh ra tức là những thứ bệnh hàn, nhiệt, bệnh phổi, ói mữa, da thịt ngứa xót, buồn nôn ngăn nghẹn, đi chảy, bệnh kiết, tiểu dải lâm dịch, nhức tai, xốn mắt, đau lưng, bụng đầy, điên cuồng, ốm gầy, quỉ mị dựa, các thứ thân bịnh tâm bịnh như vậy. Chư Phật dầu không còn có những thứ bịnh ấy. Hôm nay đức Như-Lai cớ sao bảo Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát rằng Phật đau lưng, các ông nên vì đại chúng mà thuyết pháp ?<br />
Bạch Thế-Tôn ! Có hai nhơn duyên thời không bệnh khổ ! Một là thương xót tất cả chúng sanh, hai là cung cấp thuốc men cho người bịnh. Từ xưa đức Như-Lai đã tu đạo Bồ-Tát trong vô lượng muôn ức kiếp : Thường thật hành lời nói dịu dàng, thân yêu, lợi ích cho chúng sanh chẳng để họ phải khổ não, bố thí các thứ thuốc men cho người bịnh. Cớ sao hôm nay lại tự nói là có bịnh ?<br />
Thế-Tôn ! Trong đời, người có bịnh, hoặc ngồi, hoặc nằm chẳng yên, hoặc đòi uống đòi ăn,  dặn bảo người nhà coi sóc sản nghiệp. Cớ sao đức Như-Lai nằm yên lặng, chẳng dạy bảo hàng Thanh-Văn đệ tử những giới luật, Thiền- Định giải thoát tam muội, tu hạnh chánh cần. Cớ sao chẳng giảng nói kinh điển đại thừa rất sâu vi diệu. Cớ sao đức Như-Lai chẳng dùng vô lượng phương tiện dạy ngài Đại Ca-Diếp cùng các hàng đại-nhơn cho họ đặng bực bất thối vô thượng bồ- đề. Cớ sao chẳng trị phạt các ác Tỳ-kheo nhận chứa tất cả vật bất tịnh. Đức Thế-Tôn thiệt không có bệnh tật, sao lại yên lặng nằm nghiêng bên mặt.<br />
Các vị Bồ-Tát phàm cung cấp thuốc men cho người bịnh, đem căn lành ấy ban cho chúng sanh, đồng hồi hướng nhứt thế chủng trí.  Vì trừ các thứ phiền não chướng, nghiệp chướng, và báo chướng cho chúng sanh. Phiền não chướng là tham dục, sân khuể ngu si, phẫn nộ, triền cái, tập não, tật đố, xan lẫn, gian trá, siểm khúc, vô tàm vô qúi, mạn, mạn mạn, đại mạn, bất như  mạn, tăng thượng mạn, ngã mạn, tà mạn, kiêu mạn, phóng dật, cống cao, phẫn hận, tránh tụng, tà mạn, siểm mị, dối bày tướng lạ, dùng lợi cầu lợi, cầu quấy cầu nhiều, không cung kính, chẳng tùy thuận lời dạy bảo, gần gũi ác hữu, tham lợi không nhàm, ràng buộc khó mở, mong mỏi điều ác, tham lam việc ác chấp thân chấp có, chấp không, vươn vai ưa ngủ, ngáp dài chẳng vui, tham uống tham ăn, tâm trí mờ tối, tâm tưởng sai lầm, chẳng khéo suy nghĩ, thân và miệng  nhiều lỗi ác, hay mừng, nói nhiều, căn tánh ám độn, lời nói phần nhiều rỗng tuếch, thường bị các giác quán : Dục giác, khuể giác, hai giác che đậy. Tất cả trên đây gọi là phiền não chướng. </p>
<p>Nghiệp chướng là năm tội vô gián, những bịnh nặng dữ.<br />
Báo chướng là sanh vào địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, hủy báng chánh pháp và nhứt xiển đề.<br />
Ba chướng như vậy gọi là căn bịnh lớn.<br />
Các vị Bồ-Tát lúc tu hạnh bồ-đề trong vô lượng kiếp, cung cấp thuốc men cho tất cả người tật bịnh, thường nguyện rằng làm cho tất cả chúng sanh dứt hẳn ba chướng.<br />
Bồ-Tát lúc tu hạnh bồ đề cung cấp thuốc men cho tất cả người bịnh thường nguyện rằng : Nguyện cho chúng sanh dứt hẳn tật bịnh đặng thân kim cương của Như-Lai. Lại nguyện vì tất cả chúng sanh làm diệu dược dứt trừ tất cả những bệnh nặng, bịnh dữ. Nguyện các chúng sanh đặng thuốc A-Dà-Đà, thuốc nầy có công hiệu trừ vô lượng độc dữ. Nguyện chúng sanh không thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác, mau đặng thành tựu vô thượng Phật đạo, tiêu trừ tất cả mũi tên độc phiền não. Nguyện chúng sanh tinh tấn tu hành, thành tựu thân kim cương của Như-Lai, làm thuốc hay vi diệu trị lành các thứ bịnh, chẳng để có người sanh lòng tránh tụng. Cũng nguyện chúng sanh làm dược thọ lớn, trị lành tất cả những bịnh dữ bịnh nặng. Lại nguyện chúng sanh nhổ mũi tên độc đặng thành quang minh vô lượng của Như-Lai. Lại nguyện chúng sanh đặng vào trí huệ của Như-Lai, thông đạt pháp tạng vi mật.<br />
Thế-Tôn ! Bồ-Tát đã phát nguyện nầy trong vô lượng trăm ngàn muôn ức na-do- tha kiếp làm cho chúng sanh không còn bịnh tật. Cớ sao hôm nay đức Như-Lai lại xướng rằng có bịnh.<br />
Thế-Tôn, trong đời có người bịnh không ngồi dậy được, không thể cúi ngước cựa động, ăn uống không đặng, đổ nước chẳng xuống, cũng không thể dặn bảo con cái xem sóc gia nghiệp. Cha mẹ, vợ con, anh em, thân thuộc đều nghĩ rằng : Người nầy quyết định chết. Cũng vậy, hôm nay đức Như-Lai nằm nghiêng bên hữu, không nói năng đàm luận, nơi Diêm-Phù-Đề nầy, có những người ngu sẽ nghĩ rằng : Đức Như-Lai chánh giác quyết sẽ diệt tận nhập Niết-Bàn. Nhưng thiệt ra tánh như, Như-Lai chẳng rốt ráo nhập Niết-Bàn. Vì Như-Lai thường trụ không biến đổi. Do cớ nầy đức Như-Lai chẳng nên nói rằng : Nay ta đau lưng.<br />
Thế-Tôn ! Trong đời có người bịnh. Thân thể ốm gầy, hoặc nằm nghiêng nằm ngữa trên giừơng nệm, gia quyến người đó sanh lòng ghét bỏ, cho rằng người đó ắt chết. Cũng vậy, nay đức Như-Lai sẽ bị chín mươi lăm phái ngoại đạo khinh mạn, cho là vô thường. Các ngoại đạo đó sẽ nói rằng : Chẳng bằng chúng ta do ngã tánh thường còn, thời tiết tự tại, các pháp vi trần v.v…, mà làm thường trụ không có biến đổi. Sa-Môn Cừu-Đàm bị vô thường thuyên chuyển, đó là biến đổi. Do nghĩa nầy, hôm nay đức Thế-Tôn chẳng nên yên lặng nằm nghiêng bên mặt.<br />
Thế-Tôn ! Trong đời người có bịnh tứ đại tăng tổn không điều thích, ốm gầy mất sức. Vì thế nên không thể ngồi đứng tùy ý, phải nằm trên giường nệm,. Tứ đại của Như-Lai điều hòa thích, sức lực đầy đủ, cũng không ốm gầy.<br />
Thế-Tôn ! Như sức của mười con trâu nhỏ, chẳng bằng sức của một con trâu lớn. Sức của mười con trâu lớn không bằng sức của một con thanh ngưu. Sức của mười con thanh ngưu không bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường không bằng sức của một con voi rừng. Sức của mười con voi rừng chẳng bằng sức của một con voi hai ngà. Sức của mười con voi hai ngà chẳng bằng sức của một con voi bốn ngà. Sức của mười con voi bốn ngà chẳng bằng sức của bạch tượng ở núi Tuyetá-sơn. Sức của mười bạch tượng ở Tuyết-sơn chẳng bằng sức của một hương tượng. Sức của mười hương tượng không bằng sức của một thanh tượng. Sức của mười thanh tượng không bằng sức của một huỳnh tượng. Sức của mười huỳnh tượng chẳng bằng sức của một xích tượng. Sức của mười xích tượng không bằng sức của một bạch tượng vương. Sức của mười bạch tượng vương không bằng sức của một sơn tượng. Sức của mưới sơn tượng không bằng sức của một ưu-bát-la-tượng. Sức của mười ưu- bát-la tượng không bằng sức của ba-đầu-ma tượng. Sức của mười ba-đầu-ma tượng không bằng sức của một câu-vật-đầu-tượng. Sức của mười câu-vật- đầu tượng không bằng sức của một phân-đà-lợi tượng. Sức của mười phân-đà- lợi tượng không bằng sức của một đại lực sĩ trong loài người. Sức của mười đại lực sĩ không bằng sức của một bát-kiền-đề. Sức của mười bát-kiền-đề chẳng bằng sức của bát-tý na-la-diên. Sức của mười na-la-diên không bằng sức một lóng tay của vị Thập trụ Bồ-Tát.<br />
Các lóng xương trong thân của người thường, đầu xương chẳng đến nhau. Đại lực sĩ trong loài người đầu xương đến nhau. Thân của bát-kiền-đề các lóng xương tiếp nhau. Thân của Na-La-Diên đầu xương móc nhau, Thân của Thập- trụ của Bồ-Tát đầu những lóng xương kết liền với nhau. Vì thế nên sức mạnh của Bồ-Tát rất lớn. Lúc thế giới thành lập từ kim cang tế có tòa kim cang nổi lên đến đạo tràng dưới cây Bồ-Đề. Bồ-Tát ngồi trên tòa đó, tâm liền chứng đặng mười trí lực.<br />
Nay đức Như-Lai chẳng nên như trẻ con thơ bé. Trẻ nít ngu si không biết nói năng, tùy ý nằm ngữa nằm nghiêng không ai quở trách. Đức Như-Lai Thế- Tôn có trí huệ lớn hiểu biết tất cả, là bực tối tôn trong loài người, đầy đủ oai đức lớn, thành tựu đại thần thông, dứt hẳn lưới nghi, đã nhổ tên độc đi đứng an lành, đặng tự tại vô sở úy, giờ đây cớ chi nằm nghiêng bên mặt, làm cho hàng nhơn thiên lo rầu khốn khổ ?<br />
Ca-Diếp  Bồ-Tát liền ở trước Phật mà nói kệ rằng :<br />
Như-Lai đại thánh đức,  Xin dạy giảng pháp mầu.  Chẳng nên như trẻ thơ,  Người bịnh nằm giường nệm,  Điều-Ngự-Thiên-Nhơn-Sư. Nằm dựa nơi song thọ,  Kẻ phàm phu ngó thấy,  Cho rằng ắt Niết-Bàn.  Chẳng biết kinh Đại- thừa,  Hạnh của Phật rất sâu.  Chẳng thấy tạng vi mật.  Như mù chẳng thấy đường.  Duy các vị Bồ-Tát,  Văn-Thù-Sư-Lợi thảy.  Hiểu được mật tạng nầy,  Ví như người bắn giỏi.  Chư Phật trong ba đời,  Đại-bi làm căn bản, Đại-từ-bi như vậy. Nay ở tại chỗ nào ? Nếu là không đại bi,  Thời chẳng gọi là Phật.  Phật nếu ắt Niết-Bàn. Thời chẳng gọi là thường. Ngưỡng mong đấng vô thượng,  Nhận lời mời của tôi, Lợi ích các chúng sanh,  Xô dẹp những ngoại đạo.<br />
Lúc bấy giờ đức Thế-Tôn, đại-bi huân nơi lòng, rõ biết tâm niệm của đại chúng muốn tùy thuận để đại chúng được lợi ích rốt ráo, liền dậy ngồi kiết-gìa, dung nhan vui vẻ sáng rỡ như vàng ròng,  mặt mắt xinh đẹp dường như trăng tròn, hình dung thanh tịnh không có những cấu-uế, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp hư không. Ánh sáng đó hơn cả trăm ngàn mặt trời chiếu suốt mười phương thế giới, ban bố trí huệ cho chúng sanh, diệt trừ vô minh hắc ám, làm cho trăm ngàn ức na-do-tha chúng sanh bồ-đề tâm vững chắc.<br />
Đức Thế-Tôn lòng không nghi lự. Như sư tử vương dùng ba mươi hai tướng đại nhơn, tám mươi thứ tốt trang nghiêm nơi thân. Mỗi lổ chơn lông trên thân đều hiện ra một hoa sen. Hoa sen ấy đủ ngàn cánh thuần màu vàng ròng, cọng bằng lưu ly, tua bằng kim cang, gương bằng ngọc mai khôi, hình lớn tròn như bánh xe. Những hoa sen ấy đều phóng ra ánh sáng nhiều màu : Xanh, vàng, đỏ, trắng, màu tía, màu pha lê, các ánh sáng ấy chiếu suốt đến địa ngục A-Tỳ cùng các đại địa ngục, chúng sanh đang bị khổ đốt, nấu, đâm, chém, lột da v.v…, gặp ánh sáng nầy đều được khỏi khổ, an ổn mát mẻ. Trong ánh sáng ấy lại tuyên nói tạng bí mật của Như-Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Chúng sanh trong địa ngục nghe pháp âm rồi, liền bỏ thân sanh lên cõi trời hay trong loài người. Chúng sanh trong hàn-băng địa ngục ánh sáng của Phật chiếu đến cũng được khỏi khổ, được nghe pháp và được sanh lên cõi trời hay trong loài người. Bao nhiêu địa ngục nơi cõi Diêm-Phù-Đề nầy và các thế giới khác thảy đều trống không, không người thọ tội, trừ kẻ nhứt-xiển-đề.<br />
Loài ngạ-quỹ khổ vì đói khát tóc vấn lấy thân, cả trăm ngàn năm chưa từng được nghe tên nước, đồ uống, họ gặp ánh sáng của Phật liền hết đói khát. Trong ánh sáng ấy cũng nói tạng vi mật của Như-Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.<br />
Nhờ nghe pháp âm nầy loài ngạ quỹ được sanh lên trời hay trong loài người, trừ những kẻ hủy báng kinh điển Đại-thừa Phương-đẳng.<br />
Những loài súc sanh, giết hại ăn nuốt lẫn nhau. Chúng nó gặp ánh sáng của Phật trừ được  tâm hung ác. Trong ánh sáng ấy cũng nói tạng vi mật của Như- Lai, nói rằng : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.<br />
Những loài súc sanh nhờ nghe pháp âm sau khi chết sanh lên cõi trời hay trong loài người, trừ những kẻ hủy báng chánh pháp.<br />
Trên mỗi hoa sen đó đều có một đức Phật Viên-Quang rộng một tầm. Màu vàng chói sáng, ba mươi hai tướng, tám mươi thứ đẹp trang nghiêm nơi thân. Trong các đức Phật đó có vị thì ngồi, có vị thì đi, có vị thì đứng, có vị thì nằm, có vị nổi tiếng sấm, có vị rưới mưa, có vị phóng chớp sáng, có vị nổi gió, có vị phóng khói lửa, có vị thị hiện những núi bảy báu, suối , ao, sông, ngòi, núi rừng, cây cối, có vị hiện ra cõi nước bảy báu, thành ấp xóm làng cung điện nhà cửa. Có vị hiện ra voi, ngựa, sư tử, cọp, sói, chim công, phụng hoàng. Có vị làm cho bao nhiêu chúng sanh trong Diêm-Phù-Đề đều được thấy địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, nhẫn đến thấy sáu cõi trời dục giới. Trong các đức Phật đó lại có vị thuyết về ấm, giới, các nhập, nhiều sự tội lỗi. Cóvị nói pháp tứ-đế. Có vị nói pháp thập nhị nhơn duyên. Có vị nói những phiền não, những nghiệp đều do nhơn duyên sanh. Có vị nói pháp ngã cùng vô ngã. Có vị nói hai pháp khổ và lạc. Có vị nói pháp thường và vô thường. Có vị nói pháp tịnh cùng bất tịnh. Lại có đức Phật vì các Bồ-Tát nói sáu pháp ba-la-mật. Lại có đức Phật nói công đức của Đại Bồ-Tát . Lại có đức Phật nói công đức của chư Phật Thế-Tôn. Lại có đức Phật nói công đức của hàng Thanh-Văn. Lại có đức Phật nói tùy thuận nhứt-thừa. Hoặc có đức Phật nói tam-thừa thành đạo. Có đức Phật hông bên trái hiện ra nước, hông bên hữu hiện ra lửa. Có đức Phật thị hiện giáng sanh, xuất gia ngồi đạo tràng  dưới cây bồ-đề chuyển pháp luân vi diệu, nhập Niết-bàn. Lại có đức Phật thuyết pháp làm cho trong đại đội nầy có người chứng đặng sơ quả, nhị quả, tam quả, nhẫn đến tứ quả. Hoặc có đức Phật nói vô lượng nhơn duyên thoát ly sanh tử.<br />
Những chúng sanh trong Diêm-Phù-Đề nầy được ánh sáng của Phật chiếu đến người mù được thấy,  người điếc được nghe, người câm nói được, người què bại đi được, người nghèo được của, kẻ bỏn xẻn phát tâm bố thí, kẻ sân hận sanh lòng từ. Người không chánh tín bèn có chánh tín. Chúng sanh trong thế giới không có ai làm việc ác, trừ hạng nhứt xiển đề.<br />
Tất cả trời, rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu la, khẩn-na-la, ma- hầu-la- già, la-sát, kiện-đà, ưu-ma-đà, a-bà-ma-la, nhơn, phi nhơn v.v… đều đồng tiếng xướng rằng : Lành thay ! Lành thay ! Đấng Vô Thượng Thiên-Tôn, làm sự lợi ích lớn. Tất cả đều vui mừng hớn hở, hoặc ca hoặc múa, đem các thứ hoa rải trên Phật và chúng Tăng. Đó là những hoa cõi trời : Hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha-mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha-mạn-thù-sa, hoa tán-đà-na, hoa ma-ha tán-đà-na, hoa lư-chỉ-na, hoa ma-ha-lư-chỉ-na, hoa hương, hoa đại-hương, hoa thích-ý, hoa đại thích-ý, hoa ái-kiến, hoa đại ái- kiến, hoa đoan-nghiêm, hoa đệ nhứt đoan-nghiêm.<br />
Lại rải các thứ hương : Hương trầm-thủy, hương đa-dà-lâu, chiên-đàn, uất-kim, hương pha trộn, hương hải ngạn.<br />
Lại đem tràng phan lọng báu cõi trời, kỹ nhạc cõi trời : đờn tranh, đờn sắt, ống dịch, ống sanh, không hầu, khảy, thổi cúng dường lên Phật, đồng nói kệ rằng :<br />
Tôi nay đãnh lễ đức  Đại Tinh Tấn Đấng Lưỡng-Túc-Tôn vô thượng chánh giác.  Đại chúng trời người chẳng thể biết thấu,  Chỉ có đức Cù-Đàm mới rõ được.  Đức Thế-Tôn thuở trước vì chúng tôi,  Trong vô lượng kiếp siêng tu khổ hạnh,  Tại sao một mai bỏ thệ nguyện cũ,  Mà bèn xả mạng muốn nhập Niết-bàn ?  Tất cả chúng sanh chẳng thể thấy biết, Tạng bí mật của chư Phật Thế-Tôn,  Do nhơn duyên nầy khó đặng xuất ly,  Luân chuyển trong sanh tử đọa ác đạo.  Như Phật đã từng nói A-La-Hán.  Tất cả đều sẽ đến nơi Niết-Bàn,  Công hạnh rất sâu củaPhật như vậy.  Hạng phàm phu ngu mê ai biết được.  Ban pháp cam lồ cho các chúng sanh,  Vì muốn dứt trừ hết những phiền não,  Nếu có người uống chất cam lộ nầy,  Chẳng còn lại thọ sanh lão bịnh tử.  Đức Như-Lai Thế- Tôn vì chữa trị,  Trăm ngàn vô lượng tất cả chúng sanh.  Bao nhiêu những bịnh nặng của chúng sanh,  Đều làm tiêu diệt không còn thừa sót. Đức Thế-Tôn từ lâu khỏi bịnh khổ.  Nên đặng gọi là đức Phật thứ bảy,  Ngưỡng mong ngày nay lại rưới mưa pháp,  Nhuần thấm giống công đức của chúng tôi.  Đại chúng trời người trong pháp hội nầy, Thỉnh cầu như vậy rồi đều yên lặng.<br />
Phật bảo Ca-Diếp bồ-Tát : Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện-nam-tử, ông đã đầy đủ trí huệ vi diệu rất sâu như vậy, chẳng bị tất cả tà ma ngoại đạo phá hoại.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Nay ông thành tựu biện tài vô ngại. Ông đã từng cúng dường vô lượng hằng hà sa chư Phật quá khứ, nên có thể hỏi đức Như-Lai những nghĩa như vậy.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! ta đã từ vô lượng vô biên ức na-do-tha trăm ngàn muôn kiếp, trừ hết bịnh căn, lìa hẳn sự dựa nằm, vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Vô-Thượng-Thắng, đầy đủ mười hiệu. Đức Phật đó vì hàng Thanh-Văn nói kinh Đại-thừa Đại-Niết-Bàn nầy. Thuở đó ta cũng làm Thanh-Văn của đức Phật ấy. Ta thọ trì kinh điển Đại-Niết-Bàn như vậy, đọc tụng thông thuộc, biên chép quyển kinh, rồi ta rộng vì người khác phân biệt giảng thuyết. Ta đem căn lành đóhồi hướng vô thượng Bồ-Đề.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Từ đó trở đi, ta chưa từng có những phiền não nghiệp ác, chẳng đọa nơi ác đạo, chẳng hủy báng chánh pháp làm nhứt xiển đề, chẳng thọ thân hoàng môn, chẳng phạm năm tội nghịch, bốn tội trọng. Từ đó đến nay thân tâm ta an ổn, không có các sự khổ não.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! nay ta thiệt không có tất cả tật bịnh. Vì chư Phật Thế- tôn từ lâu đã xa lìa tất cả bịnh khổ. Các chúng sanh chẳng biết giáo pháp bí mật Đại- thừa Phương-Đẳng, bèn cho rằng đức Như-Lai thiệt có bịnh.<br />
Nầy thiện-nam-tử ! Như nói đức Như-Lai là sư tử trong loài người nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải là sư tử . Như nói đức Như-Lai là rồng lớn trong loài người, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải rồng. Đức Phật từ vô lượng kiếp đã xa lìa ác nghiệp. Nên biết những lời như vậy chính là giáo pháp bí mật của Như-Lai.<br />
Nầy Thiện-nam-tử  ! Như nói đức Như-Lai là người, là trời, nhưng thiệt ra đức Phật chẳng phải người, chẳng phải trời, cũng chẳng phải quỉ thần, càn- thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, chẳng phải ngã, chẳng phải mạn, chẳng phải dưỡng dục, chẳng phải sĩ phu, chẳng phải làm, chẳng phải không làm, chẳng phải thọ, chẳng phải không thọ, chẳng phải Thế-Tôn chẳng phải Thanh-Văn, chẳng phải thuyết, chẳng phải không thuyết. Những lời như vậy đều là giáo pháp bí mật của Như-Lai.<br />
Nầy Thiện-nam-tử !  Như nói đức Như-Lai dường như biển cả, như núi tu-Di, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải vị mặn, cũng chẳng phải đồng như đá núi. Phải biết lời nói như vậy là giáo pháp bí mật của Như-Lai.<br />
Nầy Thiện-nam-tử  ! Như nói đức Như-Lai như hoa Phân-Đà-Lợi, nhưng thiệt ra đức Phật chẳng phải hoa Phân-Đà-Lợi. Như nói đức Như-Lai dường như cha mẹ, nhưng thiệt ra đức Như-Lai chẳng phải cha mẹ. Như nói đức Như-Lai là Đại Thuyền-Sư, nhưng đức Như-Lai  chẳng phải Thuyền-Sư . Như nói đức Như-Lai như Thương-chủ, nhưng đức Như-Lai thiệt chẳng phải Thương-chủ. Những lời như vậy cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Như nói đức Như-Lai hay trừ dẹp loài ma, nhưng thật ra đức Như-Lai không có ác tâm muốn khiến ma bị xô dẹp. Như nói đức Như- Lai trị được ung thư ghẻ độc, nhưng thật ra đức Phật chẳng phải thầy thuốc trị ung nhọt. Những lời như vậy cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai. </p>
<p>Nầy Thiện-nam-tử ! Như đức Phật trước kia đã nói, nếu có thiện-nam, tín nữ nào có thể khéo tu hành ba nghiệp thân, khẩu, ý, lúc người đó chết, dầu trong thân tộc hoặc đem thi hài thiêu đốt, hoặc ném xuống sông, hoặc bỏ trong gò mã, chồn sói cầm thú cùng nhau đến xé ăn, những tâm ý thức của người đó liền sanh nơi cõi lành. Tâm thức như vậy thiệt không đi, không lại cũng không chỗ đến, chỉ là trước sau giống nhau, nối nhau, tướng mạo chẳng sai khác. Lời nói như vậy là giáo pháp bí mật của Như-Lai.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Nay ta nói rằng có bịnh cũng như vậy, cũng là giáo pháp bí mật của Như-Lai. Đức Như-Lai Đẳng Chánh-Giác thiệt không có bịnh nằm nghiêng bên hữu, cũng không rốt ráo nhập nơi Niết-bàn. Nầy Ca-Diếp Bồ- Tát ! Đại-Niết-bàn đây thiệt là thiền định rất sâu  của chư Phật. Thiền định nầy chẳng phải cảnh giới của Thanh-Văn, Duyên-Giác.<br />
Nầy thiện-nam-tử ! Vừa rồi ông hỏi cớ chi đức Như-Lai dựa nằm chẳng ngồi dậy, chẳng đòi uống ăn, chẳng dặn bảo quyến thuộc coi sóc sản nghiệp.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Tánh hư không cũng chẳng ngồi dậy, chẳng đòi uống ăn, chẳng dặn bảo quyến thuộc coi sóc sản nghiệp, cũng không đi, không lại, không sanh diệt, không già, trẻ, không mọc lặn, hư bể, giải thoát, ràng buộc, cũng không nói mình, nói người, cũng không hiểu mình hiểu người, chẳng phải ăn, chẳng phải bịnh.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Chư Phật Thế-Tôn cũng như vậy, dường như hư không, thế nào sẽ có những bịnh khổ ư ?<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Trong đời có ba hạng người bịnh khó trị : Một là kẻ hủy báng Đại-thừa, hai là kẻ phạm tội ngũ nghịch, ba là hạng nhứt-xiển-đề, ba hạng bịnh nầy là rất nặng ở trong đời. Hàng Thanh-Văn Duyên-Giác và Bồ-Tát đều không thể trị được. </p>
<p>Nầy Thiện-nam-tử ! ví như có bịnh khó trị chắc chết, dầu có săn sóc, tùy ý thuốc men, hoặc không săn sóc, tùy ý thuốc men, người bịnh ấy chắc chết chẳng nghi. Ba hạng người trên đây cũng như vậy, dầu có Thanh-Văn, Duyên-Giác và Bồ- Tát thuyết pháp cho, hay chẳng thuyết pháp, đều không thể làm cho họ phát tâm vô thượng bồ-đề.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Ví như người bịnh có sự săn sóc, tùy ý thuốc men, thời có thể lành bịnh, nếu không ba việc này, thời bịnh chẳng lành. Cũng vậy, hàng Thanh-Văn, Duyên-Giác, theo Phật và Bồ-Tát đặng nghe pháp rồi liền có thể phát tâm vô thượng bồ-đề. Không phải chẳng nghe pháp mà có thể phát bồ-đề tâm.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Ví như người bịnh, nếu được săn sóc, tùy ý thuốc men, hoặc không săn sóc, tùy ý thuốc men, đều được lành bịnh. Cũng vậy, có một hạng người, hoặc gặp Thanh-Văn hay chẳng gặp, hoặc gặp Duyên-Giác hay chẳng gặp, hoặc gặp Bồ-Tát hay chẳng gặp, hoặc gặp Như-Lai hay chẳng gặp, hoặc đặng nghe pháp hay chẳng đặng nghe, tự nhiên đặng thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đây là hạng người nào ? Chính là người vì thân mình hay vì người khác, hoặc vì sợ sệt hoặc vì lợi dưỡng, hoặc vì dua nịnh, hoặc vì phỉnh gạt người mà biên chép kinh Đại-Niết-Bàn nầy, rồi thọ trì đọc tụng cúng dường cung kính, giải nói cho người khác.<br />
Nầy Thiện-nam-tử ! Có năm hạng người đối với kinh điển Đại-thừa Đại- Niết- Bàn nầy có bịnh mà tu hành, chẳng phải là đức Như-Lai. Những gì là năm hạng ?<br />
Một là bực dứt kiến-hoặc trong tam giới đặng quả tu-đà-hoàn, chẳng đọa địa ngục, súc sanh, ngã-quỉ, bảy lần sanh trong loài người, trên trời, dứt hẳn các sự khổ nhập Niết-bàn. Đây gọi là hạng người thứ nhứt có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai, qua khỏi tám muôn kiếp sẽ đặng thành vô thượng chánh giác.<br />
Bực thứ hai dứt kiến-hoặc trong tam giới, tham, sân, si, mạn, đặng quả tư-đà- hàm, còn một lần sanh trong loài người, trên trời, dứt hẳn các khổ nhập Niết- Bàn. Đây gọi là bực thứ hai có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi sáu muôn kiếp, sẽ đặng thành vô thượng chánh giác.<br />
Bực thứ ba dứt kiến-hoặc trong tam giới, tư-hoặc cõi dục đã dứt, đặng quả a-na- hàm, chẳng còn sanh trong loài người, dứt hẳn các khổ nhập Niết-Bàn. Đây gọi là bực thứ ba có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi bốn muôn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác.<br />
Bực thứ tư dứt hẳn tham dục, sân-khuể, ngu si, đặng quả a-la-hán, không còn phiền não nhập Niết-Bàn, cũng chẳng phải hạnh kỳ-lân độc nhứt. Đây gọi là bực thứ tư có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi hai muôn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác.<br />
Bực thứ năm dứt hẳn tham dục, sân khuể, ngu si, đặng quả Bích-Chi Phật phiền não hết sạch nhập Niết-Bàn, thiệt là hạnh kỳ-lân độc nhứt. Đây gọi là bực thứ năm có bịnh tu hành. Người nầy thuở vị lai qua khỏi mười ngàn kiếp, sẽ đặng quả vô thượng chánh giác.<br />
Đây gọi là năm hạng người có bịnh tu hành, chẳng phải đức  Như-Lai vậy.</em></p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Tìm Lại Phật Tánh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14807</link>

		<dc:creator><![CDATA[Tìm Lại Phật Tánh]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 19 Dec 2014 05:49:35 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-14807</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783&quot;&gt;Trọng&lt;/a&gt;.

A Di Đà Phật, Trọng thân mến

Trong tứ khổ của kiếp người là Sanh - Lão - Bệnh - Tử. Câu hỏi của bạn cũng đã chứa đựng câu trả lời rồi nhỉ! Nếu bạn không có thân người thì chắc bạn sẽ không bị cái tứ khổ kia. Thân người có được cũng là do nghiệp chiêu cảm của tâm thức kết hợp với tứ đại Đất (da, thịt, xương, răng..), Nước (máu, nước mắt, nước mũi, đờm, dãi...), Gió (Hơi thở), Lửa (hơi ấm, nhiệt). Khi tứ đại hòa hợp thì khỏe mạnh, tứ đại bất hòa thì thân thể này sinh ra bệnh tật. Cái khổ đến rồi đó! Sống khổ, Già Khổ, Bệnh Khổ, Chết còn đau khổ hơn. Đủ duyên thì tứ đại hợp thành, hết duyên thì tan rã mọi thứ. Cho nên bản chất của cái thân cũng là Vô thường. Tức là có đó nhưng rồi sẽ mất đó (nếu hết duyên) cho nên mới gọi là huyễn, là không, là vọng.

Người tu hành phải thường quán chiếu thân mình là vô thường, đang già, đang tàn tạ, đang chết, không nên nghĩ rằng nó tồn tại mãi để khi nó thay đổi, tàn tạ lại sinh tâm buồn rầu, khổ não, thương tiếc, để phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử, luân hồi. Quán chiếu được cái Khổ của kiếp người, cái Vô thường của cái thân rồi từ đó cố gắng tu học, phát tâm Bồ-đề, niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực lạc hầu thoát ly sanh tử. Đó mới chính là cái Vui chân thật, là mục tiêu hướng đến của tất cả những liên hữu đồng tu Tịnh độ.

Vài chia sẻ, chúc bạn thân tâm thường lạc.

A Di Đà Phật _()_]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783">Trọng</a>.</p>
<p>A Di Đà Phật, Trọng thân mến</p>
<p>Trong tứ khổ của kiếp người là Sanh &#8211; Lão &#8211; Bệnh &#8211; Tử. Câu hỏi của bạn cũng đã chứa đựng câu trả lời rồi nhỉ! Nếu bạn không có thân người thì chắc bạn sẽ không bị cái tứ khổ kia. Thân người có được cũng là do nghiệp chiêu cảm của tâm thức kết hợp với tứ đại Đất (da, thịt, xương, răng..), Nước (máu, nước mắt, nước mũi, đờm, dãi&#8230;), Gió (Hơi thở), Lửa (hơi ấm, nhiệt). Khi tứ đại hòa hợp thì khỏe mạnh, tứ đại bất hòa thì thân thể này sinh ra bệnh tật. Cái khổ đến rồi đó! Sống khổ, Già Khổ, Bệnh Khổ, Chết còn đau khổ hơn. Đủ duyên thì tứ đại hợp thành, hết duyên thì tan rã mọi thứ. Cho nên bản chất của cái thân cũng là Vô thường. Tức là có đó nhưng rồi sẽ mất đó (nếu hết duyên) cho nên mới gọi là huyễn, là không, là vọng.</p>
<p>Người tu hành phải thường quán chiếu thân mình là vô thường, đang già, đang tàn tạ, đang chết, không nên nghĩ rằng nó tồn tại mãi để khi nó thay đổi, tàn tạ lại sinh tâm buồn rầu, khổ não, thương tiếc, để phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử, luân hồi. Quán chiếu được cái Khổ của kiếp người, cái Vô thường của cái thân rồi từ đó cố gắng tu học, phát tâm Bồ-đề, niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực lạc hầu thoát ly sanh tử. Đó mới chính là cái Vui chân thật, là mục tiêu hướng đến của tất cả những liên hữu đồng tu Tịnh độ.</p>
<p>Vài chia sẻ, chúc bạn thân tâm thường lạc.</p>
<p>A Di Đà Phật _()_</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Huệ Tịnh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14787</link>

		<dc:creator><![CDATA[Huệ Tịnh]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 18 Dec 2014 16:38:32 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-14787</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783&quot;&gt;Trọng&lt;/a&gt;.

Khi chúng ta sinh ra đời chỉ có hai bàn tay trắng và khi chúng ta chết thì cũng chỉ có hai bàn tay trắng đó là  &quot;không&quot;.

Từ khi chúng ta sinh ra đời cho đến khi chết chấp thân người là của mình (ngã chấp) cho nên bị khổ vì nó. Già có cái khổ của già. Bệnh có cái khổ của bệnh. Sống cũng khổ cho cái thân, chết cũng khổ vì luyến tiếc cái thân nằm ở dứa mồ mả (cô hồn).

Chỉ có người nào thức tỉnh ra cái thân người chỉ tạm mượn để tu tâm dưỡng tánh thì mới hy vọng chấm dứt cái khổ đau.

Sống niệm Phật, chết cũng niệm Phật. Sống cũng tốt, chết cũng tốt. Tất cả tự tại tuỳ duyên mặc kệ chuyện gì nó đến cố gắng niệm Phật thoát cái khổ đau trở về quê hương Tây Phương Cực Lạc không sanh không diệt.

Nam Mô A Di Đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783">Trọng</a>.</p>
<p>Khi chúng ta sinh ra đời chỉ có hai bàn tay trắng và khi chúng ta chết thì cũng chỉ có hai bàn tay trắng đó là  &#8220;không&#8221;.</p>
<p>Từ khi chúng ta sinh ra đời cho đến khi chết chấp thân người là của mình (ngã chấp) cho nên bị khổ vì nó. Già có cái khổ của già. Bệnh có cái khổ của bệnh. Sống cũng khổ cho cái thân, chết cũng khổ vì luyến tiếc cái thân nằm ở dứa mồ mả (cô hồn).</p>
<p>Chỉ có người nào thức tỉnh ra cái thân người chỉ tạm mượn để tu tâm dưỡng tánh thì mới hy vọng chấm dứt cái khổ đau.</p>
<p>Sống niệm Phật, chết cũng niệm Phật. Sống cũng tốt, chết cũng tốt. Tất cả tự tại tuỳ duyên mặc kệ chuyện gì nó đến cố gắng niệm Phật thoát cái khổ đau trở về quê hương Tây Phương Cực Lạc không sanh không diệt.</p>
<p>Nam Mô A Di Đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Trọng		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14783</link>

		<dc:creator><![CDATA[Trọng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 18 Dec 2014 12:28:18 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-14783</guid>

					<description><![CDATA[Dạ thưa !...

&quot;Thực chất của thân người là sanh, già, bệnh, chết, khổ và không&quot;
Vậy mọi người cho con hỏi: Khổ và Không ở đây nghĩa là gì ạ ?
Con xin đa tạ mọi người rất nhiều ! :D]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Dạ thưa !&#8230;</p>
<p>&#8220;Thực chất của thân người là sanh, già, bệnh, chết, khổ và không&#8221;<br />
Vậy mọi người cho con hỏi: Khổ và Không ở đây nghĩa là gì ạ ?<br />
Con xin đa tạ mọi người rất nhiều ! 😀</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Trần Quốc Thiên		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-14460</link>

		<dc:creator><![CDATA[Trần Quốc Thiên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 07 Dec 2014 15:17:34 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-14460</guid>

					<description><![CDATA[A DI Đà Phật!
Con cảm ơn các bậc thiện tri thức đã cho con hiểu thêm qua những lời vấn đáp phía trên. Trước giờ con chỉ nghe các bài giảng của pháp sư Tịnh Không, nhưng có nhiều điều con không hiểu thấu thì không biết hỏi ai. Nay nhờ những lời chia sẻ của thầy Tịnh Thái con rất vui mừng. Con có một kiến nghị, kính gửi thầy Tịnh Thái. Con xin phép được xin địa chỉ email của thầy được không ạ. Vì nhiều lúc con có những thắc mắc mà không biết hỏi ai để giải đáp, kính xin thầy cho con xin địa chỉ email để những lúc như thế con có thể nhờ thầy chia sẻ chỉ dạy thêm ạ. Địa chỉ email của con là thevolcanoboy1692@gmail.com, xin thầy hoan hỉ cho con xin email hồi âm của thầy.
Kính bút!
A Di Đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>A DI Đà Phật!<br />
Con cảm ơn các bậc thiện tri thức đã cho con hiểu thêm qua những lời vấn đáp phía trên. Trước giờ con chỉ nghe các bài giảng của pháp sư Tịnh Không, nhưng có nhiều điều con không hiểu thấu thì không biết hỏi ai. Nay nhờ những lời chia sẻ của thầy Tịnh Thái con rất vui mừng. Con có một kiến nghị, kính gửi thầy Tịnh Thái. Con xin phép được xin địa chỉ email của thầy được không ạ. Vì nhiều lúc con có những thắc mắc mà không biết hỏi ai để giải đáp, kính xin thầy cho con xin địa chỉ email để những lúc như thế con có thể nhờ thầy chia sẻ chỉ dạy thêm ạ. Địa chỉ email của con là <a href="mailto:thevolcanoboy1692@gmail.com">thevolcanoboy1692@gmail.com</a>, xin thầy hoan hỉ cho con xin email hồi âm của thầy.<br />
Kính bút!<br />
A Di Đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Alan Banh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-12208</link>

		<dc:creator><![CDATA[Alan Banh]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2014 21:18:20 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-12208</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11647&quot;&gt;Huệ Tịnh&lt;/a&gt;.

Xin gởi đến 2 vị đồng tu Tịnh Thái và Huệ Tịnh. Tôi cảm thán những lời chia sẻ trong mục hồi đáp của 2 vị cho toi và những đồng tu khác học hỏi. Lời lẻ thật hay và cao thâm như các vị tổ sư vậy. 2 vị Tịnh Thái và Huệ Tịnh là dều có chữ ” Tịnh ” vậy chắc hẳn tâm của 2 vị chắc chắn phải là tịnh. Cầu xin Bồ Tát hộ trì cho các ngài được tinh tấn trên bước dường tu hành. Dầu sao mỗi người chúng ta dù tâm của mình đã thanh tịnh hoặc đã chứng được quả thánh nhưng vẫn còn mang xác phàm, nếu còn mang xác phàm tu sao tránh khỏi những sơ xót. Là dệ tử của Phật, chúng ta nên tán thán công đức tu hành hơn là nhìn thấy thiếu xót của người khác hoặc tự cho mình là ” thước đo tiêu chuẩn ” để ngươi khác phải nghe theo thì quả là uổng 1 kiếp tu. Nếu cứ ” bổ xung ” nhau như vậy thì sợ e rằng chữ ” Tịnh ” của 2 vị sẽ …. không còn. Mục đích của tôi chỉ có tính cách xây dựng và nhắc nhở ,nếu có gì sai trái xin 2 vị tha thứ và miển tội cho. Nam Mo A Di Đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11647">Huệ Tịnh</a>.</p>
<p>Xin gởi đến 2 vị đồng tu Tịnh Thái và Huệ Tịnh. Tôi cảm thán những lời chia sẻ trong mục hồi đáp của 2 vị cho toi và những đồng tu khác học hỏi. Lời lẻ thật hay và cao thâm như các vị tổ sư vậy. 2 vị Tịnh Thái và Huệ Tịnh là dều có chữ ” Tịnh ” vậy chắc hẳn tâm của 2 vị chắc chắn phải là tịnh. Cầu xin Bồ Tát hộ trì cho các ngài được tinh tấn trên bước dường tu hành. Dầu sao mỗi người chúng ta dù tâm của mình đã thanh tịnh hoặc đã chứng được quả thánh nhưng vẫn còn mang xác phàm, nếu còn mang xác phàm tu sao tránh khỏi những sơ xót. Là dệ tử của Phật, chúng ta nên tán thán công đức tu hành hơn là nhìn thấy thiếu xót của người khác hoặc tự cho mình là ” thước đo tiêu chuẩn ” để ngươi khác phải nghe theo thì quả là uổng 1 kiếp tu. Nếu cứ ” bổ xung ” nhau như vậy thì sợ e rằng chữ ” Tịnh ” của 2 vị sẽ …. không còn. Mục đích của tôi chỉ có tính cách xây dựng và nhắc nhở ,nếu có gì sai trái xin 2 vị tha thứ và miển tội cho. Nam Mo A Di Đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Alan Banh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-12203</link>

		<dc:creator><![CDATA[Alan Banh]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2014 20:13:23 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-12203</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11379&quot;&gt;minh&lt;/a&gt;.

Tội tà dâm là khi mình gần gũi với người khác khi họ đã có gia đình rồi, hoặc khi mình đã có gia đình rồi mà còn quan hệ &quot;ngoài luồn&quot;, hoặc khi chưa có gia dình mà quan hệ phóng túng, bừa bãi. Còn vợ chồng gần gũi chừng mực thì ko xem là tà dâm. Việc ăn chay để nhắc nhở tâm mình phải nên thường trong sạch và thanh tịnh, tôi xin kể cho các bạn 1 câu chuyện ngắn:

Xưa kia Đức Đạt Lai Đạt Ma vì hoàn cảnh bắt buộc phải uống ly rượu để người thanh niên kia chịu nghe mình giảng giải (người này sau trở thành đệ tử của Ngài). Ngài uống nhưng trong tâm Ngài ko xem đó là rượu, ko có thích thú, cũng chẳng động tâm, cùng với nước lã không khác gì hết.

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy tâm mới là quan trọng, tâm làm chủ các pháp, vì vậy bạn đừng quá lo, hoàn cảnh bắt buộc thì cũng chỉ là chuyện tạm bợ mà thôi. Tâm của bạn đã &quot;chay&quot; thì mọi chuyện ăn uống hay sinh hoạt trong gia đình đều là chay cả.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11379">minh</a>.</p>
<p>Tội tà dâm là khi mình gần gũi với người khác khi họ đã có gia đình rồi, hoặc khi mình đã có gia đình rồi mà còn quan hệ &#8220;ngoài luồn&#8221;, hoặc khi chưa có gia dình mà quan hệ phóng túng, bừa bãi. Còn vợ chồng gần gũi chừng mực thì ko xem là tà dâm. Việc ăn chay để nhắc nhở tâm mình phải nên thường trong sạch và thanh tịnh, tôi xin kể cho các bạn 1 câu chuyện ngắn:</p>
<p>Xưa kia Đức Đạt Lai Đạt Ma vì hoàn cảnh bắt buộc phải uống ly rượu để người thanh niên kia chịu nghe mình giảng giải (người này sau trở thành đệ tử của Ngài). Ngài uống nhưng trong tâm Ngài ko xem đó là rượu, ko có thích thú, cũng chẳng động tâm, cùng với nước lã không khác gì hết.</p>
<p>Qua câu chuyện trên chúng ta thấy tâm mới là quan trọng, tâm làm chủ các pháp, vì vậy bạn đừng quá lo, hoàn cảnh bắt buộc thì cũng chỉ là chuyện tạm bợ mà thôi. Tâm của bạn đã &#8220;chay&#8221; thì mọi chuyện ăn uống hay sinh hoạt trong gia đình đều là chay cả.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Huệ Tịnh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11647</link>

		<dc:creator><![CDATA[Huệ Tịnh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Sep 2014 14:41:44 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-11647</guid>

					<description><![CDATA[A Di Đà Phật :) - Chào liên hữu Tịnh Thái.

Cảm ơn nhiều :) !

TT nói rất hay không có chổ chê :) nhưng khổ cái là đa phần nghiệp chướng của chúng ta khi ở ngoài đời hay vô đạo vẫn phải bị cái ngã kiến chấp trói buột mà không hề hay biết. Đối với HT ai tu tập pháp môn phương tiện ra sao thì đó là tùy duyên, tại sao phải đem bỏ kẹt thêm vào tâm chi cho mệt. Mỗi người trong tiền kiếp quá khứ có vô số chủng tử trong tàng thức riêng biệt khác nhau, cho nên sự hiểu biết giác ngộ cũng khác nhau. Chỉ có chư Đại Bồ Tát Pháp Vương Tử &amp; Phật mới thấu hiểu các chúng sanh nghiệp chủng như thế nào mà tùy thuận ban pháp để được độ. Chủng tử hữu lậu thì hiểu theo trí thức hữu lậu khi học Phật pháp dễ rơi vào cái ngã chấp pháp khó tháo gỡ, nhẹ thì phiền não vẫn còn, nặng thì bị tẩu hỏa nhập ma. Chủng tử vô lậu khi gặp Phật pháp thì liền liễu ngộ y theo phụng hành làm thầy Tổ sư trời người giống như ngài Huệ Năng không biết chữ thế gian (hữu lậu) nhưng lại thâm ngộ Phật pháp minh tâm kiến tánh chỉ nghe qua một bài kệ. Đó chỉ là do chủng tử vô lậu của bậc thượng căn tu tập đắc vô số các pháp vô lậu trong vô số kiếp trước. Trong khi đó sư huynh của ngài HN là Thần Tú theo ngũ tổ Hoằng Nhẫn học hỏi biết bao nhiêu thời gian mà vẫn bị kẹt bên lề đường của sanh tử. Vì Thần Tú vẫn còn dùng tâm chủng tử hữu lậu để mà học pháp vô lậu.

Chúng ta là Thần Tú hay là ngài Huệ Năng khi đọc học hiểu Phật pháp và nghe các thầy PS như HT Tịnh Không giảng? Nếu mà có chủng tử vô lậu thì khi nghe giảng nói về pháp môn Tịnh Độ tức thời liễu ngộ Di Đà tự tánh nhất tâm bất loạn nhập vào niệm Phật tam muội làm thầy trời người đồng với ngài Huệ Năng không khác. Có được bao nhiêu người học ít mà ngộ thấy ra tự tánh ai ngờ thường thanh tịnh không chấp mà cũng không phải không chấp? Chấp không chấp cũng chưa vô cửa Như Lai huống chi là có tâm không chấp.

Trong thời mạt pháp ai cũng hiểu và nói pháp môn niệm Phật chỉ cần có Tín tâm Nguyện thiết là được vãng sanh. Niệm Phật trình độ cao hay thấp là do nơi thực hành. Nghe phớt qua thì thấy dễ nhưng thực tế không dễ tí nào để cho hàng trí thức hữu lậu biết đừng đem tâm khinh phỉ báng làm tổn hại Bồ Đề tâm của bản thân chính mình. Nếu nói khó thì cũng không đúng vì sẽ khiến người sơ cơ phát tâm dễ thối chí tín nguyện vãng sanh. Tất cả toàn là tuỳ theo các loại vô số chủng tử biến hiện trong tàng thức của mỗi người. Có ngày tại sao chúng ta lại rất tin quyết chí vãng sanh Cực Lạc. Tại sao có ngày lại không có sức mạnh khi gặp nghịch hay thuận cảnh nghiệp lực đến? Có phải vì chủng tử vô lậu của mình quá yếu dễ bị chủng tử hữu lậu chi phối làm chủ?

Làm sao để tăng trưởng sức mạnh chủng tử vô lậu trước khi học tu tập Phật pháp vô lậu? 

Cho nên kết thúc rằng chủng tử vô lậu của mỗi người hiển lộ được nhiều hay ít là phải tự xem lòng mình có một sức mạnh Tín Nguyện kiên cố vững chắc không thối chuyển hay không khi đối đầu với nghiệp lực đến bất ngờ? Khi ta động tâm giận hờn buồn phiền, vui mừng còn có sức đem tâm thanh tịnh bước đến bàn thờ Phật để tụng kinh niệm Phật hay không? Không có chuyện gì xảy ra bình an vô sự thì không cần phải nói. Người nào có được như vậy 100 người niệm Phật 100 người vãng sanh. Chúng ta ai cũng còn nghiệp chướng rất nhiều nếu chưa gặp mặt thử thách thì chưa biết mình thực sự tu tập đạo lực như thế nào.

Đừng nên chấp là niệm Phật nhiều câu là sẽ bảo đảm vãng sanh. Người nào trong lòng tự biết tự tin thì sẽ niệm Phật tụng kinh trì chú rất thoải mái không bị hình thức làm chủ 100%. Nếu hình thức để đem lại sự an lạc hạnh phúc chơn thật trong tâm càng ngày càng bớt nắm chấp gia đình tài sản nhà cửa công ăn việc làm tình ái thì người đó tức nhiên sẽ dễ hướng tâm nặng về cảnh giới Cực Lạc. Điển hình như cái cân 2 bên nặng bên nào bên kia sẽ nhẹ hơn. Nặng Cực Lạc thì nhẹ Ta Bà. Ngược lại cũng thế.

Thành ra HT xin hỏi các vị đạo hữu kinh nghiệm tu tập như thế nào để nặng lòng Tín Nguyện vãng sanh Cực Lạc nhẹ lòng luyến ái Ta Bà? Xin các vị mở lòng từ bi chia sẻ công đức cho các đạo chưa có tín tâm nguyện tha thiết để sanh tâm Bồ Đề chịu thực hành đồng sanh về Cực Lạc.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. :)

Nam Mô A Di Đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>A Di Đà Phật 🙂 &#8211; Chào liên hữu Tịnh Thái.</p>
<p>Cảm ơn nhiều 🙂 !</p>
<p>TT nói rất hay không có chổ chê 🙂 nhưng khổ cái là đa phần nghiệp chướng của chúng ta khi ở ngoài đời hay vô đạo vẫn phải bị cái ngã kiến chấp trói buột mà không hề hay biết. Đối với HT ai tu tập pháp môn phương tiện ra sao thì đó là tùy duyên, tại sao phải đem bỏ kẹt thêm vào tâm chi cho mệt. Mỗi người trong tiền kiếp quá khứ có vô số chủng tử trong tàng thức riêng biệt khác nhau, cho nên sự hiểu biết giác ngộ cũng khác nhau. Chỉ có chư Đại Bồ Tát Pháp Vương Tử &#038; Phật mới thấu hiểu các chúng sanh nghiệp chủng như thế nào mà tùy thuận ban pháp để được độ. Chủng tử hữu lậu thì hiểu theo trí thức hữu lậu khi học Phật pháp dễ rơi vào cái ngã chấp pháp khó tháo gỡ, nhẹ thì phiền não vẫn còn, nặng thì bị tẩu hỏa nhập ma. Chủng tử vô lậu khi gặp Phật pháp thì liền liễu ngộ y theo phụng hành làm thầy Tổ sư trời người giống như ngài Huệ Năng không biết chữ thế gian (hữu lậu) nhưng lại thâm ngộ Phật pháp minh tâm kiến tánh chỉ nghe qua một bài kệ. Đó chỉ là do chủng tử vô lậu của bậc thượng căn tu tập đắc vô số các pháp vô lậu trong vô số kiếp trước. Trong khi đó sư huynh của ngài HN là Thần Tú theo ngũ tổ Hoằng Nhẫn học hỏi biết bao nhiêu thời gian mà vẫn bị kẹt bên lề đường của sanh tử. Vì Thần Tú vẫn còn dùng tâm chủng tử hữu lậu để mà học pháp vô lậu.</p>
<p>Chúng ta là Thần Tú hay là ngài Huệ Năng khi đọc học hiểu Phật pháp và nghe các thầy PS như HT Tịnh Không giảng? Nếu mà có chủng tử vô lậu thì khi nghe giảng nói về pháp môn Tịnh Độ tức thời liễu ngộ Di Đà tự tánh nhất tâm bất loạn nhập vào niệm Phật tam muội làm thầy trời người đồng với ngài Huệ Năng không khác. Có được bao nhiêu người học ít mà ngộ thấy ra tự tánh ai ngờ thường thanh tịnh không chấp mà cũng không phải không chấp? Chấp không chấp cũng chưa vô cửa Như Lai huống chi là có tâm không chấp.</p>
<p>Trong thời mạt pháp ai cũng hiểu và nói pháp môn niệm Phật chỉ cần có Tín tâm Nguyện thiết là được vãng sanh. Niệm Phật trình độ cao hay thấp là do nơi thực hành. Nghe phớt qua thì thấy dễ nhưng thực tế không dễ tí nào để cho hàng trí thức hữu lậu biết đừng đem tâm khinh phỉ báng làm tổn hại Bồ Đề tâm của bản thân chính mình. Nếu nói khó thì cũng không đúng vì sẽ khiến người sơ cơ phát tâm dễ thối chí tín nguyện vãng sanh. Tất cả toàn là tuỳ theo các loại vô số chủng tử biến hiện trong tàng thức của mỗi người. Có ngày tại sao chúng ta lại rất tin quyết chí vãng sanh Cực Lạc. Tại sao có ngày lại không có sức mạnh khi gặp nghịch hay thuận cảnh nghiệp lực đến? Có phải vì chủng tử vô lậu của mình quá yếu dễ bị chủng tử hữu lậu chi phối làm chủ?</p>
<p>Làm sao để tăng trưởng sức mạnh chủng tử vô lậu trước khi học tu tập Phật pháp vô lậu? </p>
<p>Cho nên kết thúc rằng chủng tử vô lậu của mỗi người hiển lộ được nhiều hay ít là phải tự xem lòng mình có một sức mạnh Tín Nguyện kiên cố vững chắc không thối chuyển hay không khi đối đầu với nghiệp lực đến bất ngờ? Khi ta động tâm giận hờn buồn phiền, vui mừng còn có sức đem tâm thanh tịnh bước đến bàn thờ Phật để tụng kinh niệm Phật hay không? Không có chuyện gì xảy ra bình an vô sự thì không cần phải nói. Người nào có được như vậy 100 người niệm Phật 100 người vãng sanh. Chúng ta ai cũng còn nghiệp chướng rất nhiều nếu chưa gặp mặt thử thách thì chưa biết mình thực sự tu tập đạo lực như thế nào.</p>
<p>Đừng nên chấp là niệm Phật nhiều câu là sẽ bảo đảm vãng sanh. Người nào trong lòng tự biết tự tin thì sẽ niệm Phật tụng kinh trì chú rất thoải mái không bị hình thức làm chủ 100%. Nếu hình thức để đem lại sự an lạc hạnh phúc chơn thật trong tâm càng ngày càng bớt nắm chấp gia đình tài sản nhà cửa công ăn việc làm tình ái thì người đó tức nhiên sẽ dễ hướng tâm nặng về cảnh giới Cực Lạc. Điển hình như cái cân 2 bên nặng bên nào bên kia sẽ nhẹ hơn. Nặng Cực Lạc thì nhẹ Ta Bà. Ngược lại cũng thế.</p>
<p>Thành ra HT xin hỏi các vị đạo hữu kinh nghiệm tu tập như thế nào để nặng lòng Tín Nguyện vãng sanh Cực Lạc nhẹ lòng luyến ái Ta Bà? Xin các vị mở lòng từ bi chia sẻ công đức cho các đạo chưa có tín tâm nguyện tha thiết để sanh tâm Bồ Đề chịu thực hành đồng sanh về Cực Lạc.</p>
<p>Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. 🙂</p>
<p>Nam Mô A Di Đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Tịnh Thái		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11635</link>

		<dc:creator><![CDATA[Tịnh Thái]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Sep 2014 06:06:19 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=8840#comment-11635</guid>

					<description><![CDATA[In reply to &lt;a href=&quot;https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11618&quot;&gt;Huệ Tịnh&lt;/a&gt;.

A Di Đà Phật :) - Chào liên hữu Huệ Tịnh:

Để có hình mặt cười thì bạn dùng dấu &quot;:&quot; và dấu &quot;)&quot; sát nhau là thành hình mặt cười :)

Còn ứng dụng Phật pháp hay tu tập theo pháp môn nào thì tùy vào duyên phần của mỗi người. Chúng ta tu theo Tịnh Độ cũng chẳng nên quá cứng ngắc mà cứ nghĩ rằng khi người thân qua đời thì chỉ có niệm Phật/trì chú vãng sanh thì mới có lợi ích cho người mất, ai có nhân duyên tu tập của người đó, hễ họ có tâm vì người mất mà làm các việc thiện lành hồi hướng cho người thân là cũng quý lắm rồi, mình có thể khuyên nhẹ nhàng chứ ko nên áp đặt ý của mình lên họ, ko khéo thì tự mình cũng đang làm khổ mình mà thôi. Người ta nói &quot;ép dầu, ép mỡ ai nỡ ép duyên&quot; :) Ép thì hỏng hết, tình nghĩa anh em cũng lại sứt mẻ. Mình nói người ta &quot;kẹt&quot; vào Thiền, nhưng biết đâu mình đang &quot;kẹt&quot; vào Tịnh Độ, &quot;kẹt&quot; vào A Di Đà Phật, &quot;kẹt&quot; vào Kinh Vô Lượng Thọ, &quot;kẹt&quot; vào chú vãng sanh, &quot;kẹt&quot; vào Tam Thời Hệ Niệm, &quot;kẹt&quot; vào Hộ Niệm? Cứ thường cho pháp tu của mình là nhất thôi...Vậy là kẹt rồi.

Trước khi tu học Phật pháp thì ta dính mắc vào thế gian pháp, sau khi học Phật pháp thì lại kẹt thêm &quot;Phật pháp&quot; vào nữa...Chúng ta tu học Phật pháp là muốn giải thoát, thế mà càng tu thì càng chấp, càng kẹt, càng khổ...tâm ko thể thanh tịnh, tâm mà ko tịnh thì muốn sanh về cõi tịnh liệu có được ko? Việc này mình cũng nên thường phản tỉnh và chú ý, xem chúng ta có đang kẹt vào chỗ nào không :) Nếu có thì hãy mau mau gỡ nó ra, buông nó xuống...ko thì việc vãng sanh về Cực Lạc cũng bị chướng ngại nhiều lắm...

Con đường mình đi tất nhiên phải kiên định, một câu Phật hiệu, một bộ Kinh, một vị Thầy thọ trì cho đến tận cùng, nhưng khi đem Phật pháp vào đời thì nên tùy duyên. Tùy duyên thì được tự tại, ko thể tùy duyên thì được...phiền não. Ai tu pháp gì mình cũng nên hoan hỉ, mình có thể khuyên nhủ nhẹ nhàng, mang tính gợi ý, trực tiếp hay gián tiếp - đều được cả nhưng xin chớ phan duyên, xin chớ nên áp đặt cái thấy biết của mình lên trên đường tu của người khác. Phật ngày xưa Ngài có ép học trò của Ngài niệm Phật hết đâu? Ai thích hợp tu học pháp nào, Ngài liền dạy cho pháp đó...

Còn thú thật: Người ta chê Tịnh Độ là mê tín thì cũng chưa chắc là sai đâu...Vì sao? Vì chúng ta là người tu Tịnh Độ, chúng ta xem thử quan sát có mấy ai có được Chánh Tín? Vì người tu Tịnh Độ chúng ta còn mê tín quá nhiều...học Phật rồi mà vẫn đi xem bói, xin xăm, buôn thần bán thánh, xem Phật Bồ Tát là thần minh, xem Tây phương Cực Lạc thế giới là nơi để...trốn nợ, trốn khổ? Nếu tâm chúng ta tu học Tịnh Độ như vậy thì Phật chỉ có rơi nước mắt mà thôi...Mạt pháp là do lòng người chứ Pháp của Phật làm gì có Mạt, có suy? Người tu Tịnh Độ mà thật có Chánh Kiến, Chánh Tín, thật Y GIÁO PHỤNG HÀNH thì Phật pháp liền hưng vượng :) Suy cũng do mình, mà thịnh cũng do mình. Chúng ta ngày nay tu học ra nông nỗi này thì chúng ta trách ai? Lời nói của họ nói chúng ta mê tín, nếu chúng ta tiếp nhận mà sửa đổi, tự làm mới thì họ là thiện tri thức, nếu chúng ta xem đó là lời &quot;khó nghe&quot; thì tương lai chúng ta rất có thể vãng sanh về Tam Ác Đạo, chứ sợ e rằng chẳng thể sanh về Cực Lạc. 

Vì sao: Vì người chân chánh tu Đạo chẳng thể thấy lỗi của thế gian. Vì Tâm Tịnh thì cõi nước mới Tịnh. Tâm ta nếu vẫn còn phân biệt, chấp trước quá nặng thì Phật A Di Đà muốn kéo chúng ta đi cũng chẳng thể được nữa rồi...nếu chúng ta chẳng chịu Nhìn Thấu, chẳng chịu Buông Xả.

Nếu Tịnh Thái có chỗ nào chưa đúng như pháp, mong Huệ Tịnh cùng các huynh đệ góp ý thẳng thắn.

Tịnh Thái xin thật lòng cảm ơn ạ.

Nam Mô A Di Đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>In reply to <a href="https://www.duongvecoitinh.com/2014/09/cau-chuyen-ve-me-dam-sac-cua-ton-gia-nan-da-va-su-thuc-tinh/comment-page-1/#comment-11618">Huệ Tịnh</a>.</p>
<p>A Di Đà Phật 🙂 &#8211; Chào liên hữu Huệ Tịnh:</p>
<p>Để có hình mặt cười thì bạn dùng dấu &#8220;:&#8221; và dấu &#8220;)&#8221; sát nhau là thành hình mặt cười 🙂</p>
<p>Còn ứng dụng Phật pháp hay tu tập theo pháp môn nào thì tùy vào duyên phần của mỗi người. Chúng ta tu theo Tịnh Độ cũng chẳng nên quá cứng ngắc mà cứ nghĩ rằng khi người thân qua đời thì chỉ có niệm Phật/trì chú vãng sanh thì mới có lợi ích cho người mất, ai có nhân duyên tu tập của người đó, hễ họ có tâm vì người mất mà làm các việc thiện lành hồi hướng cho người thân là cũng quý lắm rồi, mình có thể khuyên nhẹ nhàng chứ ko nên áp đặt ý của mình lên họ, ko khéo thì tự mình cũng đang làm khổ mình mà thôi. Người ta nói &#8220;ép dầu, ép mỡ ai nỡ ép duyên&#8221; 🙂 Ép thì hỏng hết, tình nghĩa anh em cũng lại sứt mẻ. Mình nói người ta &#8220;kẹt&#8221; vào Thiền, nhưng biết đâu mình đang &#8220;kẹt&#8221; vào Tịnh Độ, &#8220;kẹt&#8221; vào A Di Đà Phật, &#8220;kẹt&#8221; vào Kinh Vô Lượng Thọ, &#8220;kẹt&#8221; vào chú vãng sanh, &#8220;kẹt&#8221; vào Tam Thời Hệ Niệm, &#8220;kẹt&#8221; vào Hộ Niệm? Cứ thường cho pháp tu của mình là nhất thôi&#8230;Vậy là kẹt rồi.</p>
<p>Trước khi tu học Phật pháp thì ta dính mắc vào thế gian pháp, sau khi học Phật pháp thì lại kẹt thêm &#8220;Phật pháp&#8221; vào nữa&#8230;Chúng ta tu học Phật pháp là muốn giải thoát, thế mà càng tu thì càng chấp, càng kẹt, càng khổ&#8230;tâm ko thể thanh tịnh, tâm mà ko tịnh thì muốn sanh về cõi tịnh liệu có được ko? Việc này mình cũng nên thường phản tỉnh và chú ý, xem chúng ta có đang kẹt vào chỗ nào không 🙂 Nếu có thì hãy mau mau gỡ nó ra, buông nó xuống&#8230;ko thì việc vãng sanh về Cực Lạc cũng bị chướng ngại nhiều lắm&#8230;</p>
<p>Con đường mình đi tất nhiên phải kiên định, một câu Phật hiệu, một bộ Kinh, một vị Thầy thọ trì cho đến tận cùng, nhưng khi đem Phật pháp vào đời thì nên tùy duyên. Tùy duyên thì được tự tại, ko thể tùy duyên thì được&#8230;phiền não. Ai tu pháp gì mình cũng nên hoan hỉ, mình có thể khuyên nhủ nhẹ nhàng, mang tính gợi ý, trực tiếp hay gián tiếp &#8211; đều được cả nhưng xin chớ phan duyên, xin chớ nên áp đặt cái thấy biết của mình lên trên đường tu của người khác. Phật ngày xưa Ngài có ép học trò của Ngài niệm Phật hết đâu? Ai thích hợp tu học pháp nào, Ngài liền dạy cho pháp đó&#8230;</p>
<p>Còn thú thật: Người ta chê Tịnh Độ là mê tín thì cũng chưa chắc là sai đâu&#8230;Vì sao? Vì chúng ta là người tu Tịnh Độ, chúng ta xem thử quan sát có mấy ai có được Chánh Tín? Vì người tu Tịnh Độ chúng ta còn mê tín quá nhiều&#8230;học Phật rồi mà vẫn đi xem bói, xin xăm, buôn thần bán thánh, xem Phật Bồ Tát là thần minh, xem Tây phương Cực Lạc thế giới là nơi để&#8230;trốn nợ, trốn khổ? Nếu tâm chúng ta tu học Tịnh Độ như vậy thì Phật chỉ có rơi nước mắt mà thôi&#8230;Mạt pháp là do lòng người chứ Pháp của Phật làm gì có Mạt, có suy? Người tu Tịnh Độ mà thật có Chánh Kiến, Chánh Tín, thật Y GIÁO PHỤNG HÀNH thì Phật pháp liền hưng vượng 🙂 Suy cũng do mình, mà thịnh cũng do mình. Chúng ta ngày nay tu học ra nông nỗi này thì chúng ta trách ai? Lời nói của họ nói chúng ta mê tín, nếu chúng ta tiếp nhận mà sửa đổi, tự làm mới thì họ là thiện tri thức, nếu chúng ta xem đó là lời &#8220;khó nghe&#8221; thì tương lai chúng ta rất có thể vãng sanh về Tam Ác Đạo, chứ sợ e rằng chẳng thể sanh về Cực Lạc. </p>
<p>Vì sao: Vì người chân chánh tu Đạo chẳng thể thấy lỗi của thế gian. Vì Tâm Tịnh thì cõi nước mới Tịnh. Tâm ta nếu vẫn còn phân biệt, chấp trước quá nặng thì Phật A Di Đà muốn kéo chúng ta đi cũng chẳng thể được nữa rồi&#8230;nếu chúng ta chẳng chịu Nhìn Thấu, chẳng chịu Buông Xả.</p>
<p>Nếu Tịnh Thái có chỗ nào chưa đúng như pháp, mong Huệ Tịnh cùng các huynh đệ góp ý thẳng thắn.</p>
<p>Tịnh Thái xin thật lòng cảm ơn ạ.</p>
<p>Nam Mô A Di Đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
	</channel>
</rss>
