<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	
	>
<channel>
	<title>
	Comments on: Nhờ Con Chí Thành Tạo Tượng Và Lễ Lạy Địa Tạng Bồ Tát Nên Chuyển Hóa Cha Mẹ Tin Phật Khi Chết Sanh Về Trời Đâu Xuất	</title>
	<atom:link href="https://www.duongvecoitinh.com/2026/09/nho-con-chi-thanh-tao-tuong-va-le-lay-dia-tang-bo-tat-nen-chuyen-hoa-cha-me-tin-phat-khi-chet-sanh-ve-troi-dau-xuat/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.duongvecoitinh.com/2026/09/nho-con-chi-thanh-tao-tuong-va-le-lay-dia-tang-bo-tat-nen-chuyen-hoa-cha-me-tin-phat-khi-chet-sanh-ve-troi-dau-xuat/</link>
	<description>Con Đường Tắt Một Đời Thoát Ly Sanh Tử</description>
	<lastBuildDate>Tue, 15 Sep 2026 08:45:49 +0000</lastBuildDate>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>
		By: Tong Thật Lù		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2026/09/nho-con-chi-thanh-tao-tuong-va-le-lay-dia-tang-bo-tat-nen-chuyen-hoa-cha-me-tin-phat-khi-chet-sanh-ve-troi-dau-xuat/comment-page-1/#comment-93256</link>

		<dc:creator><![CDATA[Tong Thật Lù]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2026 08:45:49 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=15802#comment-93256</guid>

					<description><![CDATA[Chào anh Danh:

Đọc câu hỏi của anh mà Tong đang ngồi ăn chè hạt sen cũng suýt phun nguyên hột sen qua hàng rào nhà anh Hai Lúa! Thiệt tình cái chữ “sớ”, chữ “sao” này nó có tài làm người mới học Phật rối như gà mắc tóc. Hồi nhỏ tới lớn mình nghe “sớ” là nhớ ông Táo, cuối năm ôm nguyên tờ dài thượt, cưỡi cá chép bay lên trời báo cáo chuyện dưới bếp; còn nghe “sao” là nhớ sao Thái Bạch, La Hầu, Kế Đô, rồi mấy tờ cúng sao giải hạn. Bây giờ mở sách Phật ra thấy nào là Ấn Quang Văn Sao, A Di Đà Kinh Sớ Sao, Quán Kinh Sớ Sao… trời đất quỷ thần ơi, người ta vô cửa Phật kiếm đường về Cực Lạc mà nhìn tựa sách cứ tưởng lạc vô… đài thiên văn kiêm văn phòng ông Táo!

Thiệt ra “sớ” trong sách Phật là âm Hán-Việt của chữ 疏. Trong văn Phật giáo, mình hiểu đơn giản là phần giải thích, chú giải, khai thông nghĩa lý của kinh. Kinh Phật có chỗ một câu mà nghĩa sâu như cái giếng làng đào ba đời chưa tới đáy, người sau đọc vô nhiều khi hai con mắt mở tròn mà đầu óc đứng hình như con trâu thấy xe Honda chạy ngang. Bởi vậy các vị Tổ, các bậc cổ đức mới viết “sớ”, đem từng đoạn kinh ra phân tích, giải nghĩa, chỉ cho mình câu này nói gì, ý sâu nằm đâu, trước sau liên hệ thế nào. Nói kiểu nông dân miền Tây của Tong thì kinh giống con kinh lớn dẫn nước vô ruộng, còn “sớ” giống người cầm cuốc khai mương, vét cỏ, dọn bùn cho nước chảy tới tận gốc lúa. Chớ “sớ” này không phải ông Táo cầm lên trời méc Ngọc Hoàng rằng nhà anh Danh năm nay ăn hết bao nhiêu ký gạo nghen!

Còn chữ “sao” trong “Sớ Sao” thường là chữ 鈔. Cái “sao” này tuyệt nhiên không phải ngôi sao lấp lánh trên trời, cũng không phải sao Thái Bạch chiếu mạng làm mình lo quá mất ngủ rồi sáng hôm sau chạy đi kiếm thầy cúng. Trong truyền thống chú giải, “sao” thường là phần giải thích thêm cho “sớ”. Nghĩa là kinh có sớ giải kinh; mà sớ của các bậc Tổ nhiều khi uyên áo quá, mình đọc xong cái đầu vẫn quay như chong chóng gặp gió chướng miền Tây, nên lại có thêm phần “sao” để giải rộng, giải kỹ cái “sớ” đó nữa. Nhớ mẹo này là khỏi lộn: kinh là chánh văn, sớ giải kinh, sao giải thêm sớ. Nếu còn chưa hiểu thì thôi, anh Danh đem cái võng ra mắc giữa hai cây dừa, rót bình trà, niệm mười câu A Di Đà Phật cho tâm nó yên rồi đọc lại; chớ đọc lúc cái đầu nóng quá, chừng lát nữa “Sớ Sao” biến thành “sao sớ”, rồi mình hỏi “sao sao hoài vậy trời”, tới đó Tong cũng hết cứu!

Thí dụ như Kinh A Di Đà Sớ Sao. Kinh A Di Đà là kinh. Phần “sớ” là giải thích kinh ấy. Phần “sao” lại triển khai và giải thích rộng thêm phần sớ. Anh Danh cứ tưởng tượng Đức Phật chỉ cho mình con đường; vị Tổ đứng kế bên giảng cái bản đồ; thấy mình cầm bản đồ xoay tới xoay lui, Bắc chỉ xuống Nam, Tây Phương quay qua hướng chuồng gà, Ngài thương quá bèn giảng luôn cách đọc bản đồ. Đại khái “sớ sao” có công dụng như vậy. Cho nên thấy hai chữ đó đừng sợ, không có ngôi sao nào sắp rớt trúng đầu mình hết!

Riêng “Ấn Quang Văn Sao” thì mình phải hiểu theo ngữ cảnh khác một chút. “Văn” là văn chương, thư từ, trước tác; “sao” ở đây gắn với tên một tập văn thư được ghi chép, tuyển tập và lưu truyền lại. Ấn Quang Văn Sao chủ yếu là những thư từ, lời khai thị, bài viết của Ấn Quang đại sư được tập hợp thành sách. Thành ra đừng hiểu “Văn Sao” là “văn giải thích cho sớ”, rồi lật tới lật lui kiếm cuốn “Ấn Quang Văn Sớ” đứng đằng trước. Kiếm kiểu đó có khi tới ngày ngài Di Lặc hạ sanh cũng chưa thấy! Nói nôm na để dễ nhớ, Ấn Quang Văn Sao là bộ sưu tập văn thư và lời dạy của Ấn Quang đại sư. Một chữ Hán nhiều khi vô hoàn cảnh này nghĩa hơi khác hoàn cảnh kia; nó giống ông hàng xóm của Tong, ở nhà thì vợ kêu “ông Tám”, ra chợ người ta kêu “chú Tám”, vô chùa lại thành “Phật tử Tám”, vẫn một người mà đứng chỗ khác nghe danh xưng khác liền.

Còn cái tựa dài như “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa”, nhìn lần đầu ai yếu bóng vía có thể đóng sách lại đi nấu cơm. Nhưng đừng hoảng. Cứ tháo từng cục ra: “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh” là tên kinh; “sớ” là chú giải kinh; “sao” là phần giải rộng thêm lời sớ; “diễn nghĩa” là đem nghĩa lý ấy trình bày, giảng giải ra cho rõ ràng hơn. Vậy thôi. Cái tựa nhìn dài như đoàn xe kẹt trên cầu Mỹ Thuận ngày lễ, nhưng hiểu từng chữ rồi thì nó chạy thông re, không có gì huyền bí hết.

Còn anh Danh hỏi: “Ủa, đã dịch kinh sang tiếng Việt rồi, sao mấy ông dịch giả không dịch luôn cho thiệt bình dân, để tôi khỏi ôm từ điển chạy vòng vòng?” Câu này hỏi nghe có lý à nghen! Nhưng có nguyên do. Những chữ như “sớ”, “sao”, “luận”, “ký”, “văn sao” đã được dùng lâu đời trong Phật học Đông Á, gần như thành thuật ngữ chuyên môn và một phần của tên riêng tác phẩm. Nếu dịch hết ra tiếng Việt bình dân thì người mới đọc dễ hiểu thiệt, nhưng lúc muốn tra bản Hán, tra mục lục Đại Tạng, tìm đúng tên sách, đối chiếu với lời các vị Tổ thì lại có khi đứng giữa chợ không biết hỏi ai. Thí dụ Kinh A Di Đà Sớ Sao mà dịch luôn thành “Bản chú giải Kinh A Di Đà và bản giải thích thêm cho bản chú giải ấy”, nghe cũng rõ ràng, nhưng tên sách dài thêm một khúc nữa, đọc tới cuối cái tựa có khi cơm dưới bếp khét hồi nào không hay!

Cho nên cách hay nhất không phải là bỏ hết chữ Hán-Việt, mà lần đầu gặp thì giải thích cho rõ. “Sớ: chú giải kinh. Sao: giải rộng thêm phần sớ.” Chỉ cần biết hai câu đó thì lần sau thấy “Sớ Sao” mình tỉnh bơ, không cần ngước lên trời coi đêm nay có mấy ngôi sao, cũng không cần chạy qua hỏi ông Táo nhà hàng xóm coi ổng có giữ bản sao nào không.

Tong nói thêm chút đạo vị nghen anh Danh. Học những chữ này là tốt, vì hiểu được thuật ngữ thì mình đọc lời Tổ bớt vướng. Nhưng đừng để chuyện học chữ làm mình quên mục đích chính. Trong pháp môn Tịnh Độ, đọc kinh, đọc sớ, đọc sao, đọc Văn Sao của Tổ Ấn Quang, cuối cùng cũng là để mình hiểu sâu hơn mà sanh tín, phát nguyện, giữ câu Phật hiệu cho chắc. Chớ thuộc một bụng nào “sớ, sao, luận, ký, huyền nghĩa, diễn nghĩa”, gặp ai cũng xổ ra như máy bắp rang, mà tối tới kêu niệm mười câu Nam-mô A-di-đà Phật thì miệng cứng như cái khóa chuồng vịt, vậy là mình ôm cái bảng chỉ đường mà hổng chịu bước chân đi.

Người xưa có câu: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” — biết thì nói biết, không biết thì nhận không biết, đó mới là biết. Thành thử anh Danh gặp chữ không hiểu mà hỏi là đúng bài rồi, đâu có gì mắc cỡ. Tong chỉ sợ người không hiểu mà cứ gật gù “ừ, sâu sắc quá”, gật tới chừng ngủ quên té khỏi ghế mới là nguy! Phật pháp không bắt mình giả bộ hiểu. Cứ học từng chút, hiểu từng chút, rồi đem cái hiểu đó về nuôi lớn tín-nguyện-hạnh. Mình quê cũng được, Hán tự không rành cũng được, miễn lòng chân thật, tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật chí thành. Tây Phương đâu có dựng cái bàn ở cổng bắt mình thi chính tả chữ “sớ” với chữ “sao” mới cho vô!

Vậy từ nay anh Danh nhớ nghen: gặp ông Táo thì “sớ” có thể là tờ trình; gặp sách Phật thì “sớ” thường là chú giải; gặp “sớ sao” thì “sao” thường là giải thêm cho sớ; gặp “Ấn Quang Văn Sao” thì hiểu là tập văn thư, trước tác của Tổ. Còn tối ra sân mà thấy sao sáng đầy trời thì cứ để nó sáng, đừng đứng đó la lên: “Trời ơi, nguyên bộ Sớ Sao ai rải hết lên trời vậy!” Hàng xóm nghe được họ tưởng anh Danh học Phật riết… giác ngộ hơi quá tay!

Nam-mô A-di-đà Phật.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Chào anh Danh:</p>
<p>Đọc câu hỏi của anh mà Tong đang ngồi ăn chè hạt sen cũng suýt phun nguyên hột sen qua hàng rào nhà anh Hai Lúa! Thiệt tình cái chữ “sớ”, chữ “sao” này nó có tài làm người mới học Phật rối như gà mắc tóc. Hồi nhỏ tới lớn mình nghe “sớ” là nhớ ông Táo, cuối năm ôm nguyên tờ dài thượt, cưỡi cá chép bay lên trời báo cáo chuyện dưới bếp; còn nghe “sao” là nhớ sao Thái Bạch, La Hầu, Kế Đô, rồi mấy tờ cúng sao giải hạn. Bây giờ mở sách Phật ra thấy nào là Ấn Quang Văn Sao, A Di Đà Kinh Sớ Sao, Quán Kinh Sớ Sao… trời đất quỷ thần ơi, người ta vô cửa Phật kiếm đường về Cực Lạc mà nhìn tựa sách cứ tưởng lạc vô… đài thiên văn kiêm văn phòng ông Táo!</p>
<p>Thiệt ra “sớ” trong sách Phật là âm Hán-Việt của chữ 疏. Trong văn Phật giáo, mình hiểu đơn giản là phần giải thích, chú giải, khai thông nghĩa lý của kinh. Kinh Phật có chỗ một câu mà nghĩa sâu như cái giếng làng đào ba đời chưa tới đáy, người sau đọc vô nhiều khi hai con mắt mở tròn mà đầu óc đứng hình như con trâu thấy xe Honda chạy ngang. Bởi vậy các vị Tổ, các bậc cổ đức mới viết “sớ”, đem từng đoạn kinh ra phân tích, giải nghĩa, chỉ cho mình câu này nói gì, ý sâu nằm đâu, trước sau liên hệ thế nào. Nói kiểu nông dân miền Tây của Tong thì kinh giống con kinh lớn dẫn nước vô ruộng, còn “sớ” giống người cầm cuốc khai mương, vét cỏ, dọn bùn cho nước chảy tới tận gốc lúa. Chớ “sớ” này không phải ông Táo cầm lên trời méc Ngọc Hoàng rằng nhà anh Danh năm nay ăn hết bao nhiêu ký gạo nghen!</p>
<p>Còn chữ “sao” trong “Sớ Sao” thường là chữ 鈔. Cái “sao” này tuyệt nhiên không phải ngôi sao lấp lánh trên trời, cũng không phải sao Thái Bạch chiếu mạng làm mình lo quá mất ngủ rồi sáng hôm sau chạy đi kiếm thầy cúng. Trong truyền thống chú giải, “sao” thường là phần giải thích thêm cho “sớ”. Nghĩa là kinh có sớ giải kinh; mà sớ của các bậc Tổ nhiều khi uyên áo quá, mình đọc xong cái đầu vẫn quay như chong chóng gặp gió chướng miền Tây, nên lại có thêm phần “sao” để giải rộng, giải kỹ cái “sớ” đó nữa. Nhớ mẹo này là khỏi lộn: kinh là chánh văn, sớ giải kinh, sao giải thêm sớ. Nếu còn chưa hiểu thì thôi, anh Danh đem cái võng ra mắc giữa hai cây dừa, rót bình trà, niệm mười câu A Di Đà Phật cho tâm nó yên rồi đọc lại; chớ đọc lúc cái đầu nóng quá, chừng lát nữa “Sớ Sao” biến thành “sao sớ”, rồi mình hỏi “sao sao hoài vậy trời”, tới đó Tong cũng hết cứu!</p>
<p>Thí dụ như Kinh A Di Đà Sớ Sao. Kinh A Di Đà là kinh. Phần “sớ” là giải thích kinh ấy. Phần “sao” lại triển khai và giải thích rộng thêm phần sớ. Anh Danh cứ tưởng tượng Đức Phật chỉ cho mình con đường; vị Tổ đứng kế bên giảng cái bản đồ; thấy mình cầm bản đồ xoay tới xoay lui, Bắc chỉ xuống Nam, Tây Phương quay qua hướng chuồng gà, Ngài thương quá bèn giảng luôn cách đọc bản đồ. Đại khái “sớ sao” có công dụng như vậy. Cho nên thấy hai chữ đó đừng sợ, không có ngôi sao nào sắp rớt trúng đầu mình hết!</p>
<p>Riêng “Ấn Quang Văn Sao” thì mình phải hiểu theo ngữ cảnh khác một chút. “Văn” là văn chương, thư từ, trước tác; “sao” ở đây gắn với tên một tập văn thư được ghi chép, tuyển tập và lưu truyền lại. Ấn Quang Văn Sao chủ yếu là những thư từ, lời khai thị, bài viết của Ấn Quang đại sư được tập hợp thành sách. Thành ra đừng hiểu “Văn Sao” là “văn giải thích cho sớ”, rồi lật tới lật lui kiếm cuốn “Ấn Quang Văn Sớ” đứng đằng trước. Kiếm kiểu đó có khi tới ngày ngài Di Lặc hạ sanh cũng chưa thấy! Nói nôm na để dễ nhớ, Ấn Quang Văn Sao là bộ sưu tập văn thư và lời dạy của Ấn Quang đại sư. Một chữ Hán nhiều khi vô hoàn cảnh này nghĩa hơi khác hoàn cảnh kia; nó giống ông hàng xóm của Tong, ở nhà thì vợ kêu “ông Tám”, ra chợ người ta kêu “chú Tám”, vô chùa lại thành “Phật tử Tám”, vẫn một người mà đứng chỗ khác nghe danh xưng khác liền.</p>
<p>Còn cái tựa dài như “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa”, nhìn lần đầu ai yếu bóng vía có thể đóng sách lại đi nấu cơm. Nhưng đừng hoảng. Cứ tháo từng cục ra: “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh” là tên kinh; “sớ” là chú giải kinh; “sao” là phần giải rộng thêm lời sớ; “diễn nghĩa” là đem nghĩa lý ấy trình bày, giảng giải ra cho rõ ràng hơn. Vậy thôi. Cái tựa nhìn dài như đoàn xe kẹt trên cầu Mỹ Thuận ngày lễ, nhưng hiểu từng chữ rồi thì nó chạy thông re, không có gì huyền bí hết.</p>
<p>Còn anh Danh hỏi: “Ủa, đã dịch kinh sang tiếng Việt rồi, sao mấy ông dịch giả không dịch luôn cho thiệt bình dân, để tôi khỏi ôm từ điển chạy vòng vòng?” Câu này hỏi nghe có lý à nghen! Nhưng có nguyên do. Những chữ như “sớ”, “sao”, “luận”, “ký”, “văn sao” đã được dùng lâu đời trong Phật học Đông Á, gần như thành thuật ngữ chuyên môn và một phần của tên riêng tác phẩm. Nếu dịch hết ra tiếng Việt bình dân thì người mới đọc dễ hiểu thiệt, nhưng lúc muốn tra bản Hán, tra mục lục Đại Tạng, tìm đúng tên sách, đối chiếu với lời các vị Tổ thì lại có khi đứng giữa chợ không biết hỏi ai. Thí dụ Kinh A Di Đà Sớ Sao mà dịch luôn thành “Bản chú giải Kinh A Di Đà và bản giải thích thêm cho bản chú giải ấy”, nghe cũng rõ ràng, nhưng tên sách dài thêm một khúc nữa, đọc tới cuối cái tựa có khi cơm dưới bếp khét hồi nào không hay!</p>
<p>Cho nên cách hay nhất không phải là bỏ hết chữ Hán-Việt, mà lần đầu gặp thì giải thích cho rõ. “Sớ: chú giải kinh. Sao: giải rộng thêm phần sớ.” Chỉ cần biết hai câu đó thì lần sau thấy “Sớ Sao” mình tỉnh bơ, không cần ngước lên trời coi đêm nay có mấy ngôi sao, cũng không cần chạy qua hỏi ông Táo nhà hàng xóm coi ổng có giữ bản sao nào không.</p>
<p>Tong nói thêm chút đạo vị nghen anh Danh. Học những chữ này là tốt, vì hiểu được thuật ngữ thì mình đọc lời Tổ bớt vướng. Nhưng đừng để chuyện học chữ làm mình quên mục đích chính. Trong pháp môn Tịnh Độ, đọc kinh, đọc sớ, đọc sao, đọc Văn Sao của Tổ Ấn Quang, cuối cùng cũng là để mình hiểu sâu hơn mà sanh tín, phát nguyện, giữ câu Phật hiệu cho chắc. Chớ thuộc một bụng nào “sớ, sao, luận, ký, huyền nghĩa, diễn nghĩa”, gặp ai cũng xổ ra như máy bắp rang, mà tối tới kêu niệm mười câu Nam-mô A-di-đà Phật thì miệng cứng như cái khóa chuồng vịt, vậy là mình ôm cái bảng chỉ đường mà hổng chịu bước chân đi.</p>
<p>Người xưa có câu: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” — biết thì nói biết, không biết thì nhận không biết, đó mới là biết. Thành thử anh Danh gặp chữ không hiểu mà hỏi là đúng bài rồi, đâu có gì mắc cỡ. Tong chỉ sợ người không hiểu mà cứ gật gù “ừ, sâu sắc quá”, gật tới chừng ngủ quên té khỏi ghế mới là nguy! Phật pháp không bắt mình giả bộ hiểu. Cứ học từng chút, hiểu từng chút, rồi đem cái hiểu đó về nuôi lớn tín-nguyện-hạnh. Mình quê cũng được, Hán tự không rành cũng được, miễn lòng chân thật, tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật chí thành. Tây Phương đâu có dựng cái bàn ở cổng bắt mình thi chính tả chữ “sớ” với chữ “sao” mới cho vô!</p>
<p>Vậy từ nay anh Danh nhớ nghen: gặp ông Táo thì “sớ” có thể là tờ trình; gặp sách Phật thì “sớ” thường là chú giải; gặp “sớ sao” thì “sao” thường là giải thêm cho sớ; gặp “Ấn Quang Văn Sao” thì hiểu là tập văn thư, trước tác của Tổ. Còn tối ra sân mà thấy sao sáng đầy trời thì cứ để nó sáng, đừng đứng đó la lên: “Trời ơi, nguyên bộ Sớ Sao ai rải hết lên trời vậy!” Hàng xóm nghe được họ tưởng anh Danh học Phật riết… giác ngộ hơi quá tay!</p>
<p>Nam-mô A-di-đà Phật.</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		By: Trần Nguyễn Thành Danh		</title>
		<link>https://www.duongvecoitinh.com/2026/09/nho-con-chi-thanh-tao-tuong-va-le-lay-dia-tang-bo-tat-nen-chuyen-hoa-cha-me-tin-phat-khi-chet-sanh-ve-troi-dau-xuat/comment-page-1/#comment-93146</link>

		<dc:creator><![CDATA[Trần Nguyễn Thành Danh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 13 Sep 2026 13:14:45 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">http://www.duongvecoitinh.com/?p=15802#comment-93146</guid>

					<description><![CDATA[Tôi thỉnh thoảng bắt gặp những từ này khi tìm đọc các bài pháp về Phật học như: sớ, sao, văn sao, sớ sao... mà tôi không thể hiểu rõ nghĩa là gì.  

Trước giờ trong dân gian tôi thường nghe nói đến SỚ táo quân dài lê thê như quét đất của ông Táo cầm lên tâu Ngọc Hoàng khi cỡi cá chép lên trời hôm 23 tết, hay là tờ cúng SAO giải hạn của mấy thầy phong thuỷ giúp người giải vận xui.  Nay học Phật thì tôi bắt gặp những quyển như Ấn Quang Văn SAO, Kinh A Di Đà SỚ SAO, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh SỚ SAO diễn nghĩa.... Tôi đọc tựa đề mà cứ như thấy sao là sao chẳng thể hiểu ất giáp gì cả.  Có phải đó là âm Hán Việt và dịch nghĩa là gì?  Sao các chư cổ đức đã dịch kinh sang Việt ngữ rồi mà không dịch đơn giản dễ hiểu hơn để tôi khỏi phải đi tìm từ điển nhỉ? :)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Tôi thỉnh thoảng bắt gặp những từ này khi tìm đọc các bài pháp về Phật học như: sớ, sao, văn sao, sớ sao&#8230; mà tôi không thể hiểu rõ nghĩa là gì.  </p>
<p>Trước giờ trong dân gian tôi thường nghe nói đến SỚ táo quân dài lê thê như quét đất của ông Táo cầm lên tâu Ngọc Hoàng khi cỡi cá chép lên trời hôm 23 tết, hay là tờ cúng SAO giải hạn của mấy thầy phong thuỷ giúp người giải vận xui.  Nay học Phật thì tôi bắt gặp những quyển như Ấn Quang Văn SAO, Kinh A Di Đà SỚ SAO, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh SỚ SAO diễn nghĩa&#8230;. Tôi đọc tựa đề mà cứ như thấy sao là sao chẳng thể hiểu ất giáp gì cả.  Có phải đó là âm Hán Việt và dịch nghĩa là gì?  Sao các chư cổ đức đã dịch kinh sang Việt ngữ rồi mà không dịch đơn giản dễ hiểu hơn để tôi khỏi phải đi tìm từ điển nhỉ? 🙂</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
	</channel>
</rss>
