Trong lục đạo xả thân thọ thân là do nguyên nhân gì? Vẫn là do cảm ứng. Chúng ta có nhân duyên với cha mẹ, không có duyên không có cảm ứng, có duyên liền có cảm ứng.
Đức Phật nói có bốn loại nhân duyên: báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ. Quá khứ không biết đời nào kết bốn loại nhân duyên này với quý vị. Đến báo ân làm con hiền cháu thảo, không cần yêu cầu, họ tự nhiên hiếu thuận. Vì sao vậy? Vì trong đời quá khứ quý vị tốt với họ, đời này đến báo đáp. Đứa trẻ này rất dễ dạy, rất nghe lời, rất hiếu thuận.
Nếu là báo oán, đứa trẻ này cũng rất lanh lợi thông minh dễ thương, nhưng không biết nghe lời, luôn làm trái ý mình. Nếu dùng ân trọng đối đãi chúng, sự oán hận của chúng hóa giải được đôi chút. Còn như hung dữ với chúng, không biết cách dạy dỗ, vậy thì rất rắc rối, chúng ghi hận trong lòng. Vốn đã có oán hận, bây giờ đối với chúng không tốt lại càng thêm oán hận, sẽ khiến cho quý vị người mất nhà tan, họ đến để báo oán.
Ta nợ họ của cải, dù sau này kiếm tiền nhiều đến mấy đều là của họ. Họ chăm sóc quý vị, đem đến cho quý vị đời sống vật chất rất đơn giản, rất ít, chỉ đủ sống là được. Quý vị có thể ăn no, mặc ấm, thêm căn nhà để che mưa che nắng là đủ, không có tâm cung kính. Đây là gì? Họ đến đòi nợ, là con quỷ đòi nợ. Nếu nợ không nhiều lắm, ba tuổi, năm tuổi là ra đi, chết yểu, nợ đòi xong. Nợ nhiều quá, nuôi chúng đến tốt nghiệp đại học, lấy được học vị tiến sĩ thì ra đi. Họ chưa kiếm tiền nuôi quý vị, vừa trả hết thù họ ra đi.
Trả nợ khi họ đến, tôi vừa nói là trả nợ, họ có thể nuôi dưỡng quý vị. Nếu nợ nhiều họ chăm sóc cuộc sống của quý vị rất chu đáo, nhưng không có lòng hiếu thuận, không có tâm cung kính. Nếu nợ ít, họ chăm sóc quý vị như người ở trong nhà vậy. Chúng tôi từng thấy trường hợp này. Con trai làm chức lớn, có địa vị, cha mẹ không ở cùng, ở một ngôi nhà nhỏ khác. Có một người ở chăm sóc họ, cuộc sống rất đơn giản, giống như đối với người nhà mình vậy. Một tháng cung cấp cho họ một ít tiền sinh hoạt, rất khổ!
Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ chính là bốn mối quan hệ này. Cha mẹ là mối quan hệ này, anh em chị em cũng là mối quan hệ này, thân thích bằng hữu cũng là mối quan hệ này.
Hiểu rõ đạo lý này, đây là nhân duyên trong lục đạo, là cảm và ứng trong lục đạo. Khi hiểu rõ ràng, phải dùng tâm chân thành, tâm nhân hậu đối đãi người khác. Nhân hậu với người khác chính là nhân hậu với mình, không có gì thiệt thòi cả. Ta có thể quên mình vì người, thì đời nay hoặc kiếp sau sẽ có người xả thân vì mình, quả báo mà! Bởi thế chúng ta khởi tâm động niệm trong tâm phải có cảnh giác. Ta khởi tâm gì, nói những gì, đối đãi người khác như thế nào, biết rằng tương lai người ta đối đãi với mình cũng như vậy, không sai chút nào.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú 
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt






Ba con lúc mất hiện tướng xấu. Vì ở nước ngoài con không về kịp, nhưng qua hình ảnh và video con thấy khi mất ba con hả to miệng, mắt không nhắm hẳn mà chỉ khép hờ. Vậy đó có phải là dấu hiệu cho biết cảnh giới xấu mà ba con sẽ tái sanh không ạ? Khi sanh tiền thỉnh thoảng con thấy ba con tụng kinh vào những ngày lễ lớn. Có 2 lần con thấy lúc con còn nhỏ là ba con làm thịt luơn. Những con luơn còn sống mua về, sau đó ba lấy tro bếp rắc lên đầy mình luơn. Ông bảo làm vậy để cho luơn nhả hết nhớt ra thì khi ăn sẽ ngon hơn. Nhìn cảnh mấy con luơn lăn lộn vì cay mắt dưới lớp tro bếp mà con thấy tội nghiệp. Quý anh chị có thể cho em biết ba em sanh về cảnh giới nào không ạ? A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính gửi Nhỏ Chi, trước tiên Minh Đạo xin chia buồn với bạn và gia đình
Về câu hỏi của bạn, Minh Đạo xin có một vài ý kiến như sau:
I. HÁ MIỆNG, MẮT NHẮM HỜ CÓ PHẢI HIỆN TƯỢNG XẤU KHÔNG
Nếu chỉ có hiện tượng này thì không đủ để chắc chắn đây là hiện tượng xấu.
Theo như Minh Đạo tìm hiểu, hiện tượng miệng hả to và mắt không nhắm hẳn là biến đổi sinh học tự nhiên (Từ khóa: Primary Flaccidity), Khi mới mất, toàn bộ cơ thể sẽ thả lỏng trước khi vào giai đoạn co cứng nên sẽ có thể có hiện tượng Hàm há to, mắt có thể không nhắm kín – mi mắt lật mở được,… tùy thuộc vào tư thế, bệnh nền, chăm sóc của người nhà cuối đời,…
* Lúc bạn xem video khả năng người nhà quay lại lúc mới mất nên bạn có thể thấy ở giai đoạn này, ở một số trường hợp khác bạn thấy thường là đã qua 1 thời gian người nhà chăm sóc, đã vuốt mắt, đóng miệng hoặc ở tư thế phù hợp nên bạn có thể không thấy điều giống ở cha bạn lúc mới mất.
=> Nên chỉ việc miệng há, mắt khép hờ là KHÔNG ĐỦ ĐỂ XEM LÀ dấu hiệu xấu hoặc chắc chắn về tái sinh cảnh giới nào
II. BÁC ĐÃ TÁI SINH VỀ ĐÂU
=> Do có sự đan xen lẫn nhau và chi li của nghiệp, nên câu hỏi một người mất tái sanh về đâu là một câu hỏi vô cùng khó đối với phàm phu.
1. Nếu xét theo thứ tự ưu tiên
+ Trọng nghiệp: Rất nặng (Cực thiện như thiền định jhāna, Cực ác như sát hại cha, mẹ,…)
+ Cận tử nghiệp: Làm/nhớ ngay trước khi mất
+ Tập quán nghiệp: Thói quen lặp đi lặp lại
+ Tích lũy nghiệp: Các nghiệp đã làm từ một hoặc nhiều đời trước đó
Chỉ riêng mục Cận tử nghiệp và Tập quán nghiệp đã đủ thấy: một đời sống dài có thể có rất nhiều thói quen tâm và kí ức cận tử mà người thân không hề biết, nên không thể xác định chính xác
Ví dụ ngay trong Luận Tạng – Vi Diệu Pháp, cũng có nói về việc Một người xấu có thể nhớ/làm việc thiện ở phút cuối rồi sinh về tốt (nhưng nghiệp ác vẫn còn sẽ trổ khi đủ duyên). Hoặc Một người tốt có thể khởi lên/nhớ một lỗi nhớ/buồn lúc lâm chung rồi chịu quả xấu trong một thời gian.
2. Xét theo cảnh được tâm nắm bắt lúc cận tử:
Ở Chương về Lộ trình tâm (Vithi) và Chương về Tái sinh, bộ Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammattha Sangaha), Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhamma), Luận giải: Phần niệm về cái chết (Marananussati), Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
Khi cận tử nghiệp (nghiệp sắp đưa đến tái sinh) chín muồi, thường có ba loại tướng (nimitta – dấu hiệu hoặc hình ảnh) có thể xuất hiện trong tâm thức của người sắp mất:
+ Nghiệp tướng (Karma-lakṣaṇa): Sự hồi tưởng lại chính hành động thiện hoặc ác đã làm trong quá khứ
+ Nghiệp cảnh tướng (Karma-nimitta): Là hình ảnh, biểu tượng, công cụ hoặc âm thanh gắn liền với hành động quá khứ đó. (Ví dụ Người hay cúng dường có thể thấy hình ảnh bát cơm, hoa sen, hoặc tiếng chuông chùa. Người đồ tể có thể thấy con dao, vũng máu, hoặc tiếng kêu la của con vật,…)
+ Thú tướng (Gati-nimitta): Tướng trạng của cảnh giới (thú) mà người đó sắp tái sinh vào, hiện ra báo trước (ví dụ Nếu sắp sinh làm Người: thấy cha mẹ tương lai, hoặc thấy nhà cửa,…. Nếu sắp đọa Địa ngục: Thấy lửa đỏ, chó dữ, quỷ sứ, màu đen tối tăm,… )
Khi cận tử nghiệp (nghiệp sắp đưa đến tái sinh) chín muồi, thường có ba loại tướng (nimitta – dấu hiệu hoặc hình ảnh) có thể xuất hiện trong tâm thức của người sắp mất. Về việc chỉ có thông tin bác Há miệng và Không nhắm chặt mắt mà không biết cảnh được nhận biết trong tâm của bác (qua 6 môn) thì vô cùng khó để xác định thêm
3. Xét Theo thời điểm trổ quả
Nghiệp rất phức tạp, có thứ tự chín muồi khác nhau. Có nghiệp trổ ngay đời này, có nghiệp trổ đời sau, có nghiệp thời gian trổ không hạn định trong luân hồi; có nghiệp trở thành vô hiệu nếu lỡ thời
Bạn thấy một hành vi (ví dụ giết lươn 2 lần hoặc thực hành thiện nghiệp,…) không có nghĩa quả sẽ trổ đúng ngay kiếp kế hoặc theo cách mình nghĩ
Bạn có thể thấy bác từng giết lươn (ác nghiệp), cũng từng tụng kinh (thiện nghiệp), cũng có thể có vô số nghiệp khác bạn không thấy.
Đến lúc cận tử, cái trồi lên làm cảnh cho tâm có thể là bất kỳ trong ba: nghiệp(kamma), tướng nghiệp (kamma-nimitta), tướng thú (gati-nimitta), cái nào mạnh/đủ duyên thì dẫn dòng tái sinh.
Đức Phật xếp quả dị thục của nghiệp (kamma-vipāka) vào nhóm những điều không nên suy đoán bằng suy luận thường vì dễ đi tới rối trí, phiền não
Hiện tại rất khó để xác định:
+ Toàn bộ chuỗi nghiệp (thiện/ác) suốt đời, cái nào là thói quen, cái nào là trọng nghiệp;
+ Tâm sở tư (cetanā) và mức độ (hỷ/tín/si, sân, tà kiến…) khi tạo nghiệp mà người ngoài thường chỉ thấy hành động, không thấy tâm;
+ Ở phút cận tử, người mất đang nắm kamma, kamma-nimitta, gati-nimitta nào (người ngoài không thấy)
+ Nghiệp nào đang hỗ trợ, đối kháng, đoạn diệt nghiệp tái tạo
=> Do có sự đan xen lẫn nhau và chi li của nghiệp, nên câu hỏi một người mất tái sanh về đâu là một câu hỏi vô cùng khó đối với phàm phu. Và Minh Đạo không thể biết chắc chắn bác đã về đâu.
III. TÁN THÁN
Trước khi đi vào phần phải làm thế nào, Minh Đạo xin được tán thán ân đức của hai bác có đầy đủ 10 ân đức như được ghi trong Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân – do Hoà Thượng Thích Huyền Tôn dịch:
1. Ân Gìn Giữ Thai Chín Tháng Mười Ngày: Cha chăm nom, Mẹ mang nặng đẻ đau; cơ thể mỏi mệt, tâm trí lo âu trong suốt thai kỳ
2. Ân Sinh Đẻ Khổ Sở: Mẹ phải đối mặt với cơn đau đớn tột cùng, thập tử nhất sinh để cho con được chào đời
3. Ân Sinh Con Ra Rồi Quên Hết Sầu Lo: Khi con cất tiếng khóc chào đời, mọi đau đớn, mệt nhọc của cha mẹ đều tan biến, chỉ còn lại niềm vui và hạnh phúc
4. Ân Nuốt Đắng Nhường Ngọt: Cha mẹ luôn dành cho con những gì tốt đẹp, ngon nhất, còn mình thì cam chịu phần cay đắng, khó khăn
5. Ân Nhường Khô, Nằm Ướt: Khi con tiểu tiện làm ướt giường, cha mẹ sẵn sàng nằm chỗ ẩm ướt để con được ngủ ở nơi khô ráo, ấm áp
6. Ân Bú Mớm, Nuôi Nấng: Mẹ chắt chiu dòng sữa ngọt lành để nuôi con lớn, cha vất vả làm lụng để lo cho con miếng ăn, cái mặc.
7. Ân Tắm Rửa, Chăm Sóc: Cha mẹ không quản ngại dơ bẩn, tắm rửa, giặt giũ để thân thể con luôn được sạch sẽ, thơm tho
8. Ân xa cách thương nhớ: Khi con đi xa nhà, cha mẹ ngày đêm trông ngóng, lo lắng, mong con được bình an
9. Ân vì con làm ác: Nếu biết rằng điều bất thiện sẽ thọ quả khổ. Thì không một ai muốn làm. Nhưng vì thương con, lo cho con có cuộc sống đủ đầy, đôi khi cha mẹ thậm chí phải làm những công việc tạo nghiệp không lành
10. Ân Thương Yêu Trọn Đời (Cứu cánh liên mẫn ân): Tình thương cha mẹ dành cho con là vô điều kiện và kéo dài đến suốt cuộc đời, dù con đã lớn khôn hay khi cha mẹ đã già yếu
IV. LÀM PHƯỚC VÀ HỒI HƯỚNG
Kính thưa Nhỏ Chi, vì những ân đức to lớn của hai bác là không thể nghĩ bàn. Mong Nhỏ Chi hãy vì hai bác mà tận lực làm những thiện nghiệp rồi hồi hướng cúng dường hai bác
Như trong phần Việc thờ kính Phương Đông (Puratthimā disā) tức là cha mẹ, Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Sigālovāda Sutta), Kinh số 31, Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya) có dạy:
+ Được cha mẹ nuôi dưỡng, con sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ
+ Con sẽ làm các công việc (bổn phận) cho cha mẹ
+ Con sẽ giữ gìn và duy trì dòng dõi, truyền thống gia đình
+ Con sẽ xử sự xứng đáng để thừa hưởng tài sản (di sản)
+ Và hơn nữa, khi cha mẹ đã qua đời, con sẽ làm phước và hồi hướng công đức đến cho cha mẹ
Bạn hãy dùng đồ đạc của bác hoặc của bạn, là những đồ được kiếm bằng cách lao động chân chính, hợp pháp và trong sạch, để thực hiện bố thí cùng làm các điều phước thiện. Ví dụ:
+ Bố thí/cúng dường (tùy duyên): hỗ trợ Tăng đoàn, in kinh, ủng hộ bệnh viện, từ thiện thiết thực,…
+ Giữ giới
+ Tụng/niệm các bài khuyến thiện (Metta Sutta, Itipiso…) với tâm từ
+ …
Sau khi làm các điều phước thiện đó, ở nơi bác đang nằm hoặc thờ bác (nếu đã hậu sự xong), bạn hãy hồi hướng cho bác. Ví dụ:
+ “Con tên là … Hôm nay con đã thay cha con thực hiện các thiện nghiệp (bố thí quần áo, thuốc men, cúng dường tam bảo,…). Mong rằng cha hoan hỉ với phần phước thiện này và phước báu liền đến với cha, nguyện cho cha con được hạnh phúc, được an lạc, được an vui, không chịu các khổ đau”
+ Bạn dùng Sự thật để hồi hướng, ở đây Minh Đạo ví dụ:
“Con tên là … Sự thật là con đã thay cha con bố thí, dùng các vật thực, của cải,… kiếm được bằng cách hoàn toàn trong sạch, được làm ra từ lao động và nỗ lực chân chính, hợp pháp. Con thực hiện bố thí, với tâm hoàn toàn hoan hỉ trước, trong và sau khi bố thí. Con không luyến tiếc tất cả những tài vật đã bố thí. Nguyện rằng với năng lực của lời nói chân thật này, cha con được hạnh phúc, được an lạc, được an vui, không chịu các khổ đau”
–> Giả sử bác ở cảnh có thể thọ nhận hồi hướng cúng dường, thì sự làm phước, cúng dường và hồi hướng của bạn là nguồn an lạc cho bác
–> Còn nếu bác ở cảnh không thể thọ nhận hồi hướng cúng dường, thì toàn bộ phước báu bạn làm đó vẫn thuộc về bạn. Vì hồi hướng không phải chuyển nghiệp theo nghĩa xóa nghiệp đã tạo; mà là tạo duyên lành để người mất nếu ở cảnh giới có thể hoan hỷ – thọ nhận được thì nhờ đó có lợi lạc.
Vậy nên, bạn đừng bận tâm quá bác đang ở đâu nữa. Bạn cần: Lau nước mắt, sống thật tốt, tích cực làm các thiện nghiệp (Giữ giới, Bố Thí, Cúng Dường,…) và hồi hướng cho bác.
– Nếu bác khổ và trong hoàn cảnh phù hợp, việc thiện này của chị có thể giúp được bác.
– Nếu bác đã an vui hoặc trong hoàn cảnh không phù hợp, quả báu của phước thiện này sẽ là hành trang của bạn trong tương lai.
Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, Đức Phật cũng khẳng định trong phẩm Jànussoni, Chương Mười Pháp, Kinh Tăng Chi Bộ: “Này Bà-la-môn, người bố thí không bao giờ là không có quả”. Đó là cách thương ba mẹ có trí tuệ, được tán thán và là cách khiến bạn tìm thấy sự bình an ngay hiện tại.
V. KINH ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN
Minh Đạo là phàm phu, không thể giúp gì hơn. Nhưng ở hiện tại đây, bạn hãy an tâm, có một vị tên là Địa Tạng Vương Bồ Tát, là bậc đại sĩ, với lời đại cứu độ chúng sinh ở khổ cảnh, Ngài đã từng phát nguyện: “Địa ngục chưa trống không, thề không thành Phật; Chúng sinh độ hết mới chứng Bồ-đề”
Bạn đừng lo lắng, Minh Đạo không có ý xác quyết bác đã vào các cảnh khổ, nhưng bên cạnh tự lực như ở trên, bạn hãy tìm đến Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thường xuyên với tâm chí thành xưng niệm đến hình tượng và danh hiệu vị Đại Bồ Tát này, cùng đọc tụng kinh điển Địa Tạng Vương Bồ Tát bổn nguyện là có lợi ích.
Ngoài ra trong kinh cũng nói chi tiết về “Lợi ích cả kẻ còn người mất”, bạn đọc tụng và nghiên cứu kỹ để làm những việc lợi ích cho bác. Nếu được, mong bạn để lại thông tin liên hệ, Minh Đạo xin kính tặng bạn và gia đình một bộ Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện để bạn tiện học và đọc tụng hàng ngày.
=====
Mong bạn sớm hồi âm về thông tin để Minh Đạo có thể gửi tặng Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện.
Mong bạn và gia đình được tràn đầy muôn hạnh phúc.
Nam Mô A Di Đà Phật!
Dạ con xin tri ân cư sĩ Minh Đạo đã phân tích tỉ mỉ rõ ràng trường hợp ra đi của ba con. Con sẽ cô gắng làm thiện để hồi hướng công đức cho ba con. Con cũng cảm ơn cư sĩ có nhã ý tặng Kinh Địa Tạng cho con, nhưng ở nhà con cũng có một cuốn kinh Địa Tạng do một chị cư sĩ gửi tặng đã lâu mà con chưa có dịp mở ra đọc lại. Nay cư sĩ nhắc con mới nhớ đến. Cảm ơn cư sĩ Minh Đạo rất rất nhiều ạ.
A Di Đà Phật. Mình có đọc nhiều về vấn đề: trứng gà được xem là món chay có thể ăn hay không. Dường như luôn có 2 trường phái đối lập trong việc này. Không biết ý kiến riêng của cư sĩ Minh Đạo về việc này ra sao thưa cư sĩ?
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa đạo hữu Trường,
Lành thay, sadhu, sadhu! Minh Đạo thấy đây là một câu hỏi mà cũng rất nhiều người thắc mắc.
Ngay tại đây Minh Đạo với tâm vắng mặt tham (danh tiếng), vắng mặt sân (sự không vừa ý trong tâm), Minh Đạo sẽ mô tả đúng những gì Minh Đạo tác ý về vấn đề này khi thấy câu hỏi của đạo hữu:
+ Nếu mình là mọi người thì mình suy tư về việc này chắc hẳn là liên quan đến việc:
– Sợ khổ đau & Muốn an vui
–> Cần tìm đến các Pháp/Pháp môn phù hợp để thoát khổ
–> Ở đây việc ăn hay không ăn khả năng cao thuộc về GIỚI trong pháp đó
–> GIỚI (ăn hoặc không ăn)
–> Nhưng GIỚI thì có nhiều giới liên quan. Các giới liên quan đến việc ăn trứng có thể liên quan trực tiếp là: Giới Sát sinh (trong ngũ giới), Giới dùng vật thực phi thời (trong bát giới Uposathasīla), Giới rải tâm từ (Giới mở rộng của bát-giới Uposathasīla, thường gọi là cửu-giới Uposathasīla, theo Minh Đạo thấy là chưa phổ biến lắm), Giới sống tà mạng (trong Bát giới ājīvaṭṭhamakasīla)
==============
1. Giới sát sinh (Trong ngũ giới)
+ Minh đạo trong quá trình học theravada không ghi lại nguồn kinh, nhưng vở ghi của Minh Đạo có ghi chép trong lúc học như này:
+ Đây là Là thường giới của tất cả mọi người, nghĩa là bất cứ ai đều có bổn phận giữ gìn ngũ-giới của mình được trong sạch và trọn vẹn
+ Cần phải đi thật sâu vào định nghĩa rõ các chi phần
+ Giữ giới sát sinh: Nghĩa là có Tác ý tránh xa sự sát-sinh và Thực hành giới không sát sinh
+ Minh Đạo được học sát sinh nghĩa là: Hành động làm cho chúng-sinh lìa bỏ sinh-mạng trước thời gian hạn định hết tuổi thọ của chúng-sinh ấy
+ Cần có đầy đủ 5 chi pháp để xem có phạm giới sát sinh không:
1. Chúng-sinh có sinh-mạng
2. Biết rõ chúng-sinh đó có sinh-mạng
3. Tâm nghĩ giết hại chúng-sinh, có 2 cách tác ý:
– Bằng thân: Tự chính mình giết hại chúng-sinh ấy
– Bằng khẩu: Sai khiến người khác giết chúng-sinh ấy
4. Cố gắng giết hại chúng-sinh, có các cách:
– Tự giết hại chúng-sinh (Tự mình, dùng vũ khí, tạo ra vũ khí để giết hại, sử dụng bùa chú, phép thuật,…)
– Sai khiến người khác giết hại: bằng lời nói, chữ viết, ra hiệu,…
5. Chúng-sinh ấy chết do sự cố gắng đó
–> Đến đây lại quán xét, khúc mắc đầu tiên chắc chắn ở chi phần thứ 1 và 2. Đang không rõ chúng sanh đó có sanh mạng hay không. Còn chi phần 4, 5 có tác ý giết hại chúng sinh không và chúng sanh có chết không lại phụ thuộc vào có biết chúng sinh có sinh mạng không ở chi phần 1 và 2
Trong kinh điển Minh Đạo chưa được thấy (không có hoặc do chưa được học tới) có phần nào nói thẳng về việc trứng có hay không có sanh mạng. Nên ở đây Minh Đạo lại xét tiếp theo tri kiến cá nhân, liệu trứng có sanh mạng không. Ở bài sanh mạng Minh Đạo được học như sau:
+ Danh từ gọi “chúng-sinh còn sinh-mạng” do căn cứ vào ngũ-uẩn của mỗi chúng-sinh ấy. Nhưng đúng theo sự thật thì chỉ có sắc-pháp và danh-pháp.
+ Sắc-uẩn thuộc về sắc-pháp đó là phần thân (trong thân có sắc-mạng-chủ). 4 uẩn còn lại thuộc về danh-pháp (tâm và tâm sở) đó là phần tâm (trong tâm có danh-mạng-chủ)
+ Nói tóm lại dễ hiểu thì Chúng-sinh còn sinh-mạng có đủ thân (sắc) và tâm (danh)
+ Đến đây như Minh Đạo biết có 2 loại trứng: Trứng không có trống (Trứng công nghiệp, trứng chưa thụ tinh,…) và Trứng có trống (Trứng lộn, trứng đang ấp nở,…)
+ Đến đây Minh Đạo quán tiếp 2 câu hỏi: Trứng không trống có tồn tại đủ Danh-Sắc để được coi là có sanh mạng không, Trứng có trống khác gì so với Trứng không trống – khi được thụ tinh xong thì cái gì thay đổi?
+ Các đạo hữu tham khảo đoạn về duyên Thức sinh Danh-Sắc (Viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ), phần Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda), Mahānidāna Sutta (Kinh Đại Duyên), Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) – bản dịch của HT.Thích Minh Châu có nói như này:
”
Trước đã nói: “Do duyên thức, danh sắc sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên thức, danh sắc sanh”? Này Ananda, nếu thức không đi vào trong bụng của người mẹ, thời danh sắc có thể hình thành trong bụng bà mẹ không?
– Bạch Thế Tôn, không!
– Này Ananda, nếu thức đi vào trong bụng bà mẹ rồi bị tiêu diệt, thời danh sắc có thể hình thành trạng thái này, trạng thái khác không?
– Bạch Thế Tôn, không!
– Này Ananda, nếu thức bị đoạn trừ trong đứa con nít, hoặc là đồng nam hay đồng nữ, thời danh sắc có thể lớn hơn, trưởng thành và thành mãn được không?
– Bạch Thế Tôn, không!
– Do vậy, này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của danh sắc, tức là thức.
”
Ở đây theo tri kiến Minh Đạo thấy nếu thức không đi vào/đáp xuống thì danh-sắc không hình thành – như ở trên Minh Đạo nhắc tới sanh mạng thì nghĩa là chưa có sanh mạng.
Về cấu tạo của trứng (chưa thụ tinh) Minh Đạo tìm hiểu thì là tế bào sinh dục cái (Giao tử) nhưng ở trạng thái ngủ và không bao giờ phát triển được. Đến đây thì có thể coi chỉ là một phần của cơ thể gà mẹ và chưa có sanh mạng riêng, chỉ là sắc pháp, chưa có một dòng tâm riêng nào của phôi/chúng sinh đang hiện hữu nên không có danh pháp theo nghĩa đó. Với lại như này, mạng quyền thuộc sắc chỉ hiện diện trong nhóm sắc do nghiệp (kamma) sinh; còn nhóm sắc do tâm, nhiệt độ, dinh dưỡng thì không có Sắc mangj quyền (rūpa-jīvitindriya). Nên đến đây theo tri kiến của Minh Đạo thấy với trứng chưa thụ tinh chỉ đang nói đến các nhóm sắc vật lý, không phải một thân hữu tình do nghiệp sinh đang vận hành. Nên kết lại Minh Đạo cho rằng Trứng không trống là chưa có sanh mạng
Ngược lại với Trứng có trống, theo Minh Đạo tìm hiểu thì giờ nó là Là một Hợp tử (Tinh trùng (bố) chui vào trong Trứng (mẹ)), sau đó có Sự phân chia tế bào . Trên bề mặt lòng đỏ có một đĩa phôi đã bắt đầu phân chia tế bào, Lòng đỏ và lòng trắng đóng vai trò là dinh dưỡng cho chúng sinh đó (gà con/ vịt con). Nó lại giống với cái Minh Đạo được học, lúc này là Tâm tục sinh đã xuất hiện đồng thời với Sắc Nghiệp, và trong các nhóm sắc nghiệp đầu tiên thì có nhóm sắc có chứa Sắc mạng quyền (Rūpa-jīvitindriya) để duy trì sự sống cho phôi thai. Nên đến đây theo tri kiến của Minh Đạo thấy với trứng đã thụ tinh – Trứng có trống là đã có sanh mạng
Đến đây thì chi phần 1 và 2 đã được thỏa mãn. Nghĩa là Có trứng có sanh mạng, có trứng không có sanh mạng. Nhưng lại quán xét tiếp, chi phần 3. Nó lại phụ thuộc và tâm và tác ý của người thọ dụng. Chi phần này chắc chắn có liên quan câu hỏi: Tại sao trước kia theo hệ phái Theravāda (Kinh–Luật) lại không có ăn chay tuyệt đối (vẫn có một số loại không được thọ dụng nhưng về cơ bản là không quá chọn lựa thọ dụng vật thực được cúng dường). Đến đây đã vượt ra ngoài tư duy của Minh Đạo, vì Minh Đạo không biết được tâm/tác ý của người thọ dụng như nào để mô tả, để phân biệt. Tại vì Tư tác ý (cetanā) là Nghiệp có tác ý rồi mới tạo nghiệp qua thân–khẩu–ý, phần tác ý này quá quan trọng đến câu trả lời cuối cùng, nhưng đã vượt ngoài tư duy của Minh Đạo.
==> Nến kết luận lại theo tri kiến riêng của Minh Đạo: Có trứng có sanh mạng, Có trứng không có sanh mạng. Việc có phạm giới sát sanh hay không phụ thuộc vào 5 chi phần, trong đó có phần quan trọng là Tư tác ý (cetanā) khi thọ dụng
==============
2. Giới dùng vật thực phi thời (trong bát giới Uposathasīla)
+ Giữ giới: Có tác ý tránh xa sự dùng vật thực phi thời và thực hành giới tránh xa sự dùng vật thực phi thời
+ Cần có đầy đủ 3 chi pháp để xem có phạm giới hay không:
1. Có thời gian phi thời là từ quá ngọ qua đêm cho đến trước lúc bình minh của buổi sáng ngày hôm sau
2. Có các thứ vật thực: Cơm, các món đồ ăn, các loại bánh, các thứ trái cây, các thứ bột ngũ cốc, sữa tươi, sữa chua, bơ đặc, v.v…
3. Vật thực nuốt qua khỏi cổ
Giới này đã quá rõ ràng, với các vị giữ bát giới Uposathasīla thì không nên thọ thực trứng sau ngọ
==============
3. Giới rải tâm từ (Giới mở rộng của bát-giới Uposathasīla, thường gọi là cửu-giới Uposathasīla)
Đến đây có bước ngoặt đáng kể trong việc có ăn trứng hay không của Minh Đạo.
Trong thời gian giữ giới Minh Đạo thường thọ Thập giới Dasasīla và Giới thứ 9 trong cửu-giới Uposathasīla (tức là giới rải tâm từ)
Phần tụng khi thọ giới của Minh Đạo như sau:
“Con xin thọ trì pháp-hành niệm rải tâm từ đến tất cả mọi chúng-sinh muôn loài với đại-thiện-tâm hợp với tâm từ.
Con ý thức rằng, như Đức Thế Tôn dạy về Cửu giới Uposathasīla, yếu tố thứ chín là rải tâm từ vô lượng đến khắp bốn phương, trên, dưới, và khắp mọi nơi, đến tất cả hữu tình, nhờ đó hộ trì giới và mang lại lợi ích lớn. Trọn một ngày một đêm hôm nay, con nhất tâm thực hành giới này.
”
Minh Đạo thường rải tâm từ bi bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh chúng sanh và cố quán về các Sự khổ-vui của chúng sinh đó trong hoàn cảnh đó. Sau đó tụng phần kinh hộ trì Niệm tâm từ, trong đó có đoạn:
”
…
Biết thu thúc 6 căn, giữ gìn pháp chủ; có trí tuệ thông suốt, thân khẩu ý thuần đức; không quyến luyến gia đình
Không làm điều ác mà bậc trí chê trách;
Mong tất cả chúng sinh đều an lạc và bình an.
Tất cả chúng sinh nào, dù là yếu đuối hay mạnh mẽ, tất cả mọi loài không có dư sót, dù có thân hình dài, to lớn, trung bình, ngắn gọn, nhỏ bé, vi tế hay thô sơ.
Cả thấy được và không thấy, ở gần hay xa, cả thảy chúng sinh ấy, không loại trừ chúng sinh nào
Mong rằng tất cả chúng sinh, đã sanh hay sẽ sanh, đều được thân tâm thường an lạc
Hành giả rải tâm từ, cầu mong mọi chúng sinh không làm hại, không oán hận lẫn nhau
Cầu mong mọi chúng sinh không làm khổ lẫn nhau, không mong muốn khổ cho nhau
Như người mẹ hiền yêu thương con, bảo vệ con bằng sinh mạng thế nào, thì hành giả phát triển tâm từ và rải tâm từ vô lượng đến tất cả chúng sinh cũng như thế ấy
Hành giả rải tâm từ đến tam giới chúng sinh khắp nơi. Phía trên, phía dưới, khoảng giữa, cả bề ngang, không giới hạn, không có phân biệt, không thù hận, không oan trái.
Khi đi, đứng, nằm, ngồi, lúc nào hành giả cũng rải tâm từ vô lượng như thế cho đến khi tâm không còn phân tán, không còn mệt mỏi.
Tâm luôn an trú trong thiền, có tâm từ vô lượng như thế. Sống trong trạng thái thanh tịnh! Ðức Phật dạy rằng: “Hành giả sống cao thượng trong Giáo Pháp”
…
”
Rồi đặt mình vào hoàn cảnh của chính gà mẹ, lấy chứng của gà mẹ ăn Minh Đạo thấy nó thật không phù hợp với “Mong rằng tất cả chúng sinh, đã sanh hay sẽ sanh, đều được thân tâm thường an lạc” và “Cầu mong mọi chúng sinh không làm khổ lẫn nhau, không mong muốn khổ cho nhau” và “Như người mẹ hiền yêu thương con, bảo vệ con bằng sinh mạng thế nào”,…
Đến đây giới này đã chặn Minh Đạo lại, nên Minh Đạo quyết định không ăn trứng để gà mẹ đỡ khổ tâm và thân.
==============
4. Giới sống tà mạng (trong Bát giới ājīvaṭṭhamakasīla)
Trong đó có chi phần Maṃsavāṇijjā: Làm nghề giết gia cầm, giết gia súc để bán thịt. Thường thì người nuôi gà lấy trứng rồi thịt gà. Tức là sát sanh, mà trong phần tụng thọ giới Minh Đạo thường tụng:
“Con xin nguyện trọn một ngày một đêm, thọ trì điều-giới, có tác ý tránh xa sự sát-sinh và thực hành giới không sát sinh
Con ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra. Phát khởi đại bi, con nguyện không tự giết hại, không khiến người khác giết hại, không tán thán mọi sự giết hại, và không thấy giết hại mà vui mừng, giữ tâm không khởi ý sát hại với bất kỳ chúng sinh nào. Con nguyện hộ trì sự sống của mọi người và mọi loài. Trọn một ngày một đêm hôm nay, con nhất tâm giữ giới này.”
Giới này đã chặn Minh Đạo lại trong việc sử dụng trứng như một sự ủng hộ người khác nuôi gà và giết hại.
==> Tóm lại: Về việc món chay có thể có trứng hay không phụ thuộc vào Trứng có trống hay Không có trống. Và phụ thuộc vào Tư tác ý (cetanā) khi thọ dụng cũng như yêu cầu của Pháp môn mà người đó đang tu tập.
Về Minh Đạo thì Minh Đạo bị Giới rải tâm từ và Giới sống tà mạng chặn lại, lại đúng vào thời kỳ đủ duyên để có khả năng được chọn các vật thực khác thay thế để không bị đói nên Minh Đạo thường không ăn trứng vào các ngày Trai Giới (tính cả việc ăn các món chay).
=====
Trên đây hoàn toàn là tư kiến giải của Minh Đạo. Không phải là chân lý. Là ý kiến (kiến giải cá nhân) của Minh Đạo, là kinh nghiệm trên con đường tu học của Minh Đạo và những gì mình đạo có cho tính cho đến ngày 04/01/2026 dương lịch. Còn có chỗ chưa được đúng pháp Mong quý đạo hữu chỉ bảo và góp ý, Minh Đạo vô cùng hoan hỷ lắng nghe. Không phải do Minh Đạo cố ý đưa ra luận giải và việc làm sai lệch, mà đây là tất cả những gì Minh Đạo có. Mong đạo hữu và chư vị Thiện Tri thức của cả Theravada (Nguyên Thủy) và Mahayana (Đại Thừa) Hoan Hỷ Chỉ Bảo. Minh Đạo luôn trong trạng thái cầu thị muốn nghe.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa đạo hữu Trường,
Trong buổi quán pháp tối nay, Minh Đạo đã quán lại vấn đề này. Và có một số điều cần lưu ý như sau:
I. TRỨNG CÓ SANH MẠNG VÀ CHƯA CÓ SANH MẠNG
+ Theo tạng Vi Diệu Pháp, hữu tình được hiểu là có dòng danh pháp vận hành (tâm & tâm sở) đi kèm sắc nghiệp như Minh Đạo nói ở trên. Nhưng vào thời điểm chính xác tái sự hiện hữu hình thành – paṭisandhi xảy ra so với mốc thụ tinh là điều không chứng minh được.
Về cơ bản “Trứng có trống = Chắc chắn có sanh mạng”, đúng trong phần lớn trường hợp, nhưng nói như một khẳng định chắc nịch thì chưa đủ chặt về mặt thời điểm bắt đầu xuất hiện sự hiện hữu cũng như hoàn cảnh hiện trạng của trứng đó.
+ Về việc “Trứng không có trống = Chắc chắn không có sanh mạng”, trong một số trường hợp Phôi quá sớm/khó nhận ra (vấn đề nhận biết, không phải vấn đề giáo lý)
=> Về kết luận Có trứng có sanh mạng, Có trứng không có sanh mạng là đúng.
Còn nếu khẳng định chắc chắn Trứng có trống = Có sanh mạng, Trứng không có trống=Chắc chắn không có sanh mạng, chấp cứng này như vậy dễ dẫn đến Si-Moha (không rõ biết/không thấy giới hạn của điều mình biết)
Còn có hay không có một hữu tình tái sinh vào đó là rất khó để biết chắc nếu không có thắng trí; suy luận thuần sinh học sẽ có giới hạn.
Ở đây có 3 trường hợp xảy ra:
1. Trứng không có hữu tình -> chi pháp (1) không có ⇒ không thể thành sát sinh
2. Trứng có thể có nhưng hoàn toàn không biết và không nhận thức là có hữu tình -> thiếu chi phần (2) ⇒ theo chuẩn 5 chi phần, không thành trọn vẹn nghiệp sát sinh
(Đây là lý do trong nhiều vấn đề giới, truyền thống Nguyên thủy – Theravada xét rất kỹ yếu tố “biết/nhận thức”)
(Tuy nhiên vẫn có một điều cần xem xét nữa là việc người thọ dụng nghi ngờ và sợ liệu trứng có sanh mạng không vì không rõ biết, điều này dễ dẫn đến tâm sợ Hối – Kukkucca đây là một Tâm sở Bất thiện, nếu thuần thục hoặc nuôi tâm bất an thường xuyên có khả năng ảnh hưởng đến Tâm cận tử lúc tái sanh cũng như khi hành các pháp như Thiền vì dễ dẫn sang Trạo Hối. Nên trong truyền thống Đại thừa – Mahayana, Tịnh Độ thường là đã Nghi ngờ thì Không ăn – để bảo vệ tâm)
3. Trứng đã hư/chết phôi từ trước (không còn hữu tình sống tại thời điểm bạn tác động) -> thiếu chi pháp (1) ⇒ không thành sát sinh
II. GIỚI CẤM THỦ
Điều này cần lưu ý về việc tin rằng nghi thức/khổ hạnh tự nó đưa đến giải thoát, nghĩ rằng:
+ Không ăn trứng = tự động thanh tịnh/đắc đạo
+ Ai ăn trứng chắc chắn là tà, ô nhiễm
Thì rất dễ rơi vào Tà-Kiến sīlabbata-parāmāsa (Giới Cấm Thủ)
III. RẢI TÂM TỪ VÀ GIỚI SỐNG TÀ MẠNG
Việc qua 2 giới này Minh Đạo không ăn trứng vào các ngày trai giới là hạnh riêng để nuôi dưỡng Tâm Từ.
Còn nếu nói là ăn trứng là phạm 2 giới này là không chặt chẽ.
=> Tóm lại Trứng gà có được xem là món chay hay không, và có thể ăn được hay không. Phụ thuộc vào việc:
+ Có đủ 5 chi pháp để xem có phạm giới sát sinh không (trong đó Trứng có sanh mạng hay không có sanh mạng là rất khó xác định)
+ Tư tác ý (cetanā) khi thọ dụng: Là điểm quan trọng và then chốt
+ Yêu cầu của Pháp môn đang tu tập
=====
Đến đây là giới hạn của Minh Đạo về vấn đề này, đã không thể quán chặt chẽ thêm được nữa.
Trên đây hoàn toàn là tư kiến giải của Minh Đạo. Không phải là chân lý. Là ý kiến (kiến giải cá nhân) của Minh Đạo. Còn có chỗ chưa được đúng pháp, Mong đạo hữu và chư vị Thiện Tri thức của cả Theravada (Nguyên Thủy) và Mahayana (Đại Thừa) Hoan Hỷ Chỉ Bảo. Minh Đạo luôn trong trạng thái cầu thị muốn nghe.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!
Cảm ơn cư sĩ Minh Đạo đã dành thời gian để tư duy và trả lời câu hỏi của mình. Vậy là theo mình hiểu là dù trứng có trống hay không trống vẫn có mầm sống và không được gọi là món chay thuần khiết. Có lẽ vì vậy mà các sư thầy cũng cho rằng không nên ăn trứng, nhưng cũng khai duyên như trong trường hợp được người khác mời dùng bánh bông lan hay các vật thực có thành phần trứng thì vẫn có thể ăn một ít gọi là để kết duyên. A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Kính gửi Đạo hữu Trường,
Theo Minh Đạo thì nên nói như này:
+ Có trứng có sanh mạng, Có trứng không có sanh mạng
+ Với người phàm phu rất khó để nhận biết chính xác một quả trứng Có sanh mạng hay Không có sinh mạng
+ Cần chú ý đến Giới Cấm Thủ. Nghĩa là nếu tin rằng nghi thức, sự khổ hạnh tự nó đưa đến giải thoát, nghĩ rằng: “Không ăn trứng = tự động thanh tịnh/đắc đạo”, hay “Ai ăn trứng chắc chắn là tà, ô nhiễm” Thì dễ rơi vào Tà-Kiến sīlabbata-parāmāsa (Giới Cấm Thủ)
+ Ăn trứng có bị coi là sát sinh hay không phụ thuộc vào Năm chi pháp để xem có phạm giới sát sinh không. Trong đó quan trọng là Tư tác ý (cetanā) của người đó khi thọ dụng.
+ Về ăn chay và có nên ăn trứng hay không phụ thuộc vào khuyến rụ của thầy/pháp Môn đang tu tập:
– Do mỗi pháp môn phù hợp với chúng sanh có căn cơ khác nhau
– Ví dụ với các bậc thắng trí, có thể rõ biết trứng nào Có sanh mạng hoặc Không có sanh mạng. Sẽ khác với bậc chưa rõ biết trứng nào Có sanh mạng hay Không có sanh mạng, thì pháp Môn người này tu tập có thể sẽ dạy là không nên ăn trứng, vì để bảo vệ tâm khỏi các Tâm sở Bất thiện (ví dụ tâm sợ Hối khi rằn vặt vì nghi ngờ,…) để đảm bảo không ảnh hưởng đến Tâm cận tử hoặc là khi thực hành các pháp như Thiền.
– Nghĩa là tuy nghe là có 2 trường phái đối lập, nhưng là do dành cho các chúng sanh có căn cơ và nhân duyên khác nhau. Chứ không phải là bên nào sai hay đúng.
Chư vị đạo hữu, lành thay. Lần quán này cũng như bao lần trước. Khi quán xét sâu sắc rồi dẫn đến xóa mờ ranh giới giữa Theravada và Mahayana. Chư vị đạo hữu, đã nhiều lần quán và đều như vậy. Đây không chỉ là cái thấy, mà là tâm nguyện của Minh Đạo. Sự phân biệt, chia rẽ, giữa 2 bên (ví dụ bên này là Đại bên kia là Tiểu, bên này là Phật Thuyết, bên kia là Ngoại Đạo,…) nếu có thì đến đây là nên dừng.
Như lời Đức Thế Tôn đã dạy trong Phẩm Trưởng Lão Sona, Chương Năm, Kinh Phật Tự Thuyết (Udana), Khuddhaka Nikaya (Tiểu Bộ Kinh):
“Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp này cũng chỉ có một vị là vị giải thoát.”
Mong đạo hữu dành thời gian suy xét kỹ, thấu suốt để tâm không còn vướng mắc. Chúc đạo hữu thành tựu thắng trí, thân tâm thường an lạc trong Chánh pháp.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
A Di Đà Phật. Mình thấy trước đây cũng đã có bài nói về việc ăn trứng như đồ chay hay không ở đây. Xin chia sẻ lại:
https://www.duongvecoitinh.com/2013/03/an-chay-co-nen-dung-trung/