Nhân gian mỗi ngày có quá nhiều người cha mẹ phá thai, dẫn đến dương gian xuất hiện rất nhiều chứng bệnh. Ví dụ: bệnh đau nửa đầu không trị được, bệnh phụ khoa đeo bám mãi, bệnh đường sinh dục, tinh thần suy sụp v.v… loại bệnh này nhất định phải nhờ vào sức sám hối chân thành, hành thiện tích đức mới giải quyết được, nếu không thì chỉ là lãng phí tiền bạc thời gian và thuốc thang thế gian, còn có thể cả đời không giải quyết được, phải kéo dài đến kiếp sau tiếp tục đền trả nghiệp lực chưa xong. Việc này phải bù đắp trên tâm niệm, khởi tâm động niệm của con người rất quan trọng vậy. Một ý niệm của con người đủ để xuyên suốt không gian và thời gian, thành tựu việc thiện ác. Nhớ rằng sau khi phá thai phải thật lòng sám hối, chứ không phải tốn tiền mời người khác giúp mình niệm kinh sám hối. Tại dương gian có rất nhiều nơi bái tế hồn trẻ, thật ra phần lớn không có công hiệu, chỉ làm lãng phí tiền bạc.
Người cha mẹ phá thai một mặt mỗi ngày phải chí thành hướng về hồn trẻ cầu sám hối, mặt khác phải tự niệm “Kinh Địa Tạng” hay kinh điển Phật giáo nào khác cũng được, nếu năng lực cho phép có thể phóng sinh hồi hướng hồn trẻ. Phá thai là hành vi sát sanh, tụ tập ác nghiệp, chiêu cảm đau khổ, mỗi người mẹ sau khi phá thai trong lòng nhất định sản sinh một loại vô minh cắn rứt. Loại cắn rứt này do nghiệp lực của việc phá thai dẫn đến, cần phải cố gắng sám hối trong lòng, cầu cho hồn trẻ tha thứ mà giải quyết thanh trừ. Có một vài người mẹ nói là không có, thật ra không phải là không có, chỉ vì tập khí phiền não của bọn họ quá thô nặng mà che mờ đi cảm giác. Phóng sanh tức là cứu mạng, có thể chiêu cảm may mắn. Khi phóng sanh, những sinh mạng được phóng sanh là vui mừng và cảm ân vậy, lại có thể kết thiện duyên, nên phóng sanh hồi hướng cho hồn trẻ sớm ngày ly khổ đắc lạc, siêu thăng tịnh thổ.
Địa phủ cũng rất xem trọng phương pháp bù đắp tội phá thai. Dương gian trước mắt đã đi đến thời đại tà dâm mê loạn rồi, mà tà dâm đem lại hậu quả. Phá thai đã biến thành chuyện ăn cơm thường ngày của người trẻ tuổi. Cũng vì tà khí của tà dâm, oán khí của phá thai tràn ngập nhân gian, nghiêm trọng ảnh hưởng sự quân bình của tự nhiên giới, tất sẽ chiêu cảm thiên tai nhân họa giáng lâm.
Âm phủ minh vương phán lệnh, tất cả những chúng sinh dương gian thật lòng sám hối xử lý việc phá thai, phát nguyện từ đây tự mình vĩnh viễn đoạn trừ hành vi phá thai, còn đem tin tức này nói cho người khác biết, ngăn cản người phá thai, lấy công chuộc tội, âm phủ sẽ ghi mỗi người một đại thiện công trong sổ sanh tử, còn miễn trừ hình phạt nghiệp báo địa ngục của tội phá thai, chi tiết cụ thể thì còn tùy vào mỗi trường hợp mà định luận.
Trích từ Âm Luật Vô Tình 
Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác






Xin kính chào mọi người!
Khoảng 1 tháng trước con có giúp một vị đồng tu làm một video giảng pháp, con đã chọn một hình Phật trên mạng để ghép vào video. Mới nhìn thì hình có vẻ trang nghiêm nhưng nhìn kĩ thì bàn tay chỉ có 4 ngón. Nhưng khoảng một tháng sau con mới nhận ra sơ suất này. Để sám hối cho lỗi lầm này, con đã làm lại một video khác cũng với nội dung đó nhưng chất lượng hơn về hình ảnh và độ phân giải. Con đã gửi lại cho vị đồng tu đó để đăng lại và yêu cầu xóa bỏ video cũ đi, nhưng vị đó lại không đồng ý với đề nghị của con(video đó đã được đăng lên cả 3 nền tảng tiktok, facebook, youtube) . Vị ấy khẳng định sẽ không xóa. Con có hỏi vị ấy không sợ quả báo à, thì vị ấy nói vị ấy làm vì Tam Bảo chứ không phải kinh doanh Phật Pháp. Vị ấy còn kêu con đừng quá can thiệp sâu vào công việc của vị ấy vì con chưa có trí tuệ. Thật sự con rất buồn khi nghe những lời đó, có phải vị đó cố chấp không? Con có nên giúp vị ấy làm tiếp video khác nữa không, lúc đó con đã nói ” khi nào xóa video cũ đi con mới làm” và vị ấy cũng bảo con rằng là không ép con.
Con không muốn qua lại với vị ấy nữa nhưng con rất buồn và lòng nặng trĩu, vừa lo sợ việc lưu truyền ảnh Phật như vậy sẽ bị quả báo không tốt, vừa muốn bỏ vị ấy nhưng chưa làm được vì con có tình cảm với vị ấy.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa Ngọc Minh,
Lành thay, Lành thay, Sadhu, Sadhu! Việc Ngọc Minh phát hiện ra chi tiết khiếm khuyết trên bàn tay Đức Phật và khởi sanh lòng lo sợ, muốn sửa đổi cho hoàn thiện, đó chính là sự hiện khởi của hai pháp Tàm (Hiri) và Quý (Ottappa). Đây là hai Pháp Hộ Thế che chở thế gian. Tâm biết hổ thẹn với sơ suất của mình (Tàm) và biết ghê sợ quả báo bất thiện (Quý) như Ngọc Minh là hy hữu và đáng trân trọng. Xuất phát từ lòng Cung kính sâu sắc đối với Đức Phật. Minh Đạo xin được hoan hỷ với thiện tâm của Ngọc Minh.
=====
I. NGHIỆP CỦA NGỌC MINH Ở ĐÂU
Kính thưa Ngọc Minh, tại đây Minh Đạo sẽ chỉ và giải thích rõ ràng Nghiệp ở đâu. Xin hãy đọc thật chậm và quán xét thật kỹ.
+ Đầu tiên Ngọc Minh cần hiểu về Sát-na là đơn vị thời gian vô cùng nhỏ. Tốc độ sanh diệt của tâm được mô tả là không thể tưởng tượng nổi bằng tư duy thông thường: Trong thời gian một cái chớp mắt hoặc một tia chớp loé lên, có vô cùng nhiều sát-na tâm sanh và diệt.
Chỉ cần hiểu như vậy, Ngọc Minh chưa cần tác ý hoặc suy tư ra thêm.
Sát-na là một khoảnh khắc vô cùng ngắn nằm ngoài tư duy thông thường. Tu tập thiền quán (Vipassana) có thể rèn luyện chánh niệm sắc bén đến mức có thể thấy được sự sanh diệt của các sát-na này.
+ Tiếp theo đến là Lộ trình tâm, là một chuỗi các sát-na tâm nối tiếp nhau theo một quy luật cố định để nhận biết và phản ứng với một đối tượng (cảnh) qua 6 cửa giác quan (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý). Bình thường khi ngủ say không mộng mị, thì tâm ở trạng thái trôi chảy thụ động, gọi là Hữu phần (Bhavanga). Nhưng khi có kích thích (Một đối tượng đập vào giác quan), thì dòng Hữu phần bị ngắt, và một loạt các tâm chức năng lần lượt sinh khởi để xử lý đối tượng đó. Chuỗi này gọi là Lộ trình tâm.
Chỉ cần hiểu như vậy, Ngọc Minh chưa cần tác ý hoặc suy tư ra thêm.
Giả sử có một khả năng nào đó không có một cái gì tác động vào 6 cửa giác quan (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) – giống như khi ngủ say không mộng mị thì tâm ở trạng thái thụ động được gọi là Hữu phần (Bhavanga). Khi có kích thích thì lập tức có một chuỗi tuần tự các tâm sinh khởi để xử lý đối tượng vừa xuất hiện và kích thích các giác quan
+ Khi tiếp xúc với một đối tượng rõ ràng, sẽ có một chuỗi 17 tâm sinh diệt liên tục. Mỗi tâm này sinh ra và mất đi trong một sát-na và đảm nhiệm một chức năng riêng biệt trong quá trình nhận thức đối tượng.
+ Lộ trình tâm đầy đủ (ở đây ví dụ với nhãn-mắt môn lộ trình tâm):
bha-bha-ati(1)-na(2)-da(3)-pan(4)-cak(5)-sam(6)-san(7)-vot(8)-ja(9)-ja(10)-ja(11)-ja(12)-ja(13)-ja(14)-ja(15)-ta(16)-ta(17)-bha-bha
0. Đầu tiên chắc chắn như nói từ trước, giả sử chưa có một đối tượng nào tác động vào 6 cửa giác quan. Thì là Bhavaṅgacitta – Hộ-kiếp-tâm/ Hữu-phần-tâm
– Đây là quả-tâm, nghĩa là tâm thụ động. Nghĩa là không phải là tâm tạo tác nghiệp mới.
– Luôn luôn hiện hữu, duy trì sự liên tục của dòng tâm thức, khi không có lộ trình tâm hoạt động
– Để dễ hiểu thì Giống như Một người đang nằm ngủ không mộng mị dưới gốc cây xoài, không tiếp nhận bất cứ cảnh nào
1. Atītabhavaṅgacitta (atī) – Hộ-kiếp-tâm quá-khứ, phát sinh 1 sát-na-tâm (vô cùng nhanh) vẫn còn giữ đối-tượng cũ từ ngay trước đó, dù có đốitượng sắc mới xuất hiện.
– Đóng vai trò như cầu nối, duy trì sự liên tục của dòng tâm thức từ đối tượng cũ sang đối tượng mới
– Giống như đang ngủ thì có 1 trái xoài chín rụng xuống bên cạnh. Trước khi ý thức được có trái xoài rơi và tỉnh dậy, sẽ có một sát-na tâm gọi là atī, vẫn bám vào đối tượng cũ trong giấc ngủ say
2. Bhavaṅgacalanacitta (na) – Hộ-kiếp-tâm Rung động: nghĩa là cái hộ-kiếp-tâm phát sinh 1 sát-na-tâm bị rung động, khi có đối tượng mới xuất hiện
3. Bhavaṅgupacchedacitta (da) – Hộ-kiếp-tâm bị cắt đứt để cho ngũ-môn hướng-tâm tiếp nhận đối-tượng sắc mới ấy. Diễn ra trong 1 sát-na tâm
4. Pañcadvāravajjanacitta (pañ) – Ngũ-môn hướng-tâm: phát sinh 1 sát-na-tâm có nhiệm vụ tiếp nhận đối-tượng mới.
– Nghĩa là bắt đầu hướng tâm đến giác quan tương ứng với đối tượng mới (sắc, thanh, hương, vị, xúc) đang tiếp xúc. Làm cho ngũ thức phát sinh và nhận biết đối tượng
– Giống như kiểu Người đó bắt đầu mở mắt nhìn xem cái gì
5. Cakkhuviññāṇacitta (cak) – Nhãn-thức-tâm: phát sinh 1 sát-na-tâm làm nhiệm vụ nhìn thấy đối-tượng
– Giống như người đó Thấy trái xoài, chỉ đơn thuần là thấy màu sắc/hình dáng
6. Sampaṭicchanacitta (sam) – Tiếp-nhận-tâm: phát sinh 1 sát-na-tâm có nhiệm vụ tiếp nhận đối-tượng
7. Santīraṇacitta (san) – Suy-xét-tâm: sát na tâm này có nhiệm vụ suy xét, thẩm tra đối-tượng
8. Voṭṭhabbanacitta (vot) – Xác-định-tâm: nghĩa là sát na tâm này sẽ xác định đối tượng đó là gì để các tâm bất thiện, đại thiện, hoặc đại duy tác mới có thể khởi sinh ở giai đoạn sau
– Sự xác định đối tượng phụ thuộc vào trình độ hiểu biết, kinh nghiệm, và trí tuệ của mỗi chúng sinh
– Giống như dựa vào kinh nghiệm trước đó, quyết định đây là xoài chín, ăn được
9->15. Javanacitta (ja) – Tác-hành-tâm: [Đây là giai đoạn quan trọng] Đây chính là nơi tạo bất-thiện-nghiệp hoặc đại-thiện-nghiệp tuỳ theo trình độ hiểu biết của chúng-sinh. Hoặc đại-duy-tác-tâm đối với bậc Thánh A-ra-hán, không thành đại-thiện-nghiệp, bất thiện-nghiệp nào cả.
– Giống như đây là lúc người đó thưởng thức hương vị
16->17. Tadālambanacitta (ta) – Tiếp-đối-tượng-tâm: thuộc về quả-tâm có nhiệm vụ ghi nhận lại cảnh dư sót.
– Giống như người đó đã thưởng tức xong và nuốt trái xoài thì con dư vị
0. Khi 2 sát-na trên kết thúc, toàn bộ lộ trình kết thúc. Tâm trở về hộ kiếp (bha) hoặc chuyển sang lộ trình tâm khác
– Giống như ví dụ không còn trái xoài nào rơi xuống thì người đó ngủ tiếp
+ Như vậy ở đây đã xác định chính xác 7 sát-na tâm (9-15) là chỗ có nghiệp.
+ Tiếp theo đến với Cetanā (Tư Tác ý), Nó có mặt trong tất cả mọi loại tâm, ở mọi lúc, mọi nơi. Nghĩa là Trong cả 17 sát-na tâm trên, sát-na nào cũng có chứa Cetanā bên trong nó. Các sát-na 5–7 là vipāka (quả), sát-na 4 và 8 là kiriya (duy tác): dù có cetanā, chúng không tạo nghiệp mới theo nghĩa tích lũy.
+ Ở 7 sát-na Javana (9-15), đây là giai đoạn tâm chủ động phản ứng (thích, ghét, tham, sân, thiện, ác). Cetanā hoạt động mạnh, nó thúc đẩy các tâm sở khác hành động tạo tác. Chính cái cố ý thúc đẩy này tại giai đoạn Javana mới được Đức Phật gọi là Nghiệp, khi cetanā đi cùng thiện tâm/bất thiện tâm. Điều này hợp với trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai tuyên bố: Tư tác ý chính là Nghiệp.” (nghiệp được quyết định bởi cố ý, “cố ý tạo nghiệp” được thấy rõ nhất ở javana)
+ Cetanā này trở thành Thiện/ Ác tùy thuộc vào những Tâm sở khác cùng đi với nó:
– Cetanā trở thành Bất Thiện khi bị chi phối bởi 3 nhân bất thiện:
Tham: Muốn níu giữ, dính mắc, ham muốn. (Ví dụ: Làm video vì muốn nổi tiếng)
Sân: Bực bội, ghét bỏ, sợ hãi, lo âu. (Ví dụ: Lo sợ quả báo, giận người đồng tu)
Si: Mê mờ, không biết đúng sai, phóng dật. (Ví dụ: Làm bừa cho xong chuyện)
– Cetanā trở thành Thiện khi được dẫn dắt bởi 3 nhân tịnh hảo:
Vô Tham: Buông xả, hào phóng. (Ví dụ: Sẵn sàng bỏ công sức làm lại video mới mà không tiếc công)
Vô Sân: Từ ái, mát mẻ. (Ví dụ: Mong muốn người xem có hình ảnh đẹp để chiêm bái, không giận người cũ).
Vô Si: Hiểu rõ nhân quả, hiểu đúng bản chất sự việc. (Ví dụ: Biết sai cần sửa, biết đây là việc thiện cần làm).
+ Thế cái gì quyết định cái Cetanā này. Ngọc Minh để ý ngay trước sát na Javana có một sát-na gọi là Voṭṭhabbanacitta (vot), tại đây, tâm quyết định cách nhìn nhận đối tượng dựa vào trình độ hiểu biết, kinh nghiệm, và trí tuệ của mỗi chúng sinh.
=====
II. TRƯỜNG HỢP CỦA NGỌC MINH
1 tháng trước, tại thời điểm chọn ảnh và làm video. Dựa theo mô tả của Ngọc Minh, Minh Đạo có thể mô tả lộ trình tâm như sau:
Khi thấy bức ảnh Phật trên mạng:
+ Ở giai đoạn 1-7, chỉ đơn giản là Tâm hướng sự chú ý vào bức ảnh trên màn hình (Chưa xuất hiện nghiệp)
+ Ở giai đoạn 8, Voṭṭhabbanacitta, Tâm dán nhãn cho đối tượng (hình ảnh)
– Thực tế: Bức ảnh có 4 ngón (Lỗi Sắc pháp)
– Nhưng Ngọc Minh lúc đó: Dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết từ trước, Ngọc Minh đã tưởng (Saññā): “Đây là hình Phật trang nghiêm, đẹp.”. Đến đây, sát na tâm này vẫn là thuộc nhóm Vô Ký (nghĩa là nó là quả của các tâm trước đó), tại đây vẫn chưa có nghiệp, tối/phước gì cả
– Giai đoạn 9-15, Javanacitta, một chuỗi 7 sát-na tâm (khoảnh khắc cực ngắn) chạy liên tiếp để phản ứng với bức ảnh và ra lệnh cho tay làm video: Vì trước đó đã xác định đây là hình Phật trang nghiêm, đẹp (cộng với thói quen kính tin Tam Bảo được huân rèn trước đó – có thể trong kiếp này hoặc nhiều đời trước), nên với cách nhìn hận đó, Cetanā là: “Mình muốn dùng hình này để làm video hoằng pháp, giúp mọi người kính tin Tam Bảo”, Các Tâm sở đi kèm:
Tín : Có lòng tin Phật mới làm video Phật giáo
Vô Tham: Muốn cho đi (Bố thí Pháp), không vụ lợi
Từ : Muốn người xem được lợi ích an vui
Mà Trong cùng một sát-na, Tâm Thiện và Tâm Bất Thiện không bao giờ tồn tại chung, Khi Tâm Hoằng Pháp (Thiện) xuất hiện, thì Tâm Báng Bổ (Ác) bắt buộc vắng mặt. Nếu lúc ấy ý Ngọc Minh là cung kính, không vụ lợi,… thì khả năng cao là Tâm Đại Thiện; nếu có kèm tham danh/lượt xem… thì có thể lẫn Bất Thiện ở các sát-na khác.
=====
III. TẠI SAO LẠI CHỌN SAI
Theo Minh Đạo, đây là Tâm Đại Thiện – Ly Trí. Nghĩa là:
+ Đại Thiện: Vì động cơ là Hoằng Pháp (Tốt)
+ Ly Trí: Nghĩa là tâm rất tốt nhưng thiếu sự soi xét kỹ lưỡng về chi tiết ngay khoảnh khắc đó. Bản chất Đây là sự hạn chế về Kỹ năng quan sát, giả sử Ngọc Minh để ý giai đoạn trước – giai đoạn 8, Voṭṭhabbanacitta, giả sử do kinh nghiệm trước đó chưa bao giờ chọn ảnh Phật bị thiếu. Nên lần này chưa có ấn tượng và kinh nghiệm nên xuất hiện sự hạn chế về kỹ năng quan sát -> gây ra cách nhìn nhận rằng “Đây là hình Phật trang nghiêm, đẹp.” –> dẫn đến hành động ở giai đoạn sau
=> Nên Ngọc Minh, xin chớ lo lắng. Nếu đúng thật tại thời điểm làm video Ngọc Minh đã tác ý như vậy thì đây là Đại Thiện Tâm không phải Tâm Bất Thiện. Xin đừng lo lắng về quả báo ác nghiệp. Nếu nhân không phải là Ác ý, thì không thành lập ác nghiệp trọng tội.
+ Ngay khi phát hiện, Ngọc Minh đã làm lại video tốt hơn và cố gắng thuyết phục dùng video mới này. Đây là hành động của tâm Tàm (Hổ thẹn tội lỗi) và Quý (Ghê sợ tội lỗi). Đây là hai pháp Hộ trì thế gian, vẫn là tâm Đại Thiện.
=====
IV. VẬY NHỠ NHỮNG NGƯỜI XEM VÀ SINH TÂM BẤT THIỆN THÌ SAO
Minh Đạo quán về trường hợp bạn sợ rằng: Hình ảnh 4 ngón -> Làm người xem bất kính -> Bạn chịu tội
Xem xét qua lộ trình tâm:
+ Ở các giai đoạn đầu 1-7, Mắt họ nhìn thấy hình ảnh. Tâm này chỉ làm nhiệm vụ Thấy. Đây là Tâm Quả Vô Ký (không thiện, không ác) -> Tại đây chưa phát sinh nghiệp
+ Ở giai đoạn 8, Voṭṭhabbanacitta, Tâm họ tiếp nhận và xác định nhiều cách “đây là hình Phật”, “đây là bàn tay thiếu ngón”,… Các tâm này vẫn là Vô Ký -> Tại đây chưa phát sinh nghiệp
+ Giai đoạn 9-15, Javanacitta, Sau khi xác định xong, một chuỗi 7 sát-na tâm sinh diệt cực nhanh để phản ứng lại với đối tượng. Chính tại đây, Nghiệp mới được tạo ra. Yếu tố quyết định tâm ở giai đoạn này là Thiện (Kính trọng) hay Bất Thiện (Bất kính) KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO BỨC ẢNH, mà phụ thuộc hoàn toàn vào Tác Ý của riêng người đó.
Ví dụ:
+ Người A (Có Trí – Như Lý Tác Ý): Thấy ảnh lỗi/Không thấy ảnh lỗi chỉ chú tâm vào hình tướng trang nghiêm của đức Phật -> Tâm họ nghĩ: “Hình tướng Đức Phật thật đáng tôn thờ.” -> Tâm Thiện -> Thiện nghiệp
+ Người B (Vô Minh – Phi Như Lý Tác Ý): Thấy ảnh lỗi -> Tâm họ nghĩ: “Vẽ vời quá chán, báng bổ, thật nực cười.” -> Tâm Bất Thiện (Sân/Si) -> Bất thiện nghiệp
Ví dụ trong kinh điển: Thời Đức Phật, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) nhìn thấy Đức Phật (một hình ảnh hoàn hảo tuyệt đối, không có bất kỳ lỗi nào). Thế nhưng, Đề-bà-đạt-đa vẫn sinh tâm sân hận, mắng chửi và tìm cách hại Phật. Vậy Đức Phật có tội không khi xuất hiện để Đề-bà-đạt-đa nhìn thấy và tạo nghiệp ác? Chắc chắn là KHÔNG. Đề-bà-đạt-đa tự chịu nghiệp do tâm ác của mình. => Ngay cả hình ảnh hoàn hảo còn bị kẻ vô minh bất kính, huống chi là một bức ảnh vẽ. Lỗi tại tâm người xem, không tại cảnh.
=> Bức ảnh của bạn chỉ đóng vai trò là Cảnh Duyên (Ārammaṇa Paccaya) – là điều kiện khách quan để tâm biết đến. Nó giống như mặt đất; người ta có thể đi trên đó (Thiện) hoặc ngã trên đó (Bất Thiện). Người ta ngã phần lớn là do chân họ yếu, một phần là do đất gồ ghề. Nghiệp vẫn do tâm họ; phần mình là tránh tạo duyên xấu khi đã biết.
=====
V. NẾU BIẾT VẬY MÀ CỨ CHỌN ẢNH KHÔNG XEM XÉT KỸ
Minh Đạo quán tiếp thấy sẽ có câu hỏi: “Nếu từ nay biết là nghiệp của người khác do tâm họ, mình cứ chọn đại đi miễn tâm mình tốt thì không sao”.
Ngay khoảnh khắc đó tâm không còn là thiện tâm nữa. Nó đã chuyển sang trạng thái Tâm Bất Thiện với các thành phần xấu sau:
+ Tâm sở Phóng Dật: Sự lăng xăng, hời hợt, thiếu sự nghiêm túc
+ Tâm sở Hôn Trầm: Sự lười biếng, ngại khó, không muốn bỏ công sức ra kiểm tra.
+ Tâm sở Si: Sự mờ tối, không nhận thức được hậu quả việc mình làm
+ Thiếu sự Cung Kính: Với bậc Đạo Sư, làm qua loa chiếu lệ là biểu hiện của sự Ngã Mạn
Như vậy quả của nhân bất thiện sẽ tương ứng. Ví dụ trí tuệ lu mờ, làm việc dễ thất bại, lời nói mất uy tín,…
=====
VI. CẦN LÀM GÌ
Không suy đoán nội tâm người khác khi chưa đủ dữ kiện; ta chỉ có thể nhận biết hành xử và lời nói. Người ấy nói “làm vì Tam Bảo” có thể là thật hoặc không. Tuy vậy, đúng–sai nội tâm của họ là phần họ. Phần của Ngọc Minh là:
+ Giữ chánh ngữ (nói sự thật, đúng lúc, mềm mỏng, có lợi),
+ Giữ tâm từ/bi nhưng không để mình bị kéo vào khổ
B1: Nói lại một lần cuối bằng chánh ngữ, không tranh thắng:
“Em nhận lỗi vì không kiểm kỹ. Em đã làm bản mới trang nghiêm hơn. Hay anh xóa/ẩn bản cũ để tránh người xem hiểu sai. Nếu chưa thể xóa, anh nhất cứ đăng thêm bản mới hoặc ghim bình luận để dẫn sang bản mới.”
Ngọc Minh có thể đề nghị giải pháp giảm thiểu như trên vì nhiều người “không muốn xóa” do tiếc công/ lượt xem
B2: Nếu họ vẫn không làm: dừng đúng mức, đừng nuôi sân
“Kinh thưa chư Phật, con đã trình bày hết lòng. Phần của con đến đây là đủ. Con xin hoan hỷ và giữ thiện tâm.”
Từ đó, đừng nhắc đi nhắc lại. Nhắc lại trong tâm nhiều lần dễ nuôi tâm sở hối và dễ sinh sân
B3: Có nên làm tiếp video không?
Nếu làm tiếp khiến tâm bạn bất an, nghi, bực, nặng,… thì nên dừng. Dừng vì giữ giới và giữ tâm
Còn nếu bạn có thể buông 1 video đó để làm các video khác chỉnh chu tốt hơn để làm lợi lạc cho chúng sanh thì nên tiếp tục.
Tóm lại:
+ Lỗi của bạn là không cố ý, và bạn đã sửa + khởi thiện tâm. Đây không phải quả báo nặng như bạn đang sợ
+ Điều làm bạn khổ bây giờ không phải video cũ, mà là hối quá + dính mắc + sợ. Những tâm này mới đáng được chăm sóc và buông xuống.
=====
Kính thưa Ngọc Minh, Một viên ngọc quý dù có chút tì vết nhỏ bên ngoài thì bản chất sáng trong của nó vẫn không thay đổi. Tâm của Ngọc Minh hướng về Tam Bảo chính là viên ngọc đó, còn sơ sót kỹ thuật kia chỉ là chút bụi. Xin đừng để hạt bụi ấy che lấp cả ánh sáng của viên ngọc tâm. Chuyện đã qua hãy để nó qua. Ngay giờ phút này, hãy hít một hơi thật sâu, thở ra nhẹ nhàng và thầm tác ý: ‘Con xin sám hối và con xin buông xuống’. Xin đừng sợ vấp ngã, chỉ sợ vấp ngã mà không đứng dậy đi tiếp. Tâm Tàm và Quý của Ngọc Minh hôm nay chính là nền tảng vững chắc nhất để tạo ra những phước báu vô lượng mai sau.
Minh Đạo xin hồi hướng phước báu của sự chia sẻ pháp này đến cho Ngọc Minh. Mong bạn sớm vượt qua chướng ngại tâm lý này và tiếp tục mang Chánh Pháp đến muôn nơi
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ôi con run rẩy. Con đọc đoạn trên con đang thấy hơi khó hiểu và nghi ngờ một chỗ, con định hỏi thì bên dưới cư sĩ đã nói “Quán thấy sẽ có câu hỏi…” và giải thích rồi.
Ôi kính thưa cư sĩ, con đã được nếm 1 chút vị ngọt của trí tuệ.
Giờ con mới hiểu, mới có như vậy con đã rùng mình. Thì trí tuệ của đức Như Lai, đấng Thập Lực, đấng Trí Tuệ Siêu Vượt không ai sánh bằng sẽ to lớn thế nào như nào.
Con háo hức được về Tây Phương Cực Lạc để nghe Đức Phật A Di Đà giảng pháp quá. Huhu, để ngài từ bi giảng cho con sáng tỏ rõ ràng mọi thứ. Mong con sớm được về Tây Phương Cực Lạc để nghe ngài giảng pháp.
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏
Kính gửi cư sĩ Minh Đạo!
Ngọc Minh vô cùng biết ơn và rất xúc động khi đọc được những lời khai thị của Người🙏! Những lời ấy đã giúp tâm con thêm sáng ra và hi vọng con sẽ sớm buông được những phiền não này.