Nếu như quí vị thực học thì quí vị phải thật làm. Người học Phật đông, giả thì nhiều, thật học thì ít. Thật học nhiều thì tốt. Giả học Phật không phải là thật học Phật. Danh lợi xuất hiện họ vẫn không buông xuống được. Đó là gì? Đó là thử thách quí vị. Danh cao lợi nhiều bày ra trước mắt, liền quên hết Phật pháp! Cho nên nó không phải là thật, thứ gì quan trọng? Phật Bồ Tát biết điều này: Học Phật quan trọng.
Năm xưa tôi ở Đài Trung học giáo lý với thầy Lý, có một lần thầy giáo nêu ra một ví dụ. Quí vị thật học Phật hay là giả học Phật? Quí vị nghe kinh ở giảng đường, nghe xong rất hoan hỉ, đột nhiên có một người đến nói với quí vị: nhà quí vị cháy rồi, quí vị sẽ như thế nào? Tâm hoảng ý loạn nhanh chóng về nhà chữa cháy. Quí vị vẫn xem nhà quan trọng, Phật không quan trọng. Nếu như thực sự biết nghe Phật Pháp quan trọng, tôi đang nghe Phật Pháp, lửa cháy cũng mặc kệ, không cần quan tâm nó, đó mới là thật. Trong một trăm người học Phật tìm không ra một người. Mỗi con người cái gì là quan trọng nhất? Bản thân, nhà cửa, tính mạng quan trọng nhất. Làm sao có thể vào cảnh giới Phật? Không những không vào được cảnh giới Phật, ý nghĩa của kinh Phật cũng không hiểu. Thực sự hiểu rồi, cách nghĩ cách nhìn của họ và người thế gian không giống nhau nữa. Điều đó là thật không phải giả.
Chư đại Bồ Tát vì cầu một câu kệ có thể bỏ thân mạng, quí vị nghe một buổi giảng kinh, nhà cửa bị cháy, quí vị còn không nỡ bỏ. Vậy là quí vị thua xa Bồ Tát. Đó là gì? Thật giả, nặng nhẹ, không thể phân biệt. Đâu là thật, đâu là giả? Nhà cửa tài sản của quí vị là giả, thân là giả, quí vị lưu luyến những thứ này làm gì? Ngày nay chúng ta gặp được Kinh Vô Lượng Thọ đệ nhất chân thật trong Phật pháp. Học kinh Vô Lượng Thọ có thể vắng mặt không? Bỏ mạng tôi cũng không thể vắng học. Chúng ta trong đời này mới có thể khế nhập cảnh giới, vãng sanh mới có phần nắm chắc, vãng sanh chính là thành Phật rồi. Cho nên trong lục đạo chúng sanh cái gì là đáng quí nhất? Điều Phật cho chúng ta là đáng quí nhất, số người biết được ít quá. Cảnh giới hiện tiền vẫn bị cảnh giới chuyển, người như vậy chiếm tuyệt đại đa số, tôi cũng là người như vậy. Tôi làm sao có thể giữ vững để không bị cảnh giới chuyển? Luôn thận trọng, sức mạnh bên ngoài lớn lắm, lớn lắm. Thực sự biết trì giới, thực sự biết chịu khó, tôi tình nguyện suốt đời này chịu khổ, tôi đến Thế giới Cực Lạc sẽ không còn chịu khổ nữa. Suốt đời này nếu như tôi không nhẫn nại được, vẫn còn muốn hưởng thụ, thì khổ trong lục đạo luân hồi phải chịu rồi. Sự thực này bày ra trước mắt, quí vị phải nhìn cho rõ. Quí vị không nhìn rõ thì chịu thiệt là quí vị thôi, không phải là người khác. Quí vị chịu khổ nơi ác đạo, không ai có thể thay thế quí vị. Chỉ có một cách là ngày ngày không rời Phật A Di Đà, ngày ngày không rời kinh giáo, ở nơi này chúng ta không nên chấp trước, đều buông xả hết. Đối với kinh giáo, đối với Phật A Di Đà chắc chắn phải chấp trì, phải chấp trước, phải duy trì. Đời này chúng ta liền được độ. Cuộc sống hiện tại cứ mặc nó. Có ăn thì ăn, có mặc thì mặc, không có ăn, không có mặc thì đến Thế giới Cực Lạc, nhất định không phân biệt chấp trước, nhất định không khởi tâm động niệm, thì tâm là định.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú 
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt






Con thắc mắc rằng khi trong gia đình mình có người thân không may qua đời, con cháu trong nhà thường nguyện cho ông bà hay cha mẹ sớm được tái sinh về miền Cực Lạc hay cõi lành. Ấy vậy mà mỗi năm đến ngày giỗ thì con cháu trong nhà lại nguyện cho cha mẹ ông bà quá vãng về ăn cỗ với con cháu. Con thấy khó hiểu vì lúc mới mất thì muốn cho ông bà mình sớm tái sinh về cõi lành, nhưng ngày giỗ lại muốn ông bà về với con cháu? Nếu đã tái sinh thì làm sao ông bà cha mẹ mình về lại được? Vậy có phải là 2 lời nguyện có chút gì đó trái ngược với nhau không ạ?
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kinh thưa bạn Phượng,
Minh Đạo xin được đưa ra ý kiến riêng về vấn đề bạn thắc mắc như sau. Minh Đạo chia câu hỏi ra làm 2 phần để quán:
+ Tại sao khi người thân qua đời thì người nhà nguyện người đó được tái sinh về miền Cực Lạc hoặc cõi lành. Nhưng đến lúc thờ cúng lại nguyện/mời người đó về ăn cỗ ?
+ Nếu đã tái sinh thì khi cúng giỗ và được mời về thì người đó có về được không ?
I. NGUYÊN NHÂN LÚC NGUYỆN NGƯỜI MẤT TÁI SANH VỀ CÕI LÀNH – LÚC THỜ CÚNG LẠI MỜI VỀ
Minh Đạo đã quán xét như sau: Để trả lời được câu hỏi này thì cần phải xét đến tâm người thực hiện việc NGUYỆN, THỜ CÚNG này để tìm nguyên nhân tại sao họ lại có các hành động như thế
1. TH1: Thiện tâm, Hợp trí, Vô trợ (Tự giác, Có trí tuệ)
– Nghĩa là người này hiểu rõ về Nghiệp và Tái sinh. Họ tự nguyện/ muốn làm lễ với tâm hoan hỷ, kính trọng.
– Nguyên nhân họ làm như bạn hỏi có thể là:
+ Nguyện người mất tái sinh cõi lành: Vì người này có Tâm Từ mong ông bà an vui
+ Làm giỗ và mời về: Họ hiểu rõ ông bà Có thể hoặc Không thể về ăn theo nghĩa đen. Tuy nhiên, họ vẫn làm mâm cỗ và khấn mời như một phương tiện (Tục đế) để Biểu lộ lòng tri ân, tưởng nhớ và Nhắc nhở con cháu sum họp.
– Tác ý của họ khả năng là như này: Trong thâm tâm, họ không nghĩ là đang mời ông bà ăn, mà họ tác ý rằng: “Con xin dâng vật thực này đến Tam Bảo/người giới đức. Xin hồi hướng phước báu này đến ông bà. Nếu ông bà là Chư Thiên, xin hãy hoan hỷ; nếu là Ngạ quỷ, xin nương phước này mà no đủ”.
2. TH2: Thiện tâm, Hợp trí, Hữu trợ (Cần tác động, Có trí tuệ)
– Người này có hiểu biết đúng đắn như trường hợp người 1, nhưng có thể do tính họ thụ động, lười biếng hoặc bận rộn, cần người nhà nhắc nhở, thúc giục hoặc do nghĩ rằng đây là phong tục tập quán cần làm.
– Nguyên nhân họ làm như bạn hỏi có thể là: Để giữ hòa khí gia đình và thực hiện phận sự người con,…
3. TH3: Thiện tâm, Ly trí, Vô trợ/Hữu trợ (Tự giác làm/Cần tác động, Chưa có trí tuệ biết rõ việc này)
Minh Đạo nghĩ đây là trường hợp phổ biến nhất và là nguyên nhân chính gây ra sự khó hiểu mà bạn thắc mắc.
– Nghĩa là người này Người con rất có hiếu, thương kính ông bà (Tâm sở Vô sân, Tín). Rất nhiệt tình cúng kiếng có thể do 2 trường hợp Họ tự nguyện muốn làm lễ với mục đích thiện ý nào đó (để người mất về chung vui, sum họp, để người mất ăn cơm bày ra,…) hoặc Họ không chủ động làm (họ lười hoặc bận nhưng làm vì thấy đó là văn hóa hoặc được yêu cầu làm hoặc nghĩ là làm cho có, để giữ hòa khí gia đình hoặc thực hiện bổn phận người con trong nhà,…). Nhưng họ không hiểu, không có trí tuệ biết rõ về Nghiệp và Tái sinh (các cõi tái sinh, các vật thực từng cõi,…)
– Nguyên nhân họ làm như bạn hỏi có thể là:
+ Nguyện người mất tái sinh cõi lành: Vì người này có Tâm Từ mong ông bà an vui về cõi lanh, Cực Lạc
+ Làm giỗ và mời về: Có khả năng họ nghĩ theo một trong 3 hướng hoặc cả 3 hướng:
* Họ tư duy theo tính trạng của họ ở cảnh họ đang sống: “Sống sao chết vậy, mình đói thì ông bà cũng đói”
* Họ đồng có 2 niềm tin trái ngược: Vừa tin ông bà đã siêu thoát, vừa tin ông bà vẫn là linh hồn lẩn khuất đâu đây cần về ăn uống.
* Họ có niềm tin rằng: Mời ông bà về để chung vui, liên hoan cùng con cháu, và để thổ lộ tâm sự với ông bà những sự khó khăn và mong muốn được hỗ trợ.
4. TH4: Ác tâm
– Trong trường hợp này, việc cúng giỗ không vì người mất mà vì phiền não của người sống.
– Tâm Tham – Hợp Tà Kiến: Cúng mâm cao cỗ đầy, mời về ăn không phải vì thương ông bà đói, mà là để cầu xin nhiều việc làm sai trái. Mời ông bà về ăn no rồi phù hộ cho con trúng số, buôn may bán đắt. Họ thực tâm không muốn ông bà đi đâu cả, muốn ông bà ở lại loanh quanh để làm thần giữ nhà. Ý muốn nhắc đến lợi dụng người đã khuất.
– Tâm Sân (Dosa) – lo sợ: Cúng vì sợ hãi, lo lắng. “Phải cúng không các cụ về quở trách, bắt phạt”. Động lực làm lễ là nỗi sợ (Sân) chứ không phải tình thương. Hành động mời về là để trấn an nỗi sợ của chính mình.
II. NẾU ĐÃ TÁI SINH THÌ KHI CÚNG GIỖ ĐƯỢC MỜI VỀ CÓ VỀ ĐƯỢC KHÔNG
Trước tiên Minh Đạo thấy cần làm rõ và rành mạch từ “VỀ”, tạm thời ở đây Minh Đạo hiểu ý bạn Phượng có thể là: Người mất hiện diện gần/trên ban thờ, xung quanh nhà, gần nhà, có thể hoặc không thể tương tác được,… khi được mời về hoặc ở sẵn nơi đó.
Minh Đạo đã quán xét như sau: Để trả lời được câu hỏi này thì cần phải xét đến 4 trường hợp:
+ NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước và VỀ ĐƯỢC
+ NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước và KHÔNG THỂ VỀ
+ KHÔNG NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước nhưng VỀ (sẵn ở đó hoặc về khi được mời)
+ KHÔNG NHỚ ĐƯỢC và KHÔNG THỂ VỀ
1. TH1: NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước và VỀ ĐƯỢC
– Nghĩa là người mất nhớ về kiếp trước, về con cháu kiếp trước, và cho rằng đây là dòng họ của mình, đây là bà con của mình. Và người mất có khả năng về được
– Có thể Họ là chúng sanh Hóa sanh (Opapātika), sinh ra là có thân tướng đầy đủ ngay, không qua bào thai, nên ký ức kiếp trước thường còn nguyên vẹn. Họ biết rõ: “Đây là nhà cũ của tôi, kia là con cháu tôi”.
– Người mất khả năng có thể ở các cảnh giới:
+ Địa cư thiên: Những vị thiên/ thần nương ở cây cối, đất đai, nhà cửa,…
+ Ngạ quỷ: Ở đây lại có thể có 2 trường hợp:
* Có thể là Paradattupajīvika-peta (Ngạ quỷ sống nhờ vật thực người khác hồi hướng).
* Ngạ quỷ có oai lực: Họ có lâu đài/miếu thờ riêng, hưởng được sự cúng dường nhưng vẫn còn tâm dính mắc
+ Dạ xoa: là chúng sinh có oai lực, có tính bảo vệ lãnh thổ cao, …
+ Không phải người đã mất: Nghĩa là một chúng sinh lạ mặt ở cõi có oai lực, NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước và biết rằng nhà này không phải con cháu đời trước của họ. Họ nương gá gần nhà hoặc do duyên đi ngang qua, có thần thông (có thể là Tha Tâm Thông) đọc được ký ức/hình ảnh trong tâm trí của người sống để biết người mất ngày xưa trông thế nào, tính cách ra sao. Sau đó họ biến hiện hình dáng y hệt để thọ hưởng đồ cúng hoặc sự tôn kính hoặc sự hồi hướng,… (hoặc một loại thần thông khác)
2. TH2: NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước và KHÔNG THỂ VỀ
– Nghĩa là người mất biết rõ mình là ai trước khi mất như ở trường hợp 1 nhưng không về được do điều kiện cảnh giới ngăn cách
– Ở đây có khả năng có 2 trường hợp người mất ở cảnh giới:
+ Địa ngục: Người mất đang chịu quả của nghiệp ác dưới địa ngục, họ nhớ về do nghiệp tái hiện hoặc do được nhắc nhở. Nhưng không thể về do nghiệp lực khóa chặt
+ Chư thiên ở cõi cao & Phạm Thiên: Do có thiên nhãn và trí tuệ sáng suốt nên họ nhớ rõ tiền kiếp. Nhưng không về được vì có thể 2 lý do:
* Do sự chênh lệch thời gian: Ở nhiều cõi cao có thể xảy ra việc họ vừa dạo xong 1 buổi sáng thì ở trần gian con cháu đã qua đời hết rồi.
* Sự bất tịnh: Cõi người đối với chư thiên rất bất tịnh. Họ đang hưởng hỷ lạc vi tế nên không có nhu cầu quay lại ngửi mùi thức ăn trần tục hay về thăm chốn cũ.
3. TH3: KHÔNG NHỚ ĐƯỢC con cháu đời trước nhưng VỀ
– Trường hợp này đặc biệt, người mất không nhớ nhưng lại về (đi về hoặc ở ngay tại đó)
– Ở đây có khả năng có 2 trường hợp người mất ở cảnh giới:
+ Bàng sanh: Chó, mèo, con vật,… sinh ra trong nhà hoặc loanh quanh nhà cũ. Do tâm luyến ái với tài sản, nhà cửa hoặc quá thương con cháu một cách si mê lúc lâm chung. Ái lực này hút thần thức tái sinh vào bụng con vật đang mang thai ngay tại ngôi nhà đó. Ở phần này thì hiểu về (nghĩa là họ đã ở đó). Nhưng họ không nhớ được con cháu vì tâm tục sinh của loài bàng sanh là Tâm quan sát-thọ xả-quả bất thiện. Tâm này của họ yếu và bị si mê che lấp, phần lớn hành động theo bản năng và tập khí. Con vật có thể quấn quýt chủ (con cháu) vì cảm giác thân thuộc từ kiếp trước, nhưng không có tư duy, nhận biết: “Tôi là ông nội của anh đây”
+ Một chúng sinh ở cõi nào đó về (ở gần đó hoặc đi ngang qua hoặc hiện diện hoặc hạ xuống tại nơi đó) do nghiệp lực quá khứ (duyên với người thờ cúng hoặc gia đình). Họ có thể là người mất hoặc một người lạ nhưng họ không có khả năng nhớ được tiền kiếp (con cháu), nhưng họ vẫn về thọ hưởng
4. TH4: KHÔNG NHỚ ĐƯỢC và KHÔNG THỂ VỀ
– Nghĩa là người mất không nhớ và cũng không về. Khả năng họ Tái sinh làm Người hoặc Bàng sanh ở nơi xa. Do Thai sinh – Sự mê mờ khi nằm trong tử cung (cách ấm) hoặc cấu trúc não bộ mới chưa phát triển khiến đa số quên tiền kiếp. Họ cũng không về do nhiều lý do (xa cách địa lý,…)
– Lúc này, việc cúng bái của con cháu đời trước không tác động đến việc VỀ của họ. Họ sống theo nghiệp mới của họ.
=====
Đến đây là Minh Đạo thấy còn quá nhiều khả năng có thể xảy ra về vấn đề này, nhưng do giới hạn về thân và trí nên không thể quán thêm được nữa. Hoàn toàn là tư kiến giải của Minh Đạo dựa theo những gì được học và hành. Không phải là chân lý. Kính mong bạn Phượng tham khảo. Còn có chỗ chưa được đúng pháp, Mong đạo hữu và chư vị Thiện Tri thức Hoan Hỷ Chỉ Bảo. Minh Đạo luôn trong trạng thái cầu thị muốn nghe.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!