Trong Tín Tâm Lục có ghi lại câu chuyện như sau:
“Ông Lưu Sơn Anh phát tâm quỳ tụng Kinh Quán Âm và chú Chuẩn Đề cầu cho mẹ khỏe mạnh, sống lâu. Lúc đầu ông cảm thấy trong mình mệt nhọc, lại thêm đau chân không nhẫn được, bụng bảo dạ rằng: “Mẹ ta bị bệnh đàm hỏa, dù tụng Kinh e chưa chắc đã lành được!”, nên ông có ý thối tâm. Về sau lại suy nghĩ lời Khổng Tử đã nói:“Không bền chí, không thể làm Thầy thuốc!” Làm Thầy thuốc mà không bền chí còn không được thay, huống chi là tu niệm! Vì thế ông tự phấn phát cố gắng lên. Ngoài việc tụng Kinh ra, ông còn làm thêm những việc phước thiện khác, như: bố thí, phóng sanh, cứu giúp những người nghèo khổ bệnh tật… để hồi hướng cho thân mẫu. Nhưng lâu ngày bệnh trạng không những chẳng nhẹ bớt mà lại thấy càng nặng hơn. Một hôm bà mẹ gọi ông đến, bảo:
– Bệnh của mẹ đã hơn ba mươi năm nay chữa trị thuốc thang cũng đã cùng khắp mà không hết, khi tăng khi giảm. Nay con thay thế mẹ quỳ tụng Kinh, bệnh hiện tại lại càng thêm trầm trọng, e rằng do mẹ phước mỏng nghiệp dầy nên không thể tiêu nổi. Thôi con nên ngừng việc tụng Kinh là tốt hơn!
Ông liền thưa với mẹ rằng:
– Có lẽ vì con chưa tận lòng chí thành, niệm nghi ngờ chưa trừ hết chăng? Xin mẹ cứ yên tâm!
Khi đó ông liền đốt hương, cúi đầu quỳ trước Phật khóc lóc xin thề dứt trừ lòng nghi ngờ, cầu cho mẹ tật bệnh được tiêu trừ. Đêm ấy ông nằm mộng gặp Đức Quán Âm Bồ Tát đi đến nắm tay dắt mẹ mình cùng ngồi và trao cho bà một chén nước bảo bà uống. Sáng dậy thấy bệnh lành hơn một nửa. Qua vài ngày sau hoàn toàn dứt hẳn. Cố tật trên 30 năm, trong một giờ thảy đều tiêu diệt!”

Qua câu chuyện trên, nhận thấy yếu tố “lòng thành” đối với người tu Tịnh độ như chúng ta mà nói, thì nó đóng một vai trò trọng yếu đưa đến kết quả mỹ mãn của việc tu niệm hành trì, gần thì tai qua nạn khỏi bệnh tật tiêu trừ, khổ đau dứt sạch; xa thì vãng sanh Tây Phương vĩnh viễn thoát vòng sống chết luân hồi, nhanh chóng bước lên quả vị Vô Thượng Bồ Đề. Hai chữ “lòng thành” hay “thành lòng” này, có rất nhiều từ tương đương đồng nghĩa, như: chí thành cung kính, thành tâm, chí tâm, nhất tâm, chân tâm, thật tâm, thật lòng, một lòng, dốc lòng… Những ai có bản tính hiền lành, thật thà, chất phác, bụng nghĩ sao thì miệng nói vậy, không sợ chê cười, chẳng màng thua thiệt, sẵn sàng nhường phần cho người, hoàn toàn không tính toán so đo, hay cân nhắc lợi – hại, được – mất… thì chư cổ đức cho đây là pháp khí, là vật báu trong Phật môn, các Ngài vô cùng trân quý, luôn quan tâm chiếu cố đến và đầu tư thời gian cũng như công sức giáo dưỡng nhiều hơn, bởi vì vị ấy có được “tâm thành”.
Ấn Quang Đại Sư dạy: “Muốn hưởng được thực sự lợi ích từ Phật pháp, phải cầu nơi cung kính. Có một phần cung kính sẽ tiêu được một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính sẽ tiêu được mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ. Nếu chẳng cung kính đến nỗi khinh mạn thì tội nghiệp càng tăng, phước huệ càng giảm”.

Một cư sĩ ở Vĩnh Gia viết thư cầu Đại Sư truyền cho bí pháp để dụng công tu trì, Ngài trả lời: “Nếu có bí quyết truyền thọ riêng nơi chỗ ẩn khuất tức là tà ma ngoại đạo, không phải Phật pháp. Nhưng Ấn Quang thật cũng có chỗ diệu quyết chỉ riêng mình được, nay nhân cư sĩ thỉnh cầu, không ngại gì đem ra bày tỏ với các hàng Phật tử trong thiên hạ. Diệu quyết ấy là gì? Là chí thành, là cung kính. Điều này cả thế gian đều biết, nhưng đạo lý chí thành cung kính này thì cả thế gian đều mê muội! Ấn Quang do muốn tiêu trừ tội nghiệp sâu nặng và báo đáp ân Phật, hằng để ý tìm cầu gương sáng tu trì của cổ đức, nên được biết rằng chí thành cung kính là bí quyết rất mầu để vượt phàm lên Thánh, thoát nẻo luân hồi. Mấy điểm này, đối với những người hữu duyên tôi đã thường thường khuyên nhắc. Nên biết thành kính không phải chỉ để riêng cho người học Phật, mà tất cả mọi việc nếu muốn được tinh nhất, phải lấy đây làm nền tảng”. Khi Đức Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa phản thầy lừa bạn, phá hòa hợp tăng đoàn, làm thân Phật ra máu, xúi giục A Xà Thế giết cha hại mẹ, ám sát Đức Thế Tôn… Vậy mà trong cái nhìn của bậc chân tu thì ông là một vị Đại Bồ Tát (Bồ Tát Nghịch Hạnh), thành tựu quả Bồ-đề nhanh chóng cho những ai hướng về nẻo xuất thế, siêu phàm nhập Thánh! Vì thế “lòng thành” được xem là đôi cánh của chim đại bàng tha hồ bay lượn giữa bầu trời an lạc hạnh phúc xanh thẳm bao la; là cá kình to lớn thong dong bơi lội trong biển cả Phật pháp sâu rộng mênh mông; là chìa khóa để mở tung cánh cửa giải thoát, vĩnh viễn dứt sạch trần lao khổ lụy!

Nếu đời sống hằng ngày của hành giả niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ có được lòng thành kính, thì niềm tin tự nhiên sẽ sâu, chí nguyện vãng sanh tự nhiên sẽ thiết, hiện tại thân tâm của mình luôn yên bình hạnh phúc vô tận vô biên, lòng luôn thanh tịnh tràn đầy an lạc; mà thanh tịnh an lạc là hoa thơm, vãng sanh Cực Lạc thế giới là quả ngọt:
Hoa báo hiện tiền nơi cõi mộng,
Mai sau quả báo ngự liên đài!
Nhóm liên hữu Miền Nam Đất Việt







Đọc câu chuyện này mới thấy: tu hành mà muốn có kết quả, ngoài tụng kinh niệm Phật ra, còn phải có một món “gia vị” rất quan trọng, đó là chí thành cung kính. Thiếu món này thì công phu dễ giống như nấu canh mà quên bỏ muối: nhìn thì có vẻ đủ nghi thức, nhưng nếm vào thấy hơi nhạt.
Ông Lưu Sơn Anh lúc đầu cũng đâu phải vừa quỳ xuống là tâm kiên cố như núi Thái Sơn. Ông cũng mệt, cũng đau chân, cũng khởi nghi: “Không biết tụng vậy mẹ có hết bệnh không?” Nói thật, tâm phàm phu chúng ta cũng y như vậy. Mới niệm Phật được vài câu mà chân tê một chút là trong lòng đã bắt đầu thương lượng: “Hay là hôm nay Phật từ bi cho con ngồi niệm cũng được?” Ngồi được một lát lại nghĩ: “Hay là nằm niệm cho dễ nhiếp tâm?” Rồi nằm xuống một hồi thì… nhiếp luôn vào giấc ngủ.
Cho nên người tu Tịnh Độ chúng ta đừng xem nhẹ hai chữ thành kính. Công phu hằng ngày có thể chưa nhiều, thời khóa có thể chưa dài, nhưng mỗi câu A Di Đà Phật nên cố gắng niệm cho thật lòng. Vọng tưởng nổi lên thì biết mình đang vọng tưởng, rồi nhẹ nhàng kéo tâm về lại câu Phật hiệu. Đừng vì một chút mỏi chân, buồn ngủ, chán nản mà thối lui. Cái chân đau một chút rồi cũng hết, nhưng tâm thành nếu giữ được thì lợi ích lâu dài.
Nếu vừa niệm Phật vừa tính chuyện hơn thua, vừa lạy Phật vừa liếc điện thoại, vừa tụng kinh vừa mong mau hết trang… thì cũng nên tự nhắc mình: “Tâm ơi, trở về đi, đừng có đi du lịch khắp tam thiên đại thiên thế giới nữa!”
Đoạn buồn cười (mà cũng cảm động) nhất có lẽ là lúc ông Lưu đang cố gắng hết sức cày “KPI phước báu” cho mẹ, thì mẹ ông gọi lại bảo: “Thôi con ơi, ngừng giùm mẹ, con tụng xong mẹ bệnh nặng hơn!”.
Gặp người bình thường ở tình huống này, chắc chắn sẽ giận dỗi kiểu: “Con làm đến đau cả gối mà mẹ còn nói thế à? Thôi con dỗi, không tụng niệm gì nữa!”. Hoặc đổ thừa do phương pháp sai. Nhưng ông Lưu lại có một pha “quay xe” đi vào lòng người: Ông nhận hết lỗi về mình (“Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”), do mình chưa đủ lòng thành, cầu xin chưa đủ “đô”. Chính sự tự trách nhiệm này đã đánh thức “Wi-Fi tâm linh”, kết nối thẳng tới trạm phát sóng của Quán Thế Âm Bồ Tát và tạo ra phép màu.
Cư sĩ ở Vĩnh Gia viết thư xin Đại sư Ấn Quang truyền cho “bí pháp ẩn khuất” – nghe như đang xin bí kíp võ công thất truyền trong phim kiếm hiệp, kiểu “Tuyệt đỉnh công phu” hay “Cửu âm chân kinh”.
Và Tổ Ấn Quang đã trả lời bằng một cú “twist” vô cùng phũ phàng nhưng chân lý: Bí quyết là chẳng có bí quyết nào cả! Nó chỉ gói gọn trong 4 chữ: Chí Thành, Cung Kính.
Lời dạy của Ngài giống như một gáo nước lạnh tạt vào thói quen thích tìm đường tắt của con người. Chúng ta hay thích những thứ cao siêu, huyền bí, mật chú này nọ, nhưng lại quên mất bài học vỡ lòng: Phải ngoan, phải chân thành và bớt cái tôi kiêu ngạo lại. Giống như bạn đi xin bí quyết nấu ăn của siêu đầu bếp, tưởng họ sẽ chỉ cho loại gia vị quý hiếm ngàn năm trên đỉnh Hymalaya, ai dè họ bảo: “Bí quyết là dùng muối và nấu bằng cả trái tim!”.
Chư Phật không có máy chấm công để đo xem bạn quỳ bao nhiêu tiếng hay đọc bao nhiêu trang sách. Các Ngài dùng “máy đo nhịp tim” để xem bạn có thực sự chân thành hay không. Chân thành thì việc nhỏ cũng thành đại công đức, còn làm cho có lệ thì chỉ tổ… mỏi gối mà thôi!