Triều nhà Đường trong niên hiệu Trinh Quán, ở tại huyện Hòa Xuyên tỉnh Thiểm Tây, Vương Hoàng Chi có một người con gái gả cho một người tên Thôi Quỹ ở Bắc Lăng.
Một ngày nọ, Quỹ bị bệnh rồi chết ở Hòa Xuyên, khoảng vài chục ngày sau thì Vương Hoàng Chi nằm mộng thấy Thôi Quỹ đến nói rằng: “Con là Thôi Quỹ, đúng lý ra thì không nên lập bài vị thờ ở nhà vợ nhưng vì khổ nổi con không nơi nương tựa nên xin cha mẹ vui lòng để bài vị của con tạm nương tựa nơi đây thời gian ngắn, con xin đa tạ thâm ân cha mẹ và vợ con.” Vợ của Thôi Quỹ y theo lời khẩn cầu của người chồng quá cố, thiết lập bài vị thờ trong nhà, sáng chiều đem đồ ăn uống cúng.

Xin cha mẹ vui lòng để bài vị của con tạm nương tựa nơi đây thời gian ngắn, con xin đa tạ.
Đêm Thôi Quỹ lại hiện về trong mơ, cầu xin đừng cúng các thức ăn thịt cá, động vật, chỉ xin cho mình các thứ trai phẩm, lại khuyên răn mọi người trong nhà nên Lễ Phật, tụng Kinh và nói rõ các sự việc diễn ra trong địa ngục. Thôi Quỹ khuyến hóa mọi người rằng: “Ai cũng chỉ có một đời ngắn ngủi, ít có ai tránh khỏi sát sanh và bất hiếu, hai thứ tội ấy là nặng nhất còn các tội khác thì có phần nhẹ hơn. Về phần con, dù không tạo tội nhưng phải nhờ người khác làm phước để tương trợ cho vong linh mới được siêu thăng, nên cúi xin cha mẹ và vợ con thiết lập trai phẩm, cúng dường chư Tăng và nhờ chư Tăng tụng Kinh niệm Phật, bái sám cùng in ấn ba thứ kinh là Pháp Hoa, Kim Cang và Phổ Môn, mỗi thứ ba bộ, hồi hướng công đức cho con.”

Xin đừng cúng các thức ăn thịt cá, động vật, chỉ xin cho mình các thứ trai phẩm.
Nhà họ Vương nhất nhất nghe theo lời của Thôi Quỹ thực hành. Sau khi làm lễ trai tăng và ấn tống Kinh xong thì đêm đó, Thôi Quỹ lại hiện về tạ ơn rồi nói: “Thưa Cha Mẹ, từ nay về sau, Thôi Quỹ xin từ biệt không còn lui tới nữa. Khi con qua đời có để lại đứa con trong bụng của vợ con, đứa trẻ giờ đã 5 – 6 tháng tuổi, đứa trẻ này chắc chắn có danh vị, xin Mẹ của nó khéo léo nuôi dưỡng cho chu đáo.” Cả nhà nghe Thôi Quỹ nói ai cũng động lòng thương xót, từ ấy về sau Thôi Quỹ không hề trở lại nữa.
Trích Pháp Uyển Châu Lâm Tập






Có lẽ tui xem phim Hồng Kông lúc xưa hơi nhiều, nên giờ khi đọc kinh tới chỗ Thiện Tài Đồng Tử trong Kinh Pháp Hoa đi tham vấn 53 vị thiện hữu tri thức để cầu học pháp môn, tôi nghĩ trong đầu chữ “đồng tử” chắc là một cậu bé khoảng mười tuổi trở lại. Nhỏ như vậy mà đã biết đi cầu đạo giải thoát thật hiếm thấy trên thế gian. Cuối cùng Thiện Tài chọn pháp môn nào?Không biết chữ “đồng tử” ở đây tui nghĩ như vậy có đúng ý trong kinh không hay còn có ý nghĩa khác? Thiện Tài Đồng Tử là ai mà giỏi như thế? Xin vui lòng chỉ dạy.
Dạ, anh Long Xích Lô ơi, chắc ngày xưa anh xem phim Hồng Kông hơi nhiều, nên bây giờ cứ đọc đến bốn chữ “Thiện Tài Đồng Tử” là trong đầu anh lập tức hiện ra một cậu bé chừng mười tuổi, tóc chỏm, chân đi dép, tay ôm quyển kinh, chạy lon ton đi tìm thầy học đạo. Nghĩ thế cũng đáng yêu lắm ạ, nhưng em xin phép nhẹ nhàng kéo anh ra khỏi màn ảnh Hồng Kông một chút nhé, kẻo lát nữa Thiện Tài Đồng Tử trong đầu anh lại thành nhân vật phim kiếm hiệp thì oan cho Ngài quá!
Trước hết, em xin đính chính một chi tiết nhỏ xíu thôi ạ. Câu chuyện Thiện Tài Đồng Tử đi tham vấn 53 vị thiện tri thức nằm trong Kinh Hoa Nghiêm, cụ thể là phần Nhập Pháp Giới, chứ không phải Kinh Pháp Hoa. Còn chữ “đồng tử” ở đây cũng không nên hiểu đơn giản rằng Thiện Tài nhất định là một cậu bé mười tuổi trở xuống. Trong văn cảnh này, “đồng tử” có thể chỉ một người trẻ tuổi, đồng thời gợi lên hình ảnh một tâm hồn trong sáng, chất phác và có chí nguyện cầu đạo. Điều đáng quý nhất nơi Thiện Tài không phải là Ngài nhỏ bao nhiêu tuổi, mà là tuổi còn trẻ mà chí nguyện cầu Vô thượng Bồ-đề đã lớn lao đến nhường nào.
Thiện Tài là một người phát tâm cầu đạo rất chân thành. Ngài mong cầu Vô thượng Bồ-đề nên tìm đến các bậc thiện tri thức để học hỏi. Vị thiện tri thức đầu tiên Ngài tham vấn là Tỳ-kheo Đức Vân, trong Tứ Thập Hoa Nghiêm gọi là Tỳ-kheo Cát Tường Vân. Và anh Long ơi, điều rất đáng chú ý là ngay vị thiện tri thức đầu tiên này đã chỉ dạy Thiện Tài pháp môn Niệm Phật. Ngài tu pháp Ban Châu Tam-muội, chuyên niệm Phật và hướng tâm về Phật A Di Đà, cầu sanh Tịnh Độ.
Một người trẻ phát tâm cầu Vô thượng Bồ-đề, vị thiện tri thức đầu tiên lại chỉ dạy pháp môn Niệm Phật. Rồi Thiện Tài tiếp tục lên đường, lần lượt tham vấn các thiện tri thức khác, học rất nhiều pháp môn, rất nhiều hạnh nguyện và rất nhiều phương diện tu hành. Nhìn như vậy mới thấy Phật pháp rộng lớn đến nhường nào. Mà em thích nhất ở Thiện Tài là cái tâm chịu học của Ngài. Gặp người giỏi thì cung kính hỏi. Nghe được pháp hay thì chân thành tiếp nhận. Học xong một vị lại tiếp tục lên đường, không có chuyện mới biết được một chút đã nghĩ mình “ngộ” hết cả thiên hạ. Gặp người xuất gia thì học, gặp cư sĩ thì học, gặp trưởng giả thì học, gặp người nữ cũng học. Chỉ cần có điều hay để chỉ dạy thì Ngài đều cung kính.
Nói vui với anh Long một tí nhé, nếu ngày nay có một người chịu khó đi tham vấn 53 vị thiện tri thức như Thiện Tài thì chắc em phải chạy theo phía sau xách hộ hành lý mất ạ. Người ta ngày nay đôi khi đọc được vài quyển sách đã thấy mình đủ sức tranh luận với tất cả mọi người, còn Thiện Tài càng học nhiều lại càng khiêm cung. Cái ấy mới thật sự đáng quý.
Người thật sự cầu đạo không đi tìm thiện tri thức để chứng minh mình đúng. Người ấy đi tìm thiện tri thức để biết mình còn thiếu điều gì, còn sai ở đâu và phải tu sửa thế nào. Cho nên Thiện Tài Đồng Tử đáng kính không chỉ vì Ngài thông minh, mà còn vì Ngài có một tấm lòng cầu đạo chân thành và khiêm nhường.
Rồi sau một hành trình rất dài, Thiện Tài gặp vị thiện tri thức cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát. Anh Long ơi, đến đây cho em được nghiêm túc một chút nhé, bởi vì đoạn này đối với người tu Tịnh Độ chúng ta đặc biệt đáng suy ngẫm.
Phổ Hiền Bồ Tát là bậc Đẳng Giác Bồ Tát, địa vị tu chứng đã vô cùng cao, chỉ còn một đời nữa là thành Phật. Một vị Bồ Tát như thế mà khi giáo hóa Thiện Tài lại dùng Thập Đại Nguyện Vương để chỉ dạy, và trong phần hồi hướng cuối cùng lại phát nguyện được thấy Phật A Di Đà, được vãng sanh về cõi An Lạc.
Anh Long thử nhìn lại cả hành trình mà xem ạ. Vị thiện tri thức đầu tiên là Tỳ-kheo Đức Vân, hay Cát Tường Vân, chỉ dạy pháp môn Niệm Phật. Vị thiện tri thức cuối cùng lại là Phổ Hiền Bồ Tát, một bậc Đẳng Giác sắp thành Phật, dùng Thập Đại Nguyện Vương hồi hướng về Cực Lạc. Ôi, Thu Hoa Sữa đọc đến đây mà lòng không khỏi chùn lại anh ạ.
Một vị Đẳng Giác Bồ Tát, chỉ còn một đời nữa là thành Phật, mà còn phát nguyện thấy Phật A Di Đà, vãng sanh cõi An Lạc. Vậy mà chúng ta là những phàm phu, nghiệp chướng còn nhiều, phiền não còn đầy, hôm nay người ta nói một câu hơi trái tai là trong lòng đã “lăn tăn” cả buổi, thế mà đôi khi lại rất tự tin bảo: “Tôi chẳng cần cầu sanh Cực Lạc đâu, tôi tự tu được!” Em nghe mà chỉ muốn kéo nhẹ tay áo người ấy rồi thủ thỉ: “Anh chị ơi, mình khiêm tốn một tí đi ạ. Các Ngài tu đến bậc ấy còn phát nguyện như vậy, mình đừng vội tự tin quá kẻo đường về nhà còn chưa nhớ mà đã đòi tự lái máy bay!”
Phổ Hiền Bồ Tát có bài kệ phát nguyện rất nổi tiếng:
“Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại
Diện kiến bỉ Phật A Di Đà
Tức đắc vãng sinh An Lạc sát.”
Nghĩa là khi con sắp mạng chung, nguyện trừ sạch hết thảy chướng ngại, được thấy Phật A Di Đà trước mặt, liền được vãng sanh về cõi An Lạc.
Cho nên chúng ta là phàm phu thì càng nên học hỏi và noi theo gương hai Ngài. Học Thiện Tài ở cái tâm chân thành cầu đạo, biết khiêm cung, biết tìm thiện tri thức, biết lắng nghe và học hỏi. Học Phổ Hiền Bồ Tát ở hạnh nguyện rộng lớn, ở tâm hồi hướng và ở nguyện cầu sanh Cực Lạc.
Vậy anh Long hỏi “Thiện Tài Đồng Tử là ai mà giỏi thế?” thì em xin thưa rằng cái giỏi của Thiện Tài không chỉ nằm ở trí thông minh. Cái giỏi lớn nhất là Ngài biết mình muốn gì. Ngài muốn cầu Vô thượng Bồ-đề. Đã muốn thì tìm đường. Tìm được thiện tri thức thì cung kính học. Học xong lại thực hành. Đấy mới là cái giỏi thật sự. Nhưng điều rất đáng chú ý đối với người tu Tịnh Độ là ngay vị thiện tri thức đầu tiên, Ngài đã được chỉ dạy pháp môn Niệm Phật; đến cuối hành trình, Phổ Hiền Bồ Tát lại dùng Thập Đại Nguyện Vương hồi hướng về Cực Lạc.
Cho nên mình có thể học rộng mà không cần tu tán loạn. Mình có thể kính trọng tất cả các pháp môn, học hỏi giáo lý Đại thừa, nhưng nếu bản thân đã có tín tâm đối với Tịnh Độ và đã phát nguyện cầu sanh Tây Phương thì cứ giữ tín nguyện cho vững, niệm Phật cho chuyên.
Em hay nói vui thế này anh ạ: Phật pháp giống như một biển lớn, mình có thể đứng bên bờ mà kính ngưỡng cả biển, có thể học hỏi rất nhiều điều về biển, nhưng nếu mình đã chọn chiếc thuyền Niệm Phật để vượt biển sinh tử thì cứ chèo cho chắc tay. Chứ hôm nay chèo thuyền, mai nhảy sang bè, ngày kia lại thấy chiếc phao bên kia đẹp quá rồi bơi sang, đến cuối cùng mình đứng giữa biển mà hỏi “Ơ, thuyền của em đâu rồi?” thì cũng hơi muộn rồi!
Người tu Tịnh Độ không nên kiêu mạn, nói rằng pháp môn mình tu là đệ nhất để rồi coi thường những người tu pháp khác. Cũng không cần mặc cảm rằng mình là phàm phu nên niệm Phật là thấp. Ngược lại, vì biết mình là phàm phu nên càng phải khiêm cung, càng phải học theo những bậc Đại Bồ Tát.
Em rất thích câu thơ của Nguyễn Du: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Đặt vào chuyện học Phật, em thấy thật đúng. Có người biết rất nhiều nhưng tâm lại kiêu mạn. Có người thuộc rất nhiều kinh nhưng gặp chuyện trái ý là nổi sân. Còn người biết cúi đầu trước thiện tri thức, biết nhận lỗi, biết sửa mình, biết giữ lòng tin, giữ nguyện vãng sanh và niệm Phật mỗi ngày thì em lại thấy đáng quý vô cùng.
Thiện Tài đã đi tìm thiện tri thức khắp nơi. Còn chúng ta đôi khi chẳng cần đi xa như thế. Mỗi ngày đọc một đoạn kinh, nghe một lời pháp, gặp người tốt thì học một điều, gặp chuyện trái ý thì quay lại soi mình, rồi thành tâm niệm một câu “Nam-mô A-di-đà Phật”.
Cứ thế mà niệm. Một ngày, hai ngày. Một năm, hai năm. Rồi cả một đời. Đến khi câu Phật hiệu trở thành điều thân thuộc nhất trong tâm mình, lúc vui niệm Phật, lúc buồn cũng niệm Phật, lúc khỏe niệm Phật, lúc bệnh cũng niệm Phật, thì mình sẽ dần hiểu rằng tu hành không phải để cho người khác thấy mình giỏi, mà là để chính mình có một con đường trở về.
Anh Long ạ, em nghĩ mình chỉ cần nhớ thật đơn giản thế này thôi: Thiện Tài Đồng Tử không nhất thiết phải hiểu là một cậu bé mười tuổi; câu chuyện 53 lần tham vấn nằm trong Kinh Hoa Nghiêm, không phải Kinh Pháp Hoa; vị thiện tri thức đầu tiên là Tỳ-kheo Đức Vân, còn gọi là Cát Tường Vân, có duyên chỉ dạy Thiện Tài pháp môn Niệm Phật; và vị thiện tri thức cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát, bậc Đẳng Giác, dùng Thập Đại Nguyện Vương hồi hướng về Cực Lạc.
Một đầu là Niệm Phật.
Một cuối là Cực Lạc.
Ở giữa là cả một hành trình cầu học rộng lớn.
Còn chúng ta thì học theo Thiện Tài cái tâm khiêm cung cầu đạo, học theo Phổ Hiền cái hạnh nguyện rộng lớn, và nương theo đại nguyện của Phật A Di Đà mà niệm Phật cầu sanh Tây Phương.
Nguyễn Bính có câu thơ rất tình: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.” Em nghĩ người tu Tịnh Độ mình cũng có thể mượn chút chất thơ ấy mà nói vui rằng: Cực Lạc nghe thì xa, nhưng con đường về Cực Lạc đôi khi lại bắt đầu từ một câu Phật hiệu rất gần. Gần đến mức chỉ cần mở miệng là có thể niệm được rồi anh ạ. Phàm phu như chúng ta, xin đừng ngại mình thấp kém. Chỉ cần biết mình là phàm phu, biết mình còn nhiều phiền não, rồi chịu khó học theo các bậc Đại Bồ Tát, thành tâm niệm Phật và phát nguyện cầu sanh Cực Lạc, thế là đã có một hướng đi rất đẹp rồi. Thiện Tài đi tìm thiện tri thức để học đạo. Phổ Hiền Bồ Tát là bậc Đẳng Giác mà vẫn hướng về Phật A Di Đà và Cực Lạc. Còn chúng ta thì cứ ngoan ngoãn học theo hai Ngài thôi ạ.
Đến ngày cuối cùng, nếu được Phật A Di Đà từ bi tiếp dẫn, bao nhiêu chuyện hơn thua, được mất, giận hờn ở cõi này mình xin phép đặt xuống hết. Thu Hoa Sữa lúc ấy cũng chẳng nói nhiều nữa đâu ạ. Chỉ xin chắp tay cúi đầu, rồi cùng anh Long niệm một câu: “Nam-mô A-di-đà Phật.”
Một câu Phật hiệu hôm nay, một lời nguyện Cực Lạc cho ngày mai, và một tấm lòng chân thành đi suốt cả một đời. Em nghĩ, thế là đời tu chúng ta đẹp lắm rồi anh Long nhỉ.