Có rất nhiều người hỏi vấn đề này, vì sao phải làm thất? Nếu như người này niệm Phật thật đã vãng sanh rồi, thực tế mà nói, vậy thì không cần phải làm thất. Người vãng sanh và người sanh thiên (người ở ngay trong một đời có đại thiện, sau khi chết sanh thiên) đều không có thân trung ấm thì không cần làm thất. Thế nhưng người thông thường nghiệp chướng tập khí sâu nặng, nếu là họ đọa vào ác đạo, đọa ba đường ác, hoặc là sanh đến loài người, đời sau vẫn có thể sanh đến cõi người, thế nhưng chỉ là một người rất thông thường, không phải là người phú quý, chỉ là một người phổ thông thì đều có thân trung ấm. Trung ấm thông thường tồn tại 49 ngày, chính là 7 lần 7. Trung ấm thì 7 ngày họ có một lần biến dị sanh tử, cũng chính là nói họ cứ 7 ngày thì có một lần rất đau khổ, vào ngay lúc này tụng kinh niệm Phật cho họ, hoặc là tu sám pháp cho họ, hồi hướng cho họ, thì có thể giảm nhẹ đau đớn của họ. Đó là trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện đã nói. Cho nên làm thất là từ trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện mà ra, bạn đi đọc kinh này thì liền biết.

Cho nên con người nhất định không nên tự sát. Tự sát thì vô cùng thống khổ, vì sao vậy? Hễ là người tự sát mà chết thì thân trung ấm mỗi 7 ngày một lần, nó lại phải tự sát một lần, nó không phải làm một lần rồi xong đâu, mà mỗi 7 ngày thì phải diễn lại một lần, rất khổ sở. Thí dụ như treo cổ mà chết, mỗi lần cách 7 ngày họ lại phải treo cổ một lần. Uống thuốc độc mà chết thì cách 7 ngày họ lại phải uống độc một lần. Cho nên vào ngay lúc này, thân bằng quyến thuộc tu phước cho họ thì có thể giảm ít đau khổ cho họ. Hoặc giả là họ không bị đau khổ, nếu như không có thân bằng quyến thuộc tu phước cho họ, thì họ nhất định sẽ không thể tránh khỏi. Việc này là Phật nói cho chúng ta nghe, nếu bạn là người hiểu Phật pháp thì bảy cái thất đều phải làm, không thể nói chỉ chọn vài thất, còn các thất khác thì có thể không làm, không thể được, vì sao vậy? Họ trong bảy ngày có một lần đau khổ thay đổi, chúng ta ở trong Kinh Điển hiểu được đạo lý này, cho nên niệm Phật lợi ích rất lớn.

Cúng thất, trên kinh nói rất rõ ràng, bảy phần công đức, người làm thất chúng ta chính mình được sáu phần, vong giả chỉ có thể được một phần, cho nên khi làm thất, tốt nhất là nên mời 7 pháp sư. Công đức của 7 vị pháp sư thì họ chỉ có thể được một phần. Cúng tuần thất muốn có thể chân thật có được lợi ích lớn, những người làm pháp sự này, không luận là xuất gia tại gia, đều phải dùng tâm chân thành mà làm thì họ được lợi ích lớn. Nếu như chiếu theo nghi thức tụng kinh bái sám, trong lòng không thành thì họ được lợi ích rất ít.
Trích: Lợi Ích Của Sự Niệm Phật
Chủ giảng: Hòa Thượng Tịnh Không







Tôi thấy Quan Vân Trường trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của Trung Hoa được một số chùa dựng tượng thờ. Vì sao một vị võ tướng lại được nhà Phật cung kính thờ phụng như thế? Phải chăng ông đã gặp được một vị hoá Phật hay bồ tát nào đó điểm hoá cho chăng? Vị ấy đã nói hay làm gì mà có thể khiến cho một vị võ tướng lừng danh cứng cỏi phải chịu buông đao quy Phật?
Kính chào anh Tuấn,
Anh Tuấn hỏi chuyện Quan Vân Trường làm Bốn Lúa tui khoái quá chừng! Bởi nghe tới ông Quan Công là người ta nhớ ngay một vị võ tướng mặt đỏ, râu dài, tay cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao, cưỡi ngựa Xích Thố, đánh trận thì oai phong lẫm liệt. Vậy mà sau này trong một số ngôi chùa Phật giáo Trung Hoa lại có tượng Quan Công, thậm chí còn tôn Ngài làm Già Lam Hộ Pháp. Thành ra anh Tuấn mới thắc mắc: “Ủa, ông này cầm đao cả đời, sao cuối cùng lại vô chùa giữ cửa Tam bảo?” Câu chuyện phía sau quả thật ly kỳ, nghe cứ như một bộ phim cổ trang mà đạo diễn lại cho thêm… mùi nhang!
Quan Vân Trường, tức Quan Vũ, vốn là một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc, nổi tiếng về lòng trung nghĩa, chữ tín, khí tiết và võ dũng. Sau khi mất, hình tượng của Ngài dần được dân gian Trung Hoa tôn kính và phát triển thành tín ngưỡng Quan Công. Về sau, trong văn hóa Phật giáo Trung Hoa, Quan Công được gắn với hình tượng Già Lam Hộ Pháp, tức vị hộ trì chùa viện và bảo vệ đạo tràng. Vì vậy, thấy tượng Quan Công trong chùa thì mình phải hiểu cho đúng: đó là hình tượng một vị hộ pháp, chứ không phải nhà Phật xem Quan Công là một vị Phật.
Còn chuyện anh Tuấn hỏi: “Phải chăng Quan Công từng gặp một vị Bồ Tát nào đó điểm hóa?” thì đây mới là đoạn hấp dẫn. Trong một truyền thuyết Phật giáo Trung Hoa, Quan Công có duyên gặp Đại sư Trí Giả, một vị cao tăng rất nổi tiếng và là người có vai trò quan trọng trong Phật giáo Thiên Thai, cũng như được nhiều chư cổ đức nói rằng Ngài cũng là hoá thân của đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Chuyện kể rằng khi Đại sư Trí Giả đến vùng Kinh Châu, lên núi Ngọc Tuyền để xây dựng đạo tràng, nơi đây xảy ra những chuyện rất kỳ dị. Và rồi… Quan Công xuất hiện!
Anh Tuấn tưởng tượng thử nghen: giữa núi rừng ban đêm, gió thổi ào ào, cây cối nghiêng ngã, mây đen kéo tới, không khí đang yên đang lành bỗng trở nên lạnh ngắt. Rồi một vị tướng mặt đỏ, râu dài, oai phong lẫm liệt xuất hiện, phía sau còn có quyến thuộc đi theo. Nếu Bốn Lúa tui mà gặp cảnh đó chắc tui không đứng đó nói chuyện đạo lý đâu. Tui chạy trước, rồi vừa chạy vừa niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”! Chạy tới đâu niệm tới đó, miễn sao chân còn chạy được là miệng còn niệm được!
Nhưng Đại sư Trí Giả thì khác. Ngài không hoảng sợ, không lấy kiếm, cũng chẳng gọi người tới đánh nhau. Theo truyền thuyết, Ngài dùng Phật pháp để khai thị cho Quan Công. Đây mới là chỗ đáng nể. Một bên là võ tướng từng tung hoành chiến trường, một bên là vị cao tăng chẳng có binh khí gì trong tay. Nếu tính theo kiểu thế gian thì Bốn Lúa tui phải nói thiệt: kèo này nhìn vô thấy Đại sư Trí Giả hơi… lép vế. Người ta cầm Thanh Long Đao, còn Ngài thì hai bàn tay không!
Nhưng Phật pháp đâu có thi đấu võ nghệ. Đại sư Trí Giả dùng trí tuệ để nói về nhân quả, nghiệp báo, sinh tử và con đường giải thoát. Ngài chỉ cho Quan Công thấy rằng sức mạnh thế gian dù lớn tới đâu cũng không thể thắng nổi vô thường. Người có võ công cao tới đâu cũng không tránh khỏi sinh, già, bệnh, chết. Người lập được chiến công lớn tới đâu rồi cũng phải đối diện với nghiệp của chính mình. Đến đây thì cây Thanh Long Đao có dài mấy cũng không chém nổi vô thường nghen anh Tuấn!
Theo truyền thuyết, Quan Công dần cảm nhận được đạo lý ấy. Cái tâm vốn mạnh mẽ, cương cường và đầy khí thế của một võ tướng bắt đầu chuyển hướng. Thay vì dùng sức mạnh để đối đầu, Ngài phát tâm hướng thiện, quy y Tam bảo, thọ giới và nguyện hộ trì Phật pháp. Từ một vị tướng trong truyền thuyết, Quan Công trở thành vị Già Lam Hộ Pháp bảo vệ đạo tràng.
Bốn Lúa tui khoái nhất chính là đoạn này. Anh Tuấn thấy không, Đại sư Trí Giả đâu có “đánh bại” Quan Công. Ngài làm cho Quan Công tự thấy được điều cần thấy. Cái này mới gọi là cảm hóa. Người có trí tuệ không nhất thiết phải thắng người khác bằng sức mạnh; chỉ cần giúp người kia tự nhìn thấy sự thật thì họ tự biết đường mà quay về. Cây đao có thể khiến người ta sợ, nhưng đạo lý mới khiến người ta tâm phục.
Mà nếu dựng thành phim chắc đoạn này hay dữ lắm! Quan Công đứng giữa núi, tay cầm Thanh Long Đao, gió thổi áo bào phần phật. Đại sư Trí Giả ngồi an nhiên. Quan Công hỏi: “Ngươi không sợ ta sao?” Đại sư Trí Giả tỉnh bơ trả lời đại khái rằng: “Người đáng sợ không phải là người cầm đao, mà là người không biết mình đang bị vô minh sai khiến.” Nghe câu này xong, Quan Công đứng im. Thanh Long Đao từ từ hạ xuống. Nhạc phim nổi lên. Khán giả ngồi dưới rạp chắc bắt đầu lấy khăn giấy lau nước mắt.
Còn Bốn Lúa tui nếu làm đạo diễn thì tới đây tui cho thêm một cảnh nữa. Quan Công hỏi: “Ta có thể làm gì để báo đáp?” Đại sư Trí Giả nói: “Hộ trì Tam bảo.” Quan Công nghe xong gật đầu. Rồi Bốn Lúa tui cho ông Quan Công quay qua hỏi: “Vậy có cần ta đứng trước cửa chùa cả ngày không?” Đại sư Trí Giả nói: “Không cần, chỉ cần hộ trì người tu.” Quan Công hỏi tiếp: “Còn người tu mà nóng tính thì sao?” Đại sư Trí Giả nhìn một hồi rồi nói: “Cái đó… để họ tự tu!” Tới đây chắc bà con cười rụng luôn cái rún!
Nhưng anh Tuấn nhớ giúp Bốn Lúa tui một điều quan trọng: đoạn kể trên là cách kể lại theo truyền thuyết để làm nổi bật ý nghĩa câu chuyện, chứ những lời đối thoại cụ thể không phải lời thoại lịch sử được ghi lại. Truyền thuyết Quan Công gặp Đại sư Trí Giả, được khai thị rồi phát tâm hộ pháp là một câu chuyện tôn giáo lưu truyền trong Phật giáo Trung Hoa, không nên đem từng chi tiết ra khẳng định như một sự kiện lịch sử đã được chứng minh.
Mà nói thiệt với anh Tuấn, Bốn Lúa tui thấy cái chuyện này còn sâu hơn chuyện một ông võ tướng đi tu. Quan Công ngày xưa mạnh ở võ lực, nổi tiếng ở chiến trường. Nhưng sau khi được khai thị, cái “sức mạnh” được chuyển thành hộ trì Phật pháp. Đó chính là ý nghĩa rất đẹp của sự chuyển hóa. Phật pháp không nhất thiết bắt một người phải biến thành một con người hoàn toàn khác ngay lập tức; mà giúp người ta chuyển những năng lực đang có theo hướng thiện lành. Người có khí phách thì dùng khí phách để bảo vệ điều đúng. Người có tài thì dùng tài để giúp người. Người có sức thì dùng sức để làm việc thiện. Người có tiền thì dùng tiền để bố thí. Người có cái miệng… thì nhớ làm ơn bớt tám chuyện!
Đó cũng là chỗ Bốn Lúa tui thấy người tu Tịnh Độ mình cần suy nghĩ. Mình đâu có Thanh Long Đao, đâu có Xích Thố, đâu có ba quân vạn mã. Nhưng ai cũng có một thứ vũ khí rất lợi hại: cái miệng và cái tâm. Một câu nói có thể làm người khác đau cả năm. Một niệm sân có thể phá hỏng bao nhiêu chuyện tốt. Một chút tham có thể khiến mình mất ngủ cả đêm. Cho nên người niệm Phật phải tập “buông đao” trong tâm mình. Buông cái hơn thua, buông giận hờn, buông chấp trước, buông những chuyện đã qua mà mình cứ ôm hoài như ôm… nồi cơm nguội!
Quan Công trong truyền thuyết buông đao để phát tâm hộ pháp; còn mình buông được một câu nói nóng giận cũng đã là tiến bộ rồi. Người ta chọc mình một câu mà mình không chọc lại, đó là thắng. Người ta làm mình bực mà mình vẫn niệm được “Nam Mô A Di Đà Phật”, đó cũng là thắng. Người ta hơn mình mà mình không ganh, đó là thắng. Đến khi lâm chung mà tâm mình vẫn nhớ Phật, niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, đó mới là một trận thắng lớn của đời người.
Bởi vậy, anh Tuấn thấy tượng Quan Công trong chùa thì đừng nghĩ đơn giản rằng nhà Phật “thờ một ông tướng”. Hãy hiểu rằng trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa, Ngài được tôn kính với vai trò Già Lam Hộ Pháp. Đằng sau hình tượng ấy là sự kết hợp giữa lịch sử, văn hóa dân gian và truyền thống Phật giáo. Còn câu chuyện Đại sư Trí Giả khai thị Quan Công là một truyền thuyết rất đẹp về sức mạnh của trí tuệ và khả năng chuyển hóa một tâm thức cứng cỏi.
Bốn Lúa tui xin kể lại câu chuyện bằng một câu cho dễ nhớ: Quan Công có Thanh Long Đao, nhưng Đại sư Trí Giả có Phật pháp; Thanh Long Đao có thể làm người ta khiếp sợ, còn Phật pháp có thể làm một người tự nguyện quay đầu. Đó mới là chỗ cao siêu. Bởi “dùng võ thắng người” chưa chắc làm người ta phục, nhưng “dùng đạo cảm hóa người” thì người ta tự nguyện đi theo con đường thiện.
Mà anh Tuấn hỏi chuyện này làm Bốn Lúa tui nhớ câu: “Quay đầu là bờ.” Quan Công trong truyền thuyết quay đầu từ một vị võ tướng thành người phát tâm hộ pháp. Còn tụi mình mỗi ngày niệm Phật cũng là mỗi ngày quay đầu: từ vọng tưởng quay về câu Phật hiệu, từ sân giận quay về lòng từ, từ tham chấp quay về buông xả, từ chuyện đời quay về đường giải thoát. Cứ quay riết như vậy, tới ngày cuối đời mình quay một phát về Tây Phương Cực Lạc thì… khỏi cần quay lại nữa!
Cho nên Bốn Lúa tui xin chúc anh Tuấn niệm Phật tinh tấn, tâm càng ngày càng nhẹ, chuyện gì không đáng thì buông, chuyện gì đáng thương thì thương, chuyện gì đáng tha thứ thì tha thứ. Còn chuyện Quan Công có thật sự cầm Thanh Long Đao đứng ngoài cửa chùa để giữ đạo tràng hay không, cái đó mình cứ để cho truyền thuyết kể tiếp. Việc của mình là giữ cho được câu “Nam Mô A Di Đà Phật” trong tâm. Chớ Quan Công giữ cửa chùa mà mình để tham sân si chạy vô nhà thì… hộ pháp có ba đầu sáu tay cũng mệt à nghen!
Nam Mô A Di Đà Phật.