Ý niệm không khởi thì thôi vừa động niệm liền thành A Di Đà Phật, ngoài A Di Đà Phật ra cái gì cũng không có, đây gọi là gì? Là công phu thành phiến. Niệm Phật niệm đến công phu thành phiến bạn nhất định được vãng sanh. Điều kiện vãng sanh thế giới Cực Lạc bạn đã có đầy đủ trọn vẹn rồi, lúc này khẳng định giống như lời Đại Thế Chí Bồ Tát nói, hiện tiền thấy Phật.
Công phu đạt đến cảnh giới này Phật nhất định đến báo tin cho bạn, dùng thuật ngữ của Phật giáo nghĩa là thọ ký. Thọ ký cho bạn tức là nói với bạn, thọ mạng của bạn còn được bao nhiêu, đợi đến lúc mạng chung Phật sẽ đến tiếp dẫn bạn, bạn có được sự bảo đảm của Phật, bạn sẽ rất hoan hỷ, biết được mình còn lưu lại thế gian này bao nhiêu năm nữa. Biết rất rõ.
Trong này có 1 số người, kiểu người này cũng không phải ít, thấy được Phật rồi. Phật bảo với họ vẫn còn bao nhiêu thọ mạng, họ liền thưa với Phật con không cần thọ mạng nữa, bây giờ con đi ngay với ngài. Được! Phật rất từ bi, sẽ đồng ý với bạn bảo rằng tốt, 7 ngày sau ta đến đón con, hoặc 3 ngày, hoặc 10 ngày sau ta sẽ đến tiếp dẫn con. Phật báo cho bạn thời gian y chắc không sai. Đến lúc đó ngài thật đến đưa bạn đi. Chúng ta niệm đến công phu này thấy được A Di Đà Phật đến.
Đừng bao giờ để cơ hội này luống qua, phải nên thỉnh cầu với Phật con muốn đi. Trong chiếc đĩa của lão Hòa Thượng Hải Hiền mọi người cứ nghe cho kỹ càng, chiếc đĩa này hiện nay có rất nhiều phiên bản khác nhau, tôi xem qua thấy có ít nhất 3 bản khác nhau đều có chỗ hay của nó. Tôi nghe thấy đích thân ngài nói tôi thấy được A Di Đà Phật, đã mấy lần tôi xin lão nhân gia cho tôi vãng sanh, xin ngài mang tôi đến thế giới Cực Lạc, nhưng lão Phật gia không đồng ý. Nói tôi tu hành không tệ, bảo tôi ở lại thế gian này thêm vài năm để biểu pháp, làm tấm gương tốt cho mọi người xem. Trong này chúng tôi đặc biệt chú ý, cũng đã mấy lần. Ngài không phải chỉ 1 lần thấy Phật, không chỉ xin Phật 1 lần, tôi ước tính giúp ngài bởi vì thiện căn, phúc đức, nhân duyên của ngài không thể nghĩ bàn. Ngài có đầy đủ 3 điều kiện này, thế nào là thiện căn? Là thật thà, nghe lời, thật làm, đây là thiện căn, chẳng phải thứ mà người bình thường có, nhưng ngài đều có đủ.
Lão Hòa Thượng Hải Hiền biểu pháp cho chúng ta, người niệm Phật ở thế gian này, thấy tất cả mọi người đều như A Di Đà Phật, sự tôn kính của tôi đối với A Di Đà Phật biểu hiện ở nơi đâu? Biểu hiện đối với tất cả người, sự vật. Tất cả người, tất cả sự, tất cả vật đều toàn là A Di Đà Phật. A Di Đà Phật là tự tánh, tự tánh có thể sanh ra vạn pháp, vạn pháp tức là tự tánh, không có tơ hào sai biệt, đó mới có thể vào cảnh giới Phật. Công phu này thâm sâu, một niệm tức được vãng sanh.
Một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, niệm hai mươi vạn tiếng Phật hiệu, đối với cái thế gian này còn lưu luyến, đối với cái thân thể này còn lưu luyến, tham sống sợ chết, đối với thế gian lưu luyến, trong tâm không buông xả, những người này không thể vãng sanh, vì họ có chướng ngại.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt






Hòa thượng Tịnh Không trong một bài pháp có nói là khi người vãng sanh về Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, người ấy sẽ tiết kiệm được 2 A Tăng Kỳ Kiếp để thành Phật. Vì sao mà có được điều kỳ diệu này ạ? Vì sao ngài nói vậy?
Dạ, thưa anh Người học đạo, nghe nói “tiết kiệm hai a-tăng-kỳ kiếp”, Tong cũng muốn ngồi ngay ngắn lại liền! Nhà nông tụi Tong bớt được một buổi làm cỏ đã mừng, đằng này bớt cả một chặng đường tu dài không tưởng, đâu phải chuyện mua bó rau được chị bán hàng tặng thêm cọng ngò! Nhưng chỗ quan trọng là hiểu đúng ý Hòa thượng: người vãng sanh được lợi ích bất thoái chuyển mà theo đường tu thông thường phải trải qua thời gian rất dài mới đạt tới; không phải vừa vãng sanh là mọi người đều đã tự mình đoạn sạch vô minh, thành Phật viên mãn ngay lập tức.
Tong tìm được một đoạn giảng rất khớp câu anh hỏi, trong “Phật thuyết A Di Đà kinh Yếu giải tinh hoa”, tập 4, Hòa thượng Tịnh Không giảng tại Malaysia vào tháng 11 năm 1993. Khi giải thích địa vị bất thoái chuyển, Ngài nói, dịch ý: “Xét về thời gian, rút ngắn được hai a-tăng-kỳ kiếp.” Như vậy, đây là lời Hòa thượng diễn giải lợi ích vãng sanh dựa trên kinh và cách phân định các chặng tu chứng, chớ không phải nguyên văn một câu trong Kinh A Di Đà bảo rằng ai về đó cũng được trừ đúng hai kiếp trên một cuốn sổ thời gian.
Muốn hiểu tại sao là “hai”, mình phải nhìn cách Ngài chia ba chặng tu. Theo cách trình bày của Hòa thượng, a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất tu các bậc Tam hiền, gồm Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng (30 bậc); a-tăng-kỳ kiếp thứ hai tu từ Sơ địa đến Thất địa (7 bậc); a-tăng-kỳ kiếp thứ ba tu các địa thứ tám (Bát địa), thứ chín (Cửu địa), thứ mười (Thập địa) (3 bậc). Anh thấy hông, chặng đầu ba mươi bậc, chặng sau bảy bậc, chặng nữa chỉ ba bậc mà vẫn trải thời gian dài như vậy, đủ biết càng lên cao càng vi tế, đâu phải leo lên được mấy nấc rồi nhảy đại một cái là tới! Đây là khung phân định Ngài dùng để giảng giải, mình nên hiểu trong văn cảnh ấy.
Trong cách so sánh đó, Hòa thượng lấy cảnh giới của Thất địa Bồ-tát làm mốc: vị Bồ-tát theo tiến trình thông thường phải trải qua hai a-tăng-kỳ kiếp mới có được sự tự tại tương ứng, còn người sanh về Cực Lạc được hưởng lợi ích đặc biệt ấy nhờ Phật lực. Bởi vậy Ngài mới nhấn mạnh chuyện rút ngắn hai a-tăng-kỳ kiếp. Cái được vượt qua là một chặng đường tu chứng rất dài, chớ không phải Phật lấy tờ lịch xé một cái, rồi hai a-tăng-kỳ kiếp rớt xuống sân cho Tong đem gói đậu hũ!
Căn cứ quan trọng nằm ngay trong Kinh A Di Đà: chúng sanh sanh về Cực Lạc đều là A-bệ-bạt-trí, nghĩa là bất thoái chuyển. Ngài Ngẫu Ích giải thích có ba phương diện: vị bất thoái là không lui sụt khỏi địa vị đã đạt; hạnh bất thoái là không bỏ hạnh Bồ-tát độ sanh để chỉ cầu giải thoát riêng; niệm bất thoái là tâm tâm hướng vào trí giác ngộ viên mãn. Thành ra, bất thoái ở đây sâu hơn nhiều so với chuyện hôm nay siêng tụng kinh, ngày mai vẫn còn siêng. Đó là sự bảo đảm tiến tới giác ngộ, không trở lại con đường mê lầm như trước.
Mà tại sao người còn yếu kém lại được lợi ích lớn đến vậy? Theo giáo nghĩa Tịnh Độ, cốt lõi là bản nguyện và công đức đã thành tựu của Đức Phật A Di Đà. Kinh Vô Lượng Thọ có lời nguyện rằng chúng sanh trong cõi Ngài được an trụ trong sự quyết định tiến đến giải thoát, rốt ráo đạt diệt độ; kinh cũng nói đến thọ mạng lâu dài và những điều kiện tu học thù thắng của cõi ấy. Cho nên, đây không chỉ là “đổi sang chỗ ở yên tĩnh thì học mau hơn”, mà còn là được nguyện lực của Phật nhiếp trì. Mình đem lòng tin, nguyện cầu vãng sanh và sự tu hành hướng về Ngài, chớ không phải tự sức mình làm ra hết mọi điều kiện ấy.
Tong xin ví dụ chuyện sông nước cho anh dễ hình dung nghen. Một người sức yếu, tự bơi qua khúc sông nước xiết thì khó; được lên chiếc thuyền vững vàng có người lái giỏi, người ấy vẫn có thể sang bờ. Sang được bờ là thiệt, nhưng đâu có nghĩa cơ bắp của người ngồi trên thuyền bỗng mạnh bằng người bơi giỏi! Ví dụ này chỉ giúp mình phân biệt sự nâng đỡ với năng lực tự có. Chớ Tong mà vừa xuống thuyền đã khoe: “Khúc sông này Tong vượt cái rẹt!”, rồi nhảy xuống biểu diễn, chắc tiếng kêu cứu còn vang hơn tiếng máy đuôi tôm!
Bên cạnh Phật lực, hoàn cảnh tu học ở Cực Lạc cũng đặc biệt. Kinh A Di Đà nói người vãng sanh được cùng các bậc thượng thiện nhân hội tụ, thọ mạng lâu dài; ngay tiếng chim và tiếng gió lay cây báu cũng khiến người nghe hướng tâm về Phật, Pháp, Tăng. Mình thử nghĩ theo câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”: chung quanh toàn những duyên giúp tỉnh thức, khác biết bao với cái cảnh Tong vừa quyết tâm bớt nói chuyện thiên hạ, mới bước ra ngõ đã nghe: “Anh Tong, chuyện này tui chỉ kể riêng anh nghe thôi…” Rồi thôi, cái miệng mở cửa trước, chánh niệm lủi mất cửa sau!
Tuy nhiên, thanh tịnh không có nghĩa là về đó nằm võng chờ ngày thành Phật. Khi giảng Kinh Vô Lượng Thọ, Hòa thượng vẫn nhấn mạnh việc nghe Phật thuyết pháp, tăng trưởng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng và chuyển phiền não thành Bồ-đề. Nghĩa là vẫn có sự tu học, nhưng được trợ duyên thù thắng và tiến bộ không thoái lui. Tong hình dung nôm na như được vào một nơi học hành thuận lợi hết sức: thầy dạy đúng chỗ mình cần, bạn bè cùng khuyến khích, không có anh nào đang nghe pháp lại chọt bên hông hỏi: “Lát nữa mình ra ngoài bàn chuyện chị hàng xóm nghen?”
Ở đây cần giữ một điều thật chắc: được Phật lực nâng đỡ, hưởng lợi ích bất thoái, không đồng nghĩa người mới vãng sanh đã tự chứng đủ mọi công đức của đại Bồ-tát. Ngài Ngẫu Ích nói rất tinh tế: người ấy chắc chắn sẽ tiến tới địa vị bổ xứ, nhưng không vì vậy mà lập tức gọi tất cả là Đẳng giác Bồ-tát. Nói bằng chuyện nhà nông, được đưa vào một cánh đồng đầy đủ nước, giống tốt, người hướng dẫn giỏi là phước duyên lớn; nhưng hạt giống nảy mầm và trổ bông vẫn có sự thành tựu của nó. Mình không phủ nhận sức nâng đỡ, cũng không lẫn sức nâng đỡ với chỗ tự mình đã chứng.
Vậy có phải ba trừ hai, còn đúng một a-tăng-kỳ kiếp nữa, ai về Cực Lạc cũng phải chờ y chang nhau không? Mình không nên suy như vậy, anh à. Lời giảng đang đối chiếu lợi ích bất thoái với một chặng đường tu thông thường, chớ không ấn định thời hạn thành Phật đồng loạt cho mọi người. Trong “Tịnh Không pháp sư Gia ngôn lục”, phần ghi chép lời giảng cũng phân biệt công phu riêng của hành giả với sự gia trì của Phật, và nói thời gian viên mãn Bồ-đề có nhanh chậm khác nhau. Tong làm ruộng quen tính ngày xuống giống, mà nghe tới đây thì biết phải cất cuốn lịch lại, không thể tự ghi: “Ngày này, tháng này, tới lượt Tong thành Phật!”
Hiểu như vậy rồi, điều mình nên lấy về áp dụng là thêm vững lòng tu, chớ không phải tìm cớ lười. Tịnh Độ lấy tín, nguyện, hạnh làm tư lương: tin nhận, thật sự nguyện sanh về Cực Lạc, rồi thực hành niệm Phật. Tong tự nhắc mình thêm chuyện giữ gìn lời nói, sửa lỗi, thương người, bớt tranh hơn thua. Tong trường chay, nhưng cũng phải coi chừng: nồi canh thì chay mà lời nói mặn chát, dĩa đậu hũ thì mềm mà cái bụng cố chấp cứng như gốc tràm! Ăn chay được cái miệng rồi, còn phải tập cho cái miệng bớt “ăn thua” nữa, chớ gặp ai nói trái ý cũng muốn thắng thì tu riết chỉ thấy bản ngã lên ký!
Vậy nên, thưa anh, ý nghĩa đáng quý của lời Hòa thượng là: nhờ được vãng sanh, nương nguyện lực Phật và an trụ bất thoái, hành giả không phải tự trải lại nguyên một chặng tu dài để đạt lợi ích tương ứng. Đó là chỗ Ngài nói “tiết kiệm hai a-tăng-kỳ kiếp”. Tong nghe lời ấy thì tự nhắc: mình cần bớt đường vòng, chớ không bớt lòng từ; cần mau ra khỏi mê lầm, chớ không mau tự phong chứng đắc. Biết có đường về rồi thì chân thành bước tới, mỗi ngày thêm một chút hiền, bớt một chút chấp, giữ câu Phật hiệu trong lòng. Đừng đứng ngoài bến tính coi chiếc thuyền chạy nhanh cỡ nào, tính tới bạc đầu mà cái chân vẫn chưa chịu bước! Nam mô A Di Đà Phật.