Có những người chẳng tin Phật, hoặc vừa mới tiếp xúc đến Phật pháp cũng nằm mộng thấy quỷ thần đến tìm họ. Lúc trước tôi có một người bạn, vợ ông liên tục nằm mộng ba lần trong một tuần nên bà ấy rất thắc mắc. Bà mộng thấy gì? Mộng thấy một bà hàng xóm vừa qua đời khoảng nửa năm. Nằm mộng [thấy bà hàng xóm] ba lần xin tiền, nhờ giúp đỡ, nói đời sống bà rất khốn khổ. Trong mộng cũng chẳng nghĩ là bà hàng xóm này đã qua đời. Bà cảm thấy kỳ lạ và nói: “Bà khổ thì cũng đâu cần tìm tôi, bà hãy hỏi chồng bà xem sao”. Bà hàng xóm nói: “Chồng tôi không có tiền, xin bà giúp cho”.
Trong vòng một tuần nằm mộng thấy ba lần, bà ấy đến tìm tôi, tôi cũng quen thân với bà. Tôi suy nghĩ và nói: “Ồ! Họ là người Cơ Đốc Giáo, chẳng có tiền”. Tín đồ Cơ Đốc Giáo không đốt ‘giấy tiền’ (tiền âm phủ, đồ mã); tôi nói tiếp: “Không sao đâu, bà hãy đốt một số giấy tiền cho bà ấy đi”. Bà ta [sực nhớ và] hiểu được, sau khi đốt một số ‘giấy tiền’ thì chẳng nằm mộng [thấy bà hàng xóm nữa].
Tín đồ Cơ Đốc Giáo chẳng đốt giấy tiền, bà hàng xóm đang ở cõi quỷ, đốt giấy tiền cũng có thể dùng ở cõi quỷ. Cho nên việc đốt ‘giấy tiền’ này, Ấn Quang lão pháp sư có nói trong Văn Sao, đối với việc này ngài chẳng tán thành nhưng cũng chẳng phản đối, tại sao không tán thành? Trong Phật pháp chẳng có việc này. Trong Phật pháp nói đến siêu độ chỉ là niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, tụng kinh hồi hướng cho họ. Nhưng cũng không phản đối, người mất luân hồi đi vào sáu nẻo,
chỉ có cõi quỷ mới dùng ‘giấy tiền’ được, những cõi khác chẳng dùng được. Nếu kẻ ấy sanh vào cõi quỷ, họ cần có ‘giấy tiền’, bạn không cho họ đốt thì không phải đã cắt đứt nguồn tiền tài của họ rồi sao? Việc này cũng phiền phức lắm vì họ sẽ hận bạn, thế nên ngài chẳng phản đối.
Chúng ta học thái độ này của lão pháp sư cũng tốt, không đề xướng nhưng cũng không phản đối. Đây là phong tục tập quán trong dân gian, chẳng liên quan gì đến Phật pháp, nếu thật sự học Phật thì chẳng cần những thứ này.
Trích: Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký, Tập 23.
Chủ giảng: HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG
Giảng tại Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba







Em nghe thông thường vong linh sau 49 ngày là đi đầu thai. Nhưng sao em thấy rất nhiều trường hợp vong linh đã mất vài mươi năm, thậm chí cả trăm năm hay cả nghìn năm vẫn chưa đầu thai, không hiểu vì sao? Em biết trường hợp một cô gái nọ ở một vùng quê một hôm ở ngoài tất tả đi vào nhà rồi đến tận giường của một bé gái đang bị bệnh nằm trên giường. Cô gái (hàng xóm) kia tự xưng là bà cố của bé gái nghe cháu bệnh nên vào nhà thăm. Bà nói hàng ngày thấy nó hay quẩn quẩn quanh mộ bà chơi đùa thấy mà thương, nay không thấy nó ra chơi, lại nghe cháu cố bị bệnh nên vội vào xem bệnh tình cháu bà thế nào? Khỏi hỏi cả nhà nhìn cô gái kia mà tái hết mặt.
Còn có trường hợp con không tận mắt thấy nhưng nghe lại là tại những ngôi nhà lâu đời từ thuở xưa người ta thường thấy chủ nhân của ngôi nhà hay đi lại trong nhà dù người ấy mất đã gần thế kỷ. Hay tại những vùng đồng quê trống trải vào ban đêm người ta thường nghe tiếng binh sĩ la hét đánh nhau như đang đánh ở chiến trường cách đây vài trăm năm trước. Lẽ ra tất cả phải đầu thai hết rồi chứ ạ?
Dạ, Nam mô A Di Đà Phật, em Vĩ Dạ xin cúi đầu chào chị Xuân nghen. Hôm ni trời Huế tự nhiên đổ hột mưa bay lất phất ngoài hiên, ngồi nhấm nháp ngụm trà ướp hương sen Tịnh Tâm với cắn miếng mứt gừng cay cay the the, tự nhiên nghe chị hỏi chuyện âm dương mờ ảo, em tưởng như mình đang ngồi mạn đàm chuyện liêu trai chí dị giữa chốn thiền môn rứa đó. Chị Xuân ơi, chị thắc mắc rứa là trúng phóc cái chỗ mà bà con mình ai cũng lấn cấn trong lòng lâu nay luôn.
Người ta cứ rỉ tai nhau rằng vong linh sau 49 ngày là đi đầu thai, rứa răng ông cố bà sơ hay mấy o mấy chú khuất mặt khuất mày trăm năm ngàn năm vẫn cứ đi ra đi vô dòm ngó con cháu, hay mấy chú lính cứ cầm gươm cầm giáo múa may hoài ở chiến trường. Dạ thưa chị, trong nhà Phật mình dạy về lục đạo luân hồi hay lắm, sáu nẻo luân hồi là trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Cái khoảng thời gian 49 ngày đó thực chất là giai đoạn thân trung ấm, tức là cái trạng thái lơ lửng chờ đợi để phân định nghiệp quả. Nếu người nào phước báu đầy mình thì cởi áo trần gian là chư thiên rước lên cõi trời liền, hoặc đầu thai lại làm người ngay chóc. Còn lỡ mà lúc sống mình hay sân si, tham luyến, hoặc chết đi mà trong lòng còn đầy những nỗi niềm uất hận thấu trời, thì cái nghiệp đó kéo mình thẳng vào cõi ngạ quỷ, tức là làm ma đó chị.
Thành ra, mấy vị mà trăm năm ngàn năm chị thấy, không phải là họ đang lơ lửng chờ đi đầu thai mô, mà thực chất họ đã được đầu thai rồi, nhưng đầu thai vào cõi âm, làm hương linh ngạ quỷ quanh quẩn cõi ta bà ni. Nghe ngậm ngùi hung chị hỉ? Thiệt đúng là như người xưa hay than thở, dẫu cho xây chín bậc phù đồ, chẳng bằng làm phước cứu cho một người. Cái tâm thức con người ta ngộ lắm, trút hơi thở cuối cùng rồi mà cái tình cái chấp nó còn kẹt lại thành mớ bòng bong không tháo gỡ được.
Giống như cái bà cố mà nhập vô cô hàng xóm tất tả chạy vô thăm đứa chắt bị ốm đó, dạ thưa là do bà thương con quý cháu quá mức, cái tình thâm quyến thuộc nó thành sợi dây thừng buộc chặt bà lại nơi trần thế. Bà thấy cháu chơi quanh mộ mà nay không ra, lòng bà như lửa đốt, quên mất mình đã là người cõi khuất. Hay như mấy chủ nhân ngôi nhà cổ, trăm năm trước lỡ thương yêu gắn bó cái cột cái kèo, ngàn năm sau vẫn cam tâm làm bóng ma dọn dẹp quét tước bảo vệ nếp nhà. Còn mấy chú lính đánh nhau sứt đầu mẻ trán kêu la giữa đồng không mông quạnh, là do lúc nhắm mắt oán khí bốc lên ngùn ngụt, sự sợ hãi và thù hận che mờ mất Phật tánh mầu nhiệm, thành thử mấy trăm năm sau tâm thức vẫn kẹt lại trong cái khoảnh khắc bom rơi đạn lạc, cứ tưởng mình đang ôm súng ôm gươm xông pha trận mạc. Trăm năm trước mang một niệm sân hận, ngàn năm sau làm bóng ma khóc cười ngây dại.
Em nói thiệt với chị, mấy hương linh đó đáng thương hơn đáng sợ nhiều lắm. Họ cứ quẩn quanh một chỗ như người đi lạc trong đêm đen mờ mịt mà không tìm thấy đường về nhà, đói khát bơ vơ tội nghiệp chi lạ. Nên người tu pháp môn Tịnh Độ tụi em luôn tâm niệm lời ngài Ấn Quang Đại Sư dặn, chỉ có câu Nam mô A Di Đà Phật mới là đạo tràng an ổn nhất, là chiếc phao cứu sinh vớt người ta ra khỏi bể khổ lầm than.
Nói chuyện ni em lại nhớ hồi trước ở quê em có mệ ngoại kia hiền khô, ăn chay trường niệm Phật mòn cả xâu chuỗi, rứa mà mất đi cứ tối tối là hiện hồn về. Nhà mệ cứ tới nửa đêm là con cháu nổi hết da gà da vịt vì nghe tiếng chổi rễ sột soạt quét sân. Mọi người sợ quá, rước thầy về cúng kiếng mâm cao cỗ đầy um sùm mà mệ vẫn cứ hiện về quét lá. Bữa nọ có một vị thầy tu pháp môn Tịnh Độ ghé ngang chơi, thầy không cúng bái chi mô, thầy chỉ đắp y ra đứng giữa sân nói nhỏ nhẹ như khuyên người nhà, mệ ơi, nhà cửa sạch bong kin kít rồi, mệ bỏ cây chổi xuống mà chắp tay niệm A Di Đà Phật theo con, mệ lên cõi Tây Phương Cực Lạc ăn chè đậu ngự với Phật A Di Đà sướng hơn quét lá cọ đa dưới trần gian đầy muỗi ni mệ nờ. Rứa mà hay chưa, từ đêm sau bặt tăm luôn tiếng chổi chị ạ. Hóa ra lúc sống mệ mắc cái bệnh sạch sẽ, mệ chấp cái chuyện cái sân đình chưa quét sạch, thầy gỡ nhẹ cái chấp niệm đó ra, kết hợp với sức mạnh từ bi của câu Phật hiệu là mệ cưỡi mây đạp gió bay vèo về Tây Phương liền. Thiệt tình, đi làm ma mà cũng ham việc nhà rứa thì em cũng chịu mệ luôn, cười chảy nước mắt chị hỉ.
Lại có thêm chuyện ni linh thiêng lắm, xảy ra ở ngay một ngôi chùa cổ ngoài Huế mình. Trong khuôn viên chùa có một cái am nhỏ xíu thờ cô hồn các đảng. Những đêm rằm thanh vắng, người ta hay nghe tiếng gõ mõ và tiếng tụng kinh lầm rầm dù chùa đã đóng cửa the cài kín mít. Thầy trụ trì biết là vong linh cõi khuất khát khao thèm khát ánh sáng Phật pháp nên đêm nào thầy cũng mở cửa hờ hờ, để sẵn vài cuốn kinh A Di Đà trên bệ đá, dẫu họ không lật được nhưng cũng hưởng được từ trường. Có một đêm trời trở lạnh, thầy đang ngồi kiết già niệm Phật thì mở mắt ra thấy một bóng người lính mờ ảo, áo quần xơ xác tả tơi như lính thời Thúy Kiều, mang gươm giáo quỳ rạp xuống chắp tay lạy Phật khóc tu tu. Thầy cứ điềm nhiên nhắm mắt niệm tiếp, Nam mô A Di Đà Phật, từng tiếng từng tiếng khoan thai rơi vào hư không. Tiếng niệm Phật mầu nhiệm bọc lấy cái bóng đó, tự nhiên thấy một luồng ánh sáng vàng dịu dàng tỏa ra, bóng người lính rũ bỏ gươm giáo, mỉm cười thiệt hiền rồi tan biến vào hư vô. Thế mới biết, chỉ cần một câu niệm Phật chơn thành thấu tận cõi lòng, bao nhiêu oán thù sương khói ngàn năm oằn oại cũng bay biến hết trơn, trả lại sự thanh tịnh nguyên sơ.
Chị Xuân thấy không, cõi âm hay cõi dương, cõi người hay cõi ma cũng chung một chữ tâm mà sinh ra cả. Nếu mai mốt chị có đi ngang bãi chiến trường hoang vắng hay bước vào một ngôi nhà cổ kính nghe tiếng gió thở than, thay vì sợ hãi hốt hoảng, chị cứ đứng lại, nhắm mắt tĩnh tâm, mỉm cười thiệt tươi như một đóa hoa vô ưu, nhè nhẹ niệm vài câu Nam mô A Di Đà Phật hồi hướng cho họ. Mình tặng họ chút ánh sáng từ bi, lỡ đâu họ nghe được, buông bỏ cái chấp niệm muộn phiền rồi rủ nhau lên đài sen hết, lúc đó cõi trần mình bình yên và thanh tao như một bức tranh thủy mặc rứa. Thôi, chuyện cũng dài mà trời cũng tạnh mưa rồi, em xin phép chị đi vo miếng gạo nếp nấu nồi chè hạt sen đường phèn dâng lên cúng Phật đây, chị ở lại bình an, giữ lòng luôn thanh tịnh thơm tho như đóa sen trắng nghen chị. Dạ, Nam mô A Di Đà Phật, em thương chào chị.
Nam mô A Di Đà Phật! Xin chào cô em tên Xuân nha. Nghe cái tên là thấy cả một bầu trời mùa xuân hoa nở mai vàng, tràn trề nhựa sống rồi heng.
Để tui nói cho em nghe cái sự đời này nó ngộ lắm Xuân ơi. Người ta hay bảo “Sông sâu dễ dò, lòng người ai đo cho thấu”. Bởi cái lòng dạ con người mình lúc còn sống nó phức tạp làm sao thì tới lúc nhắm mắt xuôi tay, nó cũng y khuôn như vậy, có khi còn dữ dội hơn nữa. Cứ tưởng nhắm mắt là xong, là đi đầu thai cái vèo sau bốn mươi chín ngày như người ta hay đồn hả? Đâu có dễ ăn như gặm khoai lang lùi tro nóng vậy em. Ca dao mình có câu “Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng vuông”. Cái “thương” cái “ghét” đó, nhà Phật mình gọi chung là cái “chấp niệm” đó em. Chính cái sợi dây vô hình này nó cột chặt cái chân người ta lại, làm người ta lẩn quẩn loanh quanh hoài mà không chịu đi đầu thai, dẫu cho có qua trăm năm hay ngàn năm đi chăng nữa.
Cái câu chuyện của em kể về bà cố nhập xác cô hàng xóm vô thăm cháu bệnh, hay chuyện mấy cái nhà cổ có bóng người đi tới đi lui dẫu đã mất cả thế kỷ, nó y chang cái lý tui vừa nói luôn. Bà cố đó lúc sống chắc bà thương con thương cháu quá trời quá đất, mất rồi mà cái tâm bả vẫn cứ dính chặt vô đứa cháu cố. Bả coi cái mộ của bả là nhà, thấy cháu ra chơi thì bả vui, cháu bệnh bả sốt sắng chạy vô kiếm. Thương thì thương thiệt, nhưng cái thương dính mắc đó nó hại bả làm cái vong linh vất vưởng hoài, không chịu buông tay để đi đầu thai vô nẻo lành, nẻo sướng hơn. Còn mấy chủ nhà cổ thì tiếc cái nhà, tiếc của cải, tiếc cái danh vọng thời xưa nên cứ bám lấy cái góc nhà cũ mà đi ra đi vào, mắt nhắm tai ngơ với ánh sáng dẫn đường siêu sanh.
Còn như cái vụ ban đêm nghe tiếng binh sĩ la hét đánh nhau ở mấy bãi chiến trường xưa mấy trăm năm trước, cái đó gọi là chấp niệm oán hận và đau khổ đó Xuân. Lúc chết, người ta chết trong sự hoảng loạn, đau đớn, hận thù, gươm đao đâm chém đùng đùng. Cái thần thức của họ bị đóng băng ngay tại cái giây phút kinh hoàng đó. Họ cứ nghĩ họ vẫn đang còn chiến đấu, vẫn đang bị kẻ thù rượt đuổi, thế là cái cảnh tượng đó cứ lặp đi lặp lại như một cuốn băng video bị hư tua đi tua lại hoài không dứt.
Bởi vậy ta nói, người biết tu hành niệm Phật theo pháp môn Tịnh Độ như tụi tui đây, lúc nào cũng tự nhắc mình phải tập “buông”. Sống trên đời này giống như đi mượn đồ vậy đó em, mượn cái thân này, mượn cái nhà này, mượn danh vọng này để xài tạm thôi. Tới chừng chủ nợ là vô thường tới đòi thì vui vẻ trả lại, phủi tay cười một cái rồi niệm “Nam mô A Di Đà Phật” để nương theo Phật lực mà về Tây Phương Cực Lạc. Chứ ôm khư khư mấy cái đồ mượn đó làm chi cho nó nặng nề rồi thành cái vong linh vất vưởng trăm năm, ngàn năm cho khổ sở hả Xuân?
Mong là vài lời tếu táo dân dã này giúp em thông suốt được cái bụng nha. Thôi tui đi đây, chúc Xuân luôn an lạc và bớt lo nghĩ mông lung nghen!
Xuân à, chuyện người mất rồi đi đâu, bao lâu tái sanh, có còn quanh quẩn ở nhà hay ngoài nghĩa địa hay không, thiệt tình không phải cứ lấy cây thước bốn mươi chín ngày ra đo một cái là đâu vô đó hết trơn. Cõi âm mà làm việc đúng lịch như phòng hành chánh xã, đủ bốn mươi chín ngày đóng dấu cái cộp rồi cấp giấy chuyển hộ khẩu sang kiếp sau, thì bà con mình đỡ thắc mắc biết mấy!
Trước hết, mình cần hiểu bốn mươi chín ngày không phải là một định luật cứng ngắc rằng tất cả người chết đều phải ở lại làm “vong linh” đúng bốn mươi chín ngày, rồi ngày thứ năm mươi đồng loạt đi đầu thai. Nghi thức thất tuần, cứ bảy ngày làm một tuần cho đến bốn mươi chín ngày, được lưu truyền đặc biệt trong một số truyền thống Phật giáo Đại thừa. Ý nghĩa chính là tạo phước, tụng kinh, niệm Phật, hồi hướng và trợ duyên cho người mất, đồng thời giúp người sống nguôi ngoai, biết buông xả và hướng tâm về điều thiện. Không nên biến con số ấy thành cái đồng hồ báo thức của cõi âm.
Có truyền thống Phật giáo nói đến giai đoạn trung gian giữa đời sống này và đời sống kế tiếp; cũng có truyền thống giải thích rằng sự tái sanh nối tiếp rất nhanh. Bởi vậy, nói “ai cũng phải chờ đủ bốn mươi chín ngày mới đầu thai” là nói rộng quá, nghe giống như quăng một cái chài mà đòi úp hết cá lớn cá nhỏ dưới sông, cá nào hổng chịu vô chài thì bị mình rầy là… cá tu sai pháp môn!
Điều quan trọng hơn con số bốn mươi chín chính là nghiệp lực và tâm niệm. Trong lời Phật dạy, ái, thủ và chấp trước là những điều nuôi dưỡng tiến trình tiếp tục sanh hữu. Ví như ngọn lửa còn có nhiên liệu thì còn cháy; tâm còn bám níu, thù hận, tham tiếc, sợ hãi thì dòng nghiệp vẫn còn chỗ nương mà tiếp tục.
Bởi vậy, nhiều trường hợp dân gian gọi là “vong chưa đầu thai”, nói cho thật chính xác theo giáo lý thì chưa chắc là họ chưa tái sanh. Có thể chúng sanh ấy đã tái sanh vào cảnh giới ngạ quỷ rồi. Trong kinh điển Phật giáo có những chúng sanh tự thuật rằng do nghiệp bất thiện khi còn làm người nên đã “tái sanh trong thế giới loài quỷ”. Như vậy, làm ngạ quỷ cũng là một hình thức tái sanh, chớ không phải đứng giữa ngã ba đường, ôm hồ sơ chờ gọi số thứ tự hoài mấy trăm năm.
Loài người mình sống tám chín chục năm đã thấy dài muốn rụng râu, nhưng thọ mạng của những cảnh giới khác theo kinh điển có thể được diễn tả rất dài. Có bản kinh nói thọ mạng của loài ngạ quỷ được tính đến hàng trăm năm theo cách tính thời gian của cảnh giới ấy. Cho nên, trong cách nhìn của Phật giáo, một chúng sanh mang nghiệp ngạ quỷ tồn tại rất lâu không phải là điều mâu thuẫn với giáo lý tái sanh.
Còn cái gốc khiến chúng sanh bị buộc ràng thường nằm ở một chữ “chấp”. Chấp nhà, chấp đất, chấp tiền, chấp con, chấp cháu, chấp danh dự, chấp nỗi oan, chấp cơn giận, thậm chí chấp cả cái giới hạnh của chính mình mà không có trí tuệ soi sáng. Chấp niệm giống như mình đã bước xuống ghe mà còn lấy dây cột lưng vô gốc bần. Máy ghe nổ bình bịch, khói bay mù trời, chân vịt quay nước văng tung tóe mà chiếc ghe cứ chạy vòng vòng tại chỗ. Rồi mình than: “Ủa, sao tui tu dữ thần mà hổng đi tới đâu?” Thì còn cột dây, đi làm sao được!
Trong tiểu luận Tu Nghiệp, tác giả ký tên Tỉnh Thuần, viết tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên vào mùa xuân năm Đinh Hợi 2007, có kể một câu chuyện ngay trong phần “Những điều cần biết về cận tử nghiệp”.
Chuyện kể rằng có một vị sư trụ trì cao tuổi, tu hành chay tịnh từ nhỏ. Khi ngài bệnh nặng, thầy thuốc cho rằng phải dùng thức ăn động vật mới có thể hồi phục. Các đệ tử vì thương thầy nên nấu cháo gà dâng ngài nhưng không nói rõ. Sau khi khỏe lại, ngài hỏi và được một chú tiểu thật thà cho biết đó là cháo gà. Vị sư quá đau khổ, cho rằng cả đời giữ giới thanh tịnh mà phút cuối lại phạm giới, nên uất ức rồi đột ngột qua đời.
Từ đó, cứ đến giờ vị sư mất, trong chùa lại vang lên tiếng than:
“Lâm bệnh nằm liệt giường,
lại bị húp cháo xương.”
Chư tăng trong chùa vừa ân hận vừa sợ hãi, lần lượt bỏ đi, khiến ngôi chùa trở nên hoang vắng. Một hôm có vị Thiền sư đi ngang, vào chùa nghỉ đêm, nghe tiếng than ấy liền khai thị:
“Ba nghiệp hằng thanh tịnh,
đồng Phật vãng Tây Phương.”
Vị Thiền sư chỉ rõ rằng vị sư không cố ý đòi ăn thịt, cũng không biết đó là cháo gà, nên không thể vì chuyện ấy mà ôm lòng uất hận, tự kết tội mình mãi. Nhờ lời khai thị ấy, vị sư buông được chấp niệm và thoát khỏi cảnh ngạ quỷ.
Điểm đáng suy ngẫm là vị sư không bị trói bởi tô cháo, cho bằng bị trói bởi ý niệm: “Ta đã phạm giới, ta không thể tha thứ cho mình.” Giới luật vốn để giúp tâm thanh tịnh và giải thoát, nhưng nếu mình chấp giới một cách cực đoan, không hiểu yếu tố cố ý hay vô tình, rồi sanh sân hận, tuyệt vọng, tự hành hạ tâm mình, thì cái thuốc chữa bệnh lại bị mình ôm cứng quá hóa thành cục đá đè ngực. Thành ra người tu không những phải giữ giới mà còn phải học trí tuệ, từ bi và buông xả. Chớ giữ giới mà mặt mày lúc nào cũng căng như dây đàn, ai đụng tới một cái là “bựt” một tiếng bay luôn cây cầu vãng sanh, thì cũng mệt dữ lắm!
Điều mình cần nhớ là dù hiện tượng ấy có thật theo nghĩa tâm linh hay chỉ là sự hiểu lầm của giác quan, bài học tu tập vẫn không đổi: tâm chấp trước là nguồn gốc của khổ đau. Người sống chấp nhà thì chết dễ nhớ nhà; chấp tiền thì tâm bị tiền kéo; chấp con cháu thì cứ lo con cháu không yên; chấp oan hận thì cảnh cũ việc xưa cứ diễn lại trong tâm. Cái gì mình ôm riết lúc sống, đến khi thân yếu tâm loạn, nó rất dễ trồi lên làm chủ.
Bởi vậy, đừng đợi tới lúc nằm thở khò khè mới tập buông. Ngay bây giờ, có món đồ nào không cần thì tập cho; ai làm mình giận thì tập tha; chuyện cũ nhắc lại chỉ thêm khổ thì tập bỏ; công lao mình làm được thì đừng ôm bảng thành tích đi khoe từ đầu làng tới cuối xóm. Mỗi ngày niệm Phật chính là mỗi ngày huân tập một chấp niệm lành, nhưng niệm Phật không phải để chấp thêm cái “tui tu giỏi”. Niệm là nhớ Phật, nhớ lời nguyện của Phật, phát nguyện lìa Ta-bà, cầu sanh Cực Lạc; đồng thời buông dần tham, sân, si và những sợi dây trói buộc trong lòng.
Đối với người đã mất, gia đình nên làm việc thiện, cúng dường Tam bảo, giúp người nghèo khổ, tụng kinh, niệm Phật rồi hồi hướng công đức. Khi khấn nguyện, có thể nhẹ nhàng nhắn người mất rằng nhà cửa, tiền bạc, con cháu đã có người lo; xin đừng quyến luyến, đừng ôm oán giận, hãy cùng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, phát nguyện nương từ lực Phật cầu sanh Tây Phương. Không nên tổ chức gọi hồn, nhập xác, hỏi số đề hay ngày mai giá đất lên xuống. Người ta đang cần mình giúp buông, mình lại kéo về hỏi chuyện mua bán, khác nào thấy người ta sắp lên bờ còn níu áo hỏi: “Bữa nào nhớ về cho tui mấy con số nghen!”
Xuân hỏi tại sao có người chết hàng chục, hàng trăm năm mà dường như vẫn còn xuất hiện. Bốn Lúa tui xin thưa gọn như vầy: bốn mươi chín ngày không phải hạn chót bắt buộc cho mọi chúng sanh; một số trường hợp được gọi là “vong”, có thể theo cách giải thích Phật giáo, đã tái sanh vào cảnh giới ngạ quỷ chứ không phải chưa tái sanh; nghiệp lực và chấp niệm có thể khiến cảnh giới khổ kéo dài; còn các câu chuyện cụ thể thì phải xét từng trường hợp, không nên tin sạch cũng không nên bác sạch.
Ông bà mình nói: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành.” Bốn Lúa xin thêm một câu: có trí thì khỏi hoảng, có niệm Phật thì lòng an. Chuyện ma quỷ nghe chơi để biết nhân quả, chớ đừng nghe xong tối đi ngang bụi chuối thấy tàu lá phất phơ lại vừa chạy vừa la, bỏ luôn đôi dép tổ ong cho con chó hàng xóm tha mất!
Rốt ráo, mình không cần biết hết thiên hạ sau khi chết đi đâu mới tu được. Chỉ cần biết chắc một điều: tâm tham luyến, sân hận và mê mờ thì dẫn mình vào đường khổ; tâm chân thành niệm Phật, tin sâu, nguyện thiết, làm lành, giữ giới và biết buông xả thì đang mở đường về Cực Lạc.
Thân này rồi cũng bỏ,
của cải có mang đâu.
Chỉ nghiệp lành nghiệp dữ,
theo mình đến kiếp sau.
Thôi thì còn thở được câu nào, mình niệm Phật câu đó. Còn thương được người nào, mình thương cho tử tế. Còn buông được chuyện gì, buông lẹ giùm, chớ để tới lúc Diêm Vương mở sổ rồi mình mới xin: “Khoan khoan, cho tui về tháo sợi dây cột chiếc ghe!” E rằng lúc đó ghe đã trôi mà gốc bần cũng hổng còn!
Nam-mô A-di-đà Phật.