Có nhiều người thật tâm muốn niệm Phật, hoặc đã từng hành trì rồi, nhưng vì sự học hiểu về giáo lý còn kém, nên khi nghe kẻ khác biện luận bài bác, liền khởi lòng nghi. Những mối nghi đó rất nhiều, nay chỉ nêu ra ba điểm phổ thông mà lắm người thường vướng phải. Mấy điểm ấy đại khái như: nghi Cực Lạc là quyền thuyết, nghi pháp môn tu chứng quá dễ, nghi mình kém duyên phước khó vãng sanh. Xin giải thích đại lược như sau:
1- Có kẻ thấy trong kinh điển tả cảnh Tịnh Độ quá trang nghiêm, bỗng sanh niệm nghi rằng: Cõi Cực Lạc là quyền tiện của Phật nói ra để cho người hâm mộ gắng tu làm lành lánh dữ, đại khái như thuyết thiên đường, hỏa ngục hay cảnh Bồng Lai, để thưởng thiện phạt ác của các giáo phái khác. Làm gì có một thế giới từ đất đai, cây cối, lầu các đều bằng thất bảo như: vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não hợp thành? Lại còn thân người bằng chất ngọc nhuyễn kim cương, hóa sanh từ hoa sen không có già bịnh chết, các thức ăn mặc trân quý đều tùy ý niệm hiện ra? Như thế toàn là những chuyện đâu đâu, xa với thật tế hiện thấy trước mắt, làm sao tin được?
Để giải thích điều này, xin đáp:
Những ý nghĩ đó đều còn cuộc hạn theo sự nghe thấy của tai mắt phàm tình. Người muốn học Phật không nên đem trí phàm phu mà suy lường cảnh thánh. Đừng nói đâu xa, ngay ở Việt Nam ta, khi cụ Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp trở về thuật lại, nói bên ấy đèn không đốt mà cháy, xe thuyền không ngựa kéo người bơi mà tự chạy. Cụ có vịnh hai câu thi:
Bá ban xảo kế tề thiên địa
Duy hữu tử sanh tạo hóa quyền!
Hai câu này ngụ ý khen người Pháp trăm việc hay khéo sánh bằng trời đất, duy có sự sống chết là còn thuộc quyền tạo hóa định đoạt mà thôi! Vua Tự Đức và triều thần nghe nói thế đều không tin. Đến như ông Nguyễn Tri Phương là chỗ bạn thân, cũng mĩm cười cho là cụ Phan đi xa về nói khoác. Thử hỏi: Vua Tự Đức cùng triều thần đều tự nhận mình là người học thức, cho sự việc đó tai không nghe, mắt không thấy, vượt quá sức tưởng tượng, nên không tin. Nhưng các điều ấy quả thật không có chăng? Lấy một việc nhỏ này suy ra, ta thấy nếu đem những định kiến theo tai nghe mắt thấy và sự tưởng nghĩ phàm thường mà đo lường cảnh thánh đều thành sai lạc. Hơn nữa, nếu không có Phật A Di Đà tiếp dẫn, tại sao nhiều người niệm Phật khi sắp chết biết trước ngày giờ, thấy các cảnh tướng Tây Phương, cùng Phật, Bồ Tát hiện thân đón rước? Nếu cõi Cực Lạc là hư huyền, tại sao có những vị tu Tịnh Độ trong lúc hiện tiền bỗng được tâm khai thấy rõ ràng cảnh Tây Phương trang nghiêm y như lời Phật nói? Đệ tử của Phật hay người muốn học Phật mà không lấy lời Phật dạy trong kinh làm mực thước, thử hỏi còn lấy chi để làm chỗ tựa nương? Cho nên do theo Thánh Ngôn Lượng và Hiện Chứng Lượng (cách suy lường dựa theo lời Phật nói và sự hiện chứng của người tu), ta phải tin rằng những sự trang nghiêm ở Cực Lạc đều có thật.

Ta phải tin rằng những sự trang nghiêm ở Cực Lạc đều có thật.
2- Có người nghe nói pháp môn Tịnh Độ hành trì giản dị mà được kết quả rất mau chóng cao siêu, thì nghi ngờ rằng: Đâu lại có phương pháp thành Phật quá dễ dàng như thế? Bởi đường lối thường thức của các môn tu là Chỉ và Quán. Khi hạ thủ dụng công, trước tu Chỉ, kế tiếp Quán; hoặc trước tu Quán, kế tiếp Chỉ. Lần lần tiến đến “trong Quán có Chỉ, trong Chỉ có Quán.” Khi tới trình độ “Chỉ Quán không hai, định huệ tịch chiếu” mới gọi là bước vào cảnh giới tự tâm. Rồi từ đó về sau, nếu mỗi đời đều tiếp tục tinh tấn tu hành, theo như trong kinh luận nói, phải trải qua một muôn đại kiếp mới lên ngôi Bất Thối Chuyển. Tại sao chỉ niệm một câu Phật hiệu, ngay trong đời này lại được vãng sanh lên ngôi Bất Thối, há chẳng phải là quá dễ dàng ư?
Đề cập đến nghi vấn nầy, chúng ta nên biết tu các pháp môn khác chỉ hoàn toàn nương nơi tự lực, cho nên phải khó. Riêng đường lối Tịnh Độ có hai năng lực, là tự tâm lực và Phật tiếp dẫn lực, nên sự thành công rất dễ. Ví như một người chân yếu, muốn tự mình lên tận đỉnh núi cao là điều rất khó. Nhưng nếu kẻ ấy được một vị đại lực sĩ khoác cánh tay phăng phăng đưa bước tiến lên, thì kết quả đăng phong nào có khó chi! Về môn Tịnh Độ cũng thế, khi ta chuyên tâm niệm Phật tức là lúc tâm lực phát triển. Niệm đến một lòng không loạn, là lúc tâm lực hoàn toàn hiện bày. Đang khi ấy nghiệp lực bị hàng phục không còn làm chướng ngại, lại được thêm Phật lực tiếp dẫn nên tuy nghiệp chưa trừ dứt, mà được vãng sanh. Khi sanh về Tây Phương rồi, sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, sự không thối chuyển cho đến khi thành Phật là một điều hiển nhiên dễ hiểu.

Một người chân yếu, muốn tự mình lên tận đỉnh núi cao là điều rất khó. Nhưng nếu kẻ ấy được một vị đại lực sĩ khoác cánh tay phăng phăng đưa bước tiến lên, thì kết quả đăng phong nào có khó chi!
3- Có kẻ lại nghi rằng: Cảnh Cực Lạc mầu đẹp trang nghiêm vô lượng, chẳng phải dùng ít nhân duyên căn lành phước đức mà được sanh về. Nhìn gẫm lại mình, căn lành phước đức còn sơ bạc, nghiệp chướng lại nhiều, mong gì đời này được duyên tốt vãng sanh?
Xin kính khuyên quý vị ngàn muôn lần chớ nên nghi như thế. Bởi khi các vị lần chuỗi niệm Phật được, là căn lành phước đức đã sâu dày rồi. Thử nghĩ lại xem, trên thế gian này biết bao nhiêu kẻ không nghe được danh hiệu Phật? Biết bao nhiêu người tuy nghe hồng danh đức A Di Đà, nhưng mãi đoạt lợi tranh danh, đeo đuổi theo các điều trần nhiễm, không chịu niệm Phật? Nay các vị đã được nghe Phật pháp và chí tâm niệm Phật, há không phải là có căn lành phước đức lớn đó ư? Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật bảo Di Lặc Bồ Tát: “Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu đức Phật kia, vui mừng khấp khởi, cho đến một niệm, nên biết kẻ ấy được lợi lớn, đã đầy đủ phước đức vô thượng.” Lời này đủ chứng minh: biết niệm Phật tức là đã có nhiều phước đức căn lành rồi. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có dẫn sự tích những người phạm tội cực ác như Trương Thiện Hòa, Hùng Tuấn, Duy Cung và loài súc sanh như chim bát kha, anh võ, chí tâm niệm Phật đều được vãng sanh. Phước đức căn lành của quý vị đã vượt xa hơn những người ác và loại súc sanh kia. Vậy cần chi phải e ngại là ngay trong đời này không được sanh về Cực Lạc?

“Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu đức Phật kia, vui mừng khấp khởi, cho đến một niệm, nên biết kẻ ấy được lợi lớn, đã đầy đủ phước đức vô thượng.”
Trích: Niệm Phật Thập Yếu 
Cố hòa thượng Thích Thiền Tâm

Phật pháp ngoài pháp môn này ra, bất cứ một pháp môn nào cũng đều phải nhờ vào đoạn Hoặc kiến Chân (đoạn mê hoặc, thấy cái chân thật) của chính mình, không có cách nhờ vả tha lực; duy chỉ có pháp môn niệm Phật có sự trợ giúp của tha lực, đó là lúc vãng sanh, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, thấy được Phật là được Phật lực gia trì.






Trong bài viết trên có câu: “Khi hạ thủ dụng công, trước tu Chỉ, kế tiếp Quán; hoặc trước tu Quán, kế tiếp Chỉ.” Cho em hỏi tu Chỉ và Quán là tu như thế nào thưa các chư huynh đệ liên hữu?
Cho em hỏi tên em là Sơn, nhưng em thường hay dùng tên biệt danh của mình là Louis allard trong cuộc sống, công việc, giao lưu..như là tên quan trọng hơn. Còn pháp danh của em là Nhật Lâm. Thì nhiều tên như vậy có ảnh hưởng gì nhiều tới việc khó tìm thấy hoa sen ở Cực lạc không hay có gây hại gì không? Nếu thế thì hoa sen của em ở đó tên là gì ạ? (Vì em thấy cảnh báo không được dùng nhiều tên kẻo khó tìm thấy hoa, mà em không bỏ bớt tên đi được)
Em cảm ơn quý anh chị bạn bè nếu có phúc đáp!
Chào Nhật Lâm, Bé Như đọc câu hỏi mà mắc cười quá chừng luôn á! 😄 Bộ ở Cực Lạc có cái phòng hành chánh cầm sổ hộ khẩu rồi ngồi dò: “Sơn đâu ta? Louis Allard đâu ta? Nhật Lâm đâu ta? Trời ơi một người mà tới ba cái tên, tìm cái hoa sen muốn xỉu!” luôn. Nếu vậy chắc phải đem theo cái bảng tên bự thiệt bự, một mặt ghi Sơn, một mặt ghi Louis Allard, mặt kia nữa ghi Nhật Lâm, rồi đứng giữa ao sen la lớn: “A Di Đà Phật ơi, con đây nè!” 😂
Nhưng mà yên tâm nghen Nhật Lâm. Việc mình có tên khai sinh là Sơn, dùng biệt danh Louis Allard trong công việc và giao tiếp, rồi có pháp danh Nhật Lâm khi tu học, tự nó không làm cho mình khó vãng sanh, cũng không khiến “hoa sen” ở Cực Lạc bị thất lạc đâu. Tên gọi trong đời này chủ yếu là phương tiện để người ta nhận biết mình. Một người có thể có tên khai sinh, tên thường gọi, bút danh, pháp danh, biệt hiệu… nhưng người niệm Phật vẫn chỉ là một người ấy. Mình đổi tên trên Facebook chứ đâu có đổi luôn cái tâm với nghiệp của mình đâu nè! 😄
Trong pháp môn Tịnh Độ, điều quan trọng không phải là mình có bao nhiêu cái tên, mà là mình có lòng tin nơi Đức Phật A Di Đà, nguyện sinh về Tây Phương Cực Lạc và chân thật hành trì niệm Phật hay không. Đức Phật đâu có nhận diện chúng sanh bằng cái tên trên giấy tờ. Ngài biết chúng sanh bằng tâm niệm, nghiệp duyên và nguyện lực. Khi một người xưng niệm “Nam-mô A Di Đà Phật”, dù người ấy tên Sơn, Louis, Nhật Lâm hay có thêm mười cái biệt danh nữa, câu Phật hiệu vẫn là câu Phật hiệu, chẳng có cái nào bị “lỗi hệ thống” hết trơn! 😆
Còn chuyện nếu có ai nói rằng mỗi người ở Cực Lạc có một đóa sen mang đúng tên thế gian của mình, rồi dùng nhiều tên sẽ khiến mình không biết tìm hoa nào, thì cách nói đó dễ làm người niệm Phật sinh thêm lo lắng không cần thiết. Trong giáo lý Tịnh Độ, hoa sen biểu trưng cho chỗ liên hoa hóa sinh của người vãng sanh; phẩm vị và sự sinh về Cực Lạc liên hệ đến tín, nguyện, hạnh và nghiệp duyên của chúng sanh, chứ không phải do mình có bao nhiêu tên gọi ngoài đời.
Bé Như còn nghĩ vầy nè: nếu cái tên có thể làm mất hoa sen thì chắc mấy cô chú ngày xưa khổ dữ lắm, bởi có người ở nhà gọi một tên, đi chùa có pháp danh một tên, con cháu gọi một tên, hàng xóm lại đặt cho một cái biệt hiệu nữa. Có bác còn được gọi “Tư”, “Út”, “Ba”, “Chú Bảy” tùm lum hết trơn! 😄 Chẳng lẽ tới Cực Lạc Đức Phật phải hỏi: “Ủa con là Út hay Tư? Hoa sen này của Tư hay của Út?” Nghe thôi là Bé Như muốn lăn xuống ao sen cười rồi!
Nhật Lâm cũng không cần phải bỏ tên Louis Allard nếu tên ấy có ý nghĩa hoặc thuận tiện cho công việc và giao tiếp. Cũng không cần lo rằng dùng pháp danh Nhật Lâm sẽ “đụng” với tên Sơn. Tên pháp danh có ý nghĩa nhắc mình về con đường tu học; khi niệm Phật, mình có thể dùng chính tên nào mình quen cũng được, bởi cốt lõi vẫn là câu “Nam-mô A Di Đà Phật”. Điều đáng để mình “bỏ bớt” không phải là bỏ bớt tên, mà là từ từ bỏ bớt tham, sân, si, chấp trước, hơn thua và những thứ làm tâm mình xa Phật. Cái đó mới là cuộc “đổi tên” đáng giá nhất nghen! 😌
Còn Nhật Lâm hỏi: “Vậy hoa sen của em ở đó tên là gì?” Bé Như trả lời vui như vầy: “Chưa vãng sanh mà đòi đặt bảng tên cho hoa sen trước, coi chừng hoa sen mắc cỡ nó trốn xuống dưới nước đó nghen!” 😂 Mình không nên tự đoán rằng hoa sen của mình tên Sơn, Louis Allard hay Nhật Lâm. Nếu nói theo tinh thần Tịnh Độ thì điều đáng quý nhất bây giờ không phải là biết trước hoa sen của mình mang tên gì, mà là chuyên tâm vun bồi nhân duyên vãng sanh. Khi đủ duyên, chuyện của Cực Lạc để Đức Phật A Di Đà lo. Mình lo niệm Phật cho chắc cái đã. Mình cứ giữ lòng chân thành, tin sâu nguyện thiết, niệm Phật đều đặn, sống hiền lành, làm việc thiện, hồi hướng công đức cầu sinh Tây Phương. Tên Sơn vẫn là Sơn, Louis Allard vẫn là Louis Allard, Nhật Lâm vẫn là Nhật Lâm; nhưng trong sâu thẳm, mình chỉ cần nhớ một danh hiệu thôi: Nam-mô A Di Đà Phật.
Vậy nên Nhật Lâm cứ an tâm nghen. Đừng mất công chạy vòng vòng trong tâm mà kiếm cái hoa sen bằng tên của mình. Cứ niệm “Nam-mô A Di Đà Phật” cho hoa sen nở trước trong tâm đã. Đến ngày về Cực Lạc, Bé Như tin là khỏi cần đứng trước ao sen cầm bảng tên đâu. Đức Phật A Di Đà mà đã tiếp dẫn thì Ngài biết mình là ai rồi. Mình có ba tên, năm tên hay mười tên cũng không làm Ngài… “lạc địa chỉ” đâu à! 😄
Nam-mô A Di Đà Phật. 🌸🙏
Ồ hóa ra là như thế! Cảm ơn bạn nhiều nha 😄👌
Trả lời Huynh Phàm Ngu: Huynh hỏi câu này thì Hai Lúa tui xin thưa: Chỉ với Quán nghe thì có vẻ cao siêu, chớ hiểu nôm na ra cũng hổng có gì ghê gớm lắm. Chỉ là làm cho cái tâm đang chạy lăng xăng như con cá lóc gặp nước ròng nó chịu nằm yên một chút; Quán là dùng cái tâm tỉnh táo đó mà nhìn cho rõ sự việc, rõ thân tâm, rõ nhân quả, rõ cảnh giới mình đang tu.
Chữ “Chỉ” trong Phật pháp thường có nghĩa là đình chỉ những vọng niệm tán loạn, làm cho tâm lắng xuống, chuyên chú vào một đối tượng. Người tu Tịnh Độ thì dễ thực hành lắm: mình nhiếp tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, câu trước nối câu sau, rõ ràng từng chữ, nghe chính tiếng mình niệm, đừng để miệng niệm một đường mà đầu óc chạy qua chợ mua rau, ghé ngân hàng trả tiền, rồi vòng qua nhà hàng xóm coi bữa nay người ta ăn món gì. Đó là tập Chỉ: tâm từ từ gom lại một chỗ, bớt tán loạn, bớt chạy theo cảnh.
Còn “Quán” là nhìn cho rõ. Trong Tịnh Độ, mình có thể quán tưởng Đức Phật A Di Đà, cảnh giới Tây Phương Cực Lạc, hoặc quán sát thân tâm vô thường, các pháp đều do duyên mà sanh, nhân quả chẳng sai chạy. Nhưng Hai Lúa xin nhắc bà con một chuyện: nếu quán tưởng mà tâm càng chạy lung tung, tưởng Cực Lạc riết rồi bay qua tới cung trăng, gặp chị Hằng hỏi thăm đường về Tây Phương, thì thôi mình quay lại niệm Phật cho chắc cú. Tu là để tâm được thanh tịnh, chớ hổng phải để cái đầu mở thêm một rạp chiếu phim.
Cho nên câu “trước tu Chỉ, kế tiếp Quán; hoặc trước tu Quán, kế tiếp Chỉ” có thể hiểu là Chỉ và Quán hỗ trợ lẫn nhau. Tâm quá tán loạn thì dùng Chỉ để nhiếp tâm; tâm đã tương đối an định thì dùng Quán để soi rõ đạo lý. Có khi đang Quán mà vọng tưởng nổi lên thì trở lại Chỉ; đang Chỉ mà tâm rơi vào trạng thái mờ mịt, thiếu tỉnh giác thì dùng Quán để soi sáng. Giống như chèo xuồng vậy đó: một mái chèo bên này, một mái chèo bên kia, chèo cho khéo thì xuồng mới đi thẳng; chèo một bên hoài thì bà con chèo tới chiều vẫn còn quay vòng vòng trước sân nhà.
Riêng người tu Tịnh Độ, Hai Lúa tui thấy pháp môn mình quý ở chỗ đơn giản mà sâu xa. Chỉ thì chuyên tâm niệm Phật, Quán thì biết rõ mình đang niệm Phật, biết rõ từng câu từng chữ, đồng thời tin sâu nhân quả, phát nguyện vãng sanh, quán tưởng công đức và cảnh giới của Đức Phật A Di Đà. Rốt cuộc Chỉ cũng để nhiếp tâm niệm Phật, Quán cũng để tăng trưởng tín nguyện niệm Phật. Hai cái nương nhau mà tu, chớ đừng chia ra thành hai món rồi ngồi lựa món nào ngon hơn.
Ấn Quang Đại Sư thường đặc biệt nhấn mạnh việc nhiếp tâm niệm Phật. Người sơ cơ chưa cần ham chuyện quán tưởng cao xa. Cứ thành thật, chí thành mà niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, tai nghe rõ tiếng niệm, tâm nhớ rõ câu Phật hiệu, niệm từng câu cho chắc từng câu. Vọng tưởng nổi lên thì biết nó nổi lên, nhẹ nhàng trở về với câu Phật hiệu. Làm được vậy lâu ngày, cái tâm vốn như con khỉ chuyền cành cũng bớt nhảy nhót, như trâu hoang dần dần chịu về chuồng.
Hai Lúa tui xin mượn câu thơ của cổ nhân mà nói chơi cho dễ nhớ: “Tâm bình thế giới bình.” Tâm mình lặng thì cảnh cũng nhẹ, tâm mình sáng thì đường tu cũng sáng. Cho nên Chỉ là làm cho tâm lặng, Quán là làm cho tâm sáng; lặng mà không sáng thì dễ thành hôn trầm, sáng mà không lặng thì dễ thành vọng tưởng. Lặng và sáng đi đôi với nhau, giống như trăng với ánh trăng vậy đó.
Huynh Phàm Ngu cứ thong thả mà tu, đừng nóng ruột muốn một bữa thành ông Thánh. Mỗi ngày giữ câu “Nam Mô A Di Đà Phật” cho chắc, lấy tín làm đầu, lấy nguyện làm hướng đi, lấy niệm Phật làm công phu. Niệm được một câu mà tâm chân thành, còn quý hơn miệng niệm một ngàn câu mà tâm chạy đi mất tiêu. Tu hành cũng như làm ruộng: cứ cặm cụi gieo mạ, chăm lúa, bón phân, nhổ cỏ; tới mùa lúa chín tự nhiên cúi đầu. Lúa càng trĩu hạt càng cúi rạp xuống thấp. Người tu có chút công phu càng thấy mình ngu, nên càng khiêm cung. Cái đó mới thiệt là có mùi đạo vị nghen!
Em nghe nói người niệm Phật thì thân toả ra ánh sáng hay hào quang. Loại ánh sáng này mắt phàm phu người thường mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy, nhưng chúng sanh ở các cõi khác có thể nhìn thấy. Em còn nghe nói ma quỷ khi nhìn thấy loại ánh sáng hay hào quang này rất sợ. Em nghĩ nếu đúng vậy thì câu Phật hiệu rất hữu ích cho những ai đi trong đêm khuya hay nơi đồng không mông quạnh vào chiều tối. Nhưng không biết chuyện em nghe người niệm Phật toả ánh sáng có thật không các anh chị?
Thân chào Bé Nhi:
Chuyện này trong pháp môn Tịnh Độ có những ghi chép về người niệm Phật phát ánh sáng, thậm chí có chuyện được người khác nhìn thấy. Nhưng mình phải phân biệt cho rõ giữa “ánh sáng công đức của Phật hiệu” với chuyện “mắt thịt nhìn thấy hào quang”, chớ không thôi đang đi ngoài đồng mà cứ ngóng coi con ma nào chạy ngang để mình… chào hỏi, rồi tối về khỏi ngủ luôn!
Trong kinh điển Đại thừa, ánh sáng trước hết được nói đến như một đặc tính của chư Phật. Đức Phật A Di Đà có vô lượng quang minh, và người niệm Phật là đang nhiếp tâm về danh hiệu, công đức và nguyện lực của Ngài. Cho nên trong cách nói của Tịnh Độ, niệm Phật có thể khiến thân tâm dần dần được “quang minh hóa”; nghiệp chướng nhẹ đi, tâm thanh tịnh hơn, trí sáng hơn. Nhưng điều này không có nghĩa hễ mình niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mười tiếng là trên đầu liền bật cái đèn LED công suất 500 watt cho thiên hạ thấy nghen!
Có một trường hợp được ghi lại trong bộ “Tịnh Độ Tập” của Ngẫu Ích Đại Sư. Chuyện kể một người cùng bạn đồng hành gặp một người chết oan. Sau đó, trong lúc đi đường, người ấy khởi một niệm “A Di Đà Phật”. Theo câu chuyện được ghi lại, người bạn đồng hành vốn là quỷ liền hoảng sợ, nói rằng khi ông ta niệm Phật thì từ ngực phát ra ánh sáng năm màu dài hơn mười trượng, khiến quỷ không thể đến gần. Đây là một câu chuyện được các trước tác Tịnh Độ lưu truyền, mình nên hiểu nó là một ghi chép trong truyền thống Phật giáo, không nên đem nó thành một thí nghiệm khoa học để bắt quỷ đứng vô máy đo ánh sáng mà đo nghen.
Lại có một câu chuyện khác được ghi trong sách “Niệm Phật Phóng Quang” của Tịnh Độ Tông. Một người Mỹ tự nhận mình có khả năng thấy những cảnh giới mà người bình thường không thấy, kể rằng ông nhìn thấy người niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” có ánh sáng xuất hiện từ miệng; người thành tâm thì ánh sáng mạnh, người tâm tán loạn thì ánh sáng yếu. Câu chuyện này được Pháp Tạng Pháp sư thuật lại trong một buổi hoằng pháp. Sách cũng ghi nhận nhiều trường hợp khác như người niệm Phật thấy ánh sáng, trên đỉnh đầu hiện quang minh, hoặc gặp những hiện tượng đặc biệt trong lúc niệm Phật.
Nhưng Tong khoái nhất là chỗ này nè Bé Nhi: mình niệm Phật thì đừng lấy chuyện “có hào quang hay không” làm thước đo công phu. Ấn Quang Đại Sư từng nhắc người tu phải lấy lòng thành kính và chuyên tâm làm chính. Ngài còn cảnh báo rằng người sơ học nếu cứ ham quán tưởng những cảnh giới rộng lớn, tâm dễ tán loạn, thậm chí có thể phát sinh những cảnh giới không tốt.
Cho nên Bé Nhi hỏi “đi ban đêm niệm Phật có làm ma quỷ sợ không?” thì Tong trả lời: cứ niệm! Nhưng đừng niệm với cái tâm “A Di Đà Phật, coi thử ông ma nào dám tới!” Niệm như vậy là mình đang biến câu Phật hiệu thành… cây chổi đi đánh ma, trong khi mục đích chính của niệm Phật là nhiếp tâm, tiêu nghiệp, tăng trưởng tín nguyện và cầu sanh Tịnh Độ. Nếu thật sự có chúng sanh trong cảnh giới khác nghe được câu Phật hiệu mà sinh tâm kính sợ hay tránh xa, đó là chuyện thuộc về cảm ứng và cảnh giới vô hình; mình không cần cố chứng minh, cũng không cần cố tìm.
Đi trong đêm tối mà niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” còn có một cái lợi rất thực tế: cái miệng bận niệm Phật thì cái đầu bớt bày chuyện. Chớ ban đêm đi một mình, chưa thấy ma mà trong đầu đã dựng nguyên bộ phim kinh dị tám tập, tập cuối còn có mình đóng vai chính, thì lúc đó cái đáng sợ nhất chưa chắc là ma đâu, mà chính là cái trí tưởng tượng của mình! Niệm Phật giúp tâm định lại, bớt hoảng loạn, bước chân vững hơn, tâm có chỗ nương tựa. Còn nếu nơi đó thật sự nguy hiểm về mặt đường sá, người xấu, thú dữ hay địa hình thì vẫn phải tránh né, chứ đừng nghĩ có sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” rồi chạy ngang đường cao tốc mà tưởng xe cộ tự động né mình nghen!
Trong giáo lý Tịnh Độ, điều đáng quý hơn chuyện thân có phát quang hay không chính là câu Phật hiệu đang làm cho cái tâm của mình từ từ sáng lên. Miệng niệm Phật, tâm nhớ Phật, nguyện sanh Cực Lạc, lại chịu khó làm lành lánh dữ, sống tử tế với người chung quanh. Cái “hào quang” đó mới là thứ Tong thấy đáng mừng nhất. Có khi người ta chẳng thấy ánh sáng nào trên đầu mình hết, nhưng thấy mình bớt nóng nảy, bớt sân si, bớt nói lời làm đau người khác, gặp chuyện nghịch lòng vẫn niệm được một câu A Di Đà Phật. Vậy là ánh sáng đã bắt đầu có rồi đó Bé Nhi.
Cho nên, Bé Nhi cứ niệm Phật đi. Đừng ngồi chờ coi trên người mình có bóng đèn nào bật lên không. Cứ chí thành mà niệm, lâu ngày nếu có cảm ứng gì thì biết ơn mà không tham trước; nếu chẳng thấy gì đặc biệt thì cũng chẳng buồn. Như người nông dân miền Tây tụi Tong trồng lúa vậy đó: gieo hạt, chăm nước, làm cỏ, rồi để mùa màng tự chín. Cứ ngày nào cũng đào đất lên coi hạt giống mọc chưa thì… tới mùa chỉ còn thấy cái ruộng bị đào tanh bành!
Cổ nhân có câu rất hay: “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.” Tong xin Bé Nhi nhớ câu đó hơn chuyện hào quang. Niệm Phật đến lúc tâm mình bớt tối, bớt sợ, bớt tham, bớt sân, bớt si, lòng càng ngày càng thương người và tin sâu nhân quả — vậy là câu Phật hiệu đã thật sự phát sáng trong đời mình rồi. Còn cái hào quang mà mắt phàm có nhìn thấy hay không, chuyện đó xin để cho các bậc có đạo nhãn lo; mình phàm phu cứ lo chuyện… niệm cho chắc cái đã! 😄
Bé Nhi ơi, trong website này cũng có bài đăng về chuyện niệm Phật phóng quang ở đây nè:
https://www.duongvecoitinh.com/2023/08/hai-cau-chuyen-that-minh-chung-nguoi-niem-phat-than-toa-anh-sang-ma-qui-deu-kinh-so/
Kính gửi đạo hữu Phàm Ngu: Cố hòa thượng Tịnh Không có cách giảng dễ hiểu về Chỉ và Quán như thế này. Chỉ là Buông Xuống. Quán là Nhìn Thấu. Nhìn Thấu mọi vật trên thế gian đều là giả ảo không thật nên chúng ta mới có thể Buông Xuống muôn duyên để chuyên tâm niệm Phật. Khi Buông Xuống rồi nó sẽ giúp chúng ta càng Nhìn Thấu rõ thêm. Cho nên Nhìn Thấu giúp Buông Xuống, và Buông Xuống sẽ giúp chúng ta Nhìn Thấu. 2 cái này hổ trợ nhau giống như Chỉ và Quán vậy.