Thế giới này có quá nhiều thứ cám dỗ, tài sắc danh thực thùy ngũ dục lục trần cám dỗ, biết được khổ là không bị cám dỗ. Nếu tôi muốn được những sự hưởng thụ của thế gian, thì chính mình nên nghĩ xem, phải trả giá như thế nào? Có đáng không? Không đáng! Tuy làm đến bậc Quốc Vương ở trên thế gian này. Người ta thường nói rằng: “quí vi thiên tử, phú hữu tứ hải”, bạn có thể hưởng thụ được mấy năm? Đại khái trong lịch đại đế vương, người hưởng thụ lâu nhất không ai ngoài Khang Hy. Khang Hy làm hoàng đế 61 năm. Vua Càn Long không dám vượt quá ông mình, nên làm 60 năm, đem vương vị giao cho con trai, còn bản thân làm Thái thượng hoàng 4 năm rồi cũng ra đi. Cho nên bạn nghĩ xem, có thể hưởng thụ bao lâu? Sau khi hưởng hết phước báu thì đi về đâu? Không ra khỏi luân hồi lục đạo. Đã không ra khỏi luân hồi lục đạo, thế thì có thể đoán biết được, đời này qua đời khác, chúng ta nói kiếp, kiếp này qua kiếp khác, đó là sự thật. Đó chính là cái giá mà bạn phải trả, tạo phước bao nhiêu đời, mới có được một đời làm đế vương. Một đời hưởng hết phước rồi, lại phải đọa lạc bao nhiêu đời nữa, hà tất phải như vậy? Đây là việc chúng ta phải nhìn thấu hiểu rõ, cho nên chẳng những ngôi vị đế vương của thế gian, không thể cám dỗ được chúng ta. Đại Phạm Thiên vương, Ma Ê Đầu La Thiên vương, cũng không thể dụ dỗ được một người tu hành. Người tu tập giác ngộ hiểu rõ. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc bạn sẽ được 3 điều lợi, 3 điều lợi này không gì sánh bằng.
Điều lợi thứ nhất, là đích thân nghe Phật thuyết pháp, điều này không dễ gì gặp được. Nghe Phật nào nói pháp vậy? Nói cho quí vị biết, đến thế giới Cực Lạc nghe báo thân Phật thuyết pháp. Ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, tam thân tức là nhất thân, nhất thân tức là tam thân. Chúng ta ở thế gian này, tuy được sanh cùng thời với Phật Thích Ca Mâu Ni, có duyên gặp được Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng hóa thân, đích thân bạn nghe được Pháp thân, báo thân Phật vì bạn thuyết pháp, làm sao có lý không khai ngộ được.
Điều lợi thứ hai là bất thoái chuyển, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc là chứng được bất thoái chuyển, cho nên đức Phật dạy chúng ta, phàm thánh đồng cư độ, hạ hạ phẩm vãng sanh cũng là làm A Duy Việt Trí Bồ tát, điều này rất khó. Chúng ta không thể thành tựu ở thế gian này, nguyên nhân vì sao vậy? Là ở chỗ tiến bộ quá ít, thoái bộ lại quá nhiều, đúng là tiến 1 bước lùi 10 bước, cho nên không dễ gì thành tựu.
Điều lợi ích thứ ba là “thọ mạng vô lượng”, thế giới Tây Phương Cực Lạc, thật sự là vô lượng thọ, không phải là số vô lượng của hữu lượng, mà là số vô lượng thật sự. Cho nên nhất định trong đời này, trong đời này phải sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Chúng ta nhận thức được như vậy, nhận biết được như vậy, làm sao không thể vãng sanh? Trong đời này chúng ta có thể đạt được không? Được, chắc chắn đạt được, vấn đề ở chỗ bạn có muốn hay không, cái muốn hay không muốn này, chính là cái bạn có thật sự nhận biết hay không? Sau khi thật sự nhận biết thế gian này, bạn mới thật sự buông bỏ được. Thế gian này còn có điều gì không buông bỏ được? Nói cách khác, đối với thế giới Tây Phương Cực Lạc bạn nhận biết mơ hồ không rõ ràng. Nếu thật sự nhận biết rõ ràng, thì đâu còn gì để nói nữa? Chắc chắn thành tựu, buông bỏ hết tất cả.
Trích: Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa tập 31
Chủ giảng: Tịnh Không pháp sư
Chuyển ngữ: Tử Hà
Biên tập: Bình Minh
Giảng ngày 06 tháng 05 năm 2010 tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu






Câu “tài sắc danh thực thùy ngũ dục lục trần cám dỗ” là gì vậy anh chị? Hoan hỉ dịch ra chữ Nôm cho em dễ hiểu chút được không ạ? A Di Đà Phật.
Vĩ Dạ xin thưa với chị Xuân một chút ni, câu “tài sắc danh thực thùy, ngũ dục lục trần cám dỗ” nghe qua thì có vẻ hơi cao siêu như mây trên núi Ngự Bình, nhưng hiểu ra rồi thì cũng gần gũi lắm chị ạ. 😊
“Tài” là tiền tài, của cải; “sắc” là sắc đẹp, những thứ khiến lòng mình mê đắm; “danh” là danh tiếng, địa vị, được người đời khen ngợi; “thực” là thức ăn, sự hưởng thụ vật chất; “thùy” ở đây thường được hiểu là “thùy miên”, tức sự ngủ nghỉ, ham mê sự an nhàn. Năm thứ ấy thường được nói đến trong nhóm những thứ dễ làm con người sinh lòng tham đắm. Còn “ngũ dục” là năm thứ ham muốn của phàm phu: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ; “lục trần” là sáu cảnh bên ngoài tiếp xúc với sáu căn: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nói nôm na cho dễ hiểu là: mắt thích cái đẹp, tai thích lời hay, mũi thích hương thơm, lưỡi thích món ngon, thân thích sự dễ chịu, tâm thích những điều vừa ý. Rứa đó chị, sáu cửa cứ mở ra là sáu ông “tiểu thương” đứng ngoài rao hàng: “Mua đi chị, vui lắm!” Mình mà không tỉnh táo là mua hết, tới cuối tháng tâm hồn… hết tiền!
Nếu dịch thật mộc mạc theo kiểu Vĩ Dạ thì câu ấy có thể hiểu là: “Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ cùng những cảnh vui thích của thế gian đều có thể trở thành những thứ quyến rũ lòng người, khiến mình mê đắm, quên mất đường trở về với tâm thanh tịnh.” Còn nếu chị muốn “dịch ra chữ Nôm” theo nghĩa là viết lại bằng lời thuần Việt, dễ hiểu, thì Vĩ Dạ xin thưa: “Của cải, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn ngon, ngủ sướng cùng những điều mắt thấy tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân cảm nhận và tâm ưa thích đều dễ làm lòng người say đắm.” Đây là cách diễn nghĩa cho dễ hiểu chớ không phải chuyển từng chữ sang chữ Nôm cổ chị hỉ. 😊
Trong Phật pháp, điều quan trọng không phải là mình phải chạy trốn hết những thứ ấy. Có tiền thì dùng tiền làm việc thiện, có sắc đẹp thì giữ tâm đoan chính, có danh thì dùng danh để làm lợi ích cho người, có thức ăn thì ăn vừa đủ để nuôi thân, có giấc ngủ thì ngủ để giữ sức tu hành. Cái đáng sợ không phải là “cảnh”, mà là cái tâm bị cảnh kéo đi. Người tu Tịnh Độ sống giữa chợ đời mà lòng vẫn nhớ câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, ấy mới là hay. Chứ nếu đợi tới khi lên núi, không điện thoại, không internet, không ai rủ đi ăn chè mà mới niệm Phật thì… dễ tu quá rồi chị ơi!
Cho nên mỗi khi sáu trần đưa tới trước mắt, mình cứ nhẹ nhàng nhận biết: “À, đây là cảnh bên ngoài.” Thích thì biết mình thích, ghét thì biết mình ghét, nhưng đừng để cái thích cái ghét kéo mình đi quá xa. Rồi trở về câu Phật hiệu: “Nam-mô A Di Đà Phật.” Niệm một câu là kéo tâm mình từ ngoài cửa trở về nhà. Niệm lâu ngày, mình sẽ thấy những thứ từng làm mình mê mẩn cũng chẳng còn quyền lực ghê gớm như trước nữa.
Vĩ Dạ xin mượn hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để thưa với chị một chút: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.” Người đời sống giữa ngũ dục lục trần thì khó tránh khỏi cám dỗ, nhưng mình có quyền lựa chọn mình sẽ chạy theo nó hay quay về với Phật. Tịnh Độ pháp môn quý ở chỗ đó: biết mình là phàm phu, biết sức mình yếu, nên chẳng dám khoe “em tự tu em thắng hết”, mà cứ một lòng nương nơi đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, chân thành niệm Phật, giữ tâm lành, tránh điều ác, nguyện cầu vãng sanh Tây Phương.
Chị Xuân cứ nhớ đơn giản ri là được: “Ngũ dục là những điều mình ham muốn; lục trần là những cảnh bên ngoài mình tiếp xúc; cám dỗ là khi tâm mình bị chúng kéo đi.” Biết rõ mà không chạy theo, thấy mà không đắm, hưởng mà không tham, sống giữa bụi trần mà lòng vẫn hướng về Tây Phương, đó mới là người biết tu. A Di Đà Phật.