Năm 2011 là thời điểm cuộc sống của tôi cực kỳ xuống dốc, sức khỏe cũng không tốt. Vì vậy tôi thường lên mạng tra tìm phương pháp thay đổi vận mệnh, thì tình cờ gặp trang web Chuyên Tu Iinh Địa Tạng. Trưởng đoàn biết tôi là kẻ sơ cơ mới nghiên cứu giáo lý Phật, chưa có kinh sách gì, bèn gởi tặng tôi: Kinh Địa Tạng, kinh Kim Cang, kinh Dược Sư và một số sách nhân quả, sách hướng thiện…
Tôi là sinh viên đại học, đã nhiều năm hấp thụ nền giáo dục hướng theo chủ nghĩa duy vật, thế nên vừa đọc vài trang kinh Địa Tạng, thì đã cảm thấy nội dung trong đó giống như chuyện thần thoại hoang đường, nên không thèm đọc nữa. Đây là lần đầu tôi tiếp xúc sơ qua Phật giáo. Tiết Thanh minh năm nọ, tôi không về nhà bà ngoại để tảo mộ cho ông ngoại. Mấy ngày sau, tôi mộng thấy ông ngoại, trông ông có vẻ suy sụp và đang ở một vùng tối tăm, ông tuyệt vọng hỏi tôi: “Vì sao lâu rồi cháu không đến thăm ông?” Thức dậy, tôi rất buồn. Thời điểm tôi chào đời, bà nội lần đầu trông thấy tôi, vừa nhận ra tôi là con gái, thì kể từ đó về sau bà chẳng thèm để ý đến tôi nữa, mẹ tôi do vậy cũng nếm đủ mùi lạnh nhạt, rẻ rúng từ bên nhà chồng. Do đó mẹ cứ băn khoăn với ý nghĩ: Liệu có nên đem tôi cho nhà khác nuôi hay không? Ông ngoại tôi biết được, bèn khuyên răn mẹ tôi, sau đó mẹ đem tôi về nhà cho ông bà ngoại nuôi dưỡng. Nhờ vậy mà tôi thoát cảnh bị đem cho nhà người, nên tôi rất mang ân ông ngoại. Tôi ở nhà ngoại được một năm, thì ông ngoại tạ thế. Lần này đột nhiên mơ thấy ông ngoại, tôi cảm thấy rất bất ngờ và buồn. Hai ngày sau tôi xin nghỉ phép về thăm bà ngoại, kể cho bà nghe chuyện nằm mơ.
Do cậu tôi gần 40 tuổi mà chưa cưới được vợ, nên điều này trở thành nỗi lo day dứt của bà ngoại và mọi người. Vì vậy mà hễ nghe đồn ở đâu có thầy bà nào linh, thì họ vội đến hỏi về tương lai hôn sự của cậu. Có lần dì tôi hỏi một bà thầy bói:
– Tại sao ông ngoại chẳng chịu phù hộ cho con trai?
Bà này xem một hồi thì nói:
– Cha cô hiện đang ở một nơi tối tăm không có ánh mặt trời, xung quanh toàn là nước, lại bị hai con mãng xà quản thúc, bản thân ông còn khó bảo trọng, nói gì đến chuyện giúp người thân?
Thế là các dì tôi bèn thỉnh bà thầy làm phép: giết một con gà, một con vịt, một con dê để cúng tế ông ngoại. Bây giờ nhớ lại tôi càng đau lòng, vì hồi đó ngu si không hiểu Phật Pháp, nên cứ tưởng làm vậy là giúp ông ngoại, nào ngờ càng hại ông khổ thêm. Bởi trong kinh Địa Tạng có nói: Người thân sát sinh giết hại để cúng tế cho người mất, tuyệt không có công đức gì, không có lợi ích cho người mất, mà càng làm tăng thêm tội nặng cho mình và người mất.
Cho đến cuối năm 2012 tôi tình cờ gia nhập đoàn Tâm Thượng Liên Hoa, sau khi học Phật, mới bắt đầu hiểu ra. Lúc đó tôi chỉ nghĩ học Phật là phép thử cuối cùng, xem như mình vớ được cọng rơm cứu mạng vậy thôi. Thế nên hễ nghe các pháp hữu nói có pháp môn nào tốt, thì tôi liền tìm đọc và tu theo pháp đó. Năm 2013, nghe tin Sư tỷ Bất Ngữ đến chùa Đông Lâm làm công quả, tôi liền nhờ chị làm giúp mấy Linh vị cầu siêu.
Do lúc đó tôi chẳng biết tên ông ngoại, mà cũng không dám về nhà hỏi, sợ gia đình biết tôi tu học theo Phật thì sẽ cười chê, nên trên bài vị tôi chỉ ghi là “ông ngoại của Trần Minh Anh”. Sau khi học Phật thêm một thời gian, hiểu biết chút ít, nghĩ tới lời bà thầy nói ngày xưa, tôi rất đau lòng cho ông ngoại. Vì vậy mà bất kể tụng kinh, chú… hay làm việc phúc thiện gì, tôi đều hồi hướng hết cho ông ngoại. Lúc đó tuy tôi chẳng biết tên ông nhưng tôi nghĩ: Chư Phật, Bồ Tát từ bi ắt sẽ biết hết, nên ông ngoại tôi chắc chắn là sẽ được lợi ích. Tiết thanh minh năm 2014, đoàn Liên Hoa tổ chức pháp hội tụng bảy bộ kinh Địa Tạng để cầu siêu cho tổ tiên.
Tôi vốn là ngời có tính nôn nóng, thuở giờ luôn cảm thấy kinh Địa Tạng quá dài, ít khi chịu tụng. Nhưng nghe mọi người nói: Kinh này có công năng siêu độ thân nhân đã mất rất hay, nên cũng chịu khó theo đoàn trì tụng bảy bộ. Lúc đó Liễu sư tỷ nói:
– Nếu ở trước mộ cúng tế thức chay đơn giản, tụng chú Biến Thực và chú Vãng Sinh thì có thể làm lợi ích nhiều cho người mất.
Vì vậy mà buổi tối trước tiết Thanh minh, tôi ráng học thuộc chú Vãng Sinh. Sáng ra, lúc đi tảo mộ dâng lễ, tôi cúng Thí thực, trì chú Lục Tự Đại Minh và tụng bảy lần chú Vãng Sinh hồi hướng cho ông ngoại và cửu huyền thất tổ.
Vào khoảng tháng 5, một đêm nọ tôi mộng thấy ông ngoại. Ông không nói gì với tôi, chỉ dùng bút sắt viết ra tên ông : Tô Tuấn Ân. Sáng hôm sau, tôi về thăm bà ngoại, liền hỏi bà:
– Bà ơi, có phải ông ngoại tên là Tô Tuấn Ân không?
Bà ngạc nhiên hỏi:
– Làm sao mà con biết được?
Lúc đó tôi rất xúc động, như vậy đúng thật là ông ngoại báo mộng cho tôi rồi. Tôi lại hỏi:
– Có phải ông ngoại dáng vừa tầm, cao khoảng một mét sáu lăm, xương gò má hơi cao, ưa mặc bộ đồ lãnh tụ màu xám tro, túi bên tả thường vắt một cây bút sắt, phải không?
Bà ngoại đáp:
– Đúng vậy!
Tôi vô cùng kinh ngạc. Phải biết là, khi tôi một tuổi thì ông ngoại đã qua đời, nên tôi hoàn toàn không rõ vóc dáng ông, nhưng hình ảnh này tôi thấy ông trong mộng, sau khi đem ra hỏi bà thì hoàn toàn phù hợp. Lúc đó bà ngoại còn lẩm bẩm:
– Cái ông già này, mắc chứng gì mà về quấy rối con nhỏ kia chứ?
Biết được tên ông ngoại rồi, tôi bèn nhờ chị Bất Ngữ và Tiểu Đào giúp tôi làm linh vị cho ông. Lúc tôi đến Nam Sơn Tự tham dự Phật thất, cũng trịnh trọng làm bài vị Vãng Sinh cho ông ngoại. Suốt một năm này nhờ tôi tham dự đoàn Liên Hoa học Phật nên đã hiểu rất nhiều, dần dần đối với chú Đại Bi sinh khởi tín tâm, tôi bắt đầu trì tụng chú Đại Bi, vì nghe nói: Mỗi ngày trì 108 lần cộng thêm Bát Nhã Tâm Kinh, có thể siêu độ cho người mất rất vi diệu.
Từ đó về sau tôi chuyên trì chú Đại Bi và tụng Bát Nhã Tâm Kinh, ngoài ra còn phóng sinh, cúng thí thực và ấn tống Kinh Địa Tạng để hồi hướng công đức cầu cho ông được siêu thoát. Tháng 10 tôi đi Nam Sơn Tự về thì lại mơ thấy ông ngoại. Ông không còn vẻ buồn bã suy sụp như trước đây nữa, mà ăn mặc rất đẹp, nghiêm trang, dung nhan sáng rỡ, ông nhìn tôi mỉm cười sung sướng.
Từ đó về sau, tôi không còn mơ thấy ông ngoại nữa, tôi biết ông đã sinh về cõi lành rồi, điều đó khiến tôi cảm thấy hết sức yên lòng. Mong rằng những ai muốn siêu độ cho thân nhân đã mất, có thể hiểu & thực hành theo phương pháp hồi hướng công đức mà Phật dạy này, chắc chắn sẽ được những kết quả tốt đẹp, không chỉ lợi ích cho thân nhân quá cố, mà còn là gieo phước đức cho chính mình.
Trích: Báo Ứng Hiện Đời 7
Tác giả: Trần Minh Anh
Biên dịch: Hạnh Đoan
Hiệu đính: Quang Tử






Tôi viết những dòng này như một lời tâm sự nhẹ nhàng, không phải để than vãn hay trách móc điều gì. Tôi 36 tuổi, dáng người nhỏ nhắn, gọn gàng, tính cách hơi hướng nội. Cuộc sống hiện tại của tôi ổn định theo cách riêng: không giàu có nhưng đủ đầy, có thể lo cho ba mẹ, có chút tích lũy cho bản thân, sống khỏe mạnh, tích cực, yêu vận động và những chuyến đi khám phá. Tôi sinh ra và lớn lên ở tỉnh, trong môi trường bình dị. Có lẽ vì những gì đã chứng kiến từ nhỏ mà tôi từng không nghĩ nhiều đến chuyện lập gia đình hay sinh con.
Những năm sinh viên rồi đi làm, tôi cũng có vài mối tìm hiểu nhưng đều dừng lại vì cả hai không thực sự cùng hướng. Chỉ đến khi hơn 30 tuổi, tôi mới thật sự ý thức rằng mình cần một người đàn ông để đồng hành lâu dài. Từ đó đến nay, tôi chủ động đi tìm tình yêu: viết bài trên báo, tham gia các buổi hẹn hò offline, các câu lạc bộ, nhóm giao lưu. Tôi không tìm một người quá giỏi giang hay dư dả, chỉ mong gặp người đàn ông bình thường như mình, có tam quan tương đồng, có thể cùng chia sẻ và trải nghiệm cuộc sống.
Sau khoảng bốn năm, tôi đã gặp vài người, có người chỉ gặp một lần, có người nói chuyện được một thời gian rồi thôi. Đến hiện tại, tôi vẫn độc thân. Đôi lúc tôi tự hỏi, ở độ tuổi này, liệu mình còn có cơ hội gặp được tình yêu chân thành và bền bỉ không; hay rồi con người ta đến với nhau chủ yếu vì giá trị mang lại, còn tình yêu chỉ là giai đoạn ngắn ngủi ban đầu. Dù vậy, tôi vẫn tin rằng nếu mình còn đủ chân thành và kiên nhẫn, sớm muộn cũng sẽ gặp được một người phù hợp. Tôi không phải là người dễ bỏ cuộc, chỉ là đôi lúc thấy hành trình tìm kiếm tình yêu của mình có phần chậm hơn người khác.
Tôi viết những dòng này như một cách đối thoại với chính mình và cũng để nhắc rằng: dù tình yêu đến muộn, tôi vẫn muốn đón nhận nó bằng một tâm thế bình tĩnh và trân trọng.
Chị Thục Trinh thương mến,
Nếu có dịp ra Hà Nội vào một buổi sớm mùa thu, em sẽ rủ chị ra ngồi bên hồ Gươm. Hai chị em gọi hai cốc trà nóng, mặc kệ dòng người đi tập thể dục ngang qua, rồi em sẽ nghe chị kể lại câu chuyện này từ đầu đến cuối. Em tin là đến đoạn cuối, chị sẽ cười nhiều hơn là thở dài.
Đọc những dòng chị viết, điều đầu tiên em nghĩ không phải là “Chị ba mươi sáu tuổi rồi.” Mà em lại nghĩ: “Ôi, chị này có một trái tim đẹp quá.” Đẹp không phải vì chưa từng buồn, mà vì đã đi qua rất nhiều điều không như ý nhưng vẫn còn đủ dịu dàng để tin rằng, ở đâu đó trên cuộc đời này, vẫn có một người dành cho mình.
Có câu thơ của Xuân Quỳnh mà em rất thích: “Chỉ có tình yêu mới hiểu được tình yêu.” Người chưa từng chờ đợi sẽ không hiểu cảm giác của một người mỗi lần mở lòng đều mong đó là lần cuối cùng mình phải cô đơn. Người chưa từng đi qua những cuộc gặp rồi lặng lẽ chia tay sẽ không hiểu vì sao có những đêm rất bình thường mà lòng lại thấy trống trải đến thế. Nhưng chị biết không, em lại thấy chị may mắn hơn rất nhiều người. Vì có những người lấy nhau rồi mà vẫn cô đơn. Có những người ngủ chung một mái nhà nhưng mỗi ngày chỉ nói với nhau vài câu như đồng nghiệp đổi ca trực. Còn chị, tuy vẫn đang một mình, nhưng chị vẫn còn nguyên khả năng yêu thương, vẫn còn nguyên sự tử tế và niềm tin. Thứ đó quý hơn nhiều so với việc có một tờ giấy đăng ký kết hôn mà trong lòng lạnh ngắt. Em cứ tưởng tượng chị giống một cây ngọc lan. Có những loài hoa nở rất sớm rồi cũng tàn rất sớm. Còn ngọc lan cứ lặng lẽ lớn lên, đến đúng mùa mới thơm. Chẳng ai đứng dưới gốc cây mà sốt ruột bảo: “Ơ, sao chưa nở?” Chỉ có con người chúng mình là hay làm thế với chính trái tim mình thôi.
Thỉnh thoảng em cũng buồn cười lắm chị ạ. Hình như từ sau tuổi ba mươi lăm, mỗi lần ai hỏi chuyện tình cảm là trong đầu mình tự động mở… chiếc máy tính. “Ba mươi sáu tuổi rồi. Bốn năm tìm kiếm rồi. Gặp mấy người rồi. Xác suất thành công là bao nhiêu phần trăm?” Trời ơi… nếu tình yêu mà tính được bằng Excel thì mấy anh kỹ sư công nghệ chắc cưới vợ đầu tiên mất rồi. Thế mà thực tế có khi một cô bán xôi lại nên duyên với một anh giáo viên, còn hai người học tám cái bằng cấp thì vẫn ngồi nhìn nhau như… hai hành khách chờ sai chuyến xe. Nghĩ đến đó em lại phải che miệng cười, kẻo người ta tưởng con bé này ngồi một mình bên hồ Gươm mà vui quá.
Có nhà thơ Tagore từng viết rằng: “Hãy để cuộc đời đẹp như hoa mùa hạ và cái chết đẹp như lá mùa thu.” Em vẫn luôn nghĩ, tình yêu cũng vậy. Đừng cố giật một bông hoa đang còn xanh. Hoa có mùa của hoa. Người có mùa của người. Chỉ cần mình vẫn chăm khu vườn trong lòng cho đủ nắng, đủ nước, đủ bao dung thì sớm hay muộn cũng sẽ có hương thơm. Trong đạo Phật có hai chữ mà em càng lớn càng thấy thương, đó là “nhân duyên”. Nhân là điều mình gieo mỗi ngày bằng sự chân thành, hiếu thuận, lương thiện và biết yêu thương. Duyên là điều mình không thể thúc ép. Nó giống như mặt hồ buổi sáng vậy. Mình càng cúi xuống khuấy nước để tìm bóng trăng thì bóng trăng càng vỡ. Chỉ khi mặt nước yên, trăng mới hiện nguyên vẹn.
Có lẽ vì thế mà các bậc cổ đức luôn khuyên người niệm Phật hãy giữ một cái tâm an. An không phải vì mọi việc đều như ý. An là dù chưa như ý, mình vẫn mỉm cười được. Mỗi câu “Nam Mô A Di Đà Phật” giống như một cánh lá rơi rất nhẹ xuống mặt hồ. Niệm lâu rồi, những gợn sóng trong lòng cũng lặng dần. Đến lúc ấy, nếu nhân duyên đến, mình đón bằng lòng biết ơn. Nếu nhân duyên chưa đến, mình vẫn sống một đời rất đẹp.
Em đọc đến đoạn chị viết rằng mình vẫn muốn đón nhận tình yêu bằng một tâm thế bình tĩnh và trân trọng, tự nhiên mắt em cay cay. Chị biết không, người nói được câu ấy không còn là cô gái đi tìm một người để lấp đầy khoảng trống nữa. Mà là một người phụ nữ đã biết tự mình thắp đèn trong căn phòng của mình. Người khác bước vào sẽ thấy ấm hơn, chứ không phải bước vào để cứu ánh sáng.
Em lại nghĩ, biết đâu giờ này cũng có một anh nào đó hiền lành giống chị. Anh ấy chắc cũng đang bị mẹ giục cưới suốt ngày. Mỗi bữa cơm lại nghe: “Con định để mẹ bế cháu lúc… nghỉ hưu lần hai à?” Anh chỉ biết cười trừ, gắp miếng đậu hũ rồi lẩm bẩm: “Con cũng muốn lắm chứ mẹ…” Còn chị thì ngồi ở một quán cà phê nào đó, cũng tự hỏi không biết người mình thương đang ở đâu. Hai người cùng ngước nhìn một bầu trời, chỉ là chưa biết tên nhau thôi. Nghĩ đến cảnh ấy tự nhiên em thấy thương mà cũng thấy buồn cười. Ông trời nhiều lúc thật khéo trêu người.
Nhưng chị ơi, người Hà Nội có một câu rất hay: “Cái gì của mình thì sẽ tìm được đường về.” Em không biết câu ấy có nằm trong sách nào không, nhưng em tin điều đó. Bởi em cũng tin lời Phật dạy rằng mọi cuộc gặp đều do nhân duyên nhiều đời hội tụ. Có những người đi ngang cuộc đời mình để dạy mình trưởng thành. Có những người ở lại để cùng mình già đi. Không ai đến nhầm cả. Vậy nên từ hôm nay, chị đừng hỏi: “Bao giờ mình mới gặp đúng người?” nữa nhé. Thay vào đó, mỗi sáng thức dậy, mình cứ sống thêm một ngày thật hiền, thật vui, thật khỏe, chăm sóc ba mẹ nhiều thêm một chút, niệm thêm vài chuỗi Phật hiệu, cười nhiều thêm một chút. Biết đâu đúng lúc chị đang cúi xuống buộc lại dây giày cho một chuyến đi mới, người ấy lại xuất hiện và mỉm cười hỏi: “Xin lỗi… mình đi cùng đường được không?”
Đến lúc đó, chị nhớ kể lại cho em nghe nhé. Em sẽ cười híp cả mắt, còn giả vờ trách yêu: “Em đã bảo rồi mà, duyên đến muộn một chút để chị biết quý nó hơn. Chứ đến sớm quá, lỡ hai người còn trẻ, còn bướng, còn cãi nhau vì mấy chuyện ngốc nghếch thì biết đâu lại lạc mất nhau.”
Em xin mượn mấy câu thơ của Nguyễn Bính để khép lại câu chuyện nhỏ hôm nay:
“Người đi một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn kia… bỗng biết chờ.”
Rồi em lại muốn mượn thêm một câu rất quen trong nhà Phật để gửi chị, cũng là để tự nhắc chính mình: chỉ cần mình cứ gieo nhân lành, giữ lòng thanh tịnh và thành tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì những gì thuộc về thiện duyên sẽ đến vào lúc đẹp nhất. Có thể không phải hôm nay, cũng không phải ngày mai, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ lạc đường.