Một thanh niên khoảng 20 tuổi gọi điện đến nhà tôi khóc kể, cầu xin tôi giúp anh ta tìm mẹ (bỏ nhà ra đi đã mấy ngày nay). Lúc đó tôi đang bận viết cuốn sách này nên đưa điện thoại cho sư đệ Quả Công (là khách đến thăm nhà, cũng có túc mạng thông, thấy được nhân duyên tiền kiếp của mọi người), phụ gỡ rối giùm.
Quả Công hỏi:
– Có phải do em chẳng chăm học tập, khiến mẹ tức giận bỏ đi phải không?
Y nói :
– Dạ phải.
Quả Công lại hỏi tiếp:
– Thành tích học tập của em tuột dốc, tệ dữ, là do em quá mê xem phim, sách, băng, đĩa… đồi trụy phải không?
Y kinh ngạc nói:
– Chuyện của tôi ngài làm sao chỉ qua điện đàm mà biết hết vậy? Xin ngài hãy làm ơn chỉ giùm: Mẹ tôi hiện đang ở đâu? Bà bỏ nhà đi đã hai ngày rồi!
Quả Công hỏi:
– Ba em đâu?
– Cha tôi mất sớm, chỉ còn tôi và mẹ nương nhau mà sống. Tôi sắp thi lên Cao học, nhưng do mê xem phim,ảnh, sách, báo… đồi trụy, khiến trong lòng toàn tưởng loạn, nghĩ điên, dẫn đến thành tích học tập bị sa sút… Mẹ tôi la mắng hoài, hôm trước còn mắng nữa, nên tôi có cự cãi với mẹ… Thế là bà tức giận bỏ đi. Xin ngài hãy cứu mẹ tôi. Nói xong anh ta khóc nức nở.
Quả Công nói:
– Tôi cũng chẳng biết mẹ em ở đâu, nhưng tôi biết bà không có đi.. tự tử. Dù trước bà có từng nói: “Nếu con không bỏ được thói xấu này, thì mẹ sống cũng chẳng có hi vọng gì, chi bằng chết quách cho yên thân!”
Bên kia lại vang lên tiếng khóc nức nở, y nói:
– Mẹ tôi lúc sắp bỏ đi quả có nói vậy, nhưng ngài làm sao mà biết rành như thế? Cầu xin Ngài giúp đỡ, chỉ ra chỗ của mẹ giùm, tôi sẽ đến đó xin lỗi, nhất quyết từ nay sẽ không xem hay coi gì bậy bạ nữa!
Quả Công nói:
– Nếu em thực lòng muốn mẹ quay về, thì phải dứt tuyệt đồ mặn, ăn chay trường. Hãy quỳ trước tượng Phật nhà em, nhà em có thờ tượng Quan Thế Âm bằng sứ phải không?
– Dạ đúng vậy.
Quả Công bảo y:
– Tôi thấy dung nhan Bồ Tát Quan Thế Âm rất trang nghiêm, ngài nói: “Đời này nếu em không cải tà quy chánh sửa lỗi, thì số mệnh sẽ rất bi thảm.”
Y vừa nghe, kinh hoàng nháo nhào, vội hỏi số mệnh mình thế nào? Quả Công khuyên y mỗi ngày phải ăn chay và tụng Kinh Địa Tạng từ hai đến ba bộ mà hồi hướng cho chúng sinh. Tụng đủ 21 bộ, thì mẹ y nhất định sẽ quay về, anh nói tiếp:
– Nếu tâm em chí thành có lẽ tụng chừng vài bộ là mẹ em sẽ về. Nhưng mà em vẫn phải kiên trì tụng cho xong 21 bộ, như vậy mới có thể giúp tiêu trừ ác nghiệp bất hiếu dám cự cãi với mẹ. Từ nay về sau chẳng những không được xem sách báo phim ảnh đồi trụy, mà còn phải thiêu hủy hết. Nếu không, chư Phật, Bồ Tát, Thiên long hộ pháp sẽ lìa xa nhà em ngay. Trong thời gian đi học, hàng ngày (trước khi ngủ và đến trường), trên đường đi phải tụng thuộc làu mười biến Chú Đại Bi thì em sẽ đạt thành tích tốt.
Ba ngày sau, từ nhà họ, mẹ y gọi điện tới, ngoài việc bày tỏ lòng cảm ân ra, bà còn hỏi thêm một số việc của con trai. Tôi cũng khuyên bà từ nay nên dứt tuyệt đồ ăn , ăn chay trường, mỗi ngày cần tụng một bộ Kinh Địa Tạng, tương lai không những tất cả đều thuận lợi, mà cuối đời bà cũng hạnh phúc, có thể vãng sanh cõi lành.
Sau đây xin ghi rõ nhân duyên giữa hai mẹ con này (do sư đệ Quả Công quan sát và kể ra):
“Nước Anh thời đó có một người con trai trưởng của gia đình giàu có nọ, từ nhỏ quen sống phóng túng, toàn làm những việc bất thiện, không chăm học hành, chỉ ưa kết bè kết bạn, nhậu nhẹt vui chơi, bồ bịch với nhiều bạn gái…
Lần nọ, anh lái xe chở người bạn gái rất thân đi đến miền xa chơi, dọc đường xảy ra tranh cãi. Chàng trai trong lúc nổi giận đã đuổi thẳng cô bạn gái của mình xuống xe, rồi một mình quay về .
Khi chàng bình tĩnh lại, lập tức quay ngược đầu xe để tìm bạn gái, nhưng không thấy bóng dáng nàng đâu. Phần cô gái sau khi xuống xe, dòm thấy bốn bề mênh mông vắng vẻ trong lòng rất sợ. Lúc đó bỗng nghe tiếng chuông Giáo đường từ xa vọng tới, thế là cô đi về hướng Giáo đường.
Hôm sau vị linh mục lái xe đưa cô về nhà. Sau đó cô biết bạn trai mình do day dứt mà sinh b ệnh, liền cãi lời cha mẹ lén đến thăm chàng. Bọn họ trải qua trận phong ba này, tình cảm càng thêm thắm thiết. Đến tuổi có thể kết hôn, do cha mẹ cô gái kiên quyết phản đối, nên họ không thể thành thân…”
Kiếp trước bọn họ không thành chồng vợ, đời này lại thành mẹ con. Do thân phận bất đồng làm thay đổi mối duyên tình đời trước. Nhờ Bồ Tát Quán Thế Âm gia trì, Quả Công (là đệ tử Ngài Tuyên Hóa) đã giúp mẹ con bọn họ đi vào đường học Phật. Nguyện hai mẹ con họ đời này đạo nghiệp thành tựu.
Trích: Nhân Quả Phụ Giải Lương Hoàng Sám 2
Tác giả: Quả Khanh







Con có đọc chuyện “Địa Tạng Bồ Tát hóa duyên 5 cân dầu”, một câu chuyện được Lão Hòa Thượng Tịnh Không thường xuyên nhắc đến trong bộ giảng Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa. Chuyện như sau:
Tại Nam Kinh (Trung Quốc) trước thời kỳ chiến tranh, liên quan đến gia đình của ông Châu Bang Đạo. Nhà của ông Châu có thiết kế rất kiên cố, được bảo vệ bởi ba lớp cửa luôn khóa kín. Một hôm, có một vị xuất gia lạ mặt bước vào tận trong nhà, đến gặp Châu phu nhân (vợ ông Châu) để hóa duyên, xin bà phát tâm cúng dường 5 cân dầu thơm. Lúc bấy giờ, Châu phu nhân chưa biết đến Phật pháp nên không tin và không chịu cúng dường. Bà tiếp đãi hời hợt khiến vị xuất gia kia tự động rời đi. Sau khi vị xuất gia đi khỏi, Châu phu nhân chợt bàng hoàng phát hiện ba lớp cửa nhà mình vẫn đang đóng kín và khóa chặt. Bà tự hỏi làm sao một người bình thường lại có thể đi ra đi vào mà không ai mở cửa?Về sau, khi sang Đài Loan, bà có đem câu chuyện này hỏi tiên sinh Lý Bính Nam (bậc thiện tri thức, thầy của Hòa thượng Tịnh Không). Thầy Lý cho biết vị xuất gia năm xưa chính là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát đến nhà để độ hóa cho bà.
Con thắc mắc vì sao lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam có thể biết đó là hóa thân của Địa Tạng Vương bồ tát? Có phải chính bản thân ngài là hóa thân của một vị bồ tát nào khác chăng?
Anh Mai Văn Dũng mến,
Câu hỏi của anh hay dữ thần ôn nghen! Người học Phật mà biết đặt câu hỏi như vậy là tốt, chớ nghe ai nói “vị này là Bồ Tát hóa thân” rồi mình gật đầu lia lịa như con cò mổ lúa, không chịu suy xét, lâu ngày tín tâm dễ biến thành mê tín hồi nào không hay.
Trước tiên, tui xin đính chính một chi tiết nhỏ. Theo bản giảng Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa, tập 170, Hòa thượng Tịnh Không kể rằng chuyện xảy ra sau khi cuộc kháng chiến kết thúc, gia đình ông Châu Bang Đạo trở về sống tại Nam Kinh, chớ không phải trước thời kỳ chiến tranh. Vị tăng nói mình từ núi Cửu Hoa đến và xin năm cân dầu thơm. Sau khi vị ấy rời đi, Châu phu nhân mới sực nhớ cả ba lớp cửa đều chưa từng mở. Về sau sang Đài Loan, bà thuật lại chuyện này với Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, và được ông trả lời rằng đó là Địa Tạng Bồ Tát hóa thân, bà với Ngài có duyên.
Bây giờ trở lại chỗ anh thắc mắc: làm sao Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam biết được?
Theo tui, chữ “biết” ở đây không nhất thiết phải hiểu rằng Lão cư sĩ có thiên nhãn thông, nhập định soi thấy căn cước của vị tăng, biết luôn số căn cước công dân trên cõi Bồ Tát. Trong lời kể mà chúng ta hiện có, không thấy nói Lão cư sĩ giải thích rằng mình đã dùng thần thông để xác nhận. Vì vậy, cách hiểu thận trọng và hợp lý hơn là ông dựa vào những dấu hiệu trong câu chuyện để đưa ra lời nhận định về mặt Phật pháp.
Dấu hiệu thứ nhất, vị tăng nói mình đến từ núi Cửu Hoa, nơi trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa được đặc biệt gắn với đạo tràng của Địa Tạng Bồ Tát. Dấu hiệu thứ hai, vị ấy xin dầu thơm, vật thường được dùng để thắp đèn cúng Phật. Dấu hiệu thứ ba, vị ấy xuất hiện và rời đi giữa ban ngày mà không qua ba lớp cửa. Dấu hiệu thứ tư, cuộc gặp gỡ ấy về sau trở thành nhân duyên khiến Châu phu nhân tin sâu Phật pháp, hằng ngày tụng Kinh Địa Tạng và lễ Địa Tạng Bồ Tát. Chính Hòa thượng Tịnh Không khi kể chuyện cũng nhấn mạnh tác dụng của sự thị hiện là đem lại cho bà lòng tin vững chắc.
Nói theo kiểu dân quê mình, thấy dấu chân giống vịt, nghe kêu cạp cạp, lại bơi dưới ao, thì người có kinh nghiệm đoán đó là con vịt, đâu cần bản thân phải là Long Vương dưới thủy cung mới đoán được. Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam là người học rộng Phật pháp, tu Tịnh nghiệp lâu năm, lại là đệ tử của Ấn Quang đại sư. Ông có thể căn cứ vào hoàn cảnh, biểu tượng và ý nghĩa giáo hóa của sự việc mà nhận định đó là một sự thị hiện của Địa Tạng Bồ Tát. Những tài liệu giới thiệu về ông thường ghi nhận ông là một cư sĩ chuyên hoằng dương Tịnh Độ, dạy người “đôn luân tận phận, hành giải tương ưng”, chớ không phải người chuyên khoe thần thông hay tự nhận thánh vị.
Tuy nhiên, mình cũng phải nói thật với nhau rằng người đời sau không có phương tiện để kiểm chứng tuyệt đối vị tăng năm ấy có thật là Địa Tạng Bồ Tát hay không. Chúng ta chỉ có lời thuật lại của Châu phu nhân, lời nhận định của Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam và lời kể của Hòa thượng Tịnh Không. Người tin thì có thể tiếp nhận đây là một câu chuyện cảm ứng và thị hiện; người muốn thận trọng thì nói rằng đây là cách giải thích theo tín ngưỡng Phật giáo. Không nên đem một câu chuyện cảm ứng ra làm bằng chứng bắt buộc tất cả mọi người phải tin như một sự kiện lịch sử đã được kiểm nghiệm bằng máy quay, dấu vân tay và ba ông công chứng viên. Làm vậy coi chừng Bồ Tát chưa kịp vui mà mình đã cãi nhau tới rớt nguyên hàm răng giả.
Còn hỏi rằng vì Lão cư sĩ nhận ra Địa Tạng Bồ Tát nên phải chăng chính ông cũng là hóa thân của một vị Bồ Tát khác, thì suy luận như vậy chưa đứng vững. Một người nhận ra dấu hiệu của bậc thánh không có nghĩa bản thân người ấy nhất định cũng là bậc thánh. Thầy thuốc nhận ra bệnh đâu có nghĩa thầy thuốc là thần y Hoa Đà tái thế; ông nông dân nhìn mây biết sắp mưa cũng đâu cần phải là hóa thân của Lôi Công. Kiến thức, kinh nghiệm tu học, trực giác tôn giáo và sự quán sát sâu sắc đều có thể giúp một vị thiện tri thức đưa ra nhận định mà không cần phải tự mình là Bồ Tát hóa thân.
Tui cũng chưa tìm thấy nguồn tài liệu đáng tin cậy nào cho biết Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam từng tự nhận mình là hóa thân của một vị Phật hay Bồ Tát. Mà theo tinh thần Kinh Lăng Nghiêm, chư Bồ Tát và A-la-hán có thể ứng hiện nhiều thân phận để hóa độ chúng sanh, nhưng thông thường không tự tuyên bố: “Tôi chính là Bồ Tát, tôi chính là A-la-hán”, ngoại trừ trường hợp đặc biệt khi sắp mạng chung có lời di chúc để lại. Vì vậy, người học Phật càng không nên nóng lòng đi phong thánh cho người này, đóng dấu Bồ Tát hóa thân cho người kia, làm như đang phát giấy chứng nhận hộ nghèo ở xã.
Giả sử Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam thật sự là Bồ Tát tái lai đi nữa, thì điều ấy cũng chẳng phải trọng tâm tu hành của chúng ta. Quan trọng là những lời ông dạy có phù hợp kinh điển hay không, đời sống có khiêm cung, giữ giới, làm lợi ích chúng sanh hay không, và mình học theo có bớt tham, bớt sân, bớt si, có chân thật niệm Phật cầu sanh Cực Lạc hay không. Còn cứ mải mê điều tra ai là Bồ Tát hóa thân, ai là La-hán tái thế, coi chừng tới lúc Diêm Vương hỏi công phu niệm Phật đâu, mình móc túi ra toàn hồ sơ lý lịch của thiên hạ, không có nổi một câu Phật hiệu cho ra hồn thì quắt cần câu thiệt chớ chẳng chơi.
Câu chuyện năm cân dầu thơm có ý nghĩa đẹp nhất không nằm ở chuyện chứng minh thần thông, mà nằm ở lời nhắc rằng cơ duyên lành đôi khi đi ngang qua đời mình rất âm thầm. Một người nghèo đến xin cơm, một người bệnh cần giúp đỡ, một ngôi chùa cần dầu đèn, một chúng sanh cần lời an ủi — biết đâu đó chính là bài thi mà Phật, Bồ Tát đặt trước mặt mình. Bồ Tát có thể không đội mão, không đứng trên hoa sen, không có hào quang sáng hơn bóng đèn LED ngoài chợ huyện. Bồ Tát có khi chỉ hiện thành một người bình thường tới gõ cửa lòng mình.
Cho nên mình có thể kính tin lời nhận định của Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, nhưng đừng biến lòng kính tin thành khẳng định tuyệt đối về một điều mình chưa tự chứng. Tin mà có trí huệ thì tín tâm càng bền; tin mà bỏ trí huệ thì dễ chạy theo chuyện lạ. Cứ lấy kinh làm thầy, lấy giới làm khuôn, lấy nhân quả làm gốc, lấy câu A Di Đà Phật làm đường về. Địa Tạng Bồ Tát có hiện hay không hiện, mình vẫn nên học đại nguyện cứu khổ của Ngài; Lý Bỉnh Nam cư sĩ có phải Bồ Tát hóa thân hay không, mình vẫn nên học sự khiêm cung, chuyên tu và hoằng dương Tịnh Độ của ông.
Người xưa nói: “Y pháp bất y nhân.” Tui xin nói thêm theo giọng ruộng đồng: coi trái thì biết cây, coi việc làm thì biết người; đừng mải ngó hào quang mà quên nhổ cỏ trong tâm mình. Nhổ sạch được mấy bụi tham sân si, gieo xuống từng câu A Di Đà Phật, tới ngày sen nở bên ao thất bảo, chừng đó khỏi cần hỏi ai là Bồ Tát hóa thân nữa — bởi trước mặt mình, vị nào cũng là bậc thiện tri thức dẫn đường về quê cũ.
Nam mô A Di Đà Phật.