Lúc lâm chung đầu óc còn tỉnh táo, còn rõ ràng, rành rẽ, nếu có thiện tri thức ở kế bên giúp kẻ ấy, chúng ta có thể khẳng định kẻ ấy chắc chắn sẽ không đọa ba đường ác.
Chư vị phải biết những người đọa ba đường ác đều đi vào đó một cách mờ mờ mịt mịt, lẽ nào người có đầu óc còn sáng suốt lại đi làm ngạ quỷ, làm súc sanh? Không lẽ nào như vậy cả. Chúng ta phải biết rất ít người lúc lâm chung còn sáng suốt, trong mười người thì hết tám chín người bất tỉnh nhân sự, mù mù mịt mịt, bạn coi như vậy đáng sợ biết bao! Phàm những người lâm chung mà đầu óc còn sáng suốt, cho dù tạo ác nghiệp, tâm địa của họ cũng rất thiện, tạo ác nghiệp là vì họ vô tri, họ chẳng biết làm như vậy là tạo ác nghiệp, thí dụ như việc sát sanh ăn thịt, họ cảm thấy sát sanh ăn thịt là việc rất bình thường, họ chẳng cảm thấy làm vậy là tạo ác nghiệp, nhưng tâm địa người này vẫn là rất tốt, đây là việc chúng ta quan sát kỹ càng thấy được. Nếu tâm người ấy chẳng thiện, thường muốn hại người, cướp đoạt tài sản của người khác, làm những việc lợi mình hại người,
những người này lúc lâm chung hơn phân nửa đều mê hoặc điên đảo. Cả đời dựa oai thế để hiếp đáp người khác, thậm chí đến tuổi già mắc chứng mất trí nhớ, trí nhớ hoàn toàn tiêu mất, bất tỉnh nhân sự, hơi thở còn chưa đứt, cứ nằm trên giường bịnh suốt tám năm, mười năm, trong thời đại ngày nay chúng ta thấy những người như vậy rất nhiều, do đó tu thiện là việc vô cùng quan trọng.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú 
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt







Phật dạy không nên chấp có hay nghiêng về chấp không? Vậy tại sao lại có thêm câu “thà chấp có như núi Tu Di, còn hơn chấp không như hạt cải”? Xin hoan hỉ giải đáp giùm em.
Linh Lan hỏi câu này, Bốn Lúa tui nghe xong đang nhai miếng đậu hũ kho sả cũng phải đặt chén cơm xuống cái cạch. Không phải vì câu hỏi khó quá, mà vì câu này giống trái mít chín ngoài vườn: nhìn bên ngoài gai góc, bổ ra thơm phức, nhưng lỡ bổ sai chiều là nhựa dính tay, dính dao, dính luôn cái áo bà ba mới giặt, rồi đứng đó than: “Ủa sao Phật pháp cao siêu mà con bị dính tùm lum vậy nè?”
Phật dạy đừng chấp có, cũng đừng chấp không. Đúng rồi. Đó là Trung đạo. Mình đi đường đạo giống như đi cầu khỉ qua mương vậy đó. Nghiêng bên trái một cái là lọt mương, nghiêng bên phải một cái là ôm lục bình. Người chấp có thì ôm cái “có” cứng ngắc như ôm cây cột nhà. Người chấp không thì ôm cái “không” trơn tuột như ôm con cá trê mới bắt ngoài ao. Ôm bên nào cũng khổ, mà con cá trê nó còn quẫy cho trượt tay, té cái bẹp xuống bùn, rồi còn cãi: “Bùn cũng không.” Trời đất ơi, bùn không mà sao dính từ đầu tới chưn vậy ông nội?
Chấp có là sao? Là tưởng mọi thứ thiệt chắc như cây đòn gánh của má. Cái thân này là tôi, cái ý tôi là đúng, cái nhà tôi là của tôi, cái danh tôi là quan trọng, cái giận tôi là chính đáng, cái hơn thua của tôi là trời ban. Ai nói trái ý một câu là cái ngã nó phình lên như con cóc gặp mưa. Miệng thì nói “A Di Đà Phật”, mà trong bụng thì binh bốp như trống lân Tết. Đó là chấp có.
Còn chấp không là sao? Là nghe Phật nói “các pháp là Không”, rồi tưởng Không nghĩa là trống rỗng hết ráo. Không nhân, không quả, không tội, không phước, không thiện, không ác, không Phật, không Cực Lạc, không địa ngục, không cần tu, không cần niệm. Nghe vậy tưởng mình trí huệ sáng như đèn pha xe tải, ai dè đèn pha đó đang rọi thẳng xuống ruộng, còn mình thì lái xe vô mương hồi nào không hay.
Bởi vậy mới có câu: “Thà chấp có như núi Tu Di, còn hơn chấp không như hạt cải.” Linh Lan nghe cho kỹ nghen, câu này không phải bảo mình đi chấp có cho đã đời. Không phải nói: “Thôi, Phật cho phép chấp có rồi, từ nay tui chấp một bao tải, chấp thêm hai bao phân, chấp thêm cái lu nước mưa để dành.” Không phải vậy đâu. Câu đó là lời răn cái bệnh chấp không sai lầm. Vì bệnh đó nguy hiểm dữ lắm. Nó nhỏ như hạt cải mà độc như kiến lửa cắn nhằm chỗ mềm, nhảy dựng lên một cái quên luôn câu Phật hiệu.
Người chấp có tuy còn quê mùa, còn kẹt, nhưng họ còn tin có nhân quả. Họ còn tin làm lành được phước, làm ác chịu khổ. Họ còn biết sợ tội, biết ăn chay, biết niệm Phật, biết lạy Phật, biết sám hối. Người đó giống như bà con quê mình tin trời mưa thì đem lúa vô, tin nước lớn thì cột xuồng lại. Tuy chưa phải bậc đại trí, nhưng còn biết lo xa. “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, nói kiểu dân gian là vậy. Trong đạo thì mình nói cho đúng hơn: có tin nhân quả, có giữ thiện căn, có đường tu tiến.
Còn người chấp không sai lầm thì mệt dữ à nghen. Họ nói: “Tội cũng không, phước cũng không, địa ngục cũng không, Cực Lạc cũng không, niệm Phật cũng không, tu hành cũng không.” Nói xong rồi tâm buông lung, miệng buông lung, thân buông lung, y như con bò sút dây chạy vô ruộng cải nhà người ta. Tới hồi chủ ruộng la lên thì nói: “Bò cũng không, cải cũng không, chủ ruộng cũng không.” Ủa, vậy sao người ta rượt chạy muốn sút dép mà còn nói không?
Tui nói thiệt, cái “Không” mà Phật dạy không phải cái không lười biếng, không phải cái không phủi tay, không phải cái không để trốn trách nhiệm. Không phải kiểu: “Nợ cũng không, trả cũng không”, rồi chủ nợ tới nhà thì núp sau bụi chuối niệm thầm: “Không không không.” Cái đó không phải Bát Nhã, cái đó là bát nháo.
Tánh Không của Phật pháp sâu lắm, đẹp lắm, nhưng không phải để mình lấy làm cây chổi quét sạch nhân quả. Tánh Không nghĩa là các pháp không có tự tánh cố định, đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Vì do duyên mà thành nên nó có thể đổi. Người đang mê có thể tỉnh. Người đang sân có thể hiền. Người đang tham có thể buông. Người đang lăn lộn Ta Bà có thể niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Nếu mọi thứ cứng ngắc thiệt có, đóng đinh thiệt chắc, thì phàm phu muôn đời là phàm phu, tu chi nữa cho tốn nhang đèn?
Giống như hột sen ngoài ao. Hột sen không tự nhiên thành hoa sen. Nó cần bùn, cần nước, cần nắng, cần gió, cần duyên. Vậy nói hột sen “Không” là không có cái tánh cố định riêng biệt. Chớ không phải không có hột sen, không có bùn, không có hoa sen. Ai nói sen cũng không, bùn cũng không, rồi lén bẻ hoa sen đem về cắm bình, bị người ta hỏi thì nói “người bẻ cũng không”, cái đó là không có liêm sỉ chớ không phải chứng Không.
Bốn Lúa tui ăn chay, nên xin ví dụ bằng món chay cho thanh tịnh. Một nồi canh chua chay ngon là do nhiều duyên: me chua, thơm, cà chua, bạc hà, đậu bắp, giá, rau om, ngò gai, chút muối, chút đường, chút lửa, thêm bàn tay người nấu. Thiếu duyên là nó lạt nhách như nước mưa hứng trong lu. Đủ duyên thì thơm tới mức hàng xóm đang giận chồng cũng phải hé cửa hỏi: “Ủa nhà ai nấu canh chua mà nghe muốn hết phiền não vậy?” Nồi canh đó là duyên hợp. Nó không có tự tánh cố định. Nhưng không phải vì nó “Không” mà mình bưng nguyên nồi đổ xuống mương rồi nói: “Ăn cũng không.” Ai làm vậy chắc Bốn Lúa tui khóc ba ngày, không phải khóc vì chấp có, mà vì tiếc đậu hũ chiên.
Tu Tịnh Độ cũng vậy. Mình là phàm phu thì cứ nương nơi cái “có” lành mà tu. Có Phật A Di Đà, có cõi Tây Phương Cực Lạc, có bốn mươi tám đại nguyện, có tiếp dẫn vãng sanh, có nhân quả, có thiện ác, có tín, có nguyện, có hạnh. Mình tin như vậy để chân chịu bước, miệng chịu niệm, lòng chịu quay về. Chớ chưa gì đã đứng chống nạnh nói: “Cực Lạc cũng Không, A Di Đà cũng Không, vãng sanh cũng Không”, rồi cả ngày lướt điện thoại, tối ngủ ngáy khò khò, sáng dậy hỏi sao tâm con chưa an. Tâm không an là phải rồi, cái miệng nói Không mà cái tay ôm cái điện thoại có quá trời.
Người muốn qua sông thì phải lên xuồng. Lên xuồng rồi chèo qua bờ. Qua tới bờ rồi không cần đội cái xuồng lên đầu đi vòng vòng khoe: “Thấy chưa, tui có xuồng nè.” Nhưng chưa qua sông mà chê xuồng là giả, chê chèo là không, chê bờ bên kia là phương tiện, rồi đứng một cục bên này cho muỗi tụng kinh bên lỗ tai, vậy là kẹt. “Muốn sang thì bắc cầu kiều”, muốn về Cực Lạc thì tín nguyện trì danh. Chưa về tới nơi mà đã phá cầu, tháo ván, quăng luôn cây chèo, rồi nói mình vô ngại, thì coi chừng vô ngại kiểu đó là vô bụi rậm chớ không phải vô sanh pháp nhẫn.
Câu “thà chấp có như núi Tu Di…” là để nhắc mình: với phàm phu, tin có nhân quả mà tu còn hơn nói Không sai rồi phá hết đường lành. Chấp có như núi Tu Di vẫn còn có thể mài mòn từ từ bằng tuệ giác. Còn chấp không như hạt cải mà hiểu sai thì nó chui vô tâm, phá căn lành, phá tín tâm, phá giới hạnh. Nó nhỏ mà hiểm. Ở quê tui có câu: “Nhỏ mà có võ.” Con muỗi nhỏ xíu mà đốt một đêm là sáng ra mặt mày bơ phờ, niệm Phật cũng nghe thành “Nam mô… ngứa quá… A Di Đà Phật.” Cái chấp không sai lầm cũng vậy, nhỏ thôi mà cắn vô tín tâm là sưng cả đường tu.
Nhưng Linh Lan nhớ nghen, mình cũng không lấy câu đó làm cớ để ôm chặt cái có. Người tu phải khéo. Tin có nhân quả nhưng không cố chấp đến mức cứng đầu. Tin có Cực Lạc nhưng không sanh ngã mạn. Tin có pháp môn Tịnh Độ nhưng không lấy đó đi khều thiên hạ cãi nhau. Mình tu mà hiền lại, nhẹ lại, thương người hơn, bớt nói lỗi người hơn, bớt sân hơn, bớt hơn thua hơn, đó mới là đúng mùi Tịnh Độ. Chớ miệng nói “tui tin có Cực Lạc” mà hễ ai góp ý là nhảy lên như cá lóc gặp nước sôi, thì coi chừng chưa về Cực Lạc mà đã mở chi nhánh Ta Bà trong bụng rồi.
Phật pháp thiệt ra không kẹt có, không kẹt không. Các pháp duyên sanh nên giả có. Vì giả có nên nhân quả vận hành rõ ràng. Vì duyên sanh nên tánh Không. Vì tánh Không nên có thể chuyển hóa. Đó mới là Trung đạo. Nói kiểu Bốn Lúa cho dễ nhớ: có mà không thật có, không mà không phải không trơn. Giống như bóng trăng dưới ao. Nhìn thì có trăng, nhưng thò tay bắt thì không nắm được. Dẫu vậy, đừng vì nắm không được mà nói dưới ao không có bóng trăng. Nói vậy thì mấy con cá rô đang bơi dưới ánh trăng nó cũng cười phun bong bóng.
Cho nên người học đạo phải biết dùng cái có để tu cái không, rồi nhờ thấy không mà không phá cái có. Nói nghe hơi xoắn như dây bầu dây bí, nhưng thiệt ra đơn giản lắm. Mình còn phàm thì cứ làm lành, tránh ác, giữ giới, niệm Phật, phát nguyện vãng sanh. Khi tâm thanh tịnh, trí huệ mở ra, tự nhiên thấy các pháp như huyễn, không còn kẹt. Chớ chưa thanh tịnh mà cứ nói huyễn, coi chừng huyễn thì không thấy, chỉ thấy cái bụng đói, cái miệng thèm, cái tâm sân, cái ngã bự chà bá đang ngồi ăn hết mâm cơm chay.
Bởi vậy Linh Lan ơi, nghe ai nói Không, mình cũng đừng vội sợ. Nhưng phải coi cái Không đó có đi chung với nhân quả, từ bi, giới hạnh và công phu không. Nếu nói Không mà người đó khiêm cung hơn, thương người hơn, giữ giới kỹ hơn, niệm Phật sâu hơn, buông xả hơn, thì đó là Không có trí huệ. Còn nói Không mà người đó coi thường nhân quả, buông lung, ngã mạn, chê bai pháp môn, chê người niệm Phật là thấp, rồi tối về vẫn sân si đủ món như mâm cỗ chay ngày rằm, thì cái Không đó là Không… ổn.
Bốn Lúa tui xin chốt bằng mấy câu quê mùa cho dễ bỏ túi. Chấp có là bệnh dính. Chấp không là bệnh rớt. Dính thì còn gỡ được. Rớt xuống vực rồi còn nói vực cũng Không thì bà con đứng trên chỉ biết thả dây xuống, còn người dưới cứ giảng Bát Nhã cho con ếch nghe. Người tu khôn là không dính cũng không rớt, cứ bám chắc câu Phật hiệu mà đi. Nam mô A Di Đà Phật là sợi dây vàng kéo mình ra khỏi bùn lầy Ta Bà. Đừng có cầm sợi dây rồi cãi nó có hay không tới mức quên nắm cho chắc. Cãi xong nhìn lại, dây còn đó, Phật còn đó, mà mình thì vẫn ngồi dưới bùn, trên đầu có con nhái xanh đang nhìn mình bằng ánh mắt rất là từ bi.
Cho nên Linh Lan cứ yên tâm. Phật không dạy mình chấp có. Phật cũng không dạy mình nghiêng về chấp không. Phật dạy lìa hai bên. Nhưng vì người đời dễ hiểu lầm chữ Không thành phủ nhận sạch trơn, nên chư Tổ mới răn mạnh: thà còn tin có nhân quả như núi Tu Di mà chịu tu, còn hơn chấp không như hạt cải mà phá hết căn lành. Nói vậy để mình sợ cái Không sai lầm, chớ không phải để mình vác cái Có lên vai đi khoe khắp xóm.
Mình tu Tịnh Độ thì cứ thật thà: tin sâu, nguyện thiết, trì danh. Sáng niệm A Di Đà Phật, trưa niệm A Di Đà Phật, chiều niệm A Di Đà Phật. Gặp chuyện vui cũng niệm, gặp chuyện buồn cũng niệm, bị ai nói nặng cũng niệm, thấy mình muốn cãi cũng niệm liền. Cái miệng vừa chuẩn bị phóng phi tiêu thị phi thì kéo nó về: “Nam mô A Di Đà Phật.” Làm được vậy, cái chấp có mòn dần, cái chấp không cũng không có đất mọc. Tâm mình từ từ mềm như đậu hũ non, sáng như trăng rằm, thơm như nồi chè đậu xanh lá dứa chay mới nấu. Người ta nhìn vô chưa chắc biết mình hiểu Không tới đâu, nhưng họ thấy mình bớt sân, bớt chấp, bớt làm khổ người khác, vậy là Phật pháp có mùi rồi đó.
Còn ai hỏi lại cho thiệt gọn, Linh Lan cứ cười một cái cho mát như gió sông quê rồi nói: “Dạ, Phật dạy không kẹt có, không kẹt không. Nhưng phàm phu mà hiểu lầm chữ Không rồi bỏ nhân quả, bỏ tu hành, thì nguy hiểm hơn nhiều. Cho nên thà còn tin có tội phước mà lo niệm Phật, còn hơn nói Không trơn rồi trôi luôn theo dòng sanh tử.”
Nói xong thì thôi, đừng cãi tới tối nghen. Cãi nhiều quá là cái ngã nó ăn no, còn câu Phật hiệu bị bỏ đói. Mình nhường người ta một câu, niệm Phật mười câu, vậy mới lời. Ở đời “một điều nhịn, chín điều lành”; trong đạo “một câu Phật hiệu, muôn đức tròn đầy.” Còn nếu vừa niệm Phật vừa cãi lộn, thì hoa sen bên Cực Lạc chắc cũng thò đầu lên hỏi nhỏ: “Ủa vị này muốn vãng sanh hay muốn làm trưởng ban tranh luận bên Ta Bà vậy cà?”
Chu cha mạ ơi, anh Bốn Lúa bữa nay xuất thần nha, giảng kinh thuyết pháp nghe rổn rảng như nước chảy qua đập chuối vậy đó. Em ngồi bên sàn nước vo gạo nấu cơm chay mà nghe anh Tám Chiện một hồi xém chút nữa đổ nguyên rổ gạo xuống sông cho cá chốt nó hưởng phước luôn rồi. Anh nói nghe hay ác chiến, mà em để ý nghen, anh giảng đường đạo gì mà toàn thấy đậu hũ kho sả, nồi canh chua chay với hoa sen ngoài ao không hà, hèn chi cái bụng ăn chay trường của anh nó tròn vo như trái dưa hấu chín tới, nhìn là thấy có hậu rồi đó.
Người ta hỏi có hỏi không, anh đem cả núi Tu Di với hạt cải ra cân, rồi anh còn ví von con cá trê ngoài ao quẫy rớt xuống bùn nữa chớ. Em nói thiệt nghen, anh Bốn lo giảng cho chị Linh Lan nghe mà cái chén cơm đậu hũ kho sả hồi nãy anh đặt cái cạch xuống bàn, giờ nó nguội ngắt rồi kìa, để kiến nó bu đầy vô đó rồi anh lại ngồi ngó rồi niệm Không Không nữa cho coi. Bày đặt nói hoa sen Cực Lạc thò đầu lên hỏi nữa chớ, em thấy cái bông sen của anh bên bển chắc đang lấy hai cái lá che tai lại vì anh Bốn nhà mình nói nhiều quá, điếc hết cả đài sen của người ta rồi anh ơi.
Gió đưa cành trúc la đà, anh Bốn Tám Chiện hít hà khen hay, khen người ta tu Tịnh Độ thiệt thà mà cái miệng anh thì lo nói chữ không hà. Em đây tuy mới đôi mươi, áo bà ba thướt tha đi chùa hái lộc, lòng lúc nào cũng mơ màng cảnh Tây Phương khói trầm sương tỏa, nhưng em không có đứng đó luận bàn có có không không như anh đâu nghen. Em là em cứ xách cái rổ ra vườn, hái cọng rau muống, lặt cọng rau om, miệng thì thầm Nam mô A Di Đà Phật, bước chân đi nhẹ nhàng như sáo sang sông, tâm không dính một chút bụi trần. Chứ ai như anh Bốn, nói cho cố vô rồi hễ thấy con muỗi cắn một cái là nhảy dựng lên quên luôn chữ Phật, rồi đổ thừa tại con muỗi nhỏ mà có võ, nghe thiệt là mắc cười hà.
Anh nói thà chấp có như núi Tu Di, còn hơn chấp không như hạt cải, vậy mà em thấy anh đang chấp cái nồi canh chua chay bự chà bá lửa thì có, hồi nãy còn giao hẹn khóc ba ngày vì tiếc đậu hũ chiên nữa kìa, thấy thương ghê chưa. Bữa nào anh nấu canh chua nhớ kêu Bé Như qua nêm giùm cho nghen, chứ để anh nhìn vô nồi canh rồi ngộ ra tánh Không, anh quên bỏ muối bỏ đường thì tụi em ăn vô một miếng chắc sặc đức dây truyền thanh luôn quá.
Thôi anh Bốn ơi, bớt tám chiện lại đi nè, lo lượm cái chén cơm lên ăn nốt kẻo mang tội phung phí hạt ngọc của trời Phật ban cho. Rồi lát nữa chiều mát, hai anh em mình ra băng ghế đá bờ sông ngồi ngắm trăng, coi cái bóng trăng dưới nước nó thiệt hay nó giả, rồi tụi mình cùng lần chuỗi niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Chừng nào hai đứa mình được về bển rồi, anh muốn đứng chống nạnh cãi lý với con cá rô hay con nhái xanh gì đó thì em ngồi kế bên cổ vũ cho anh, em không có cản anh đâu nè, nghen anh Bốn dễ thương của em!
Trời đất ơi, Bé Như ơi là Bé Như, em ở dưới xứ sông nước mà cái miệng em lanh chanh như cá lòng tong gặp mưa rào vậy đó nè. Chị ngồi đây, tay bưng ly nước mía ép, diện cái áo dài tân thời hoa nhí dạo phố Sài Gòn náo nhiệt mà nghe em chọc anh Bốn Lúa, chị phải dừng chân lại, lấy cái khăn tay lụa che miệng cười khúc khích vì thấy cưng đâu có chịu nổi. Em chê anh Bốn nhà mình nói nhiều, chứ chị thấy anh Bốn nói câu nào là thấm thía câu đó, chân chất mà thiệt tình như củ khoai củ sắn, chứ đâu có như ai kia, miệng nói đi vớt rau muống niệm Phật mà cái mắt cứ lén ngó cái nồi canh chua của người ta hoài nha.
Bé Như ơi, người ta nói Sài Gòn đèn ngọn xanh ngọn đỏ, còn lòng chị Ba thì chỉ có một ngọn đèn trí huệ sáng choang hướng về cõi Tây Phương nhiệm mầu thôi hà. Chị đây tuy đỏng đảnh, điệu đà đi guốc mộc kêu lộc cộc trên phố, lâu lâu lại thích ngâm vài câu thơ tiền chiến cho lãng mạn, nhưng chuyện tu hành niệm Phật là chị nghiêm túc lắm đó nghen. Em nói anh Bốn chấp nồi canh chua, chứ chị thấy em mới là người đang kẹt vô cái vị ngọt ngào của trần gian đó, thấy anh Bốn dễ thương rồi kiếm chuyện nói ra nói vô để người ta chú ý tới mình chứ gì, chị Ba lạ gì cái tâm lý của mấy cô em gái đôi mươi mơ mộng nè.
Dập dìu tài tử giai nhân, mười phương chư Phật cũng cần lòng thành, em chọc anh Bốn chi cho tốn công rồi rủ người ta ra bờ sông ngắm trăng ngắm bóng. Trăng dưới nước là trăng giả, cái tình thế gian này cũng như bọt nước hư hao thôi em ơi, thà là mình cứ gom hết cái điệu đà, cái nhõng nhẽo của con gái tụi mình để dâng lên cúng dường Phật, đem cái giọng oanh vàng thỏ thẻ đó mà trì niệm Nam mô A Di Đà Phật có phải là tốt hơn không. Chị Ba nói nhỏ nghe nè, em nói bông sen bên Cực Lạc lấy lá che tai vì anh Bốn nói nhiều, coi chừng bông sen của em bên bển nó cũng đang lắc đầu cười trừ vì có cô chủ nhỏ quậy phá quá chừng đó nha.
Thôi, em đừng có chọc anh Bốn nữa để anh ấy yên tâm ăn cho hết chén cơm đậu hũ kho sả đi nè, tội nghiệp người ta. Bữa nào em rảnh, bắt chuyến xe đò lên Sài Gòn huê lệ này chơi với chị Ba, chị dẫn em đi ăn cơm chay nhà hàng sang trọng, rồi hai tụi mình cùng diện áo đẹp đi chùa vãng cảnh, cầu nguyện cho đường tu ngày càng tinh tấn. Rồi tụi mình cùng thi xem ai niệm Phật được định tâm hơn, ai buông xả được cái ngã nhanh hơn, chứ đừng có ở đó mà rủ anh Bốn đi tranh luận với con nhái xanh bên bờ sông nữa, nghe đỏng đảnh mà mắc cười dễ sợ hà Bé Như ơi.
Nèn nèn, chị Ba Sài Gòn ơi, em nghe chị lên tiếng mà em giật mình cái thót, tưởng đâu chim oanh chim yến ở đâu bên hông chợ Bến Thành bay về tới bến phà sông quê em hót líu lo vậy đó. Chị Ba diện áo dài tân thời đi guốc lộc cộc, tay bưng ly nước mía nhìn sang chảnh quý phái quá chừng, hèn chi anh Bốn Lúa nhà mình nãy giờ ngồi im thin thít, chắc là đang mải ngắm cô Ba đô thành thanh lịch nên quên luôn cả việc nhai miếng đậu hũ kho sả rồi kìa. Chị nói em lanh chanh như cá lòng tong, chứ em thấy chị Ba cũng đỏng đảnh, điệu đà bênh anh Bốn thấy rõ luôn nha, làm em đây cũng thấy ganh tị một chút xíu rồi đó.
Chị Ba ơi, người ta nói Sài Gòn hoa lệ, hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo, còn em ở dưới này chỉ có hoa lục bình tím ngắt với hoa sen trắng ngát một vùng thôi hà. Chị bảo em rủ anh Bốn ra bờ sông ngắm trăng giả, chứ em thấy cái bóng trăng dưới nước tuy nó giả mà nó đẹp, cũng như cái thân giả tạm này của tụi mình nè, biết nó giả để đừng có chìu chuộng nó quá, đừng có lo diện áo đẹp điệu đà quá mà quên mất cái tánh chân thật bên trong. Em nhõng nhẽo một chút, phá phách một chút cho anh Bốn đỡ ngủ gục khi nghe kinh thôi, chứ cái tâm em lúc nào cũng hướng về bốn mươi tám lời nguyện của Đức Từ Phụ hết trơn á, đâu có dám lơ là một giây một phút nào đâu chị Ba.
Dập dìu phố thị đèn hoa, lòng em chỉ hướng Phật đà Tây Phương, chị Ba đừng có chọc em kẹt vị ngọt trần gian nghen, em ăn chay trường từ nhỏ, chỉ thèm vị ngọt của câu lục tự hồng danh thôi hà. Mà em nghe chị Ba nói giọng oanh vàng thỏ thẻ khuyên em đừng chọc anh Bốn, làm em mắc cười muốn chết, chắc tại chị Ba ở trên thành phố náo nhiệt quá nên thèm cái không khí trong lành, thèm cả cái nét chân chất của anh Bốn Lúa miền Tây tụi em rồi phải không nè. Bông sen của em bên Cực Lạc tuy có hơi rung rinh vì cô chủ nhỏ hay cười hay nói, nhưng em tin chắc là nó bự và thơm lắm, tại vì mỗi lần em cười là em lại niệm một câu A Di Đà Phật để gửi gắm vô đó mà.
Hứa với chị Ba luôn, bữa nào lúa trúng mùa, em xách giỏ đệm đựng đầy xoài cát Hòa Lộc với vài đòn bánh tét chay bắt xe đò lên thành phố tìm chị Ba nghen. Để coi chị Ba dẫn em đi ăn cơm chay sang trọng ở quận Nhất coi nó ngon bằng nồi canh chua nấu bằng bếp củi của em không, rồi hai chị em mình cùng mặc áo bà ba, áo dài thướt tha đi chùa, vừa đi vừa lần chuỗi bồ đề niệm Phật cho cả phố Sài Gòn lác mắt luôn. Lúc đó để coi anh Bốn Lúa ở dưới quê có nhớ hai tụi mình mà ngẩn ngơ nhìn theo bóng trăng dưới ao nữa không, chị Ba hứa là phải đợi em lên đó nghen, thương chị Ba Sài Gòn dịu dàng của em nhiều lắm á!
Trời đất dung hoa, vạn vật sinh sôi, hai cái cô hai này bữa nay rủ nhau vô đây lập cái bàn hội nghị thượng đỉnh bến phà hay sao mà nói qua nói lại nghe điếc con rái cá hết trơn vậy củ tỏi? Anh Bốn tui đang định bưng chén cơm nguội ngắt lên ăn nốt cho xong để còn đi ra sau hè làm cỏ cho mấy gốc nhãn, mà nghe hai cô kẻ tung người hứng, cô Ba Sài Gòn thì gõ guốc mộc lộc cộc nghe nhức cái đầu, còn Bé Như thì lanh chanh như con lươn rúc vô bụi chuối. Mấy cô chọc tui cái bụng tròn vo như trái dưa hấu, rồi còn đồn thổi tui mê ngó cô Ba Sài Gòn diện áo dài tân thời tới mức quên nhai đậu hũ, coi chừng tui niệm Phật một câu là hai cô bay cái vèo qua tới bến Cực Lạc ngồi trên đài sen hối lỗi không kịp thở bây giờ hà.
Bé Như ơi là Bé Như, em nói bông sen của em bên bển bự và thơm nhờ mỗi lần cười là niệm một câu Phật, anh nghe xong mà anh cười rụng rốn, cười muốn sút cái dây thun quần sà loong luôn nè em ơi. Em điệu đà nhõng nhẽo rủ anh ra bờ sông ngắm trăng giả mà còn bày đặt lý luận tánh Không với tánh Có, coi chừng ngắm một hồi muỗi vằn nó chích cho một phát sưng chù vù cái mỏ thì lúc đó có mà niệm Nam mô ngứa quá A Di Đà Phật chứ ngồi đó mà mơ mộng đôi mươi. Còn cô Ba Sài Gòn nữa nghen, cô đi guốc mộc ở phố thị hoa lệ đèn xanh đèn đỏ mà cô bênh tui kiểu đó là cô hại tui rồi, làm tui mang tiếng mang tai với bà con chòm xóm dưới này quá chừng, người ta tưởng anh Bốn Lúa nay đổ đốn thích gái đô thành chắc tui trốn luôn xuống lu nước mưa niệm Phật quá cô Ba ơi.
Chim tham ăn sa vào lưới rập, cá tham mồi mắc phải lưỡi câu, hai cô coi chừng tham tranh luận có có không không rồi cái ngã nó phình to như bánh phồng tôm nhúng vô chảo dầu sôi đó nghen. Tui đây ăn chay trường chân chất, ruộng sâu cấy cày mệt muốn chết, chỉ mong tối về thắp nén nhang, quỳ trước bàn thờ Phật gõ mõ tụng kinh, niệm chữ Di Đà cho cái tâm nó nhẹ như bông gòn chứ đâu có rảnh mà đứng đó cho hai cô đem ra làm bia đỡ đạn. Mà thôi, nghe Bé Như hứa xách giỏ đệm đựng xoài cát Hòa Lộc với bánh tét chay lên thành phố tìm cô Ba Sài Gòn đi chùa làm tui cũng nghe mát cái ruột gan, thấy hai cô tuy điệu đà, đỏng đảnh, phá phách số một mà trong lòng còn biết thương câu lục tự, biết hướng về cõi Phật là anh Bốn tui mừng húm rồi.
Bởi vậy ta nói, trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ, hai cô có hẹn hò nhau đi đâu thì nhớ chừa cho anh Bốn một suất đi ké với nghen, để tui làm tài xế ôm vô lăng chở hai cô đi cho nó an toàn, dọc đường tui còn nhắc hai cô niệm Phật chứ để hai bà tám này ngồi gần nhau là thế nào cũng quên hết đường về Tây Phương cho coi. Giờ thì anh Bốn xin kiếu, tui đi ăn nốt chén cơm kho sả rồi ra vườn đây, hai cô ở lại bớt chọc ghẹo tui lại giùm cái, lo mà lần chuỗi bồ đề, giữ cái tâm cho nó trong veo như nước gáo dừa, để mai này ba đứa mình cùng dắt tay nhau lên xe hoa vãng sanh về cõi Cực Lạc, chứ ở đây cãi lộn hoài con nhái xanh nó cười cho thối mũi đó nghe hai cô nương!