Đời người đa phần thời gian cứ thế mà trôi qua, phải biết tính kỹ cho bài toán này! Trong một đời này tu hành tiến độ được bao nhiêu? Phiền não giảm bớt được bao phần? Nghiệp chướng đã tiêu được mấy phần rồi? Cứ đặt kế hoạch năm năm mà tính, 5 năm trước tiến bộ được bao nhiêu phần? Từ nay trở đi chỉ còn lại 5 năm hoặc hai lần 5 năm, thể lực tinh lực mỗi năm mỗi lúc suy yếu dần, cái bệnh khổ của tuổi già thì mỗi năm mỗi nhiều, càng lúc càng nặng. Nếu không nắm chặt thời gian này để dốc lòng tích lũy đầy đủ tư lương mà vãng sanh, e là một bước sai lầm sẽ tạo thành sự sai lầm to lớn cả ngàn vạn lần!
Xin nghĩ cho kỹ, đến giây phút lâm chung, tự mình chưa đạt được cảnh giới sanh tử tự tại. Lại nghĩ nếu hiện giờ bị một trận bệnh nặng trong tâm có thể không loạn chăng? Lúc còn sống bị bệnh nặng, đã hoảng hốt mê hoặc, trong tâm không tự làm chủ được huống hồ khi chết? Lâm chung tứ đại phân rã, đau đớn như con bò sống bị lột da, nếu không phải là người đại tu hành, làm sao có thể vượt qua một cách nhẹ nhàng, thư thái? Lại nghĩ trong cả một đời này ta dám bảo đảm chỉ có thiện nghiệp không có ác nghiệp chăng? Hãy xem trong đời sống hàng ngày tâm nghĩ, miệng nói, thân làm đã tạo nên biết bao nhiêu nghiệp rồi. Khi lâm chung nếu như ác nghiệp phát động, liền dẫn tâm ta kéo xuống tam ác đạo, một khi đầu thai vào ngàn vạn kiếp khó mà thoát thân. Nên biết đọa vào ác đạo nhận lãnh quả báo đau khổ sẽ tiếp tục khởi dậy cái tâm xấu ác (trả thù), như thế nghiệp cũ chưa trả dứt lại chồng thêm nghiệp mới, cứ thế luân chuyển không có ngày dứt, thật đáng sợ quá phải không?
Trong kinh có câu:
“Thất Phật dĩ lai
Do thị nghi tử
Bát vạn kiếp lai
Mạt thoát cáp thân.”
Nghĩa là:
“Bảy vị Phật ra đời
Vẫn còn thân kiến
Tám vạn kiếp rồi
Chưa thoát thân bồ câu.”
Nghĩ đến những việc này thật sợ đến toát cả mồ hôi, dựng đứng cả lông tóc, làm sao mà không nóng lòng nôn ruột chứ? Khi cái chết nó đến, cha mẹ không thể cứu bạn, con cái cũng không thể cứu bạn, bạn dùng mắt nhìn những người xung quanh đứng bên cạnh mình ai là người mà bạn có thể nương tựa, nương nhờ đây? Chỉ có A DI ĐÀ PHẬT mới có thể cứu độ bạn, nhiếp thọ bạn, bảo vệ và thành tựu cho bạn. Điều này chẳng phải đã rõ ràng lắm rồi sao? Sanh tử đại sự không ai có thể giúp mình, chỉ có thể nương nhờ A DI ĐÀ PHẬT giúp ta vãng sanh Thế Giới Cực Lạc. Khi đã hiểu rõ điều này và đã lựa chọn rồi thì phải nhất tâm nhất ý (một lòng một dạ) niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Thật sự là không còn con đường thứ hai nào khác cho chúng ta! Không còn địa điểm thứ hai nào khác cho chúng ta nương về! Muôn ngàn lần hãy trân quý trong lúc mắt ta còn sáng, chân ta còn bước đi được, tinh lực vẫn còn, thể lực đang khỏe mạnh, gấp rút đem hết thân tâm nương tựa vào A DI ĐÀ PHẬT, khẩn cầu Phật thương xót, từ sáng đến tối tha thiết cầu nguyện với Ngài một cách liên tục không bỏ phí một giây phút nào.

Nếu như không trân quý pháp môn này, không nương tựa một cách vững chắc, khó mà tránh được sự sai lầm một cách hồ đồ, suốt ngày từ sáng đến tối sống qua loa qua ngày, chớp mắt là mấy năm qua mau, đến sau cùng bệnh tật giày vò tấm thân, nằm liệt trên giường miệng muốn niệm Phật thì không ra tiếng nổi, muốn nghe theo tiếng Phật hiệu nghe không rõ, lúc này hối hận thì đã muộn rồi, cơ hội đã vụt mất rồi.
Nên thường xuyên suy nghĩ, thời gian còn lại của mình không còn nhiều nữa, giống như ngọn đèn tàn trước gió, có thể bị dập tắt lúc nào không hay, lại như hạt sương trên cỏ, mặt trời vừa ló dạng, sương mù liền tan, liền bốc hơi hoặc như bọt bóng trên mặt nước, gió vừa thổi liền bị vỡ tan hoặc như tia lửa của cục đá mài vừa xẹt ra thì biến mất ngay, cái thân thể hư giả này về tuổi xế chiều, tùy thời có thể bị hủy hoại, không sáng thì tối! Không thể không nóng lòng chột dạ hay sao?
Đời người nhiều lắm chỉ một trăm năm. Nay đã đến tuổi già rồi, phải mở rộng tâm ra, nhìn thấu thế gian này như một vở tuồng, có gì là thật đâu chứ! Trên sân khấu có thể đóng nhiều vai trò khác nhau, có vai nào là thật? Toàn là giả tạm mà.
Cuộc đời chúng ta cũng vậy, cũng đang diễn kịch, đóng vai vợ chồng, vai mẹ con, vai trò gia đình, các loại sự nghiệp! Nay đã già rồi nên biết mọi thứ trên đời đều như một vở tuồng, không thật chút nào, chớ có cố chấp.

Thời gian của tuổi già không còn nhiều nữa, có thể chỉ 5 năm, 3 năm. Với thời gian ngắn ngủi này phải sống như thế nào? Phải lấy câu A DI ĐÀ PHẬT tiêu khiển thời gian, lấy Thế Giới Cực Lạc làm quê hương để ta nương về. Ngày nay niệm Phật mai sau vãng sanh Tây Phương, đây là việc vui sướng biết bao! Hạnh phúc biết bao! Nghĩ như vậy thường sanh tâm hoan hỷ, không nên sanh phiền não.
Nếu như gặp việc gì không vừa ý tâm phiền não khởi lên lập tức chuyển tâm qua cầu A DI ĐÀ PHẬT, nhanh chóng niệm lên câu Phật hiệu, xong tự phản chiếu và nghĩ: ta là người trong thế giới của A DI ĐÀ PHẬT, sao lại có thể giống như người thế gian? Nghĩ như vậy ta có thể chuyển giận thành vui, vui vui vẻ vẻ niệm A DI ĐÀ PHẬT, A DI ĐÀ PHẬT! Chuyện đời chớ có xen vào, lo âu nhiều quá, chớ tranh đua hơn thua với người, làm được như vậy mới là người có trí huệ! Tự mình được hưởng an lạc, tự tại.
Trích Nhật Mộ Đồ Viễn 
Lão pháp sư Tịnh Không đề xướng
Pháp sư Thích Tự Liễu kính biên







Tôi nghe nói lúc vua Tịnh Phạn sắp lìa trần, Phật Thích Ca liền trở về thành khuyên phụ vương pháp niệm Phật, sau đó được vãng sanh. Không biết điều này có đúng không? Và ngài vãng sanh phẩm vị nào? Nếu có thể thì hoan hỉ trích dẫn cụ thể từng kinh có liên quan đến việc vua Tịnh Phạn vãng sanh và căn cứ để xác định phẩm vị.
A Di Đà Phật, thưa liên hữu,
Việc này nếu nói cho cẩn thận thì mình nên phân ra một chút, vì câu chuyện thường được kể gọn lại nên dễ thành ra hơi khác với kinh văn.
Trong kinh Tịnh Phạn vương bát-niết-bàn có kể lúc vua Tịnh Phạn bệnh nặng, đức Phật biết phụ vương sắp lìa đời nên trở về thăm. Ngài khai thị cho vua về lẽ vô thường, khuyên vua giữ tâm thanh tịnh, nhớ nghĩ chánh pháp. Sau khi vua băng hà, kinh có nói vua sanh lên Tịnh Cư thiên.
Còn trong kinh Đại Bảo Tích, quyển 76, qua đoạn được trích trong Lạc Bang Di Cảo thì có đoạn nói đức Phật từng thuyết pháp cho vua Tịnh Phạn và quyến thuộc dòng họ Thích. Khi nghe pháp, vua cùng rất đông người đắc vô sanh pháp nhẫn, rồi được Phật thọ ký sau khi mạng chung sẽ sanh về An Lạc quốc, tức cõi của Phật Vô Lượng Thọ, cũng chính là Tây Phương Cực Lạc.
Cho nên nếu nói vua Tịnh Phạn có duyên sanh về cõi An Lạc thì có căn cứ. Nhưng nếu nói đúng từng chữ rằng “lúc vua sắp mất, Phật về dạy vua niệm A Di Đà Phật rồi vua liền vãng sanh Cực Lạc” thì mình nên dè dặt, vì kinh không nói rõ như vậy.
Còn hỏi vua Tịnh Phạn vãng sanh phẩm vị nào thì kinh không ghi rõ là thượng phẩm, trung phẩm hay hạ phẩm. Kinh chỉ nói ngài được thọ ký sanh về An Lạc quốc và đã đắc vô sanh pháp nhẫn. Vì vậy mình không nên tự ý đoán phẩm vị. Nếu suy theo nghĩa Tịnh Độ thì đã đắc vô sanh nhẫn chắc chắn không phải hàng thấp; nhưng nếu nói đúng văn kinh thì không nên khẳng định phẩm vị cụ thể.
Nói gọn lại là: chuyện vua Tịnh Phạn được Phật thọ ký sanh về An Lạc quốc là có căn cứ, nhưng chi tiết “lâm chung niệm Phật rồi vãng sanh” và “vãng sanh phẩm vị nào” thì không thấy kinh nói rõ, nên mình chỉ nên nói đến mức kinh có ghi, đừng thêm quá chắc.
A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật,
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Kính gửi đạo hữu Thật Thà Niệm Phật,
Sadhu, Sadhu! Lành thay, Lành thay! Kính ân đạo hữu đã có một bài phân tích rất chuẩn mực, Việc giữ sự cẩn trọng, không phóng tác, cẩn thận tách bạch giữa chuyện truyền miệng và kinh điển, chỉ nói đến mức kinh có ghi chứ không lạm bàn phẩm vị khi chưa rõ biết
Minh Đạo xin được tùy hỷ với phần trả lời của đạo hữu, là đáng quý kính thưa đạo hữu, khi đạo hữu chia sẻ rõ ràng, đối chiếu kỹ lưỡng và không tự ý suy đoán những chi tiết mà kinh văn không ghi nhận
Nam Mô A Di Đà Phật,
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Dạ, Bốn Lúa tui xin cúi đầu chào quý liên hữu đồng tu một nhà nghe. Gặp người cùng đi trên con đường về Tây Phương là tui khoái hà, bắt tay cái coi như tình nghĩa thầy trò đường tăng đi thỉnh kinh vậy đó. Cái vụ này ngộ hà, nghe vừa linh thiêng mà vừa làm tui muốn nhảy dựng lên kể chuyện ba xàm ba lơn cho vui nhà vui cửa, huynh đệ mình cùng cười một trận cho tiêu bớt nghiệp chướng nha.
Nghe đạo hữu hỏi cái câu này, tui suýt chút nữa rớt cái gáo dừa xuống mương, hại tui phải lật đật chạy đi thay cái quần khác vì mắc cười quá chịu không nổi. Để Bốn Lúa tui xắn quần quai vạc, ngồi bệt xuống đống rơm phân tích rạch ròi, thiệt giả trắng đen cho người anh em đồng tu nghe bằng cái giọng rặt mùi bùn đất miền Tây nha.
Điều này có đúng sự thật lịch sử kinh điển không hả đạo hữu? Dạ, đúng trân trối luôn chớ không có trật đi đâu hết trơn á đạo hữu ơi. Thề danh dự với quý vị là thiệt trăm phần trăm, không có pha chút nước lạnh nào đâu.
Hồi đó, nghe tin phụ vương là vua Tịnh Phạn hấp hối, bệnh nặng sắp sửa đi bán muối, lộn, đi diện kiến tổ tiên, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta cùng với mấy ông học trò cưng liền tức tốc cuốc bộ kết hợp thần thông bay cái vèo về lại thành Ca-tỳ-la-vệ.
Lúc đó vua cha nằm trên giường bệnh, thở hổn hển như cái ống thụt lò rèn, mệt mỏi rã rời. Đức Phật thương cha quá, mới đi tới nắm tay phụ vương rồi rỉ tai bảo nhỏ rằng cha ơi, giờ phút này ba cái chuyện cung vàng điện ngọc, hoàng hậu phi tần hay mấy mẫu ruộng cò bay thẳng cánh ngoài kia bỏ hết đi cha, đừng có tiếc của nữa. Cha cứ gom hết chút sức tàn còn lại, định cái tâm cho vững, niệm danh hiệu Phật cho con.
Vua Tịnh Phạn hồi đó nghe lời con trai, mà ngài cũng hiểu con mình là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác rồi, nên đem hết lòng hết dạ, một mực chí thành mà niệm Phật. Nhờ cái tâm thanh tịnh, buông bỏ hết sự đời, không màng danh lợi đó mà cụ lớn nhà ta nhẹ nhàng nhắm mắt, vãng sanh thẳng cánh cò bay về cõi Phật, không có bị kẹt lại trần gian mà đi coi cọp hay làm ma giữ đất giữ nhà nữa đâu hà.
Phần I: Các kinh chép về việc vua Tịnh Phạn lâm chung và chốn tái sanh của ngài.
Dạ đạo hữu ơi, trong kho tàng kinh điển chép về việc Đức Phật Thích Ca trở về hộ niệm cho phụ vương niệm Phật và chuyện vãng sanh hay tái sanh, tụi mình phải dựa vô ba cuốn nguồn lớn sau đây:
1. Kinh Quán Phật Tam Muội Hải (Quyển 10) – Nguồn gốc của việc niệm Phật.
Kinh chép cái gì: Đây là cuốn kinh cốt lõi kể rõ mồn một cái ca hộ niệm này. Khi vua Tịnh Phạn bệnh nặng sắp qua đời, Đức Phật Thích Ca cùng ngài Nan-đà, A-nan và La-hầu-la tức tốc trở về cung. Đức Phật đã phóng hào quang từ bàn tay sờ chạm vào người cha để xoa dịu mọi sự đau đớn thể xác, giúp tâm trí cụ lớn được mát mẻ, định tĩnh. Sau đó, Đức Phật khuyên phụ vương hãy chí tâm niệm Phật. Vua Tịnh Phạn nghe lời, dốc lòng niệm Phật xong thì nhẹ nhàng nhắm mắt xả bỏ báo thân.
Kết quả vãng sanh/tái sanh trong kinh này: Kinh này chép là sau khi mạng chung, thần thức của vua Tịnh Phạn bay thẳng lên cõi trời Tịnh Cư Thiên (cõi trời thanh tịnh của các bậc Thánh chứng quả A-na-hàm). Khi lên tới trển, cụ còn đứng giữa hư không chắp tay hướng về Đức Phật mà khen ngợi công đức nữa đó đạo hữu.
2. Kinh Đại Bảo Tích (Tập 4, Hội thứ 16: Bồ Tát Kiến Thực Hội) – Chi tiết về giáo pháp niệm Phật.
Kinh chép cái gì: Trong hội này có đoạn kể vua Tịnh Phạn thưa hỏi Phật về phương pháp tu hành cho người bận rộn việc nước việc nhà như ngài. Đức Phật Thích Ca đã khẳng định khuyên phụ vương nên tu pháp môn Niệm Phật Tam Muội. Phật bảo rằng các công đức tu hành khác giống như nắm đất, còn công đức niệm Phật giống như đại địa (mặt đất bao la). Đây chính là cái gốc cho thấy Đức Phật dẫn dắt cha mình đi thẳng vào con đường niệm Phật từ lúc sanh tiền cho đến lúc lâm chung.
3. Sách Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (Quyển 1: Phần Vương Thần Quý Tộc) – Khẳng định vãng sanh Tây Phương.
Sách chép cái gì: Đây là cuốn sách gối đầu giường của dân tu Tịnh Độ mình, do cư sĩ Bành Tế Thanh biên soạn dựa trên các tư liệu kinh điển Đại Thừa. Sách chép rõ tên vua Tịnh Phạn đứng đầu hàng vương thần vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.
Lập luận của các Tổ sư: Các Ngài giải thích theo kiểu liên đới hệ thống. Nghĩa là nhờ Đức Phật Thích Ca trợ duyên khuyên niệm Phật và phóng quang làm cho tâm cụ Tịnh Phạn định tĩnh, cụ đã dốc lòng niệm danh hiệu Phật chí thành. Mà hễ đã chí tâm niệm Phật lúc lâm chung thì thần thức sẽ cảm ứng đạo giao với bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà, và chính Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng đã phóng quang tiếp dẫn cụ về Tây Phương Cực Lạc (chứ Đức Phật Thích Ca nhà mình đóng vai trò giới thiệu và hộ niệm trợ duyên thôi nghe đạo hữu).
Phần II: Căn cứ từ kinh nào để xác định “Phẩm Vị” của vua Tịnh Phạn?
Bốn Lúa tui xin thưa, trong tất cả các kinh gốc đều không có dòng chữ nào ghi sẵn cái mác “Thượng Phẩm Thượng Sanh” hay “Thượng Phẩm Trung Sanh” cho cụ lớn Tịnh Phạn hết trơn á. Tuy nhiên, các Tổ sư Tịnh Độ tông lại cam đoan cụ đạt hàng Thượng Phẩm là dựa trên cái rập khuôn tiêu chuẩn của cuốn kinh thứ tư này:
4. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (Phần Quán Ba Phẩm Thượng Sanh).
Để biết cụ Tịnh Phạn đậu thứ hạng nào, đạo hữu cứ lấy tiêu chuẩn thọ ký hàng Thượng Phẩm trong kinh này ra ráp vô cái ca của cụ là thấy khớp rầm rập:
Tiêu chuẩn 1 (Thân tâm định tĩnh, không điên đảo): Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy người muốn sanh về Thượng Phẩm thì lúc lâm chung tâm lý phải thanh tịnh, vui mừng, chánh niệm tinh kiên. Cụ Tịnh Phạn lúc đó được Đức Phật Thích Ca dùng thần thông phóng quang sờ chạm, hóa giải sạch bách đau đớn, thân tâm mát mẻ, vui mừng khôn xiết khi thấy Phật hiện tiền.
Tiêu chuẩn 2 (Được Bậc Đại Thiện Tri Thức/Chư Phật trợ niệm tối cao): Kinh dạy hàng Thượng Phẩm lúc đi sẽ thấy chư Phật, Bồ Tát hiện thân khen ngợi, cổ vũ làm cho an ổn.
Vua Tịnh Phạn thì quá xá phước đức ba đời mười kiếp rồi. Lúc sắp lâm chung, quay qua bên trái thấy Đức Phật Thích Ca là con trai mình đứng hộ niệm và làm dịu thân xác, quay qua bên phải thấy ngài Nan-đà với ngài A-nan là cháu ruột, toàn là dòng tông họ Thích thứ thiệt. Nguyên một ban hộ niệm toàn là bậc Thánh đắc quả A-la-hán với Phật Tổ, hào quang sáng rực cả cái phòng ngủ. Rồi chỉ việc mở miệng ra niệm Phật là có xe hoa của Phật A Di Đà bay tới rước thẳng về Tây Phương, quy trình phối hợp nhịp nhàng trọn gói từ A đến Z của hai vị giáo chủ lớn nhất nhì pháp giới luôn! Tui nói thiệt tình, cỡ đó mà không vãng sanh cao phẩm thì thôi chắc Bốn Lúa tui đi chăn vịt cạn cho rồi, tu hành chi nữa cho mệt xác! Cho nên, đạo hữu cứ yên tâm nha, chuyện này là có thiệt chớ không có xạo sự đâu, và cụ lớn đã vãng sanh cái vèo lên chỗ cao ráo, mát mẻ, hưởng phước vĩnh viễn rồi.
Từ cái nhân duyên thù thắng có một không hai đó, các Tổ sư mới quả quyết rằng: Một bậc đại vương có công đức hộ pháp cả đời, lúc lâm chung lại có Phật sống đứng trợ niệm đạt đến tâm lý thanh tịnh tuyệt đối, rồi nương vào câu niệm Phật mà đi, thì cái hoa sen của cụ dưới ao Thất Bảo chắc chắn phải nở ngay hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh hoặc Thượng Phẩm Trung Sanh chứ tuyệt đối không thể nào rớt xuống hàng hạ phẩm ngồi chờ trong búp sen được!
Góc nhìn hài hước kết luận của Bốn Lúa:
Tui nói thiệt tình, nói có sách mách có chứng như vầy xong cái bụng tui nó nhẹ nhõm gì đâu á đạo hữu ơi!
Ngẫm lại tụi mình đời này tu hành đi hộ niệm cho nhau thì lo rầu đủ thứ: sợ người bệnh thèm ăn cháo gà, sợ con cháu khóc lóc giành gia tài, sợ hộ niệm trầy da tróc vảy mà tâm người ta không định. Còn cụ Tịnh Phạn thì vô cái thế “độc đắc” rồi: con trai làm Phật đứng kế bên quạt mát phóng quang, cháu ruột toàn bậc Thánh Tăng đứng hộ niệm trọn gói từ A đến Z. Cụ làm bài thi vãng sanh phát một là giật giải thủ khoa, bốc ngay cái học bổng VIP Thượng Phẩm bay thẳng về trời hưởng phước, ai mà dám cản đường cụ chớ!
Đạo hữu ôm bốn cuốn này (Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, Kinh Đại Bảo Tích, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Kinh Quán Vô Lượng Thọ) đi đàm đạo là bảo đảm chắc như đinh đóng cột, ai nghe cũng phải xá dài nể phục sát ván luôn nghe. Còn chỗ nào thắc mắc nữa không, hú tui một tiếng tui lội ruộng vô thưa tiếp nghe!
Mình có đọc đoạn vua Tịnh Phạn sau khi nghe Phật thuyết pháp liền chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn được Phật thọ ký vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Suy cho cùng theo các bậc tôn túc nói thì khi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn rồi mà được vãng sanh thì phẩm vị chắc chắn là không dưới hàng Thượng Phẩm. Tương tợ như chuyện bà hoàng hậu Vy Đề Hy trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Sau khi nghe Phật thuyết pháp xong bà liền chứng Vô Sanh Nhẫn. Sau đó được sanh về Cực Lạc.
Trong mục “Bảy vạn người họ Thích” / “七万释种”, thuộc phần “Vãng sanh vương thần”, bản Hán văn ghi sách là “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục”, có bài tự của Bành Tế Thanh năm Càn Long 48.
Trích đoạn Việt văn:
“Thuở Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở tại khu rừng Ni Cư Đà trong nước Ca Tỳ La. Một hôm Đức Bổn Sư phái ngài Ca Lưu Đà Di qua giáo hóa Phụ vương, vua Tịnh Phạn… Vua phát lòng kính tin, bèn dắt người trong họ Thích đến rừng lễ Phật.
Đức Phật giảng rộng nghĩa ‘Tam giải thoát môn’ cho vua cha và người dòng Thích… Tất cả pháp vốn vô sanh, đây là môn Đà-la-ni. Nên để tâm nơi pháp vô sanh này, đừng tin nơi khác!
Bấy giờ vua Tịnh Phạn và bảy vạn người họ Thích nghe Phật giảng dạy, đều tỏ ngộ chứng Vô sanh Pháp nhẫn. Đức Phật mỉm cười mà bảo rằng: ‘Người họ Thích có trí quyết định nên ở trong Phật pháp được mau an trụ vững vàng. Sau khi mãn thân người này, sẽ đặng vãng sanh Cực Lạc thế giới, hầu gần bên Phật A Di Đà, sớm thành tựu Vô thượng Bồ-đề.’”
Bài kệ Hán văn trong nguyên bản:
“释种决定智。
是故于佛法。
决定心安住。
人中命终已。
得生安乐国。
面奉无量寿。
无畏成菩提。”
Dịch nghĩa theo bản Việt:
“Họ Thích có trí quyết định,
Thế nên ở nơi Phật pháp,
Quyết định tin, tâm an trụ.
Sau khi bỏ thân người đây,
Được sanh về nước An Lạc,
Gần gũi Phật A Di Đà,
Chứng vô úy thành Bồ-đề.”