Địa Tạng Bồ Tát khai thị A Ngọc về năm giới, giữ năm giới có thể được thân người, là căn bổn làm người, không bị đọa lạc, xem có vẻ đơn giản nhưng đa số chúng sinh đều phạm mà không hay biết. Chúng ta thường nghe nhiều kẻ xung quanh nói, tôi không có cướp của giết người, phóng hỏa hại ai, là một người dân lương thiện. Thật ra giết người phóng hỏa đã là tội rất nghiêm trọng, phải xuống địa ngục thọ báo. Bây giờ chúng ta lắng nghe Địa Tạng Bồ Tát từ bi khai thị, nếu nghe có sai sót thì là vấn đề của bản thân A Ngọc, A Ngọc đơn giản thuật lại lời khai thị của Bồ Tát như sau:
1. Không sát sanh: Nghiêm cấm đoạt lấy sinh mạng bất kỳ hữu tình nào, thanh tịnh ăn chay là căn bản của việc giữ giới này, sao gọi là thanh tịnh?
Cần nghiêm chỉnh thủ hộ giáo nghĩa của Kinh Lăng Nghiêm, bất cứ thứ gì liên quan đến bản thân đều không được dùng, ăn, tất cả thức ăn liên quan đến động vật đều không được ăn. Ví dụ: sữa bò, trứng, mật ong, pho mát, mỡ bò, những cái liên quan đến động vật đều giới cấm, vật phẩm trang điểm đa số đều có thành phần của động vật, không được dùng. Khi chúng ta bị bệnh cần uống thuốc, đặc biệt là thuốc đông y có nhiều thành phần động vật [cần tránh].
2. Không trộm cắp: Chưa được sự chấp nhận của người khác mà chiếm giữ cho bản thân là trộm cắp. Có rất nhiều người tại công ty, lấy đồ văn phòng của công ty dùng cho việc riêng tư hay đem về nhà dùng, hoặc gọi điện thoại cho việc riêng tư, sạc điện di động tại công ty, dùng máy photocopy, máy fax làm việc riêng tư v.v…, nếu chưa được công ty đồng ý thì đều là phạm giới trộm cắp.
3. Không tà dâm: Quan hệ tình dục ngoài vợ chồng ra đều là tà dâm.
Phi thời, phi địa, phi khí*, xem đĩa phim sex, dùng công cụ trợ dâm đều là phạm giới tà dâm.
4. Không vọng ngữ: Nói lời chân thực, không lừa gạt người khác. Có thì nói có, không thì nói không, cố ý lừa gạt là phạm giới nghiêm trọng; trường hợp thuận tiện vọng ngữ thì cố gắng đừng nói, nhân vì nói nhiều thì sẽ trở thành thói quen tự nhiên.
5. Không uống rượu: Cấm rượu và chất ma túy. Sản phẩm liên quan đến rượu đều không được ăn, ví dụ như chao, đa phần là có rượu không được ăn, mặc dù cho người chủ bán chao nói là dùng rất ít rượu, chỉ cần có một ít cũng là rượu, trừ khi dùng với thuốc để cứu mạng người thì không sao, còn có nhiều vật phẩm trang điểm có thành chất rượu, tốt nhất không dùng.
Trích từ Âm Luật Vô Tình 
Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác
*Dù là vợ chồng chính thức cũng phải giữ một số giới luật, nếu không cũng là phạm tội tà dâm.
Phi Thời là ngày đản sanh của Phật Bồ Tát hoặc 6 ngày chay trong mỗi tháng (sáu ngày chay: 8, 14, 15, 23 và 2 ngày cuối tháng (âm lịch)) hay 3 tháng trường chay trong năm (tháng giêng, tháng năm, tháng chín (âm lịch)), không được quan hệ. Trong những ngày này như mùng 1, mùng 10, 15, Tứ Đại Thiên Vương sẽ du tuần xem xét ghi lại thiện ác tại nhân gian rồi báo cáo cho Ngọc Đế.
Phi Địa là vợ chồng quan hệ nên vừa đủ, ngoài giường nằm của vợ chồng không được quan hệ ở nơi khác như phòng khách, bếp, nhà vệ sinh, lộ thiên, trước tượng Phật v.v…
Phi Khí là ngoài bộ phận sinh dục ra không được hành dâm ở bộ phận khác, nếu không sẽ phải xuống địa ngục chịu khổ. Chịu hết khổ địa ngục còn phải đầu thai làm heo, chó, uyên ương, rắn v.v…






Em niệm Phật mà chút xíu là mất tập trung nghĩ hết chuyện này đến chuyện nọ. Các anh chị có kinh nghiệm niệm Phật lâu năm xin cho em lời khuyên với ạ.
Nam mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa Diễm Phan,
Lành thay, Sadhu! Sadhu! Vì như trong Kinh số 96 – Sự Xuất Hiện (Pātubhāva Sutta), Phẩm lợi ích, Đại Phẩm, Chương Sáu Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh, đức Phật có dạy:
“Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời;
Sự xuất hiện của người thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết khó tìm được ở đời;
Sự tái sanh trong Thánh xứ khó tìm được ở đời;
Không khiếm khuyết các căn khó tìm ở đời;
Không si mê, không khiếm khuyết khó tìm ở đời;
Ước muốn thiện pháp khó tìm được ở đời.”
Việc bạn có tâm muốn thực hành, muốn hỏi pháp để đi cho đúng, tự thân đã là một nhân duyên rất đáng quý. Minh Đạo xin được hoan hỉ với lòng ước muốn tu học của bạn.
Với tâm nguyện không vì tham danh (muốn được khen, muốn nổi bật), không vì sân hận, Minh Đạo trước tiên xin giải bày là Minh Đạo không phải là một người có kinh nghiệm niệm Phật (Nam Mô A Di Đà Phật) lâu năm. Nhưng do thấy việc bạn gặp phải có sự tương đồng với lúc thực hành pháp “Thiền định lấy Niệm Ân Đức Phật làm đề mục”, nên Minh Đạo xin được chia sẻ kinh nghiệm như sau:
———
I. HIỂU CHO TÂM – HIỂU NGUYÊN NHÂN
+ Trước kia Minh Đạo cũng thực hành thiền với suy nghĩ rằng: phải làm cho tâm trống rỗng, đầu trống rỗng; hễ có gì hiện lên là phải ép cho mất đi; chỉ được hướng tới đề mục đang thực hành. Nhưng càng cố càng thấy mệt, càng thấy mình làm chưa đúng, rồi sinh khó chịu, bực bội, tự trách… (một dạng sân – tâm không vừa ý), khiến việc tu lại thành căng thẳng.
Đến đây Minh Đạo mới thấy: mang sân để đè tâm là đi ngược hướng. Nếu mình càng ghét vọng tưởng, càng khó chịu vì vọng tưởng, thì sân tăng → tâm càng loạn
+ Sau đó Minh Đạo quyết định rải tâm từ tới Tâm: “Mong cho tâm được an lành; mong cho tâm được mềm lại; mong cho tâm tu đúng pháp.”
“Rải tâm từ tới tâm” — nói vậy thì chưa chuẩn lắm, nhưng ý Minh Đạo muốn truyền tải là: mình cần Hiểu cho Tâm, Thông cảm cho Tâm, rồi Hướng dẫn Tâm; chứ không đối xử với tâm bằng sự gắt gỏng.
+ Nếu coi cái tâm này là em bé, thì việc tâm chạy tán loạn là tướng trạng bình thường của tâm chưa thuần, nghĩa là tâm có thói quen chạy theo cảnh – do Năm triền cái và Lực tầm–tứ còn thô, yếu, nên dễ bị kéo đi.
Nếu bạn để ý hơn 1 tí thì sẽ thấy, lúc tâm suy nghĩ linh tinh thì thường rơi vào 5 nhóm sau:
1. Ham muốn: Nghĩ việc thích thú, mong cầu
2. Nóng giận: Bực, khó chịu, tự trách
3. Hôn trầm–thụy miên: Lờ đờ, buồn ngủ
4. Trạo cử–hối quá: Đứng ngồi không yên, lo lắng, tiếc nuối
5. Nghi: “mình làm đúng chưa?”, “niệm vậy có ích không?”,…
-> Năm cái trên gọi là 5 triền cái. Chúng che lấp, trói buộc, làm yếu định, và làm tâm khó an trú.
=> Đến đây bạn chỉ cần HIỂU VÀ NẮM BẮT rằng “Ban đầu tâm như vậy là vì nó như vậy, là việc bình tường của tâm”, đừng vội lo lắng hay là cảm thấy khó khăn quá trong giai đoạn này. Việc cần làm là: Hiểu tâm – Thông cảm cho tâm – Hướng dẫn tâm từ từ, như người lớn dắt trẻ.
Và cần hiểu thêm có một cái mà nó gọi là “5 triền cái” – với người mới học nên để dễ hiểu thì nó là 5 cái thói quen không tốt của tâm khi bị buông thả hoặc bị dẫn dắt đi theo những điều không tốt (Bạn hiểu như em bé Tâm, do không được ba mẹ chăm sóc cẩn thận nên có thói quen hay thức khuya –> cản trở đến việc đi học vào ngày hôm sau vì buồn ngủ). Cũng vậy bạn chỉ cần hiểu 5 triền cái này là 5 cái thói quen không tốt của tâm, nó là ngăn ngại việc học-hành Phật Pháp và cản trở đạt được sự an tịnh và giác ngộ
———
II. MỤC TIÊU CHO GIAI ĐOẠN ĐẦU
Mục tiêu ban đầu không phải là “không có vọng tưởng” hay “chế ngự vọng tưởng cho sạch hết”, mà là có chánh niệm đúng cách, nghĩa là bạn cần:
1. Biết rõ rằng: “có cái tâm đang nghĩ, có cái gọi là tâm nó đang như vậy, có cái tâm đang nghĩ, có cái gọi là tâm nó đang như vậy”
2. Đến đây thôi, đừng để tâm bám theo một chủ đề, một nội dung sâu hơn nữa. Không phân tích, không tranh luận với nội dung
3. Rồi trở về đề mục niệm Phật
Niệm Phật là mình chọn một điểm tựa rõ ràng để tâm lương vào, chứ không phải thả trôi thành kể chuyện hay tưởng tượng lan man.
Minh Đạo hiểu làm được 3 bước này là khó, vì cứ một nội dung hiện lên là tâm bám theo nó và tiếp tục suy nghĩ theo nó, rồi sinh cảm thọ theo nó… Nhưng mỗi lần bạn Biết ra rồi quay lại, là bạn đang dựng chánh niệm lên đúng pháp.
———
III. GIỮ GIỚI
Sau khi Minh Đạo quán thấy mình đã biết tâm, đã thông cảm cho tâm, đã cố quay lại đề mục… nhưng vì sao vẫn hay bị cuốn theo các câu chuyện, các ham muốn, các kích thích giác quan? Cần có một cách (pháp) nào đó để Hướng dẫn tâm không dính mắc, giảm ham muốn,…
Và điều Minh Đạo thấy hiệu quả chính là GIỚI. Giới làm nền cho Định, nên Minh Đạo sẽ giới thiệu bạn bắt đầu với GIỮ GIỚI
1. Vì sao GIỚI lại giúp tâm.
Trong Vi Diệu Pháp, có nhóm tâm sở liên quan đến việc chế ngự: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,…; chúng ngăn không cho tâm rơi vào bất thiện theo cửa Thân, Khẩu, Mạng. Nói dễ hiểu thì: giữ giới làm ít duyên cho bất thiện, nên tâm nhẹ, bớt xao động, dễ quay về đề mục.
2. Ví dụ
Minh Đạo trước kia là người ăn nhiều, nên trước kia đôi khi có lúc tâm bị kéo bởi các đối tượng hấp dẫn của mắt tai (sắc–thinh…), kể cả lúc ngồi thiền đôi khi hình ảnh/ký ức về cảm thọ ăn uống khiến tâm dính mắc rồi kéo theo nhiều câu chuyện, nhiều suy nghĩ, nhiều ý bất thiện…
+ Nhưng từ khi Minh Đạo tác ý thọ trì giới nghiêm túc, mỗi khi tâm sắp trôi theo thì Minh Đạo lại tự nhắc:
“Con đang mang giới của bậc Thánh, trước kia các bậc Thánh không làm …, nay con cũng không thể làm điều này. Vì sự tôn kính Đức Thế Tôn, con quyết không vi phạm. Sự kiêng tránh này là món quà Vô Úy (không sợ hãi) con tặng cho chúng sinh”
“Bằng cả sinh mạng của mình, dù có hy sinh thân này con cũng không phạm giới này”
Cứ vậy, do giữ giới, tâm không bị kích thích các giác quan, có tác ý mạnh mẽ giữ giới –> Minh Đạo thấy tâm bị quên dần những ý bất thiện. Nên giảm bớt một gánh nặng, tâm dễ yên hơn.
Đây chỉ là một ví dụ, còn nhiều khía cạnh khác: giữ giới giúp giảm hối, giảm tự trách, giảm rối,.. nên nền tâm dễ vào định hơn.
2. Điều cần làm trong bước này:
+ Đầu tiên bạn cần dành thời gian đọc-hiểu về giới. Minh đạo sẽ ghi các từ khóa để bạn lần lượt tìm hiểu trên mạng/ thầy hướng dẫn:
– Giới là gì, Quả hiện hữu của giới, Nhân gần của giới, Chế ngự – virati (gồm có Sampattavirati, Samādānavirati, Samucchedavirati),
– 5 pháp điều phục tâm khi có tư tưởng bất thiện (Kinh An Trú Tầm, Trung Bộ Kinh),
– Lợi ích của giới / công đức của giới,
– Ngũ giới, Bát giới Uposathasīla, Cửu Giới Uposathasīla, thập giới SaDi.
– Mỗi giới bạn cần tìm hiểu về Giới này nói về gì, ý nghĩa – tại sao lại cần giữ giới này, Nếu làm gì thì phạm giới này, ác nghiệp quả khi phạm
+ Cách thực hành Minh Đạo thấy hữu ích:
– Lần đầu tiên thọ giới, bạn nên đến chùa và thỉnh chư Tăng hướng dẫn nghi thức thọ giới.
– Bạn nên dành một ngày, sau khi thọ giới thì bạn ở lại chùa để làm công quả: Rửa bát, quét dọn, tụng kinh, nghe pháp,… Và giữ trọn vẹn giới vào ngày hôm đó
– Sau đó lên lịch đều đặn: 1 ngày/tháng → 1 ngày/tuần → 2 ngày/tuần… tùy sức và tùy duyên. Quan trọng là đều và chắc. Sau dần tâm sẽ dễ điều phục, sẽ dễ vào an định.
———
IV. TIẾP TỤC THỰC HÀNH PHÁP NIỆM PHẬT
+ Hàng ngày bạn vẫn nên tiếp tục niệm Phật
+ Trước khi ngồi 2 phút: phát nguyện đơn giản: “Trong thời này, con xin nương nhờ ân đức Phật A Di Đà, chỉ an trú nơi niệm A Di Đà Phật.”
+ Ngồi thời lượng ngắn nhưng đều: 5–10 phút, ngày 2-3 thời; tăng dần. Quan trọng là đều đặn hơn là lâu
+ Mỗi lần phát hiện mình đang nghĩ chuyện khác, hãy làm rất đơn giản:
– Biết: “À có cái tâm đang nghĩ, tâm đang lo, tâm đang nhớ,…” – Tâm đang thế nào thì biết Tâm đang thế đó
– Buông: Không bám theo nội dung (không tranh luận, không tự trách,…), bình thản vì đó là tính trạng rất bình thường của tâm
– Quay trở lại: Nhẹ nhàng đặt lại tâm Trở về câu niệm ân Phật
Chỉ cần vậy. Lặp lại 100 lần cũng là 100 lần chánh niệm được dựng lên.
+ Khi tâm và cảnh quá phức tạp (có nhạc, quá ồn ào,…), Minh Đạo thường “quán chữ Niệm Phật” nghĩa là Niệm chậm “A Di Đà Phật”, thấy rõ từng mặt chữ của danh hiệu hiện trong tâm. Niệm đến chữ nào, mặt chữ đó hiện trong, cứ vậy lần lần các chữ sau nối tiếp. Điều này Minh Đạo thấy có thể giảm được triền cái số 1,2,4,5
+ Đối với triền cái số 3, thì Minh Đạo thấy rằng hành theo pháp “kinh hành niệm Phật” là có lợi ích. Nghĩa là nếu có tượng Phật thì đi vòng quanh tượng Phật (niễu Phật), còn nếu không thì đi lại ở nơi an toàn. Bước nhẹ – đều – không vội, mắt nhìn hơi chếch xuống trước mặt, tai nghe rõ câu Phật hiệu, chân trái bước lên thì biết là chân trái bước lên và niệm “A Di”, chân phải bước lên thì biết là chân phải bước lên và niệm “Đà Phật”. Cứ như vậy lần lần.
+ Khi ở nơi cảnh thuận tiện thì Diễm Phan học và hành theo Tam kinh Tịnh Độ (Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Phật Thuyết A Di Đà Kinh)
———
V. TÓM LẠI
Tóm lại có các pháp sau là hữu ích trong quá trình Minh Đạo tu tập:
+ Giữ giới đều đặn và hộ trì căn môn để giảm duyên tán loạn
+ Hiểu tâm, không ghét tâm
+ Biết triền cái nào đang nổi trong tâm
+ Thực hiện: Biết–Buông–Quay lại (đều đặn)
+ Lương tựa vào Tam Kinh Tịnh Độ
=====
Trên đây hoàn toàn là tư kiến giải và kinh nghiệm của Minh Đạo. Không phải là chân lý. Còn có chỗ chưa được đúng pháp, Mong đạo hữu và chư vị Thiện Tri thức Hoan Hỷ Chỉ Bảo. Minh Đạo luôn trong trạng thái cầu thị muốn nghe.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!