Ngay bây giờ phải sắp xếp xong tất cả mọi việc, trong tâm ngoài việc niệm Phật ra không nên vương vấn lo âu điều gì, được như vậy khi lâm chung mới không bị chướng ngại. Nếu hiện nay vẫn còn nhiều việc lo toan, việc gì cũng không chịu buông, ôm chấp một cách nặng nề, đến lúc lâm chung cái tâm tham luyến áo quần, nữ trang, nhà cửa, con cháu đều hiện ra, làm sao mà vãng sanh Tây Phương được chứ! Chẳng những không thể vãng sanh Tây Phương, một đời thủ tiết niệm Phật, làm mọi thứ phước thiện hoàn toàn trở thành phước báo.
Bạn hiện nay chưa có trí huệ, tuy thường tinh tấn niệm Phật nếu trong tâm không quyết định cầu sanh Tây Phương, qua đời sau được hưởng phước, nhất định sẽ bị phước nó làm mê mờ rồi tạo đủ thứ ác nghiệp, một khi tạo ác nghiệp chắc chắn phải đọa xuống địa ngục hoặc làm ngạ quỷ, hoặc làm súc sanh để chịu khổ, cái khổ to lớn này đều do đời này niệm Phật, không biết cầu sanh Tây Phương mà cảm chiêu lấy. Quang tôi (Ấn Tổ tự xưng) thấy tội nghiệp bạn, e bạn sau này bị lâm vào những cảnh trên nên bày ra phương pháp cứu giải, nếu bạn chịu làm theo lời nói của tôi, sẽ không bị phước nó gây nên họa.
Hiện nay tuy vẫn còn khỏe mạnh, cũng phải nghĩ mình sắp chết rồi. Những áo quần cần thiết thì để lại mặc, còn những y phục đắt giá như gấm lụa hoặc bằng da nên chia đều cho dâu, cho cháu. Riêng đồ trang sức như vòng, xuyến, bông tai, vàng bạc, cẩm thạch nên đem hết ra cứu trợ người hoạn nạn, xong đem công đức hồi hướng vãng sanh. Nếu tâm thức còn hẹp chưa mở rộng, còn luyến tiếc cho người khác thì nên đem những thứ đó chia đều cho con cái, dâu, cháu, v.v … Trong người quyết định không lưu giữ những đồ vật khiến mình khởi tâm tham luyến, tất cả tiền dưỡng già, ruộng đất cũng nên giao cho con cháu, giao hết một cách triệt để.
Trong tâm của bạn ngoài câu Phật hiệu ra, không để một chút ý niệm nào khác, ngay cả cái thân này cũng không cần tính toán sau khi chết phải an trí như thế nào. Ngay đến cháu chắt đều xem họ như người xa lạ, không bận tâm chuyện xấu, chuyện tốt của chúng nó, chỉ lo niệm Phật, niệm ông Phật của chính mình, một lòng trông chờ Phật đến tiếp dẫn mình vãng sanh Tây Phương. Bạn có thể y theo lời nói của tôi mà làm, tất cả mọi sự đều buông hết, đến lúc lâm chung, tự nhiên sẽ cảm đến Phật đích thân Ngài đến đón bạn về Tây Phương.
Nếu như cứ mãi tham luyến mọi thứ đồ tốt và tiền bạc, ruộng đất, nhà cửa, nữ trang, áo quần, con cái cháu chắt, v.v … sẽ không bao giờ vãng sanh Tây Phương được, một khi không vãng sanh Tây Phương, đời sau chắc quyết được hưởng si phước (phước báu si mê) rồi nhân hưởng phước mà tạo nghiệp, khi hơi thở không còn, chắc quyết đọa tam đồ. Do ác nghiệp mà mê mờ, chướng ngại tâm thức không sáng suốt, cho dù có Phật sống đến cứu bạn cũng không cứu nổi. Như thế có phải tội nghiệp quá không? Mong bạn tin lời tôi nói thật là không gì hân hạnh bằng.
Những bạn đồng tu lớn tuổi của chúng ta nên suy nghĩ kỹ về đại sự sanh tử của chính mình! Thời gian trôi nhanh không biết chừng trong vài năm nữa thôi vô thường đến với ta. Đến khi chết chẳng có tin tức gì về việc vãng sanh Tây Phương. Thật nên suy nghĩ kỹ càng!
Giả như lúc bình thường không nương tựa A DI ĐÀ PHẬT, không có tập luyện, khi chết không có chủ trương đi về đâu, như vậy vẫn phải tiếp tục luân hồi. Nếu như nghiệp ác nó phát động dẫn xuống tam đồ thì phải chịu khổ đến ngàn vạn kiếp trong ác đạo!
Trích Nhật Mộ Đồ Viễn 
Lão pháp sư Tịnh Không đề xướng
Pháp sư Thích Tự Liễu kính biên







Anh chị chú bác cho e hỏi, nếu như có những người phát tâm ấn tống kinh sách hoặc góp tiền, thì phải làm sao cho đúng?
Đặc biệt là kinh Lăng nghiêm, e nghĩ giả sử góp tiền cho ngta mà lỡ họ in kinh ko đúng/thiếu sót so với bản gốc, có khi mình lại mang tội lớn?
Nhờ mn giải đáp giúp e
Mình nghĩ bạn chớ lo lắng quá. Lỗi sơ xuất khi ấn tống không quá lớn so với công đức in kinh. Nếu như ai cũng sợ lỗi in ấn rồi không chịu hùn phước để in kinh nữa thì tất cả kinh pháp sẽ sớm bị tận diệt trên thế gian. Đó sẽ là dấu chấm hết cho thời kỳ mạt pháp để bước vào thời kỳ diệt pháp tối tăm nhất tại cõi Ta Bà này, kéo dài cho đến tận mấy triệu năm trước khi Phật Di Lặc ra đời thì chánh pháp và kinh sách Phật mới trở lại nơi này. A Di Đà Phật.
Cảm ơn bạn đã chia sẻ. Hay quá!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính gửi Nhật Lâm,
Ở đây Minh Đạo thấy có 2 phần lớn:
1. Làm thế nào để phát tâm ấn tống kinh sách hoặc góp tiền thì làm sao cho đúng ?
=> Phần này thuộc về cách Hành Các Thiện Nghiệp (để mang lại lợi ích cho chúng sanh và cho mình)
2. Khi góp tiền lỡ họ in kinh không đúng/thiếu sót so với bản gốc thì mình có mang tội không ?
=> Ở đây “ảnh hưởng đến mình”, Minh Đạo thấy có 2 nhánh con: Có cấu thành ác nghiệp/tội cho mình không và Có làm ảnh hưởng đến thiện nghiệp khác của mình không (theo cách nói thông thường là có làm giảm phước của mình không)
Kính thưa Nhật Lâm, kính mong Nhật Lâm kiên nhẫn, Minh Đạo thấy rằng để hiểu trọn vẹn được phần này thì cần qua các phần:
1. CÁCH NHẬN BIẾT THIỆN/ÁC
– Phần này để nhìn nhận rõ ràng việc như nào là Thiện, việc như nào là Bất Thiện, việc như nào là Ác
– Để làm nền hiểu phần 2. Cách hành một thiện nghiệp
– Để làm nền trả lời câu hỏi sau: Liệu việc họ in/ấn sai thì có cấu thành ác nghiệp/tội cho mình không
2. HƯỚNG DẪN HÀNH THIỆN NGHIỆP
– Phần này để trả lời cho câu hỏi làm một thiện nghiệp như nào cho đúng và mang lại lợi ích lớn. Từ đó mình biết được cách phát tâm ấn tống kinh sách và góp tiền cho đúng
– Và làm nền để trả lời câu hỏi sau: Liệu việc họ in/ấn sai có ảnh hưởng đến thiện nghiệp khác của mình không
3. VIỆC HỌ IN ẤN SAI ẢNH HƯỞNG NHƯ MÌNH THẾ NÀO
Minh Đạo có thể nói lên các phần Pháp này từ đầu, từ pháp học và pháp hành, vì là Pháp thuộc Tạng Kinh và Tạng Vi Diệu Pháp – theo truyền thống Nguyên Thủy Theravada. Nhưng Minh Đạo thấy nó không trái nghịch mà bổ trợ tốt cho việc tu học Tịnh Độ và các thiện nghiệp Nhật Lâm tích lũy. Nhật Lâm có muốn nghe về phần Pháp này không. Rất mong muốn được phản hồi từ Nhật Lâm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Vâng cảm ơn a Minh Đạo! Thực ra đây là lần đầu e tiếpxúc những điều này nên thấy khá khó hiểu. Ko biết có phiền hà ko, nếu thuận lợi xin a giải đáp ạ?
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính thưa chư vị thiện tri thức, con xin được trình bày phần con đã học và hành để phân biệt được Thiện và Bất Thiện, Ác. Con xin lương nhờ Ân Đức của Đức Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo, mong rằng phần pháp này được chư vị hoan hỷ đón nghe. Mong rằng lời con nói được dễ hiểu, không có ẩn ý, không có văn thơ hoặc câu từ xa lạ, hoàn toàn là mặt ngửa và gần gũi. Nếu có chỗ nào dùng từ chưa chuẩn hoặc hiểu chưa tới, con xin được chư vị thiện tri thức chỉ dạy thêm.
Kính gửi Nhật Lâm,
Phần đầu, Minh Đạo xin được nói về nhận biết Thiện và Bất Thiện, Ác,
Đầu tiên cần hiểu Nghiệp ở đâu, như Trong Kinh số 63 – Kinh Xuyên Thấu (Nibbedhika Sutta), Phẩm 6 – Đại Phẩm (Mahāvagga), Chương Sáu Pháp (Chakka Nipāta), Tăng Chi Bộ – Anguttara Nikaya, đức Phật dạy như này:
“Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng tư-tâm-sở/tư-tác-ý (cetanā) là nghiệp; sau khi có tư-tác-ý rồi, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý”
Cái này ban đầu sẽ hơi khó hiểu. Nhưng Nhật Lâm chưa cần hiểu rõ ràng ngay, chỉ cần nhớ đơn giản là Sau khi có tư-tác-ý (chủ ý, động cơ, cố ý) rồi, sau đó quyết định thực hiện điều gì đó (tạo nghiệp) bằng thân, khẩu ý. Nên cái Tư-Tác-ý (chủ ý, động cơ) đấy thì đức Phật gọi là Nghiệp.
Vì vậy khi xét nghiệp, phải xét Tư-Tác-ý (cetanā) đi cùng tâm thiện hay bất thiện:
– Cetanā trở thành Bất Thiện khi bị chi phối bởi 3 nhân bất thiện: Tham, Sân, Si
– Cetanā trở thành Thiện khi được dẫn dắt bởi 3 nhân tịnh hảo: Vô Tham, Vô Sân, Vô Si
=============
I. Bất Thiện – Akusala:
Là những trạng thái Tâm và Tâm sở (ở đây bạn có thể tạm hiểu chung là Tâm nếu khó hiểu) được bắt nguồn (động cơ) từ các ba cội rễ bất thiện:
+ Tham: Trạng thái ham muốn, dính mắc, bị thu hút, có xu hướng níu giữ, ôm ấp đối tượng khả ái
+ Sân: Trạng thái khó chịu, không vừa ý, bất bình, có đặc tính hủy diệt đối tượng
+ Si: Trạng thái mê tối, thiếu sáng suốt, không thấu triệt sự thật, sự vật
2 Đặc tính/Tính chất cốt lõi của Bất thiện/Tâm bất thiện:
+ Là Có lỗi, Đáng chê trách: Vì trạng thái tâm này là bị ô nhiễm, không trong sạch
+ Trổ quả khổ: Khi trổ quả thì cho kết quả là sự đau khổ, khó chịu dưới hình thức này hay hình thức khác trong tương lai
Cần biết điều này vì: Như trên đã đề cập, Tâm bất thiện có đặc tính là cho quả khổ khi trổ quả, nên cần biết để quán sát trạng thái của tâm mọi lúc để biết rằng lúc đó đang là tâm thiện hay bất thiện để buông bỏ những tâm bất thiện tránh quả khổ
=============
II. Ác – Pāpa
Thường được dùng để chỉ Thập Ác Nghiệp Đạo (là những hành động được thực hiện chọn vẹn của Thân, Khẩu, Ý mang tính chất tàn ác, gây tổn hại trực tiếp đến sinh mạng, tài sản, hoặc hạnh phúc của người khác và của chính mình
Khi Tâm bất thiện sanh khởi mạnh mẽ thì trở thành ác. Nghĩa đủ mạnh và đủ duyên để thúc đẩy tạo nghiệp qua ba cửa:
+ Thân nghiệp: Sát sinh, Trộm cắp, Tà Dâm
+ Khẩu nghiệp: Nói dối, Nói đâm thọc, Nói lời hung ác, Nói lời vô ích
+ Ý nghiệp: Tham lam, Sân hận, Tà kiến
Mọi Ác đều là Bất Thiện. Nhưng không phải Bất Thiện nào cũng là Ác
Cần biết điều này vì: Từ Tâm Bất Thiện –> Ác nghiệp là rất nguy hiểm. Vì vậy Ác – Pāpa là những nghiệp nhân đủ nặng có khả năng kéo chúng sinh tái sinh vào 4 đường ác/khổ cảnh.
Nên cần chú ý nhận ra Tâm Bất Thiện ngay từ đầu (bằng cách đọc kỹ Định nghĩa Tham, Sân, Si ở dưới đây và quán chiếu với tâm mọi lúc để nhận biết lúc đó tâm có là Bất Thiện hay không để buông bỏ kịp thời) tránh gieo nhân tái sanh vào bốn đường ác
=============
III. Thiện – Kusala
Trái nghĩa của Bất Thiện (Akusala) là Thiện/Khéo léo (Kusala)
Thiện tâm là tâm làm tiêu diệt các ác-pháp mà chư bậc thiện-trí chê trách.
Có 5 đặc tính cốt lõi:
+ Không bị ô nhiễm bởi phiền-não tham, sân, si (Vì ngược lại với ác)
+ Là tốt lành là sự lợi ích, sự an-lạc
+ Là khôn ngoan, người có thiện-tâm nói năng hành động đàng hoàng tử tế
+ Là không có lỗi, không đáng chê trách gì cả
+ Trổ quả an-lạc: Khi trổ quả thì cho kết quả là sự an lạc, khả ý và đáng hài lòng dưới hình thức này hay hình thức khác trong tương lai
=============
IV. Tâm Si – Moha-mūla-citta
+ 2 hình thức biểu hiện của tâm Si:
– Tâm Si hợp Hoài nghi (Vicikicchā): Trạng thái phân vân, lưỡng lự, không quyết đoán. Không phải là sự do dự thông thường, mà là hoài nghi về Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), Tam Học (Giới, Định, Tuệ), Tam Thế (Quá khứ, Hiện tại, Vị lai), Lý Duyên Sinh
– Tâm Si hợp Phóng dật (Uddhacca): Trạng thái lao xao, dao động, không an trụ, bấn loạn của tâm (Giống như ném một vật vào đống tro làm bay lên mù mịt)
Cội rễ sinh ra cả Tâm Tham và Tâm Sân là Tâm Si (Moha). Si (sự vô minh, che mờ sự thật) luôn phải có mặt thì Tham mới khởi lên được, và Si cũng phải có mặt thì Sân mới khởi lên được. Là một tâm sở bất thiện biến hành – nghĩa là nó có mặt trong tất cả các tâm bất thiện
=============
V. Tâm Sân – Dosa-mūla-citta
1. Sự biết cảnh với tư cách Nóng nảy, Bất bình, Không vừa ý.
2. Đặc tính: Hủy diệt đối tượng, không chấp nhận đối tượng
3. Phận sự: Sự thiêu đốt, hủy hoại hoặc thiêu đốt chính nơi nó nương tựa, khuynh hướng xô đẩy đối tượng ra xa, chống đối và muốn tiêu diệt.
4. Về cơ bản, cảnh của tâm sân là những đối tượng khả ố đối với tâm đó (Sự vật, sự việc, Sự kiện,v.v. không khả ý, đáng ghét, gây khó chịu, không chấp nhận được,…).
+ Nhìn sâu hơn thì phụ thuộc vào Phi như lý tác ý (Ayoniso manasikāra) – sự chú ý, tư duy sai lệch của tâm
+ Ví dụ (Sự đố kỵ): Có một chiếc xe rất đẹp, đắt tiền (Cảnh sắc tốt, được coi là khả ý với nhiều người), nhưng do phi lý tác ý lại đi chú ý đến việc chiếc xe đó lại thuộc về người mà chủ thể vô cùng ghét. Lúc này, đối tượng (chiếc xe) là một cảnh tốt, nhưng tâm lại sinh ra sự bực nhọc, ghen tị (do sự kiện “Thuộc về người đáng ghét”)
5. Minh Đạo hiểu rằng nó vẫn hơi khó hiểu, nhưng ý là như này:
+ Có một cảnh xuất hiện. Cảnh ở đây để dễ hiểu thì nó là mọi thứ được tâm nhận biết được, tại vì tâm không bao giờ có thể tự phát sanh và tồn tại độc lập nếu không có đối tượng nên Cảnh ở đây chia ra làm 6 loại tương ứng với 6 căn để tiếp nhận đối tượng: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
+ Do Phi như lý tác ý: Để dễ hiểu thì Nhật Lâm hiểu đơn giản nó là cách nhìn nhận một đối tượng, sự vật, sự việc theo cách “không nên/ không khéo léo”.
VD: Ví dụ mà Minh Đạo thấy hay được nhắc tới ở phía Tịnh Độ mình, đó là khi một đối tượng làm ảnh hưởng xấu đến mình (mắng chửi, đánh, tạo điều kiện không thuận lợi,…).
– Bình thường, người không học giáo pháp hoặc không gần gũi bậc thiện tri thức thì sẽ có xu hướng Phi Như lý Tác ý (Tư duy một cách không nên, không khéo léo): “Người này thật đáng ghét, dám mắng mình, nó là cái gì mà dám làm vậy,…”
– Còn người thường nghe giáo lý phía mình, thường gần gũi bậc thiện tri thức, Minh Đạo thấy thường có xu hướng Như lý Tác ý (Tư duy, nhìn nhận một cách khéo léo): “Đây là Phật/Bồ Tát hóa hiện muốn thử lòng ta, ta không nên phẫn nộ.” hoặc “Mọi người đều là Phật sẽ thành, mình nền cung kính Phật”
– Còn người thường nghe giáo lý phía truyền thống Theravada, thường gần gũi bậc thiện tri thức, Minh Đạo thấy thường có xu hướng Như lý Tác ý (Tư duy, nhìn nhận một cách khéo léo): “Người này cũng bị vô minh, tham, sân chi phối; người này cũng chịu già, bệnh, chết; mình không nên nuôi sân, nên tu tập từ tâm và chánh niệm.”
+ Khi có sự xuất hiện Phi Như lý Tác ý, đối tượng đó trở thành, được coi là, được gọi là khả ố đối với tâm/người đó đó.
+ Từ đó xuất hiện sự Không vừa ý, muốn hủy diệt đối tượng (ý là muốn đối tượng biến mất theo cách này hay cách khác, không vừa ý trong lòng, không chấp nhận đối tượng)
=> Thì cái này gọi là tâm Sân.
******
Để hiểu hơn phần này, có thể lấy ví dụ về tâm Nhật Lâm khi đặt câu hỏi trên:
+ Đầu tiền hiểu rằng trong một sát-na (thời gian vô cùng ngắn), Tốc độ sanh diệt của tâm được mô tả là không thể tưởng tượng nổi bằng tư duy thông thường: Trong thời gian một cái chớp mắt hoặc một tia chớp loé lên, có vô cùng nhiều sát-na tâm sanh và diệt. Có một chuỗi các sát-na tâm nối tiếp nhau theo một quy luật cố định để nhận biết và phản ứng với một đối tượng (cảnh) qua 6 cửa giác quan (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý).
Nghĩa là trong một sự việc, để dễ hiểu thì có rất nhiều tâm liên tiếp xảy ra, và trong những tâm đó, khả năng có những tâm là Thiện, khả năng có những tâm là Bất Thiện đan xen.
+ Ví dụ khi Nhật Lâm đặt phần câu hỏi trên, thì thấy rằng có thể có những thành phần sau:
– Thiện tâm muốn bố thí pháp (tuy nhiên cần phải xét cetana – động cơ/tác ý/chủ ý của nó, nhưng tạm cho rằng ở đây Nhật Tâm nhìn thấy sự khổ của chúng sanh và như lý tác ý rằng: “Quyển kinh này có lợi ích, là chánh pháp, mình phải hỗ trợ in ra để chúng sanh được học pháp, lìa khổ, tăng trưởng thiện pháp”), lại cẩn thận chọn bản kinh, người hiệu đính, nơi in và cách phát hành, thì tác ý ấy thuộc về thiện bố thí.
– “nếu có những người phát tâm ấn tống kinh sách hoặc góp tiền, thì phải làm sao cho đúng?”, ở đây nghiêng về thiện tâm có trí hoặc đang tìm trí. Ở đây, người hỏi muốn làm đúng, sợ sai pháp, nên có thể có Tín, Nhớ nghĩ cẩn trọng và 2 pháp Hổ thẹn và Ghê sợ điều ác, có thể có cả vô tham vì muốn cho đi.
– Nhưng câu “Lỡ in sai thì mình có mang tội lớn không?” ở đây có 3 trường hợp:
TH1: Nỗi lo đi với Tàm-Qúy (e ngại-sợ điều ác, sự tránh xa điều ác) và trí giúp cẩn trọng hơn (cố gắng để đảm bảo kinh được in là phù hợp: Hỏi rõ ràng nguồn gốc kinh, kiểm tra có phù hợp với Kinh và Luật không, Kiểm tra lại bản in, có thể tự in ấn, hoặc tham gia vào nhóm hỗ trợ in ấn, tự tay mình kiểm tra bản sau in, chọn người có uy tín cao,…) thì là thiện
TH2: Nỗi lo ấy đi với 2 pháp thiện Tàm và Qúy (e ngại-sợ điều ác, sự tránh xa điều ác) – là thiện, nhưng lại không hành động để đoạn trừ/đề phòng các bất thiện pháp đó vì nhiều nguyên nhân, ví dụ: Tâm sở Phóng Dật (Sự lăng xăng, hời hợt, thiếu sự nghiêm túc), Tâm sở Hôn Trầm (Sự lười biếng, ngại khó, không muốn bỏ công sức ra kiểm tra).
Hoặc có Tâm sở Si (Sự mờ tối, không nhận thức được hậu quả việc mình làm, ví dụ cho rằng cần phải in kinh càng nhiều càng tốt (không qua kiểm tra xác tín) nếu không pháp sẽ diệt tận, mà không hiểu được rằng như trong Đoạn kinh số 6-7 (Kinh Tương Tợ Chánh Pháp-Saddhammapatirūpaka Sutta), Phần Tượng Pháp, Chương 16 – Tương Ưng Kassapa, Tập Thiên Nhân Duyên, Tương Ưng Bộ Kinh, đức Phật có dạy: “Này Kassapa, ví như vàng thật không biến mất cho đến khi vàng giả (vàng tương tợ) chưa xuất hiện ở đời. Nhưng khi vàng giả xuất hiện ở đời, này Kassapa, thời vàng thật biến mất. Cũng vậy, này Kassapa, Chánh pháp không biến mất khi Tương tợ Chánh pháp chưa xuất hiện ở đời. Nhưng khi Tương tợ Chánh pháp xuất hiện ở đời, thời Chánh pháp biến mất.”) thì ở đây là bất thiện
TH3: Nỗi lo ấy đến mức sợ hãi, bất an, nghi hoặc, hoang mang, tê liệt thiện tâm thì đó là kukkucca/vicikicchā:
* kukkucca là ăn năn, ray rứt về điều đã làm hoặc chưa làm; nó đi với nhóm tâm bất thiện có sân. Vì có đối tượng cảnh ở đây là “Sự in/ấn sai của nơi mình góp tiền vào” (có thể là thật hoặc không, nhưng nó đang được sinh ra và làm cảnh để căn Ý tiếp nhận), và có sự không vừa ý, không mong muốn, muốn nó biến mất, muốn hủy diệt nó.
* vicikicchā là nghi, dao động, lưỡng lự.
Lúc này, không còn là thiện tâm trong sạch nữa và không làm phát sinh hỷ sau khi hành thiện nghiệp (sẽ làm ảnh hưởng tới thiện nghiệp đã làm – Minh Đạo xin được nói ở phần sau).
=============
V. Tâm Tham – Lobha-mūla-citta
1. Ngược lại với tâm sân, là trạng thái ham muốn, dính mắc, bị thu hút, có xu hướng níu giữ, ôm ấp đối tượng (khả ái)
2. Tâm Tham và Tâm Sân là đối lập, nên Tâm Tham không phải là nguồn gốc của Tâm Sân (mà cội nguồn của cả hai là Tâm Si).
3. Tuy nhiên, Tâm Tham có thể làm điều kiện (Cận y Duyên) dẫn đến sự hiềm hận (nhân gần), từ đó kích phát Tâm Sân khởi lên khi sự dính mắc bị cản trở
Ở đây Minh Đạo ví dụ:
+ Tâm Tham khởi lên trước: Khao khát chiếm đoạt chiếc điện thoại
+ Sự cản trở xuất hiện: Bị người khác chặn lại
+ Tâm Sân khởi lên sau: Bực tức, phẫn nộ
=> Ở đây, Tâm Tham có thể đi trước làm điều kiện (Duyên) để Tâm Sân theo sau phát sinh
4. Có 8 loại tâm tham, dựa trên 3 phương diện: Thọ (Cảm giác), Tà (Kiến thức/Quan điểm) và Trợ (Sự tác động)
5. 3 phương diện này bao gồm
THỌ:
+ Thọ hỷ: Cảm giác vui mừng, hoan hỷ
+ Thọ xả: Cảm giác thản nhiên
TÀ:
+ Hợp tà: Có tà kiến, hiểu sai sự thật (Vô thường, khổ, vô ngã)
+ Ly tà: Không có tà kiến đồng sanh
TRỢ:
+ Vô trợ: Sanh lên mau lẹ, không cần trợ giúp
+ Hữu trợ: Cần động cơ thúc đấy (từ mình hoặc người khác)
6. 8 nhóm tâm tham được ghép tổ hợp từ 3 loại trên.
Ví dụ: Tâm tham Thọ Hỷ, Hợp Tà, Vô Trợ (Tham với niềm vui, có tà kiến đi kèm, tự khởi lên không cần nhắc bảo/do dự): Có người vì tin rằng ăn món này sẽ giúp linh hồn bất tử (thường kiến), nên tự mình làm/tìm và ăn thực phẩm đó (vô trợ) với niềm vui sướng (Thọ Hỷ)
Ví dụ 2: Thọ Xả, Ly Tà, Vô Trợ (Tham với trạng thái bình thản, không tà kiến, khởi lên mau lẹ): Thói quen ngồi vào một vị trí quen thuộc hàng ngày mà không có cảm xúc phấn khích, đó vẫn là tham (dính mắc)
=============
VI. KẾT LẠI
Tóm lại như sau:
+ Tâm sở/tác-ý (chủ ý, động cơ) – cetana của chính mình là nghiệp, là nơi có nghiệp (theo nghĩa tạo quả).
+ Cetana này trở thành Thiện/ Ác tùy thuộc vào những Tâm sở khác cùng đi với nó, nó trở thành bất thiện khi bị chi phối bởi 3 nhân bất thiện: Tham, Sân, Si
+ Hiểu rõ hơn về tội, lỗi của một việc. Thì Ở đây đi thẳng vào 2 vấn đề là Quả khả ái và Quả khổ (cái đang lo sợ). Tâm bất thiện có đặc tính là cho quả khổ khi trổ quả bằng cách này hay cách khác trong tương lai.
+ 3 nhân bất thiện là:
– Tham: Trạng thái ham muốn, dính mắc, bị thu hút, có xu hướng níu giữ, ôm ấp đối tượng
– Sân: Trạng thái khó chịu, không vừa ý, bất bình, có đặc tính hủy diệt đối tượng
– Si: Trạng thái mê tối, thiếu sáng suốt, lờ mờ, không thấu triệt sự thật, sự vật
+ Trong một việc có rất nhiều tâm nối tiếp nhau, trong đó có thể có tâm Thiện, có thể có tâm Bât Thiện, có thể có cả 2 loại. Cần phải luôn quán sát tâm xem có 3 nhân bất thiện hay không (theo hướng dẫn trên) để khéo léo tìm cách buông xuống tâm Bất Thiện để tránh quả khổ cho tương lai và tránh dẫn đến ác.
Mong Nhật Lâm đọc thật chậm, và quán sát thật kỹ. Có điều còn khúc mắc về phần Pháp này xin Nhật Lâm đưa ra câu hỏi, Minh Đạo sẽ cố gắng cùng Nhật Lâm thảo luận trong khả năng.
Có điều gì con còn sai sót, con mong được chư vị thiện tri thức chỉ dạy thêm. Con luôn hoan hỷ muốn nghe.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
PHẦN 2: VỀ CÁCH THỰC HIỆN CÁC THIỆN PHÁP SAO CHO ĐÚNG VÀ MANG LẠI LỢI ÍCH THÙ THẮNG
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính thưa chư vị thiện tri thức, con xin được trình bày phần Pháp quan trọng này, là Pháp đã được con cố gắng học và cố gắng hành để biết cách thực hiện các Thiện Pháp. Con xin lương nhờ Ân Đức của Đức Phật Bảo, Ân Đức Pháp Bảo và Ân Đức Tăng Bảo, mong rằng phần Pháp này được chư vị hoan hỷ đón nghe và mang lại lợi ích. Con mong rằng lời con nói được dễ hiểu, không có ẩn ý, không có văn thơ hoặc câu từ xa lạ, hoàn toàn là mặt ngửa và gần gũi. Nếu có chỗ nào dùng từ chưa chuẩn hoặc hiểu chưa tới, con xin được chư vị thiện tri thức chỉ dạy thêm.
Kính gửi Nhật Lâm,
Phần này, Minh Đạo xin được nói về cách hành các thiện pháp, phần này liên quan đến việc làm thế nào để ấn tống kinh sách hoặc góp tiền (làm các thiện pháp) sao cho đúng. Kính mong Nhật Lâm kiên nhẫn, đọc thật chậm và quán xét kỹ từng phần đã đọc, Minh Đạo mong rằng có thể mang lại lợi ích phần nào cho Nhật Lâm,
I. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG – KHI HÀNH THIỆN NGHIỆP
Trước tiên cần nhìn tổng quan về cách yếu tố ảnh hưởng đến một thiện nghiệp:
+ Tâm người hành: Giống như người nông dân
+ Phẩm hạnh người thọ nhận: Giống mảnh ruộng
+ Vật phẩm: Giống như hạt giống
======
II. YẾU TỐ THỨ NHẤT – TÂM CỦA NGƯỜI HÀNH
* Tâm là cội nguồn. Một tâm có Trí tuệ dẫn đường, đặt trên nền tảng Giới đức, được thúc đẩy bởi sự Tự nguyện thuần túy và hoàn tất trong sự Hoan hỷ, Tôn kính sẽ tạo ra một quả phước thù thắng
Đây là yếu tố quan trọng, có sức mạnh quyết định lớn. Một vật phẩm dù nhỏ bé nhưng được dâng cúng với một tâm đầy đủ cũng sẽ cho ra quả phước không thể đo lường:
1. Đủ Tam Tư
Nghĩa là nói về sự trong sạch của tác ý Trước, Trong và Sau khi thực hiện thiện nghiệp. Nói ngắn gọn thì Hoan Hỉ trong cả 3 thời: Trước, Trong và Sau Khi thực hiện thiện nghiệp.
Nói chi tiết ra thì như này:
+ Trước khi làm: Cảm thấy hoan hỉ, vui vẻ chuẩn bị
+ Trong khi: Ngay tại khoảnh khắc thực hiện, tâm hoàn toàn tịnh tín, hoan hỉ, tập trung vào việc thiện, thái độ cung kính, tôn trọng người thọ nhận.
+ Sau khi làm: Nhớ lại việc đó, vẫn thấy vui, hoan hỉ và thanh thản
Vì sao cần chú ý điều này: Vì nó liên quan trực tiếp đến phân loại thiện nghiệp mà mình thực hiện cùng với quả báu tương ứng
+ Thiện nghiệp bậc thượng (Ukkaṭṭha): Nếu giữ được sự hoan hỷ và trong sạch trọn vẹn ở cả ba thời kỳ (Trước, Trong và Sau) như ở trên nói, thiện nghiệp đó sẽ trổ quả mạnh mẽ, thù thắng và viên mãn nhất
+ Thiện nghiệp bậc hạ (Omaka): Nếu tâm bị khuyết đi sự hoan hỷ ở bất kỳ giai đoạn nào (ví dụ: trước khi làm thì do dự, hoặc sau khi làm xong lại sinh tâm tiếc nuối hoặc hoài nghi), năng lực của thiện nghiệp sẽ bị suy giảm đáng kể
Lưu ý không nên để các Bất thiện tâm: Tham, Sân, Si (như đã học cách nhận biết ở Phần 1) xen tạp vào cả 3 thời thực hiện thiện nghiệp.
* Nhật Lâm để ý và ghi nhớ điều này, vì điều này liên quan đến câu hỏi của Nhật Lâm về việc liệu có ảnh hưởng đến mình không khi họ in ấn sai (về phương diện ảnh hưởng thiện nghiệp đã tạo – nói theo cách thông thường nhưng có thể chưa chính xác là “bị giảm phước”)
Xét về phương diện này, nếu người mà Nhật Lâm góp tiền vào lỡ họ in kinh sai/thiếu (và Nhật Lâm biết) hoặc Họ in kinh đúng (Nhưng do Nhật Lâm không biết và giữ tâm hoài nghi như vậy, sợ hãi, bất an, nghi hoặc, hoang mang – đi cùng với nhóm tâm bật thiện có sân, nhưng lại không có các hành động rõ ràng để chấm dứt tâm hoài nghi như vậy – như đã phân tích ở phần 1). Vì hối tiếc, hoài nghi đó mang lại 2 tác hại:
+ Không thể sanh hoan hỉ với thiện pháp đã làm được, lúc này lập tức thiện nghiệp đã làm trước đó không thể thành Thiện nghiệp bậc thượng (ở đây nói giảm phước là giảm so với phần phước đúng ra có thể tạo tác khi có Như lý Tác ý, có cách hành động để chấm dứt nghi hoặc và phát sinh được hoan hỉ sau khi thực hiện thiện nghiệp)
+ Làm tê liệt thiện tâm, lúc này Nghi hoặc đến mức không thể/ không dám làm tiếp các thiện nghiệp khác trong tương lai (ở đây nói giảm phước là giảm so với phần phước đúng ra có thể tạo tác tiếp trong tương lai khi chấm dứt được nghi hoặc)
Như vậy, kính thưa Nhật Lâm, cần làm thiện nghiệp với tâm tam nhân, trong sạch.
***
2. Cần có trí tuệ
Đại thiện tâm hợp với trí-tuệ có nhiều năng lực hơn đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ. Nghĩa là thực hiện các thiện nghiệp với tâm có trí tuệ thì quả báu của thiện nghiệp sẽ mạnh mẽ và viên mãn hơn
Ở đây Minh Đạo sẽ chỉ rõ thế nào là Hợp với trí tuệ và như nào là Không hợp trí tuệ. Trong khi học, Minh Đạo được học về 2 loại trí tuệ:
+ Kammassakatāñāṇa: Trí-tuệ hiểu biết rõ nghiệp là của riêng mình
+ Lokiyavipassanāñāṇa: Trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới
Nhưng ở đây Minh Đạo để gần gũi, dễ hiểu thì Minh Đạo sẽ chỉ nói về Đại thiện tâm hợp với trí tuệ hiểu biết rõ nghiệp là của riêng mình – Kammassakatāñāṇa, nghĩa là :
+ Hiểu biết rõ sự thật chỉ có nghiệp là của riêng mình mà thôi. Còn lại, ngoài ra thì không
+ Tất cả mọi thiện-nghiệp và mọi ác-nghiệp đã tạo rồi là của riêng mình thật sự mà thôi (Chỉ có nghiệp là của riêng mình, dù nặng dù nhẹ cũng đều được tích lũy, được lưu trữ đầy đủ trọn vẹn ở trong tâm)
+ Hiểu biết rõ ràng rằng chắc chắn có Quả của Nghiệp
Ngoài ra trong quá trình thực hiện các thiện nghiệp, Minh Đạo nhận ra rằng còn cần một điều nữa đó là:
+ Biết rõ ràng về quá trình và kết quả việc mình làm/ thiện nghiệp mình làm, có đem lại những lợi ích như thế nào cho người/ những người thọ nhận.
Ví dụ Minh Đạo khi thực hiện thiện nghiệp hỗ trợ xây cầu đường để có được Đại thiện tâm hợp với trí-tuệ thì thường quan sát mọi người đi qua lại và sinh lòng hoan hỉ, rồi tác ý:
+ “Mình đang làm điều thiện, vì thiện nghiệp này đã giúp các em bé đi học, giúp mọi người đi lại, như trước kia đi đường tối mọi người hay phải mò đường đi, rắn rết,… nguy hiểm. Bây giờ nếu là mình thì mình cũng rất hạnh phúc và cảm thấy an toàn khi được đi trên cây cầu thênh thang, thoải mái có đèn sáng. Xe cứu thương cũng dễ đi lại. Ôi bao nhiêu lợi ích cho chúng sanh”
+ “Đây là thiện nghiệp, chắc chắn sẽ mang lại quả báu khả ý, đáng hài lòng trong tương lai.”
Xét về phương diện này, nếu Nhật Lâm được coi là chỉ góp tiền và không quán sát, chăm chút lại, thì sẽ không biết quá trình mình đã làm và không rõ ràng kết quả nó mang lại lợi ích thực tế như nào cho người thọ nhận.
Như vậy, kính thưa Nhật Lâm, cần làm thiện nghiệp với trí tuệ hiểu rõ về quá trình mình làm, điều mình làm có lợi ích gì cho chúng sanh, thiện nghiệp/ác nghiệp mình làm chỉ là của riêng mình thật sự mà thôi.
***
3. Cần có thọ hỷ – hoan hỉ
Đại-thiện-tâm đồng sinh với thọ hỷ có nhiều năng lực hơn đại-thiện-tâm đồng sinh với thọ xả
Nghĩa là thực hiện các thiện nghiệp với tâm trong sạch, hoan hỉ thì quả báu của thiện nghiệp sẽ mạnh mẽ và viên mãn hơn
Như vậy, kính thưa Nhật Lâm, cần làm thiện nghiệp với tâm Hoan Hỷ và Tôn Kính. Nghĩa là Niềm hoan hỷ, thanh tịnh khởi sinh Trước, Trong và Sau khi thực hiện (như vừa học ở trên Tâm Tam Nhân). Kèm theo đó là lòng tôn kính đối với người nhận, thể hiện qua hành động dâng cúng một cách trân trọng, khiêm cung
***
4. Cần tự nguyện
Đại-thiện-tâm không cần tác-động có nhiều năng lực hơn đại-thiện-tâm cần tác-động.
Nghĩa là mình hiểu biết chánh pháp, hiểu biết quá trình và hiểu kết quả của việc này nhất định sẽ đem lại lợi ích cho số đông. Vì vậy nên mình tự (nguyện), tự tác động bằng thân, khẩu, ý để thực hiện thiện nghiệp đó, không phải do người khác tác động thì mới làm.
Như vậy, kính thưa Nhật Lâm, cần làm thiện nghiệp với tâm tự nguyện, không cần tác động bởi điều/ai khác. Nghĩa là hành động xuất phát từ ý muốn tự thân, không bị ép buộc, không vì nể nang, không vì mong cầu danh tiếng, không chỉ vì truyền thống (Ví dụ: vì bố mẹ mình làm nên giờ mình mới làm để có truyền thống),… Nó là một sự tự phát tâm thuần túy.
Trường hợp có người tác động, khuyến khích tạo phước-thiện, có thể khéo léo tác ý rằng: “Phước-thiện ấy là phước-thiện nên làm. Đây là cơ hội tốt của ta, ta nên tạo phước-thiện ấy.”. Rồi tạo phước-thiện ấy với đại-thiện-tâm không cần tác-động.
***
5. Sự trong sạch của tâm – Giới đức của người hành
Đây là phần bổ sung nếu có thể,
Nền tảng của tâm trong sạch là giới đức. Một người giữ giới trong sạch khi làm phước thì phước báu đó sẽ sáng chói và viên mãn hơn rất nhiều. Như trong kinh số 142-Kinh Phân biệt cúng dường (Dakkhinàvibhanga sutta), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), khẳng định sự trong sạch của người cho là một yếu tố quyết định
Nên theo truyền thống Theravada, Minh Đạo thấy thường thì mọi người sẽ giữ Bát Quan Trai giới vào ngày thực hiện các thiện nghiệp lớn (thọ giới trước khi bắt đầu thực hiện thiện nghiệp) để năng lực và phước báu được sáng chói, viên mãn hơn.
***
6. TỔNG KẾT:
Như vậy tổng kết lại, một trong những yếu tố quan trọng quyết định Thiện nghiệp của mình chính là Tâm mình
Để có quả báu mạnh mẽ, thù thắng và viên mãn thì cần thực hiện thiện nghiệp với tâm:
+ Tam nhân, trong sạch: Hoan hỉ Trước, Trong và Sau khi thực hiện thiện nghiệp đó
+ Hoan Hỷ: Tâm Hoan Hỷ & Tôn Kính
+ Tự nguyện – Không cần tác động: Hành động xuất phát từ ý muốn tự thân, không bị ép buộc, không vì nể nang, không vì mong cầu danh tiếng, không chỉ vì truyền thống,…
+ Có trí tuệ: Hiểu biết rõ ràng về Nghiệp và chắc chắn có Quả của Nghiệp
+ Bổ sung nếu có thể: Có giới đức trong sạch khi thực hiện thiện nghiệp: Một người giữ giới trong sạch khi làm phước thì phước báu đó sẽ sáng chói và viên mãn hơn rất
nhiều
======
III. YẾU TỐ THỨ 2 – PHẨM HẠNH CỦA NGƯỜI NHẬN
* Một người nông dân giỏi (tâm tốt) gieo một hạt giống bình thường lên một mảnh ruộng màu mỡ (người nhận tốt) vẫn sẽ có một vụ mùa bội thu
Đóng vai trò như một “chất xúc tác” hay “mảnh đất” làm cho quả phước được nhân lên nhiều lần. Cùng một tâm cho và vật phẩm, nhưng dâng đến những đối tượng khác nhau sẽ cho ra quả phước khác nhau.
Trong Kinh số 142 – Kinh Phân biệt cúng dường (Dakkhinàvibhanga sutta), Trung Bộ Kinh-Majjhima Nikaya:
Trước tiên Minh Đạo xin được tóm tắt:
“””
Có 14 loại Bố thí, Cúng dường phân loại theo hạng người:
1. Cúng dường tới các đức Như Lai – bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
2. Các vị Ðộc Giác Phật
3. Các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai
4. Các vị trên con đường chứng quả A-la-hán
5. Các vị chứng quả Bất lai
6. Các vị trên con đường chứng quả Bất lai
7. Các vị chứng quả Nhất lai
8. Các vị trên con đường chứng quả Nhất lai
9. Các vị chứng quả Dự lưu
10. Các vị trên con đường chứng quả Dự lưu: Cúng dường cho các vị từ đây trở lên có khả năng đem lại vô số vô lượng công đức
11. Các vị ngoại đạo (bahiraka – các vị tu sĩ ngoại đạo, giáo phái khác) đã ly tham trong các dục vọng: Có khả năng đem lại 100.000 ức phần công đức
12. Những phàm phu gìn giữ giới luật: Có khả năng đem lại 100.000 phần công đức
13. Những phàm phu theo ác giới: Có khả năng đem lại 1000 phần công đức
14. Các loại bàng sanh: Có khả năng đem lại 100 phần công đức
Có 7 loại cúng dường Tăng chúng:
1. Cúng dường cho cả hai Tăng chúng (Tăng đoàn), với đức Phật là vị cầm đầu
2. Cúng dường cho cả hai Tăng chúng (Tăng đoàn), sau khi đức Phật đã nhập diệt
3. Cúng dường cho chúng Tỳ-kheo Tăng
4. Cúng dường cho chúng Tỳ-kheo ni
5. Cúng dường và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”
6. Cúng dường và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”
7. Cúng dường và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”
Nghĩa là Cúng dường cho Tăng đoàn (là cúng dường cho toàn bộ Tăng chúng, không phân biệt Tăng chúng Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni) là tối thắng nhất
“””
Minh Đạo xin được trích lại nguyên văn kinh điển:
“Này Ananda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người. Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.
Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
Này Ananda, có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ năm. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ sáu. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ bảy.
Nhưng này Ananda, trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới. Nhưng này Ananda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ananda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.”
Minh Đạo xin được chia vào thành 3 nhóm (cái này do Minh Đạo tổng hợp, quán xét và chia trong quá trình tu học để dễ nhớ và hành):
***
1. Nhóm A: Kính Điền
Nhóm cao quý nhất, nơi gieo trồng nhân lành có khả năng hướng đến sự giác ngộ và giải thoát (cả Hữu lậu và Vô lậu)
+ Tăng Đoàn (The Saṅgha): Cúng dường với tâm hướng đến toàn thể Tăng đoàn, không phân biệt cá nhân nào. Đức Phật đã khẳng định đây là hình thức cúng dường có quả báu thù thắng nhất.
+ Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (A Sammāsambuddha): Bậc Thầy của trời và người, người đã viên mãn mọi Ba-la-mật
+ Đức Phật Độc Giác (A Paccekabuddha): Bậc tự mình giác ngộ nhưng không thuyết giảng giáo pháp rộng rãi.
+ Chư Vị Thánh A-la-hán (Arahants): Những bậc đã đoạn tận mọi phiền não, lậu hoặc, xứng đáng là ruộng phước vô thượng cho trời người
+ Chư Vị Thánh Bất Lai (Anāgāmis – A-na-hàm): Những bậc đã đoạn tận 5 hạ phần kiết sử, sẽ không còn quay trở lại cõi Dục
+ Chư Vị Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmis – Tư-đà-hàm): Những bậc sẽ chỉ còn quay trở lại cõi Dục một lần nữa
+ Chư Vị Thánh Nhập Lưu (Sotāpannas – Tu-đà-hoàn): Những bậc đã nhập vào dòng Thánh, chắc chắn sẽ đạt Niết-bàn trong tối đa 7 kiếp nữa
+ Người đang nỗ lực hướng đến Thánh quả: Những người tu tập đang trên con đường Giới – Định – Tuệ để đạt được các tầng Thánh
+ Người phàm có Giới đức trong sạch: Người giữ gìn 5 giới, 8 giới hay các giới của người xuất gia một cách nghiêm cẩn
***
2. Nhóm B: Ân Điền
Nhóm đặc biệt. Việc bố thí, phụng dưỡng ở đây không chỉ tạo ra phước báu vật chất to lớn mà còn là trách nhiệm và nền tảng đạo đức căn bản
+ Cha Mẹ: Đức Phật gọi cha mẹ là “Phạm Thiên”, là “vị thầy đầu tiên”, là “những người đáng được cúng dường” ngay tại nhà. Phước báu từ việc hiếu dưỡng cha mẹ là vô cùng to lớn, trổ quả ngay trong hiện tại
***
3. Nhóm C: Bi Điền
Nhóm gieo duyên vì lòng từ bi. Phước báu sinh ra từ tâm từ bi rộng lớn và sự gia trì
+ Người thường, không giữ giới nhưng không phải người ác: Một người bình thường trong xã hội
+ Người ác, người có tà kiến: Bố thí cho họ là một hành động của lòng từ bi không phân biệt, với mong muốn rằng sự no đủ về vật chất có thể làm giảm bớt tâm sân hận, ác độc của họ. Dù họ là người ác, nhưng phước báu khi bố thí cho một con người vẫn lớn hơn cho loài vật
+ Bàng sanh: Bố thí thức ăn, cứu mạng các loài vật. Đây là hành động của lòng từ bi và cho quả phước về sức khỏe, tuổi thọ
======
IV. YẾU TỐ THỨ 3 – VẬT PHẨM
Tuy đứng sau Tâm và Đối Tượng, nhưng sự trong sạch và phù hợp của vật phẩm là một điều kiện rất cần thiết
1. Tính chân chính của vật phẩm
+ Sự Chân Chính Của Vật Phẩm (Dhammaladdha): Yếu tố này vô cùng quan trọng. Vật phẩm phải được tạo ra từ lao động chân chính, không do trộm cắp, lừa đảo. Một nắm cơm từ người lao động lương thiện có giá trị phước báu hơn cả một bữa tiệc xa hoa từ của cải bất chính
***
2. Tính thích hợp của vật phẩm
+ Sự Thích Hợp (Kappiya) và Giá Trị Vật Chất: Vật phẩm phù hợp với người nhận và có giá trị nhất định sẽ tốt hơn.
+ Như vậy ở đây nói riêng đến việc in ấn kinh sách, trước tiên trong kinh điển Pāli Minh Đạo chưa được nghe về chỉ dẫn nguyên văn về “góp tiền in kinh ấn tống”, nhưng vì thời ấy chưa có kỹ thuật in sách nên khả năng cao là không có, Cho nên không thể nói “Đức Phật dạy chính xác về vấn đề này như nào”. Vì vậy ở đây Minh Đạo xét vào Pháp Thí
2.1. Trước tiên xét về Pháp được giảng trong sách cần là Chánh Pháp. Trong phần học về “Thẩm sát điều được học”, Minh Đạo được học như sau:
– Phần 7-11, Tụng phẩm IV, Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn (Mahàparinibbàna sutta), Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), đức Phật đã dự báo rằng sẽ có những Tỳ kheo thuyết giảng sai lệch, dạy theo ý riêng mình nghĩ ra mà bỏ qua những lời dạy của Như Lai, và hướng dẫn nguyên tắc xác chứng:
1. So sánh với Kinh (Sutta): Lấy lời dạy của vị Thầy đó so với Kinh tạng
2. Đối chiếu với Luật (Vinaya): Lấy hành động/lời dạy đó so với Luật tạng
Nếu so với Kinh không khớp, đối chiếu với Luật cũng không phù hợp thì Đó không phải lời Phật dạy. Nếu so với Kinh thấy khớp, đối chiếu với Luật thấy phù hợp thì đó là lời Phật dạy
– Tiếp đến vào sâu hơn, Trong kinh số 53 – Pháp Tóm Tắt, Phẩm Gotamì, Chương Tám Pháp, Tăng Chi Bộ – Anguttara Nikaya, đức Phật có dạy những pháp nào dẫn đến 8 điều sau đây, thì chắc chắn đó là Chánh pháp (ngược lại là phi pháp, tà pháp):
1. Dẫn đến ly tham, không phải dẫn đến tham dục
2. Dẫn đến sự không trói buộc, không dẫn đến sự trói buộc (tháo gỡ trói buộc luân hồi, chứ không dẫn đến việc bị trói buộc thêm)
3. Dẫn đến sự không tích trữ, không dẫn đến sự tích trữ
4. Dẫn đến sự ít mong muốn, không dẫn đến sự mong muốn nhiều
5. Dẫn đến sự biết đủ, không dẫn đến sự không biết đủ
6. Dẫn đến sự vắng lặng, không dẫn đến sự tụ tập quần chúng
7. Dẫn đến sự nỗ lực tinh tấn, không dẫn đến sự lười biếng
8. Dẫn đến sự dễ nuôi, không dẫn đến sự khó nuôi.
Dựa vào những điều này, Nhật Lâm nên kiểm tra nội dung Sách đó có phải Chánh Pháp hay không. Nếu không thì phần này coi như là Vật Phẩm không phù hợp.
2.2. Tiếp đến cần phù hợp với người nhận. Ở đây chia là 2 phần:
+ Phù hợp với người nhận tiền quyên góp: Trong Điều học thứ Tám, Phần Tơ Tằm, Chương Ưng Xả (Nissaggiya), Tạng Luật – Bộ Phân Tích Giới Bổn, đức Phật có quy định Tỳ Khưu không được nhận vàng bạc/tiền. Do đó nếu trường hợp “con cúng tiền này cho Thầy để Thầy in kinh” là không nên nếu người nhận là Tỳ-khưu giữ Luật nghiêm. Vì vậy ở đây “Tiền quyên góp” được coi là Vật Phẩm không phù hợp.
Cách đúng hơn là nói: “Chúng con phát tâm hộ trì việc in kinh. Phần tiền bạc do cư sĩ chúng con giữ và thanh toán. Kính xin chỉ dạy bản kinh nào cần, bản dịch nào đáng tin, nơi nào cần nhận ạ”
+ Phù hợp với người nhận kinh sách: Để được lợi ích lớn nhất thì Cần cho người thật sự cầu Pháp, người có duyên học Pháp, chùa/thiền viện/lớp học có hướng dẫn đúng, nhóm cư sĩ nghiêm túc, thư viện Phật học, người bệnh hoặc người khổ nhưng còn đủ tâm trí tiếp nhận Chánh pháp,… Và pháp cần phù hợp với căn cơ người nhận. Việc ấy hợp lý hơn là phát đại trà rồi sách bị bỏ đó, bán đi, hoặc bị hiểu sai. Như vậy Vật Phẩm được coi là phù hợp
***
3. Một số loại vật phẩm bố thí/ cúng dường
Minh Đạo xin được chia vào thành 3 nhóm (cái này do Minh Đạo tổng hợp, quán xét và chia trong quá trình tu học để dễ nhớ và hành):
Nhóm 1: Không so sánh
+ Pháp Thí (Dhammadāna – Bố Thí Giáo Pháp):
Phật dạy: “Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti” – “Pháp thí thắng mọi thí”
Vật chất chỉ giúp nuôi sống thân mạng tạm thời, còn Chánh pháp giúp nuôi dưỡng tuệ mạng, đưa chúng sinh đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau (Niết-bàn). Lợi ích là vô tận và vô giá
Trực tiếp giảng giải, chia sẻ giáo lý (các kênh chia sẻ pháp), chép lại kinh điển, ấn tống kinh sách,…
Nhóm 2: Thù thắng
+ Tự Viện (Vihāradāna – Bố Thí Chỗ Ở):
Là một trong những hành động cúng dường vật chất hàng đầu. Một ngôi Tịnh xá hay Tu viện là nơi chư Tăng có thể an ổn tu tập, tránh mưa nắng, thú dữ và là trung tâm hoằng dương Phật pháp. Là nơi phục vụ cho rất nhiều vị Tăng và làm lợi ích cho chúng sinh trong một thời gian rất dài.
Hùn phước hoặc phát tâm xây dựng các công trình trong chùa như chánh điện, thiền đường, Tăng xá, thư viện, nhà bếp, nhà vệ sinh…
+ Thí vô úy (Abhayadāna – Bố Thí Sự Không Sợ Hãi):
Cho sự sống và sự an toàn
Phóng sanh đúng cách (không đặt hàng trước), giữ gìn giới, bảo vệ, thuyết giảng khiến hết sợ hãi,…
Nhóm 3: Thiết yếu
+ Dược Phẩm (Bhesajjadāna – Bố Thí Thuốc Men)
Sức khỏe là nền tảng cho sự tu tập
Thuốc men, tài trợ bảo hiểm y tế, tài trợ khám sức khỏe,…
+ Thức Ăn (Piṇḍapāta – Bố Thí Vật Thực):
Đức Phật dạy người cho thức ăn là cho 5 thứ: cho tuổi thọ, cho sắc đẹp, cho sự an vui, cho sức mạnh và cho trí tuệ
+ Y Phục (Cīvaradāna – Bố Thí Y Áo):
Y phục giúp bảo vệ thân thể khỏi thời tiết và giữ gìn sự trang nghiêm
—–
Mong Nhật Lâm đọc thật chậm, và quán sát thật kỹ. Có điều còn khúc mắc về phần Pháp này xin Nhật Lâm đưa ra câu hỏi. Nếu đã hiểu mong âm lại để Minh Đạo thấy yên tâm.
Có điều gì con còn sai sót, con mong được chư vị thiện tri thức chỉ dạy thêm. Con luôn hoan hỷ cầu thị muốn nghe.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cảm ơn anh Minh Đạo đã dày công giảng giải! Mặc dù là lần đầu tiên tiếp xúc với các pháp này nhưng nhờ anh giải thích mà em thấy rất hay và dễ hiểu, mặc dù cần phải đọc thêm nhiều lần nữa mới tạm hiểu tổng thể được. Hóa ra mình biết còn quá ít. Có lẽ đây sẽ là trục xương sống giúp em quán sát và làm nhiều việc sau này. Em thấy những chỉ dẫn và tổng hợp của anh rất đáng giá, giá trị rất cao với cộng đồng. Em hy vọng có thể lưu lại và có duyên có thể chia sẻ lại tới nhiều bạn đọc với những đồng tu in ấn kinh sách. Do lần đầu tiếp xúc nên em cũng chưa có những câu hỏi. Cảm ơn anh Minh Đạo rất nhiều vì đã giúp em và mọi người sáng tỏ được thật nhiều điều trân quý! Rất vui khi có anh tại diễn đàn duongvecoitinh ạ
Nam Mô A Di Đà Phật
Con cảm ơn chú Minh Đạo đã thuyết lên phần pháp này ạ, tự nhiên con rùng mình.
Con tự nhiên thấy chưa bao giờ nó kiểu rõ ràng như thế. Con không biết mô tả thế nào, kiểu kiểu như tự nhiên cảm giác trong lòng con có được cái gì đấy mà con thấy rõ được đâu là thiện với bất thiện.
E biết và học theo Tịnh độ tông đã 15 năm nay từ khi mới học lớp 10. Vậy mà thời gian vụt qua thật nhanh! Đến giờ thậm chí vẫn chưa thể tịnh tâm niệm nổi 10 câu Phật hiệu, tâm thức cứ mãi tán loạn. Xuyên suốt tuổi trẻ cứ mải mê say đắm sự nghiệp, tiền bạc, công danh địa vị, nữ sắc… Suy cho cùng xây dựng sự nghiệp cũng chỉ là mong muốn đc xã hội tôn trọng.
Mới đây e đc nghe, thấy 2 video đề cập/máy quay về hắc bạch vô thường. E thật sự ko bao giờ muốn đến lúc chết phải nhìn thấy họ.
Hôm qua e lại xem 1 video trên tiktok có nói rằng:
“Cận tử nghiệp (dòng chảy của Nghiệp Lực).
Khi thân xác dừng, DMT tuôn 1 lượng siêu lớn và đó chính lúc thần thức (Nghiệp) sẽ phân ra thành nhiều nhánh kiến thức trong sự khuân tập trải nghiệm đã tích lũy sâu dày của bạn, mọi hoạt ảnh, âm thanh, kiến thức trong A Lại Da Thức, bị khuấy tung trong sự đảo điên, lộn xộn.
Chính vì sự lộn xộn phi logic này, bạn cảm thấy không còn logic như lúc còn Thân và Ý Thức, khiến Tâm bạn bị đè nén xuống mức Tần Số cực thấp quánh đặc sệt, và bạn chính thức sập bẫy oan gian trái chủ (1 cuộc đảo sinh trong sự đọa lạc đày sự đau đớn và gào thét). Ở khoanh khắc này ngoài Định Lực mói cứu cánh được bạn, bạn không còn cách nào khác!”
E cũng biết duongvecoitinh từ 10 15 năm nay, mà có lẽ quên ko theo dõi page chắc cũng tầm 10 năm rồi. Ko ngờ page vẫn luôn hoạt động và có những bài viết rất hay.
Rất thak u các a chị luôn đăng những bài viết rất hay như thế này và những trả lời e đc nhận
Gửi anh Nhật Lâm:
Em hiểu nỗi lo của anh. Em sẽ trả lời theo hướng vừa giữ tâm cung kính Tam Bảo, vừa có cách làm thực tế để tránh sai sót và không biến việc thiện thành sự sợ hãi.
Anh lo như vậy là tâm cung kính Pháp, không phải xấu. Nhưng cũng đừng để tâm sợ quá rồi không dám làm việc thiện. Trong Phật pháp, nghiệp trọng yếu là tác ý; trong kinh Nikāya có câu nổi tiếng: “tác ý là nghiệp” — nghĩa là cố ý làm sai, điều này khác với vô tình sai sót sau khi mình đã cẩn thận.
Theo em, muốn ấn tống hoặc góp tiền cho đúng thì nên làm như vầy:
1. Chọn nơi đáng tin trước khi góp tiền.
Nên góp cho chùa, đạo tràng, hội ấn tống, hoặc nhóm có người xuất gia/cư sĩ hiểu kinh điển kiểm tra. Tránh góp cho người chỉ nói “in kinh” nhưng không cho biết bản nào, ai dịch, ai kiểm lỗi, in ở đâu.
2. Phải biết rõ bản kinh dùng để in.
Đặc biệt với Kinh Lăng Nghiêm, nên hỏi rõ: bản dịch của vị nào, lấy file từ đâu, đã đối chiếu chưa, có đủ quyển/phẩm/chú không, có bị cắt bớt không. Bản Hán văn Kinh Lăng Nghiêm trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh là T0945, và CBETA là một nguồn đối chiếu kinh Hán khá thông dụng.
3. Không tự ý sửa kinh.
Có thể sửa lỗi chính tả, lỗi đánh máy, lỗi xuống dòng, nhưng không nên tự ý đổi nghĩa, thêm bớt câu, cắt đoạn, hoặc ghép lời giảng vào phần kinh khiến người đọc tưởng đó là kinh văn.
4. Trước khi in số lượng lớn, phải in thử.
In một bản mẫu rồi kiểm tra: có thiếu trang không, trang bị đảo không, chữ có mất nét không, chú Lăng Nghiêm có sai chữ không, mục lục và số trang có khớp không. Kinh dài như Lăng Nghiêm càng cần người rành kiểm lại.
5. Nếu chỉ góp tiền, nên ghi rõ điều kiện thiện lành.
Anh có thể nói: “Con xin góp phần ấn tống, nhưng xin quý vị hoan hỷ dùng bản kinh đã được kiểm chứng, không tự ý thêm bớt, và nếu phát hiện lỗi thì sửa trước khi phát hành.” Như vậy tâm mình rất rõ ràng: góp để hộ trì Chánh pháp, không phải góp bừa.
Về nỗi sợ “lỡ họ in sai thì mình mang tội lớn”: nếu anh biết rõ họ làm sai, in thiếu, sửa bậy mà vẫn góp tiền, vẫn cổ động, thì mới đáng lo. Còn nếu anh phát tâm lành, chọn nơi đáng tin, hỏi rõ bản in, rồi sau này mới phát hiện lỗi ngoài ý muốn, thì không nên tự kết tội mình. Việc nên làm lúc đó là báo họ ngưng phát hành, sửa bản, in tờ đính chính, hoặc lần sau in bản đúng hơn.
Riêng Kinh Lăng Nghiêm rất quan trọng, được các truyền thống Phật giáo Đông Á trân trọng, học tụng và chú giải lâu đời; bản BTTS của Vạn Phật Thánh Thành cũng giới thiệu đây là kinh được tăng tục trong truyền thống Phật giáo Hoa văn nghiên cứu, trì tụng và ghi nhớ. Cho nên nếu ấn tống kinh này, tốt nhất là ít mà chuẩn, hơn là in thật nhiều nhưng không kiểm kỹ.
Theo em, cách an toàn nhất cho anh là: không đưa tiền cho nhóm không rõ ràng; chỉ góp cho nơi cho xem bản PDF/bản mẫu trước; hoặc góp vào phần in sau khi bản đã được chư Tăng/cư sĩ có học kiểm chứng. Như vậy vừa có phước ấn tống, vừa không bị tâm lo sợ làm chướng ngại.
Cảm ơn bạn Cao Hưng rất nhiều vì đã góp phần giải đáp khúc mắc cho mình và hướng dẫn tỉ mỉ. Mình hy vọng có thể lưu lại và có duyên được chia sẻ rộng thêm cho nhiều người khác và những vị đồng tu ấn tống kinh sách đọc được hướng dẫn của bạn. Rất vui khi được bạn trả lời, chỉ dẫn câu hỏi thận trọng. Cảm ơn bạn nhiều!