Lý Cảnh Văn là một người rất nhân từ, ông thường thường đi đến bên bờ sông hỏi ngư phủ: “Hôm nay lại bắt được những thứ gì đó? Tôm chăng? Hay là ba ba?” Ông vừa hỏi vừa thọc tay vào túi lấy ra hai hào ung dung đưa cho ngư phủ, rồi đem tất cả những loài thủy tộc vừa mới mua được đi phóng sinh. Ông vốn không phải là một người giàu có gì, mà chỉ vì tính ưa thích phóng sinh lấy đó làm thú tiêu khiển.
“A, chúng mày được tự do rồi đấy!” Nhìn thấy những con cá, cua, ba ba mà mình vừa mới phóng sinh bơi lội tự tại, ông không thể kiềm chế được niềm hân hoan lộ trên vẻ mặt.
Nhân vì bấy lâu nay ông thích uống thuốc, luyện đan, trúng phải chất độc đan sa, nên ung nhọt phát sinh sau lưng, chung cục không có thuốc nào chữa trị được. Thế rồi, trong khi đang bị đau đớn ấy, bệnh tình tự nhiên biến chuyển.
Không hiểu vào lúc nào, trong khi cơn bệnh đang đau đớn hôn mê, thì ông mơ màng thấy một bầy các loài thủy tộc dưới biển dùng nước bọt thoa vào mụt nhọt đang đau đớn của mình, do thế ông cảm thấy mát mẻ, sảng khoái lạ thường không có bút mực nào mô tả được. Trải qua một thời gian rất ngắn, cái mụt nhọt đau đớn thấu xương kia giờ đây không còn có cảm giác gì nữa. Ông phấn chấn đứng bật dậy khỏi giường, bô lô, ba la nói: “A, tôi có thể chạy đi chơi được rồi, không còn đau đớn một tí nào nữa!”.
Chứng bệnh ung thư nan y của Lý Cảnh Văn bỗng dưng được loài thủy tộc cứu chữa quả thực là một hiện tượng không thể nghĩ bàn. Chất độc đã được giải trừ, không những sức khỏe ông được hồi phục mà thân thể còn có vẻ tráng kiện hơn xưa.
Thế rồi, dân cư ở vùng phụ cận ấy, hằng ngày lại gặp mặt ông ta, ung dung đi lại trên bờ sông, lưng mang túi bạc, dáng vẻ rất tự tin, đi đến ngư phủ mua tôm cá, với một vẻ mặt tươi tỉnh, thần sắc sảng khoái, tiếp tục tập quán phóng sinh của mình.
Trích: Truyện Cổ SỰ TÍCH CỨU VẬT PHÓNG SINH
Tác giả: Pháp sư Tịnh Không
Việt dịch: TT. Thích Phước Sơn






Em vừa phát tâm niêm Phật tu hành, nhưng không hiểu sao trong tâm cứ sanh ra các ý nghĩ xằng bậy, thậm chí phỉ báng Phật và Tam Bảo. Em sợ quá không dám ngồi trước bàn thờ Phật vì sợ mang tội. Xin chỉ em cách làm sao để tâm em không nghĩ nậy khi niệm Phật nữa. Em xin cảm ơn.
Tong xin thưa thiệt với Thoại Nghi vầy nè: trước hết em đừng hoảng, cũng đừng vì mấy cái ý nghĩ xằng bậy đó mà sợ tới mức không dám ngồi trước bàn Phật. Cái tâm phàm phu nó giống như cái chợ miền Tây lúc buổi sớm vậy đó, người bán chưa kịp dọn hàng mà người mua đã chen vô, tiếng rao tiếng gọi tùm lum hết trơn. Mình muốn nó im phăng phắc liền thì khó lắm! Mới phát tâm niệm Phật mà trong đầu tự nhiên nổi lên những ý nghĩ bất kính, thậm chí những câu mà chính mình cũng không muốn nghĩ tới, chuyện này không có nghĩa là em thật lòng phỉ báng Phật hay Tam Bảo đâu. Một ý nghĩ tự nhiên khởi lên không đồng nghĩa với một hành vi cố ý. Điều quan trọng là mình có đồng tình, nuôi dưỡng và cố ý nói hay làm theo nó hay không.
Tong nói thiệt, càng sợ “không được nghĩ bậy”, cái đầu nó càng giống con khỉ bị nhốt trong chuồng, cứ thấy cái cửa đóng là nó muốn trèo ra. Em càng ngồi trước bàn Phật mà canh chừng: “Ủa, nãy giờ mình có nghĩ bậy chưa? Có phỉ báng Phật chưa?” thì chẳng khác nào lấy kính lúp soi cái đầu mình, soi riết rồi chính mình mệt trước. Cho nên từ nay, khi một niệm xấu hoặc một câu bất kính bất chợt xuất hiện, em đừng tranh cãi với nó, đừng hoảng hốt, cũng đừng tự kết tội mình. Chỉ nhẹ nhàng biết: “À, vọng niệm.” Rồi trở về câu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Nó tới thì mặc nó tới, nó đi thì mặc nó đi, mình cứ niệm Phật. Giống như ghe chạy giữa sông, có lục bình trôi ngang thì ghe cứ chạy, chớ đâu có dừng máy lại vớt từng cọng lục bình lên mà hỏi coi cọng này từ đâu trôi tới!
Điều em cần tập không phải là làm cho tâm “không bao giờ nghĩ bậy”, mà là tập không chạy theo những ý nghĩ ấy. Phật pháp gọi đó là vọng niệm. Tâm phàm phu vốn nhiều vọng tưởng, đó là lý do mình mới cần tu. Nếu tâm đã sạch bong, niệm nào cũng thanh tịnh hết rồi thì còn tu cái nỗi gì nữa? Cho nên mỗi lần vọng niệm nổi lên, em cứ bình tĩnh niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật…” Niệm bằng tâm chân thành, chậm rãi, rõ ràng, nghe rõ từng câu mình niệm. Khi miệng niệm, tai nghe, tâm biết mình đang niệm Phật thì lâu ngày cái tâm sẽ dần dần có chỗ nương tựa.
Còn chuyện em sợ không dám ngồi trước bàn thờ Phật thì Tong khuyên em càng nên trở lại. Đừng chạy khỏi bàn Phật vì sợ vọng niệm, bởi bàn Phật chính là chỗ để mình học cách đối diện với cái tâm của mình. Em có thể lễ Phật rồi thưa thật đơn giản: “Nam Mô A Di Đà Phật. Con nghiệp chướng sâu dày, vọng niệm nhiều, có những ý nghĩ con hoàn toàn không muốn có. Con xin thành tâm sám hối và nương nơi danh hiệu Phật mà tu học, xin Phật từ bi nhiếp thọ.” Rồi cứ niệm Phật. Không cần phải ngồi đó tự xét mình coi mỗi phút mình sạch được bao nhiêu phần trăm. Tu kiểu đó coi chừng chưa thành Phật mà thành… kế toán trưởng chuyên kiểm kê vọng niệm!
Có một điều rất quan trọng nữa: em đừng lấy những ý nghĩ bất chợt trong đầu làm thước đo đạo đức của mình. Tâm thức con người có thể tự động sinh ra đủ thứ hình ảnh, lời nói và ý tưởng trái với điều mình mong muốn. Mình không cần phải nhận chúng làm “mình”. Thấy nó khởi mà không theo, đó đã là một bước tu rồi. Nếu lỡ một câu bất kính hiện lên, em chỉ cần niệm Phật, thành tâm sám hối nếu trong lòng thấy bất an, rồi tiếp tục tu. Đừng quỳ đó xin lỗi Phật cả tiếng đồng hồ chỉ vì một niệm vừa thoáng qua, rồi sau đó lại lo: “Không biết mình xin lỗi đủ chưa?” Vậy là từ một vọng niệm biến thành nguyên một… bộ phim dài tập!
Người tu Tịnh Độ quý nhất là chữ “nhiếp tâm” và lòng tin nơi câu Phật hiệu. Em đừng đặt mục tiêu “niệm Phật mà không được có vọng tưởng”, vì mục tiêu đó dễ làm em thất vọng. Hãy đặt mục tiêu đơn giản hơn: “Dù vọng tưởng có khởi, tôi vẫn trở về với A Di Đà Phật.” Hôm nay vọng niệm kéo mình đi mười lần, mình kéo về mười lần. Ngày mai nó kéo đi một trăm lần, mình cũng kéo về một trăm lần. Đừng nản. Mỗi lần quay về được với câu Phật hiệu là một lần mình đang tập làm chủ cái tâm.
Tong xin mượn lời của người xưa mà nói với em: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.” Vọng niệm khởi không đáng sợ bằng việc mình theo nó chạy tuốt ra ngoài. Cho nên Thoại Nghi cứ vững lòng niệm Phật, đừng tự dọa mình, đừng xa lánh Tam Bảo. Càng chân thành, càng khiêm cung, càng siêng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, lâu ngày tâm sẽ có chỗ nương, những thứ lăng xăng cũng dần dần yếu đi. Con đường Tịnh Độ không phải đợi tâm mình hoàn hảo rồi mới được niệm Phật; chính vì tâm mình còn đầy phiền não nên mới cần nắm chắc câu Phật hiệu mà đi.
Và nhớ nghen em: một người thật sự muốn phỉ báng Phật thì đâu có đau khổ, sợ hãi và chạy tới xin cách sửa như em. Việc em buồn vì những ý nghĩ đó cho thấy em không muốn chúng. Vậy thì đừng tự đóng cửa trước Phật. Cứ trở về bàn Phật, lễ Phật, niệm Phật, sống hiền lành, làm việc thiện, giữ khẩu nghiệp, rồi giao cái tâm nhiều chuyện của mình cho câu “A Di Đà Phật” từ từ thuần hóa. Cái tâm này nó lì lắm, nhưng câu Phật hiệu còn dai hơn nó. Em cứ niệm hoài, niệm tới chừng nào nó chịu thua thì thôi. Tong tin rằng đường dài vạn dặm cũng bắt đầu từ một bước chân, còn đường về Cực Lạc thì bắt đầu từ một câu: “Nam Mô A Di Đà Phật.”