Nhờ Tích Tiểu Phước Thành Đại Phước Vua Lương Võ Đế Lâm Chung Tỉnh Táo Niệm Phật Vãng Sanh

Nhờ Tích Tiểu Phước Thành Đại Phước Vua Lương Võ Đế Lâm Chung Tỉnh Táo Niệm Phật Vãng Sanh

Lương Vũ Đế, tên Tiêu Diễn, hình dung kỳ vĩ, vầng trán chữ nhật, mặt rồng, cổ có ánh sáng tròn, thân sáng như ánh trời chiều, nhà ở thường có hơi mây. Thuở nhỏ hiếu học, từ thi thơ cho đến chiêm đoán, bốc phệ; viết chữ thảo, chữ lệ; cung tên, cưỡi ngựa, săn bắn thảy đều rành rẽ.

Về sau, tuy lên ở ngôi cao, tay vẫn không rời quyển sách. Về già thờ phụng Phật đạo. Ngày chỉ ăn một bữa nếu không có đại hội, yến tiệc, tế tự tông miếu thì không cử nhạc. Khi hành quyết tử tù thì rơi nước mắt. Chăm lo chính sự, mùa Ðông qua nửa đêm vẫn cầm bút xem xét công việc. Tánh tình ngay thẳng, ở trong nhà tối cũng mặc áo mão; tháng nóng chưa hề vén áo, cởi trần; thấy bầy tôi thấp hèn cũng như gặp khách quan trọng. Niên hiệu Thái Thanh năm thứ ba (549), Hầu Cảnh mưu phản vây hãm Thành Ðài, đem năm trăm quân mặc giáp, mang kiếm lên trên điện. Lương Vũ Đế thần sắc vẫn không thay đổi, bảo Hầu Cảnh đến giường của bậc Tam công ngồi, rồi bảo:

– Khanh ở trong quân ngũ lâu ngày không mệt nhọc sao?

Cảnh sợ hãi không đáp được, lui ra bảo tả hữu rằng:

– Ta mỗi lần lên ngựa ra trận, tên đá bời bời nhưng không hề hãi sợ. Nay thấy Tiêu Công khiến người khiếp sợ há chẳng phải oai trời khó phạm, ta chẳng gặp ông ta nữa.

Về già, Lương Vũ Đế nằm giường bệnh, ngày đêm niệm Phật luôn miệng. Rồi băng ở điện Tịnh Cư, thọ 86 tuổi.

(Theo Cao tăng dị truyện)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ:

Chúng ta đều biết đến một Lương Vũ Đế (502-549), vị quân vương Phật tử thuần thành, một đại hộ pháp đắc lực nhưng thiếu căn duyên với thiền, không hội được yếu chỉ khi Tổ sư Đạt Ma chấn tích sang Đông Độ. Cảnh Ðức Truyền Đăng Lục ghi lại cuộc hội kiến giữa Lương Vũ đế và Tổ Ðạt Ma như sau: “Lương Vũ Đế hỏi Tổ Ðạt Ma:

– Trẫm từ khi lên ngôi đến nay đã cho xây chùa, dựng tượng, in kinh, độ Tăng rất nhiều. Vậy trẫm có công đức gì chăng? Tổ Ðạt Ma đáp:

– Chẳng có công đức gì cả.

– Tại sao làm Phật sự nhiều như thế lại không có công đức?

– Bởi vì đó chỉ là những tiểu quả mà thôi. Ðấy chỉ là cái nhân giả lâp như bóng theo hình, có mà chẳng thật.

– Vậy phải làm thế nào mới được xem là công đức?

– Phải tự mình rèn cho trí trong sạch, tâm thanh tịnh, tánh rỗng lặng, thân an vui, như thế mới là công đức. Công đức ở nơi tự tánh, chứ chẳng phải do vật bên ngoài mang đến.

Vua hỏi tiếp: – Chân lý tối cao của bậc Thánh là gì?

– Khi tỉnh ra, thông suốt rồi thì không có gì gọi là Thánh cả.

– Người trước mặt trẫm là ai?

– Chẳng biết!

Lương Vũ Đế không lãnh hội được, cuộc đối thoại chấm dứt. Tổ Ðạt Ma biết căn cơ không hợp, lặng lẽ lên núi Tung Sơn, chùa Thiếu Lâm, trọn ngày ngồi thiền đối diện với bức tường trong suốt 9 năm”.

Tuy không phải bậc thượng căn nhưng nhờ suốt đời vun bồi “tiểu quả”, tạo phước và niệm Phật, cuối cùng vua Lương cũng thành tựu đại quả, vô úy và tự tại. Vô úy là không sợ hãi, rõ ràng, kề cận với sanh tử mà “thần sắc vẫn không thay đổi”. Bởi sợ hãi có gốc rễ từ tham ái, tham nhiều thì sợ hãi càng nhiều. Tự tại là không có gì ràng buộc, thảnh thơi trong mọi hoàn cảnh, bị vây giữa rừng giáo mác vẫn ung dung đem lòng từ nhiếp hóa quần mê. Chính phong thái của bậc thượng thừa ấy đã nhiếp phục Hầu Cảnh hồi tâm, cải tà quy chánh.

Ngày nay chúng ta tu tập cũng chớ xem thường tiểu quả. Tích phước làm lành, vun bồi thiện nghiệp, niệm Phật tụng kinh v.v… tuy là rất bình thường, ai cũng làm được bởi những việc ấy thuộc về sự, hữu vi. Nhưng chính nhờ huân tu niệm Phật, tích lũy phước báo hữu vi lâu ngày mà vua Lương hội được lý, thể nhập vô vi, chứng đạt an lạc và giải thoát.

THƯỜNG TÂM

3 Phúc đáp

  1. Nguyên

    – Làm phước như: Cúng dường, bố thí, in kinh, giúp đỡ người nghèo, làm từ thiện xã hội… Làm những điều này không có mục đích thì nhân tố này sẽ thành phước báu hữu lậu. Theo quy luật NHÂN QUẢ thì hưởng trong đường Nhân, Thiên.
    Để tránh điều này người làm các phước báu này cần hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, hồi hướng về Cực Lạc, hồi hướng đến tất cả chúng sanh đều thành Phật Đạo. Thì nhân tố này sẽ biến thành Công Đức Vô Lậu.

  2. Từ Tâm

    Xin các vị hảo tâm hoan hỉ giúp đỡ Nhà Thiếu Nhi Phật Tổ – nơi nuôi trẻ mồ côi và hốt thuốc Nam cho các gia đình nghèo. Nhà Thiếu Nhi Phật Tổ hiện ở tại Ấp An Bình, Xã An Thủy, Huyện Ba Tri, Tỉnh Bến Tre.

    Quý Phật tử có lòng hảo tâm phát tâm cúng dường xin liên lạc:

    Tại Mỹ:
    Sư cô Từ Đạo (chùa Phật Tổ) ĐT 626-321-6359

    Tại VN:
    Chú Thấm (Quảng Lý)ĐT 0918-27-6919
    Cậu Hai Tráng ĐT 0166-35-0099
    Cô giáo Hải ĐT 0123-49-8629

    Cùng nhau góp một bàn tay
    Dù nhiều hay ít tức thời cũng vui
    Vui là mang lại cái nôi
    Ru em thiếu mẹ, thiếu cha bên nhà
    Lang thang bể khổ Ta Bà
    Về nhà Tam Bảo chuyển tâm ấm lòng. (QHN)

  3. Charlie Dang

    CÂU CHUYỆN TÍCH PHƯỚC CỦA HOẰNG NHẤT ĐẠI SƯ


    Hoằng Nhất Thượng Nhân

    Đại sư Hoằng Nhất là đại sư Luật tạng trứ danh đương đại, tư tưởng tích phước của ngài, dùng câu ngài tự nói, chính là: Chúng ta ngày cả có mười phần phước, cũng đành phải hưởng thụ ba phần, phần còn dư có thể để dành đến sau này mà thụ hưởng. Đại sư Hoằng Nhất có một năm tại chùa Nam Phổ Đà, Hạ Môn lúc khai thị cho người xuất gia, khuyên họ “phát đại tâm”, dùng phước của chính mỗi người, “bố thí tất cả chúng sanh cùng nhau hưởng thụ, vậy càng tốt nữa.”

    Đại sư Hoằng Nhất cho rằng, chúng ta dù cho có phước, cũng phải càng thêm quý trọng, nhất thiết không nên lãng phí. Vì sao thế? “Thời đại mạt pháp, phước của con người rất mỏng manh, nếu không trân trọng, hưởng hết phước rất mỏng này rồi, sẽ bị vô cùng đau khổ, cổ nhân nói “lạc cực sanh bi”, chính là cái ý này vậy! Đại sư Hoằng Nhất lúc nhỏ, nhìn thấy cha nhờ người ta viết một bức câu đối lớn, trích lục câu của Lưu Văn Định Công triều Thanh, treo lên trên cao ôm lấy cột của đại sảnh. Trên câu đối là, “Tích thực, tích y, phi vi tích tài duyên tích phước”.

    Anh trai của ngài thường thường dạy ngài đọc câu này, đọc thuộc rồi, về sau hễ là mặc áo hoặc ăn uống, đều rất chú ý, chính là một hạt cơm, cũng không dám tùy tiện phung phí đánh rơi. Mẹ của đại sư Hoằng Nhất cũng thường thường dạy ngài, quần áo mặc trên người phải lúc nào cũng cẩn thận, không được làm hư hoặc làm bẩn. Mẹ và anh trai của ngài sợ ngài không trân trọng y thực, tổn mất phước báu dẫn đến đoản mạng mà chết, cho nên thường thường căn dặn ngài như vậy. Đại sư Hoằng Nhất năm tuổi đã không còn cha. Bảy tuổi luyện tập viết chữ, lấy cả tờ giấy viết phung phí. Mẹ ngài nhìn thấy, nghiêm nét mặt nói: “Con à, con phải biết là cha con lúc còn sống, đừng nói giấy cả tờ lớn như vậy không dám lãng phí, ngay cả mảnh giấy dài một tấc, cũng không dám tùy tiện vứt bỏ đi!”

    Đại sư Hoằng Nhất được sự giáo dục của gia đình, in sâu đậm trong đầu ngài, về sau lớn tuổi rồi, cũng không có lúc nào không quý trọng y thực. Sau khi xuất gia, mãi vẫn tuân theo thói quen trân trọng y thực. Một đôi dép ngã màu ngài mang trên chân, vẫn là vào năm 1920 ở Hàng Châu, một vị xuất gia đả Phật thất tặng cho ngài đấy. Tấm chăn bông ngài dùng mỗi tối, vẫn là tấm trước khi xuất gia dùng. Ngài có một chiếc dù nước ngoài, là mua năm 1911. Những dụng cụ sinh hoạt hằng ngày, đã rách nát, thì nhờ người dùng kim chỉ vá lại, vẫn sử dụng như còn mới. Ngoài đồ vật như chiếc quần trong nhỏ để mặc và dép cỏ La Hán, cần năm sáu năm đổi một lần ra, tất cả quần áo của ngài, phần lớn đều là may vào lúc còn tại gia hoặc là lúc mới xuất gia.

    Thường có người tặng quần áo và vật phẩm trân quý cho đại sư Hoằng Nhất, ngài phần lớn đều chuyển tặng người khác. Ngài nói, “Bởi vì tôi biết phước tôi mỏng, đồ vật tốt là không có gan thọ dụng. Còn như đồ ăn, chỉ lúc bị bệnh ăn một ít thức ăn ngon, ngoài như vậy ra, chưa từng dám tùy tiện bừa bãi mua đồ ngon ăn.”

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *