Phương Thức Hóa Giải Chướng Duyên [Audio]

Phương Thức Hóa Giải Chướng Duyên [Audio]

Khi mới vào chùa, bút giả nghe được một truyền thuyết bao hàm ẩn ý, mà không biết có đúng với nguyên ngữ chăng, và phát xuất từ đâu? Câu ấy là: “Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng, Phật cao nhứt trượng, ma cao quá trượng đầu, Phật cao siêu quá trượng đầu, ma quy hàng Phật.” Ý nghĩa câu này là: “Phật cao một thước, ma cao một trượng. Phật cao một trượng , ma cao khỏi đầu trượng; nếu Phật cao vượt khỏi đầu trượng nữa, ma sẽ quy hàng Phật.” Suy gẫm theo câu trên, người tu phải làm sao cho ông Phật của mình cao hơn con ma, nếu chẳng thế tất bị ma chướng đánh đổ. Cho nên trong làng tu, những kẻ bị thối bại không nên đổ cho hoàn cảnh, hoặc phiền trách ai, chỉ trách tại ông Phật của mình thua con ma mà thôi. Nếu cố gắng giữ vững chí nguyện, ma chướng sẽ tiêu trừ. Vì biết trên đường tu có nhiều chướng ngại, khi xưa đức Đạt Ma Tổ Sư đã nói bốn hạnh để làm phương châm tiến đạo cho hàng đệ tử. Bốn hạnh ấy là: Báo Oan Hạnh, Tùy Duyên Hạnh, Xứng Pháp Hạnh và Vô Sở Cầu Hạnh.

1. Sao gọi là Báo Oan Hạnh? – Chúng ta từ trước đến nay luân hồi trong sáu nẻo, mỗi đời đều gây nghiệp trái hoặc ân hoặc oán, từ việc nhỏ đến việc lớn, có thể nói là vô lượng vô biên. Cho nên khi ta hành đạo, tuy nhờ công đức tu tập tiêu trừ một phần nào, nhưng các nghiệp chưa tan, tất phải lần lượt đền trả. Như người thường đau yếu hoặc tàn tật, do kiếp trước đã tạo nghiệp sát sanh. Người bị nhiều tiếng thị phi khen chê, do kiếp trước ỷ thông minh quyền thế xem rẻ người, hoặc đã tạo nghiệp hủy báng. Người bị nghèo khổ thiếu hụt, do kiếp trước không có lòng xót thương tu hạnh bố thí. Người bị gông cùm tra khảo tù đày, do kiếp trước hay trói buộc, đánh đập, giam nhốt chúng sanh. Kẻ bị cô độc lẻ loi thiếu người phụ trợ, do kiếp trước không hoan hỷ kết duyên với mọi người. Những nghiệp như thế vô lượng vô biên, ngày nay tu hành khi bị oan trái đến, phải an lòng nhẫn nại chịu đền trả, không nên oán trách buồn phiền. Nơi kiếp luân hồi, chúng sanh đều có ăn uống cùng gia đình đôi bạn, nên trong các nghiệp duy có nghiệp sát và nghiệp ái là nặng nhứt. Cổ đức đã than: “Bể nghiệp mênh mang, khó đoạn không chi hơn ái dục. Cõi trần man mác, dễ phạm duy chỉ có sát sanh!”

– Bút giả từng nghe một Phật tử Bắc Việt thuật lại câu chuyện, vì lâu quá chỉ nhớ phần đại khái, quên mất tên họ địa chỉ của người trong cuộc. Phật tử ấy nói: “Có một vị sư nguyên là thầy giáo, vì tỉnh ngộ cảnh thế phù du, nên lên tịnh tu trên núi. Trải một thời gian, vị sư được chư thần mách bảo rằng: Ông có duyên nợ mười chín năm với một cô tên họ là thế, nay tuy đã tu hành không nên kết duyên chồng vợ, nhưng phải xuống núi dạy dỗ giác ngộ cô kia, trả xong mối nợ tiền khiên đúng như thời hạn ấy, rồi trở lên núi tu hành mới có thể thành công. Vị sư y lời xuống núi, quả nhiên gặp một cô tên họ đúng như chư thần đã bảo, cảm mến đeo đuổi. Sư khuyên nhủ dạy đạo cho cô, trả xong y theo thời hạn rồi lên núi. Lúc lâm biệt cô ấy vẫn còn quyến luyến khóc lóc.” Đây là sự trả nợ nần về nghiệp ái.

Nơi truyện Quần Tiên, nhân tiết trung thu chàng văn sĩ Vân Tiêu lên núi chơi. Trong đêm rằm, chàng mục kích chư tiên nương mây cởi hạt giáng xuống một tòa thạch bàn, bày tiệc trái ngon rượu quí, vừa đàn ngâm hát rằng:

Đêm thu một khắc một chầy
Vầng trăng khéo rọi cảnh này sơn âm!
Nghiêng bầu hỏi bạn đồng tâm
Hằng Nga khuất bóng biết tìm nơi đâu?

Bên tiên nữ có một nàng tên là Thái Loan, sắc đẹp dịu dàng, ca ngâm hay nhất, làm cho Vân Tiêu tuy ẩn bóng rình nghe, cũng bàng hoàng xúc động. Giây lát sau, một vị lão tiên uống rượu xong, ca rằng:

Hữu duyên tương hội tại tiên đàn
Ưng đắc Vân Tiêu giá Thái Loan!

Nghe hai câu ấy, Vân Tiêu phải chường mặt ra dự vào đàn tiên. Chư tiên bảo Thái Loan tiên nữ còn trần duyên với Vân Tiêu mười ba năm, truyền đồng tử đem sổ ra xóa bỏ tiên tịch. Và sau mười ba năm sống với Vân Tiêu, trần duyên đã mãn, Thái Loan dùng phép ẩn thân bay về non tu lại. Cho nên chư tiên vẫn còn ở trong vòng nhân duyên kiếp quả.

Về nghiệp sát, như Sư Tử tôn giả bên „n Độ và Thần Quang nhị tổ ở Trung Hoa tuy đều đắc đạo, nhưng ngày kết liểu vẫn phải an nhiên chịu chém để đền nợ mạng. Lại như ngài Mục Kiền Liên tuy đắc quả A La Hán, thần thông bậc nhất trong hàng Thanh Văn, nhưng vì muốn trả túc nghiệp, nên để bọn hung đồ dùng đá gậy liệng đánh cho đến chết, thi hài lại bị vùi trong hầm phẩn. Đức Phật thấy thế thương xót, sai đệ tử đem thây Ngài lên tắm rửa sạch sẽ, xoa ướp dầu thơm, rồi đem đi trà tỳ thâu lấy xá lợi. Và như thái tử nước An Tức xuất gia tu hành đắc đạo, dùng Túc Mạng Trí thấy mình còn nghiệp trái sát sanh, nên ba phen chuyển kiếp đến xứ Lạc Dương ở Trung Hoa trả nợ mạng ba lần. Kiếp sau rốt, ngài là sa môn An Thế Cao.

Cho nên trên đường tu đâu biết ai là toàn vẹn, ta không nên tự mãn mà khinh thường người. Bởi nghiệp trái của chúng sanh rất nhiều, có khi đền trả hết lớp này lại đến lớp khác. Nhiều vị xem dường rảnh rang không oan trái, nhưng chưa hẳn là không có, chỉ vì chưa đến thời tiết nhân duyên đền trả đó thôi. Muốn dứt oan khiên ta phải an nhẫn sám hối và cố gắng tu hành để diệt trừ. Thi sĩ Nguyễn Du có lẽ đã tin sâu về thuyết nghiệp báo và sự cải tạo nhân quả của nhà Phật, nên mới có câu:

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Có trời mà cũng có ta…

Lời này đã được nhiều bậc thức giả công nhận.

2. Thế nào là Tùy Duyên Hạnh? – Đây là nói sự an phận tùy duyên của người tu cảnh nào sống theo cảnh ấy. Như cảnh giàu sang tùy theo giàu sang, cảnh nghèo hèn tùy theo nghèo hèn, cảnh man rợ tùy theo man rợ, cảnh hoạn nạn tùy theo hoạn nạn, cho đến cảnh thạnh suy, họa phước, đắc thất, thị phi… cũng đều như thế. An phận tùy duyên đây, là giàu sang mà không tự đắc kiêu căn, nghèo hèn hoạn nạn mà không buồn rầu đổi chí. Tại sao thế? Vì tất cả cảnh thạnh suy họa phước đều như huyễn, chỉ tùy nghiệp hiện lên một thời gian rồi diệt, có chi đáng tham luyến nản buồn?

Khi xưa, đức Khổng Tử và đồ đệ bị giặc vây giữa nước Trần nước Thái, thầy trò tuyệt lương đã bảy ngày, song Ngài vẫn khảy đàn tươi cười. Tử Cống hỏi: “Tại sao gặp hoàn cảnh sống chết không định ngày, mà phu tử hãy còn vui cười được?” Ngài đáp: “Việc gì ta đã cố gắng làm hết sức ta mà xảy ra như vậy, là mạng trời, buồn rầu thương khóc nào có ích chi?” Như đức Khổng Tử có thể gọi là bậc thánh tri mạng, luôn luôn bình tĩnh sáng suốt, không bị bối rối đổi thay trước mọi hoàn cảnh. Người tu nên như thế, phải xem ruộng vườn, nhà cửa, quyến thuộc, tài sản đều là duyên giả tạm, không vì nó mà quyến luyến bận tâm, mới có thể tiến lên đường giải thoát.

3. Sao gọi là Xứng Pháp Hạnh? – “Pháp” đây là Chân Như pháp, đối với người tu Tịnh Độ là Niệm Phật Tam Muội. Người tu Thiền khi đi đứng nằm ngồi, tâm phải xứng hợp với pháp Chân Như, như nước hòa nước, tợ hư không hợp với hư không. Hành giả tu Tịnh Độ cũng thế, tâm lúc nào cũng trụ nơi câu niệm Phật. Cổ đức bảo: “Nếu tạm thời không trụ nơi chánh định, tức đồng như người đã chết.” Bởi không trụ được nơi chánh định, tức là bị trần cảnh đoạt. Bị trần cảnh cướp đoạt lôi cuốn, thì pháp thân huệ mạng không còn. Cho nên người tu Tịnh Độ nếu thường trụ nơi câu niệm Phật, thì tâm địa lần lần lặng yên sáng suốt, cảm thông với Phật, chắc chắn sẽ được vãng sanh.

4. Thế nào là Vô Sở Cầu Hạnh? – Đạo là chỉ cho tâm hạnh trong sạch không mong cầu điều chi. Bởi tất cả pháp đều như huyễn, sanh rồi diệt, diệt lại sanh, có chi chân thật để mong cầu? Vả lại pháp thế gian đều tương đối, trong họa có phước, trong phước có họa, nên người trí vẫn bình thản, ở cảnh thạnh suy họa phước đều không động tâm. Thí dụ: một tăng sĩ khi ẩn tu nơi am tranh vắng vẻ, sự sống hẩm hiu, ít người thăm viếng, duyên đời tuy suy nhưng đạo lại thạnh. Ít lâu sau, nếu có người đạo tâm hay biết tới cúng dường, lần lần lập nên chùa lớn, tăng chúng tập trung về đông đảo, chừng ấy phước duyên tuy thạnh nhưng phần giải thoát lại suy, bởi vị ấy mắc bận tâm lo ứng phó công việc bên ngoài. Lẽ họa phước ẩn nương nhau cũng như thế. Cho nên tâm hạnh của người tu là không cầu việc ác, hay cầu làm chúng sanh, cũng không cầu điều thiện, hoặc cầu thành Phật. Có người hỏi: “Nếu niệm Phật không cầu vãng sanh, không cầu phước huệ viên mãn để thành Phật, thì làm sao tu tiến?” Đáp: “Bởi Phật là chơn không, càng cầu lại càng xa càng mất.” Vì thế Kinh Pháp Hoa nói: “Giả sử có vô số bậc Thanh Văn, Duyên Giác cho đến hàng Bất Thối Bồ Tát, trong vô lượng kiếp suy nghĩ tìm cầu, cũng không thấy hiểu được thật trí của Phật.” Về sự vãng sanh, thì lối cầu của người tu là cầu mà không cầu, không cầu mà cầu. Sự ứng dụng ấy như mặt gương sáng trong, khi hình đến thì chiếu soi, hình đi, lại lặng yên rỗng suốt. Giữ sự thấy biết tìm cầu thì lạc vào vọng tưởng, không thấy biết tìm cầu nào khác gì gỗ đá vô tri!” Nói rộng ra, hạnh Vô Sở Cầu đây gồm cả ba môn: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện vậy.

Nếu người tu giữ theo bốn hạnh của đức Đạt Ma Tổ Sư đã dạy, thì có thể bình thản trước mọi chướng duyên.

Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm

11 Phúc đáp

  1. Tịnh Đăng

    A Di Đà Phật !
    Hàng ngày con niệm Phật lần chuổi, niệm 10 câu Phật hiệu lần 1 viên chuổi. Niệm được khoảng 1 chuổi hạt (108v) là có hiện tượng líu lưởi phát âm “Di” không được chuẩn nửa. Con không biết có phải do con có thói quen niệm to nên bị đơ tiếng không? Có cách nào khắc phục được không? Những lúc ấy con thử chuyển qua tụng “A Mi Đà Phật” thì thấy tình hình có cải thiện. Con có nên chuyển qua niệm A Mi Đà Phật không? Con đang rất phân vân vì câu phật hiệu “A Di Đà Phật” đã ăn sâu vào tâm trí rồi không thể thay đổi ngày một ngày hai. Kính mong các Đạo Hữu chỉ giáo .
    A Di Đà Phật !

    • Cư sĩ Hữu Minh

      Cách niệm A Mi Đà Phật do đại lão HT Thích Trí Tịnh chủ xướng chỉ vài năm trở lại đây. Ngài đi tu từ nhỏ và nay thì ngài đã 95 tuổi, như thế thì trước đó đã lâu ngài đã niệm “A Di” một thời gian dài trước khi chuyển sang “A Mi”. Cho nên nếu niệm A Mi Đà Phật dễ dàng hơn thì bạn cứ niệm A Mi, chỉ mất một thời gian ngắn bạn sẽ thành thục ngay chứ không lâu đâu.

      Còn nếu bạn vẫn muốn niệm theo kiểu cũ của các chư cổ đức xưa nay vẫn niệm là A Di Đà Phật thì hãy thử cách này xem sao. Bạn có thể dùng phấn viết lên bảng, hoặc viết lên tờ giấy 4 chữ A Di Đà Phật, rồi để ngay trước mặt bạn lúc niệm Phật. Khi nào bạn cảm thấy lưỡi bắt đầu có vấn đề thì bạn nhìn vào bảng hay tờ giấy rồi đọc theo các chữ ấy. Một thời gian sau Hữu Minh tin rằng bạn sẽ niệm được thông suốt, không còn là trở ngại nữa.

      A Di Đà Phật

  2. A Di Đà Phật.
    Thưa bạn, như chúng ta được biết niệm Phật trì chú có 3 lối đó là Mật trì, Kim cang trì và Cao thanh trì.
    -Mật trì là tưởng thầm trong tâm trí.
    -Kim cang trì là khẽ động miệng mà niệm
    -Cao thanh trì là trì niệm ra tiếng lớn.
    Theo như lời dạy của cố Hoà Thượng Thích Viên Thành thì chúng ta khi niệm Phật trì chú nên kết hợp 3 kiểu đó lại, vừa ko mất sức, được lâu và hiệu qủa công đức vô cùng…

  3. Tấn Tuân

    A di đà Phật!
    Dạ bạch thầy! Xin thầy hoan hỉ cho con hỏi: Con là một Phật tử tại gia, con còn trẻ và công việc học tập của con cũng đang bước vào giai đoạn cuối nên khá căng thẳng, ban đêm thì con thường làm việc rất khuya khoảng 1 -2 giờ sáng mới đi ngủ,con đã đặt thời khóa là 4h sáng dậy để niệm Phật,nhưng trong lúc niệm con thật sự còn vọng tưởng nhiều,lúc con nghĩ mình nên sám hối nghiệp chướng,có lúc đọc sách,xem thông tin thì con nghe mọi người bảo nên tưởng nhớ Phật và cõi Tây phương.Có lúc con lại niệm to,lúc niệm nhỏ,và cứ thắc mắc cách ngồi để niệm của mình có đúng phương pháp không? Xin thầy hoan hỉ chỉ cho con 1 cách đúng nhất để con có thể hành trì được…Nam mô a di đà phật.

    • thanhtam

      Chào bạn Tuantuan,

      Khi niệm Phật nếu vọng tưởng nổi lên bạn cứ lờ nó đi. Nhiệm vụ của mình là an trụ vào câu Phật hiệu, cố gắng tu phước, trì giới, hành thập thiện liên tục thì qua một thời gian mình sẽ có định lực hơn, công phu niệm Phật sẽ nhiếp tâm hơn.

      Cách của mình là ngồi bán già, mắt nhìn vào 1 điểm, tai nghe rõ tiếng niệm, cột cả thân,ý,lưỡi,mũi vào luôn, sau 1 lát chuyển sang niệm thầm, nhép môi ko ra tiếng, sau 1 lát chuyển sang niệm trong tâm, nghe tiếng niệm Phật trong đầu. Lúc này tâm sẽ dễ tán loạn. Nhưng nếu bạn luyện niệm thầm được thì sẽ có cái lợi là lúc nào niệm cũng được và nhất là vào lúc lâm chung khi ko còn sức để niệm thành tiếng.

      A Di Đà Phật.

  4. Đông trinh

    Nam mô phật bổn sư thích ca mâu ni!
    Dạ bạch thầy! Con có câu hỏi muốn thầy giải oán dùm. Con đi lên chùa xem bói thì cậu ở chùa bảo con có nhiều linh hồn đi theo, và có 1 linh hồn đi theo con để phá tình duyên.của con. Con thấy thật đúng, vì khi con yêu hay thích ai thì một thời gian sau con cảm thấy chán và có khi họ tự dời xa mình. Vậy con phải làm như thế nào để thoát khỏi. Con cảm ơn! Mong quý thầy cho con một lời khuyên và gửi vào điạ chỉ email của con ạ!

    • Tịnh Thái

      1. Phật ko dạy Phật tử đi xem bói. Xem bói là mê tín, nơi nào có xem bói là nơi hành tà đạo, chẳng phải đạo tràng Phật pháp chân chánh. Chẳng nên đến đó, tiền mất tật mang.

      2. Do vậy việc linh hồn theo sau bạn là chẳng đáng tin. Chuyện tình duyên thành hay bại là do duyên nợ của bạn, chẳng ai can thiệp vào. Là nhân quả của bạn. Ai cảm thấy chán? Bạn. Ai nói lời chia tay? Không bạn thì người kia. Chẳng phải là chính mình tự làm tự chịu hay sao?

      3. Cái cần thoát khỏi là cái tâm mê tín, mê muội của bạn. Hãy sớm tỉnh ngộ việc này. Hãy nên thường đọc các bài pháp trên duongvecoitinh thì có thể giúp cho bạn giác ngộ và phá trừ mê tín.

      Chúng tôi ko gửi email cho bạn, vì phần trả lời sẽ có thể giúp ích cho nhiều người khác.

      Mong bạn hoan hỉ.

      A Di Đà Phật.

  5. tuấn

    chào Thầy. con bị đau đầu hơn 5 năm nay, con đi bệnh viện khám thì không thấy gì. nhưng con cảm thấy đầu con như bị 1 sợi dây cột lại, làm cho con rất khó chịu, con nghĩ là con bị nghiệp chướng oan gia trái chủ, thầy có lời khuyện giải đáp cho con hoá giải nghiệp bệnh được không ạ..con xin chân thành cảm ơn!

    • Tịnh Thái

      Nếu có ai thường bất kính ngỗ nghịch, cãi lời cha mẹ, với thầy cô, chú bác không biết kính trọng, xem thường, thậm chí hay chỉ trích, chê bai, nặng lời oán trách, hoặc làm những việc khuất tất khiến cho cha mẹ xấu hổ, tổn thương…Những người như vậy bị tổn âm đức rất lớn, cơ thể hiện tại thì hay bị nhức đầu, cho đến đau tim, việc làm thì thường gặp nhiều trắc trở…

      Đó là Nhân Quả hiện tiền, cũng chỉ gọi là hoa báo, chưa phải quả báo đích thực. Quả báo đích thực thì phải chịu khổ ở Địa Ngục.

      Bệnh đau đầu của bạn chắc hẳn phải có nguyên nhân, những lời trên chỉ là tham khảo cho bạn mà thôi, xin chớ vì đó mà sanh phiền não, lo lắng. Cái quan trọng nhất là tự thân phản tỉnh, thấy lỗi ở đâu thì sửa sai ngay, khi tâm hiếu kính chân thành biểu lộ ra được, vậy thì bệnh sẽ tự khỏi.

      A Di Đà Phật.

  6. Thành Dũng

    *Dạ Kính Chào Sư Thầy :
    -Cho con đươc hỏi về tình duyên, con yêu ai sau một thời gian cũng chia ly,người con yêu như gặp con đòi nợ xong rồi đi,mà lí do ở đây như là định sẵn,có nhiều sự việc trùng hợp và con không có oán trách gì người con yêu vì con nghĩ là do nghiệp của con.Bây giờ con phải làm gì để có thể sống hạnh phúc được.
    -Dạ con là Nam Nhân 28 tuổi , nhà con gần Chùa và con đã Quy Y Tam Bảo

  7. trang nguyễn

    kính bạch thấy.
    cho con hỏi nếu mình yêu người đồng giới thì có phải cũng là duyên nọ không? bây giờ có rất nhiều cặp đồng tính trên thế giới sống chung với nhau vậy họ có duyên nợ gì thời kiếp trước?
    a di da phat

Gửi hồi âm đến Thành Dũng Bấm để hủy hồi âm.

Your email address will not be published. Required fields are marked *