Quy Y Có Phải Là Tìm Một Vị Thầy Nào Đó Để Nương Tựa Không?

Quy Y Có Phải Là Tìm Một Vị Thầy Nào Đó Để Nương Tựa Không?

Bình thường có một số người có những ngộ nhận sai lầm về quy y. Họ cho rằng quy y là quy y với một vị thầy nào đó, hay càng quy y với nhiều vị thầy càng tốt, đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Quy y không phải là nương tựa một vị thầy nào, cũng không phải nhiều vị thầy càng tốt, mà chính là đem cương lĩnh và nguyên tắc tu học Phật pháp mà trao truyền cho chúng ta, đó gọi là quy y. Vì vậy, quy y là quy y tự tánh Tam bảo, không phải là quy y một người nào từ bên ngoài. Thậm chí đối với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không có tương quan, bạn nói tôi quy y với Đức Phật là sai lầm lớn. Đức Phật không nói chúng ta quy y là phải quy y với Phật, mà Đức Phật dạy chúng ta quy y là quy y với tự tánh giác của mình. Giác là Phật bảo, Phật có nghĩa là giác ngộ, quy y Phật là quy y với bậc giác ngộ, nói theo ngôn ngữ hiện đại phổ thông để dễ hiểu, quy y là trở về nương tựa lý tánh, không phải hành động theo cảm tình cá nhân. Lý tánh là giác, cảm tình cá nhân là mê. Chúng ta quy y Phật, là Phật dạy chúng ta trong cuộc sống đời thường, lúc tiếp nhân đãi vật, chúng ta nên y theo lý tánh, không nên hành động theo cảm tình cá nhân, đó gọi là chân chính quy y.

Chúng ta muốn hỏi lý tánh và cảm tình, Phật và pháp sư có quan hệ gì hay không? Không có quan hệ gì, nếu nói chúng ta quy y là quy y với một người nào đó là một sai lầm lớn. Vì thế vị thầy là đại diện cho tăng đoàn, đem Tam quy truyền thọ cho chúng ta, chúng ta quy y là quy y với tăng đòan, tất cả mọi thiện hữu tri thức đều là thầy của chúng ta. Không nên cho rằng người quy y cho mình là thầy dạy đạo duy nhất của mình, có như thế tâm lượng của chúng ta mới rộng lớn, những chấp trước mới bị phá vỡ, chúng ta mới có thể đạt đến lợi ích chân chính. Nhưng khi học Phật pháp nhất định chúng ta phải học với một vị thầy, vì là người sơ học nên chúng ta nhất định phải làm như vậy. Vì một vị thầy sẽ chỉ dạy cho chúng ta một con đường, hai vị thầy sẽ chỉ dạy cho chúng ta học hai con đường, cùng một lúc mà chúng ta đi hai con đường được rất khó. Nếu chúng ta học với ba vị thầy thì đến lúc đó chúng ta chẳng biết nghe theo ai. Do đó, điều quan trọng nhất của người sơ cơ học Phật là phải theo học với một vị thầy. Chúng ta học đến lúc nào trí tuệ khai mở, có đầy đủ trí tuệ để phân biệt thật hư, chân vọng, đúng sai, tà chính, dĩ nhiên lúc đó chúng ta mới đủ năng lực rời thầy để tham học với các vị thầy khác, đồng thời có thể học rộng nghe nhiều. Nhưng nếu chúng ta chưa có đầy đủ năng lực, một khi tiếp xúc với hoàn cảnh lại phát sinh phiền não, thì tuyệt đối chúng ta không được rời thầy sớm, phải ở lại với thầy, bồi dưỡng tu học đến lúc nào tự thấy năng lực đầy đủ mới thôi, đó cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ của một vị thầy khi thâu nhận đệ tử.

Quy y là giai đoạn trước tiên mà người muốn học Phật cần phải làm. Ý nghĩa của quy y là chúng ta hướng về một vị thầy tốt mà tiếp thọ sự dạy dỗ. Do đó, chúng ta nhất định phải thân cận một vị thầy có đạo đức và học vấn, vì người đó là người đem cương yếu và nguyên tắc tu học của Phật pháp để truyền thọ cho chúng ta. Quy y có nghĩa là gì? Quy nghĩa là hồi đầu, y nghĩa là nương tựa. Do đâu mà hồi đầu? Vì quá khứ chúng ta mê hoặc, thấy biết sai lầm, thân tâm bị ô trược trầm trọng do si mê. Vì thế, chúng ta quy y chính là quay đầu lại với cái thấy biết sai lầm của mình mà nương tựa về chánh tri chánh kiến, quay đầu với tất cả tâm ô trược mà về nương tựa với tâm thanh tịnh. Vì thế, điều kiện cơ bản của người học Phật , nhất định là chúng ta phải quay đầu với si mê tà kiến mà nương tựa trở về chính, giác, tịnh. Mê nhiễm ở tại mình, chính, giác, tịnh cũng ở tại mình. Cho nên người chân chính quy y là quy y với tự tánh Tam bảo, đó là chính, giác và tịnh.

Trích Phật Giáo Là Gì?
Tác giả: Pháp sư Tịnh Không
Dịch giả: Thích Tâm An

9 Phúc đáp

  1. Ngoc Tam

    Nam Mô A Di Đà Phật , xin được Cám Ơn đã đăng Bài Pháp hay làm Mình nhớ đến Sư Phụ . Sư đã Vãng Sanh về với Phật , con xin Y giáo Phụng Hành Nam Mô A Di Đà Phật

  2. nguyên

    Xin dạy con về chữ(HOÀ)

    • Thiện Nhân

      A Di Đà Phật

      Gửi bạn Nguyên,

      Câu hỏi của bạn rất ý nghĩa, TN xin ghi lại bài giảng về Lục Hoà của HT Thích Thiện Hoa để bạn cùng các liên hữu khác cùng có cơ hội học hỏi và tiến tu.
      Nguyện chúc bạn thường tinh tấn!
      TN

      LỤC HOÀ
      HT. Thích Thiện Hoa
      (Trích Phật Học Phổ Thông)
      ________________________________________
      A. MỞ ĐỀ
      1. Tai hại của sự bất hòa
      Trong sự sống chung đụng hằng ngày, không có gì tai hại bằng sự bất hòa. Sự bất hòa làm xung đột cuộc sống chung và bắt buộc người ta phải xa nhau, nếu không muốn ở gần nhau để làm khổ cho nhau.
      Trong gia đình, anh em không hòa, thì tình cốt nhục chia ly. Vợ chồng không hòa, thì gia nghiệp chẳng thành, con cái phải bị đau khổ, vì gần cha thì phải xa mẹ; gần mẹ thì phải xa cha. Xóm làng không hòa thì hay sinh ra rầy rà, kiện cáo, chém giết lẫn nhau. Quốc gia không hòa thì sanh ra giặt giã loạn lạc, dân chúng khổ sở. Nhân loại bất hòa, thì chiến tranh tiếp diễn, nhân sinh điêu đứng, suy tàn.

      2. Sự quan trọng của nhu hòa

      Đã thấy sự bất hòa như thế nào, tất nhiên cũng phải thấy đức tánh nhu hòa là cần thiết như thế nào cho đời sống tập thể.
      Chúng ta thường nghe nói: “Dĩ hòa vi quí (lấy hòa làm quý). Bốn chữ giản dị ấy có một công dụng ích lợi vô cùng. Những ai lấy nó làm phương châm, thì bất luận việc lớn việc nhỏ đều thành tựu dễ dàng. Trái lại, những ai khinh thường nó, thì công việc chung không bao giờ có kết quả.
      Sách Nho cũng có nói: “Thời thế thuận, không bằng địa thế lợi; địa thế lợi, không bằng nhân tâm hòa” (thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa). Xem thế thì đủ biết: yếu tố hòa là quan trọng hơn hết trong mọi việc, mọi tổ chức. Gia đình hòa thì gia đình có hạnh phúc; nước nhà hòa thì nước nhà được thạnh trị; nhơn loại hòa thì thế giới an lạc.
      Hiểu biết hơn ai hết sự quan trọng của đức tánh nhu hòa trong đời sống tập thể, đức Phật đã chế ra pháp “Lục hòa” cho hàng Phật tử.
      B. CHÁNH ĐỀ
      I. ĐỊNH NGHĨA
      Lục hòa là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa ở đây là hòa với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói quấy cũng ừ, ai nói phải cũng gật. Hòa ở ở đây cũng không phải là phương tiện trong giai đoạn để rút thắng lợi về mình, rồi lại chiến. Hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi cho tất cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bòng dáng “tự và tha” không có so đo “ta và người”.

      II. LỤC HÒA LÀ NHỮNG GÌ?

      Lục hòa gồm có sáu điểm sau đây:

      1. Thân hòa cùng ở (Thân hòa đồng trú)

      Nghĩa là cùng nhau ở dưới một mái nhà, trong một phạm vi, một tổ chức, hôm sớm có nhau, cùng ăn cùng ngủ, cùng học cùng hành.
      Khi đã sống chung đụng hằng ngày như thế, thì phải hòa thuận với nhau, không dùng sức mạnh, võ lực để lấn hiếp, đánh đạp nhau. Nếu là anh em, vợ chồng, con cái trong một gia đình, thì phải trên thuận dưới hòa, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, chứ không được lộn xộn vô trật tự, hiếp đáp, sát phạt nhau.
      Nếu là những Phật tử, cùng ở với nhau học tập dưới một mái chùa, thì tuy là không phải ruột thịt, nhưng cũng là những người con chung của đức Phật, cùng một lý tưởng mục đích, thì cũng phải lấy cái hòa khí làm đầu, không được chia phe phái, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô, mạnh ai nấy được.
      Nếu là đồng bào, cùng chung sống trong một quốc gia xã hội, thì phải lấy sự đoàn kết làm đầu, không được gây cảnh nồi da xáo thịt, chia năm xẻ bảy, làm thành giặc chòm, giặc xóm; sát phạt nhau, chém giết nhau. Người nước ta có câu ca dao rất có ý nghĩa:
      “Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
      Khác giống, mà sống chung trên một giàn, còn phải hòa thuận, thương yêu nhau; huống chi là cùng một dân tộc, một giống nòi !
      Cũng thế, đã là nhân loại, cùng chung sống trên quả địa cầu nầy, thì dù là da trắng, da đen, da vàng hay da đỏ cũng là “Tứ hải giai huynh đệ” cả. Đã là giống người như nhau mà lại đem nhau ra chiến trường bắn giết nhau, tàn sát nhau, làm mồi cho súng đạn vô tri, thì thật là vô cùng phi lý.
      Tóm lại, đã cùng chung sống với nhau trong một địa vị, một giới hạn, một hoàn cảnh, thì bao giờ cũng phải hòa hảo với nhau.

      2. Lời nói hòa hiệp, không tranh cãi nhau

      Muốn thân không đánh đạp nhau, không đối chọi nhau, khi ở bên cạnh nhau, thì lời nói phải giữ gìn cho được ôn hòa nhã nhặn; trong mọi trường hợp, nhất thiết không được rầy la, cãi cọ nhau.
      Có người thân hòa mà khẩu không hòa, ăn thua nhau từng câu nói, tìm cách mỉa mai, châm thọc nhau, hạch hỏi nhau từng tiếng một, cuối cùng sanh ra đấu đả nhau.
      Trong một gia đình, cũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi anh em xa lìa nhau, vợ chồng ly tán nhau, cha con không thấy mặt nhau, trỏ thành những kẻ xa lạ, thù hằn nhau.
      Trong xã hội, cũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi quốc gia phải lâm nạn chiến tranh, nhân loại phải bị đẩy vào lò sát sanh thảm khốc.
      Bởi thế, nên thân thể hòa chưa phải là đủ, mà Phật dạy phải hòa cả miệng nữa. Nghĩa là người Phật tử phải nói lời dịu dàng, hòa nhã với nhau, nhất thiết không được cãi lẫy, gây gổ nhau. Nếu có gì thắc mắc, cần phải bàn cãi cho ra lẽ, thì tuyệt đối phải dùng lời nói ôn tồn, hòa nhã mà bàn luận.

      3. Ý hòa cùng vui (Ý hòa đồng duyệt)

      Duy thức học có nói: Ý là hệ trọng hơn hết, nó là động cơ thúc đẩy miệng và thân. Kể công thì nó đứng đầu, mà kết tội, nó cũng đứng trước (công vi thủ, tội vi khôi). Bởi thế cho nên, trong một gia đình, một đoàn thể, mỗi người cần giữ gìn ý tứ, tâm địa của mình. Nếu ý tưởng hiền hòa, vui vẻ thì thân và lời nói dễ giữ được hòa khí. Trái lại nếu ý tứ bất hòa, thường trái ngược nhau, ganh ghét nhau, thì thân và khẩu khó mà giữ cho được hòa hảo. Dù có cố gắng bao nhiêu, để thân và khẩu được hòa khí, hay vì sợ một uy quyền gì trên, mà phải ăn ở hòa thuận với nhau, thì sự hòa thuận này cũng chẳng khác gì một lớp sơn đẹp đẽ, tô lên một tấm gỗ đã mục. Một khi sự xung đột bên trong đã đến một mức độ không thể chứa đựng được nữa, tất nó sẽ nổ tung ra trong lời nói hay trong những cái đấm đá; cũng như tấm gỗ khi đã mục quá rồi thì thế nào lớp sơn bên ngoài cũng rạn nứt, đổ bể.
      Đức Phật đã thấu rõ như thế, nên Ngài dạy phải có tâm ý vui vẻ hòa hiệp trong khi chung sống với nhau.
      Muốn được tâm ý hòa hiệp, phải tu hạnh Hỷ xả. Hỷ xả nghĩa là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền, hờn giận, không chấp chặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác. Có như thế, tâm hồng mới thư thái, vui vẻ được, và ý nghĩ mới trong sáng, thanh tịnh được. Vậy Phật tử chúng ta hãy cố gắng tu hạnh hỷ xả mới được.

      4. Giới hòa cùng tu (Giới hòa đồng tu)

      Trong một tổ chức, một đoàn thể nào có trật tự, tất đều có kỷ luật quy củ hẳn hoi.
      Trong đạo Phật, mỗi Phật tử, tùy theo địa vị cấp bậc tu hành của mình, mà thọ lãnh ít hay nhiều giới luật. Người tại gia thì thọ Ngũ Giới; người xuất gia nếu là Sa Di thì thọ 10 giới; nếu là Tỳ kheo thì thọ 250 giới; nếu là Tỳ kheo ni thì thọ 348 giới…v.v…
      Khi Phật tử hội họp lại, hay khi cùng chung sống để tu học, mỗi ngày tùy theo cấp bậc của mình mà giữ giới. Đã cùng một cấp bực với nhau, thì tất phải thọ giới và giữ giới như nhau, chứ không được lộn xộn, giữ giới nầy, bỏ giới kia, giữ giới kia, bỏ giới nọ, mỗi người mỗi thứ. nếu có sự vô kỷ luật nầy thì lẽ tất nhiên tổ chức ấy sẽ tan rã. Vì thế, đức Phật dạy: khi Phật tử đã chung sống với nhau, thì triệt để phải cùng nhau tu những giới luật như nhau, giữ đúng những giới luật của cấp bực mình.
      Nói rộng ra, trong một trường học, một gia đình Phật tử, một hội chẳng hạn, bao giờ cũng lấy kỷ luật làm đầu. Trong trường, nếu học sinh không giữ kỷ luật của trường, ai muốn ra cứ ra, ai muốn vào cứ vào, ai muốn học cứ học, ai muốn chơi cứ chơi, thì trường ấy ắt phải sập. Trong gia đình Phật tử, đoàn sinh mỗi người mỗi làm theo mỗi ý riêng mình, không tuân năm điều luật của gia đình, không làm theo huấn lệnh của Huynh trưởng, thì gia đình Phật tử ấy sẽ tan rã. Trong một hội viên không tôn trọng điều lệ của hội, phân chia giai cấp, tự cho mình sang không cần giữ giới như người hèn, tự cho mình giàu, không gữ giới như người nghèo, tự cho mình có học thức không giữ giới như người vô học; nếu có tình trạng như thế tất hội ấy sẽ tan rã.
      Nói tóm lại, trong một đoàn thể, đạo hay đời, nếu không cùng nhau gìn giữ giới điều, kỷ luật, quy tắc, thì chúng ta không bao giờ sống chung với nhau được. Vậy Phật tử, muốn hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người cần phải gìn giữ giới luật như nhau.

      5. Thấy biết giải bày cho nhau hiểu (Kiến hòa đồng giải)

      Trong sự sống chung, mỗi người hiểu biết được điều gì, khám phá được điểm gì, phải giải bày, chỉ bảo cho người khác hiểu. Như thế trình dộ hiểu biết mới không chênh lệch, sự tu học mới tiến đều về tinh thần bình đẳng, mới dễ giữ vững giữa những người cùng ở một đoàn thể.
      Khi ta khám phá ra được một điều gì mới lạ, hay có một ý kiến gì hay ho, nếu ta không giải bày cho người chung quanh, thì không những ta là một kẻ ích kỷ, mà còn tạo ra một sự tắc nghẽn giữa sự thông cảm với những người khác. Lòng ích kỷ và sự tắc nghẹn ấy là mối dây của sự chia rẽ, bất hòa, xung đột. Trước một vấn đề, mỗi người sẽ nghĩ, sẽ thấy mỗi cách, và do đó, sẽ gây nghi ngờ, hoang mang trong đoàn thể, vì phần đông không biết tin vào ai.
      Nhất là trong kinh sách Phật, vừa nhiều, vừa cao siêu, vừa đủ loại, mỗi Phật tử có thể khám phá ra một khía cạnh khác nhau, tìm ra một ý nghĩa có thể đúng, mà cũng có thể sai. Trong người trường hợp ấy, mà không gấp rút giải bày quan điểm, ý kiến của mình cho mọi người trong đoàn thể hiểu biết, thì khó mà có thể sống hòa hiệp với nhau.

      6. Lợi hòa cùng chia cân nhau (Lợi hòa đồng quân)

      Về tài lợi, vật thực, đồ dùng phải phân chia cho cần nhau hay cùng nhau thọ dụng, không được chiếm làm của riêng, hay giành phần nhiều về mình.
      Trong khi sống chung, nếu có người đem cho vật thực, y phục, mền chiếu, thuốc thang v.v…thì phải đem quân phân tất cả, nghĩa là chia cho đều nhau, không vì tình riêng, kẻ ít người nhiều, kẻ tốt người xấu, nhưng phải lấy công bằng làm trọng. Giữ được như thế, thì dù ở chung nghìn người cũng vẫn hòa vui. Trái lại, nếu vì tính tư, ý riêng tham tài ham lợi thì dù chỉ có vài ba người chung sống với nhau, cũng không thể hòa được.
      Trong xã hội sở dĩ có sự xung đột dữ dội, phân chia giai cấp, cũng do vì thiếu sự “Lợi hòa đồng quân” cả. Người giàu thì giàu quá, kẻ nghèo thì nghèo xơ, kẻ dinh thự nguy nga ruộng đất cò bay thẳng cánh, có kẻ không có một chòi tranh vách đất. Do đó, không thể có hòa bình được: người vô sản xung đột với kẻ hữu sản, nước nghèo đói sanh sự với nước phú cường.
      Nếu nhân loại thâm hiểu rằng: cuộc giàu sanh phú quý trong nhân gian, như hạt sương đọng trên cành hoa, công danh vinh hiển trên đời như bọt nước nổi trên mặt biển, thì chắc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo sẽ bớt đi nhiều lắm, và nhân loại sẽ bớt xung đột nhau hơn.
      Với một tinh thần bình đẳng lợi tha, từ bi cứu khổ, với một tri huệ soi thấu rõ sữ vô thường, giả tạm của cuộc đời, Đức Phật đã dạy: “Có tài lợi, nên tùy phận chia sớt cho nhau”, hay triệt để hơn nữa: “Lợi hòa đồng quân”.
      Vậy chúng ta đã là Phật tử, phải nên cố gắng thực hành cho được lời dạy ấy.

      C. KẾT LUẬN

      Để có một ý niệm tổng quát về Lục hòa chúng ta hãy ôn lại một lần nữa, những ý chính trong 6 điều chỉ bảo của đức Phật:
      1) Hãy chung sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn áp nhau.
      2) Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong ôn hòa, lễ độ.
      3) Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau.
      4) Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn tại được.
      5) Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình cho người chung quanh. Người thông hiểu nhiều, phải có bổn phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình.
      6) Hãy chia đồng đều tài lợi thu thập được cho những người cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa mãn, vui vầy.
      Sáu điều dạy trên đây, nếu chúng ta thực hiện một cách triệt để thì trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng, anh em, đều được hòa thuận yên vui, gia nghiệp mỗi ngày một thịnh đạt; quốc gia được hùng cường thịnh trị, thế giới đều hòa bình an lạc.
      Riêng về trong giới Phật tử chúng ta, nếu áp dụng đúng đắn pháp “Lục hòa”, thì sự tu học của chúng ta mau được tiến bộ, con đường giải thoát được gần hơn, và cảnh giới Cực lạc không phải chỉ là một ước vọng.
      Vậy xin khuyên các Phật tử mỗi người sau khi học hiểu rõ Lục hòa, phải thật hành cho được và khuyên mọi người thật hành theo, để cùng hưởng hạnh phúc chung.

  3. nguyên

    Chúng con nay biết về PHẬT PHÁP,mà tâm thanh tịnh chưa hiển lộ.ngay cả đời sống do vô minh ngã mạn .quen thói tà ác dâm dật.giết chóc.đâm thọc.nay nghe những lời dạy này rất khó thực hành. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

  4. Minh

    Đọc bài viết mình có nhiều cách nhìn mới hơn về quy y. Xin được mãn phép hỏi nhiều hơn về vấn đề quy y tam bảo. Trong tâm mình vốn đã quy y tam bảo, thế nhưng lại chưa từng cử hành một nghi thức nào. Không biết nghi thức ấy là có cần thiết hay không?
    Cám ơn bạn 🙂

  5. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Minh,

    Tại sao bạn phải Quy Y Tam Bảo?

    • Minh

      Chào Trung Đạo, vì câu hỏi của bạn có thể hiểu theo nhiều ý, nên mình xin đoán 1 vài ý vậy. Nếu bạn có ý hỏi về cơ duyên hay thắc mắc vì sao (như nhiều người khác đã từng hỏi mình) thì xin trả lời đó là vì mình đã phần nào giác ngộ về Đạo Phật và lấy Đạo Phật làm người thầy dẫn dắt trên con đường tâm linh của mình. Nếu ý bạn hỏi là muốn gợi cho mình suy nghĩ về vấn đề mà bạn sẽ giải thích nhiều hơn cho mình sau khi bạn hỏi câu hỏi ấy, thì mình xin vừa đoán ý vừa trả lời là, trong tâm mình tôn thờ, yêu quý, muốn được noi theo tam bảo. Mình đã và đang học tập Phật, Pháp, yêu quý và nể phục nhiều vị tăng ni, nhưng điều đó đối với mình là tự nhiên, không vì chướng ngại câu từ như ‘phải Quy y Tam bảo để giải thoát’ hay giống như vậy. Vấn đề của mình liên quan đến nghi thức Quy y Tam bảo, vì năng lực và hiểu biết có hạn, mình không hiểu hết sự khác nhau giữa cử hành nghi thức hay không (trong trường hợp mình) thì khác nhau ra sao. Theo thông tin mình biết thì cử hành nghi thức và phát nguyện để có động lực hơn, và giúp người ta tránh làm sai lời thề. Nếu là vì lí do này thì nó còn bao quát và tuỳ người, vì vẫn có người quy y Tam bảo nhưng tâm không đạt.
      Mình xin mãn phép nói vậy thôi, nếu ý bạn lại không phải vậy hay muốn giải thích sâu hơn về một vấn đề khác, mình sẽ rất vui lòng được biết và thấy reply của bạn. Cảm ơn.

  6. Trung Đạo

    Mô Phật

    Bạn Minh thân mến,

    1. Mình đã và đang học tập Phật, Pháp, yêu quý và nể phục nhiều vị tăng ni, nhưng điều đó đối với mình là tự nhiên, không vì chướng ngại câu từ như ‘phải Quy y Tam bảo để giải thoát’ hay giống như vậy.

    Bạn Minh, bạn phải cẩn trọng với ý nghĩ trên. Kính Phật, trọng Tăng là điều đáng quý nhưng đằng sau sự kính trọng ấy là gì? mới là vấn đề tiên quyết.

    Thời Phật còn tại thế, khi Ngài Anan đi khất thực qua nhà dâm nữ và bị Ma Đăng Già quyến rũ vào nhà dâm tới suýt huỷ phạm Tăng hạnh, rồi may nhờ thần lực Phật gia hộ mà Ngài Anan mới được cứu thoát. Trở về gặp Phật, Đức Phật bảo đại đức A Nan: „Như Lai cùng với thầy đồng một tổ tông, tình như ruột thịt(19). Lúc thầy mới phát tâm, ở trong giáo pháp của Như Lai, thầy thấy có tướng tốt gì mà xả bỏ ngay được những ân ái sâu nặng của thế gian để đi xuất gia?
    Đại đức A Nan bạch Phật:
    – Con thấy ba mươi hai tướng của đức Thế Tôn cực kì tốt đẹp, hình thể trong sáng như ngọc lưu li. Con thường suy nghĩ, những tướng tốt này không phải do ái dục sinh ra, vì sao? Tính chất của dâm dục là thô trọng, dơ nhớp, là sự giao hợp tanh hôi, máu mủ xen lộn, thì không thể sinh ra thân tướng vàng kim sáng rỡ, trong sạch, tốt đẹp vi diệu như thế được; cho nên con đã khát ngưỡng mà theo Phật cạo tóc xuất gia.
    Phật dạy:
    – Lành thay A Nan! Thầy và đại chúng nên biết, tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, tiếp nối lưu chuyển trong dòng sinh tử, đều do không nhận biết được thể tính trong sạch sáng suốt của chân tâm thường trú, mà chỉ sống hoàn toàn bằng vọng tưởng; vì vọng tưởng là không chân thật, cho nên mới có luân hồi sinh tử”.

    Việc bạn phát tâm tu đạo, yêu quý nể phục Tăng Ni và cho đó là hoàn toàn tự nhiên nếu không khéo sẽ rơi vào tình trạng của ngài Anan nói trên, nghĩa là mới vì thấy cái tốt, đẹp mà theo – yêu thích cái vẻ đẹp bên ngoài (ham mê hình tướng), chứ chưa thực giác ngộ tu học theo Phật để làm gì? Vì thế nên Phật mới nói: “Thầy và đại chúng nên biết, tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, tiếp nối lưu chuyển trong dòng sinh tử, đều do không nhận biết được thể tính trong sạch sáng suốt của chân tâm thường trú, mà chỉ sống hoàn toàn bằng vọng tưởng; vì vọng tưởng là không chân thật, cho nên mới có luân hồi sinh tử”.

    2. Vấn đề của mình liên quan đến nghi thức Quy y Tam bảo, vì năng lực và hiểu biết có hạn, mình không hiểu hết sự khác nhau giữa cử hành nghi thức hay không (trong trường hợp mình) thì khác nhau ra sao.

    Quy Y Tam Bảo mới chỉ là kết duyên với Phật pháp, bước kế tiếp quan trọng hơn cả là Thọ Trì Ngũ Giới, gọi chung là Tam Quy Ngũ Giới. Vì thế nếu bạn mới chỉ phát tâm và dừng lại ở việc phát tâm Quy Y Tam Bảo không thôi hoặc xin thọ Tam Quy Y thì cũng mới chỉ là nương về hình thức, khi còn trọng về hình thức thì hành trình tu đạo sẽ khó mà tiến bộ và dễ thoái tâm. Muốn thực tiến bộ mình phải tự đưa mình vào kỷ cương, trong đạo gọi là giới luật. Người tu đạo mà xa rời giới luật mà mong giác ngộ, giải thoát là điều không thể.

    3. Theo thông tin mình biết thì cử hành nghi thức và phát nguyện để có động lực hơn, và giúp người ta tránh làm sai lời thề. Nếu là vì lí do này thì nó còn bao quát và tuỳ người, vì vẫn có người quy y Tam bảo nhưng tâm không đạt.

    Từ phát tâm tới hành trì là hai giai đoạn khác nhau và nối tiếp. Có người phát tâm mà chẳng hành trì. Hạng người này Phật gọi là „ngoài chín mà trong sống“ hay „có sấm mà không có mưa“.

    Việc ai đó thọ Tam Quy Ngũ Giới mà chẳng giữ giới đó là chuyện của họ, chẳng phải chuyện của bạn, nhưng nếu bạn nương vào đó và cho rằng: họ đã thọ Tam Quy Ngũ Giới mà cũng chẳng bằng mình – người mới tự phát tâm, thì bạn đã đang gặp khổ nạn lớn rồi đấy.

    Chớ nên xét đoán tâm người, trái lại hãy quay lại xét đoán tâm của chính mình. Tâm ấy là tâm gì? Bạn phải lý giải thật rành rõ.

    • Minh

      Thân gửi Trung Đạo,
      Mình rất vui khi đọc phản hồi của bạn, xin cảm ơn bạn đã quan tâm và chia sẻ hiểu biết của mình. Về vấn đề thứ 1, qua câu từ, nhất là online, thì khó có thể diễn giải. Nhưng bạn không cần lo lắng về vấn đề đó, vì với mình nó không phải là bề mặt của tảng băng trôi (hy vọng là ví dụ như vầy sẽ diễn giải được phần nào ý mình). Lại nói tới số 3, trên con đường tu học của mình, được người nhắc nhở quan tâm, mình cảm thấy rất vui. Nhưng vấn đề này cũng không thật, nên bạn cũng đừng lo lắng mình phạm phải. Còn số 2, mình đã hiểu ý bạn và cũng biết về điều đó, nhưng cái mà mình muốn hỏi – về cái gọi là ‘hình thức’, thì có lẽ trừu tượng hơn (do mình tu học hiểu biết có hạn, nên lo lắng về vấn đề đó), nhưng vì bạn cũng hiểu giống như mình nên giờ mình đã an tâm hơn, có lẽ nó không như mình tưởng, còn nếu có cơ hội thì mình sẽ được biết thêm, giờ mình đã không còn lo lắng nữa.
      Xin cảm ơn Trung Đạo lần nữa nhé, rất vui được trò chuyện với bạn.

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *