Người Tham Dâm Thường Chết Yếu Kẻ Biết Giữ Lễ Nghĩa Âm Đức Được Tăng

Người Tham Dâm Thường Chết Yếu Kẻ Biết Giữ Lễ Nghĩa Âm Đức Được Tăng

Đường Cao người huyện Hấp, thuộc tỉnh An Huy. Thuở còn thiếu thời, đang lúc bên đèn đọc sách đêm khuya, có người thiếu nữ đến trêu ghẹo, nhiều lần [áp mặt vào cửa sổ], liếm rách giấy dán (thời xưa không có cửa kính, người ta thường dùng giấy dán lên các cửa sổ để che chắn gió). Anh ta lấy giấy khác dán bồi chỗ ấy, nhân đó đề lên hai câu thơ:

Giấy song liếm rách dễ bồi,
Hại người thất đức vãn hồi khó thay.

Đêm nọ, có một vị tăng đi ngang qua cửa nhà Đường Cao, nhìn thấy trên cổng nhà có tấm biển lớn đề hai chữ “Trạng nguyên”, hai bên có treo hai ngọn đèn, lại thấy hai bên cổng đề hai câu thơ của Đường Cao như trên. Vị tăng thấy lạ bước vào trước sân dọ hỏi, [bỗng thấy biển, đèn đều biến mất,] mới hay những thứ ấy là [điềm báo] của thần [chứ không phải thật]. Về sau, quả nhiên Đường Cao chiếm bảng khôi nguyên, đỗ đầu trong thiên hạ.

Lời bàn:

Bên song cửa đề thơ,
Ngoài cổng đèn tự sáng.
Đạo trời cảm ứng ngay,
Như đánh trống vang tiếng.

Mao Lộc Môn (tức Mao Khôn, hiệu Lộc Môn, một nhà văn lớn vào triều Minh) quê ở Quy An, khoảng hai mươi tuổi lên đường cầu học phương xa, theo làm học trò tiên sinh Tiền Ứng Dương. Có một cô tỳ nữ lén để ý Lộc Môn, giả vờ đến phòng đọc sách của ông bắt con mèo, trong ý là muốn cùng ông dan díu. Lộc Môn nghiêm sắc mặt nói: “Tôi từ phương xa đến cầu thầy, nếu phạm vào việc không đúng lễ nghĩa, sao có thể quay về gặp mặt cha mẹ? Lại còn mặt mũi nào mà nhìn chủ nhân của cô?” Tỳ nữ ấy xấu hổ rút lui.

Về sau, Lộc Môn đỗ tiến sĩ, văn chương nổi tiếng khắp thiên hạ.

Lời bàn:

Luôn nhớ đến cha mẹ, đó là nhân. Kính trọng thầy, đó là nghĩa. Giữ tiết tháo trong sạch, đó là lễ. Không bị sắc dục mê hoặc, đó là trí. Chỉ một việc không phạm vào tà dâm mà có đủ cả bốn đức lành: nhân, nghĩa, lễ, trí.

Trong khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (thuộc triều Minh, kéo dài từ năm 1522 đến năm 1566), Lục Quỹ Trai có người con trai là Lục Trọng Tích tài hoa khác thường. Trọng Tích học với một vị thầy họ Khâu, theo thầy đến kinh thành ngụ lại.

Nhà đối diện chỗ họ ở ngụ có một cô con gái rất xinh đẹp, Trọng Tích thường nhìn trộm. Ông thầy họ Khâu biết chuyện, đã không răn cấm, lại dạy rằng: “Thành hoàng chốn kinh đô rất linh thiêng, sao con không đến cầu thần [cho được như ý nguyện]?

Trọng Tích nghe lời thầy, đến miếu Thành hoàng cúng tế cầu đảo. Đêm hôm đó, Trọng Tích đang ngủ bỗng khóc lớn vùng dậy. Mọi người kinh hãi hỏi nguyên nhân, Trọng Tích nói: “Thành hoàng kinh đô đang truy bắt hai thầy trò tôi.” Mọi người lại theo gạn hỏi, Trọng Tích khóc lóc kể lại: “Thành hoàng tra xét lại phúc lộc tước vị của hai thầy trò tôi, thấy tên tôi có ghi sẽ đậu trạng nguyên năm Giáp Tuất, còn thầy tôi thì không có phúc lộc gì. Thành hoàng đã trình tấu lên Thượng đế tước bỏ lộc của tôi, còn thầy tôi ắt sẽ tắc ruột mà chết, để cho mọi người đều thấy rõ sự trừng phạt mà tự răn mình.” Nói rồi lại than khóc bi thương, không sao ngừng được.

Ngay khi ấy, đứa nhỏ giúp việc trong quán trọ đến gõ cửa, báo tin thầy Khâu đã chết vì chứng bệnh tắc ruột. Về sau, Lục Trọng Tích quả nhiên nghèo cùng khốn khó cho đến hết đời.

Lời bàn:

Chọn thầy để mời dạy học cho con phải hết sức thận trọng. Tấm gương của thầy trò họ Khâu, họ Lục cũng chẳng xa xôi gì, có thể soi vào đó để thấy rõ mà tránh.

Đang khi tuổi trẻ, có ai không muốn được giàu sang phú quý, nhưng kẻ tham dâm lại thường nghèo cùng trắng tay. Đang khi tuổi trẻ, có ai không muốn đỗ đạt, công danh rộng mở, nhưng kẻ tham dâm lại thường đi vào bế tắc trắc trở. Đang khi tuổi trẻ, có ai không muốn ngày sau được sống thọ dài lâu, nhưng kẻ tham dâm lại thường chết yểu. Đang khi tuổi trẻ, có ai không muốn sinh con yêu quý, nhưng kẻ tham dâm lại thường không con nối dõi. Một ngày hưởng thói phong lưu ong bướm mà phải khốn khổ suốt đời. Người có chí khí không thể đem tấm thân hiếu dưỡng cha mẹ, bảo bọc vợ con mà mê đắm vào chuyện ong lơi bướm lả trong nhất thời. Các bạn trẻ phải biết sợ sệt, hết sức thận trọng đối với việc này.

Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Bỏ Sự Tham Dục
Nguyên tác Hán văn: Dục Hải Hồi Cuồng
Tác Giả: Chu An Sĩ
Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến

CHIA SẺ BÀI PHÁP:

9 Phúc đáp

  1. Liên Du

    A Di Đà Phật

    HT Tịnh Không.

    Nên trong thuận cảnh thiện duyên không sanh tham luyến, nghịch cảnh ác duyên không sân nhuế. Trong tất cả cảnh giới đều có thể giữ thanh tịnh bình đẳng giác của chính minh. Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày duy trì thường tuỳ Phật học của mình. Câu này rất quan trọng, đây là nguyện thứ năm của Bồ Tát Phổ Hiền. Thường tuỳ Phật học chính là không rời kinh điển. Mỗi ngày rảnh rỗi đều thích đọc sách, thích nghe kinh, nuôi dưỡng thói quen này. Thói quen này cũng như mỗi ngày ăn cơm uống nước vậy. Mỗi ngày không thể chẳng ăn cơm, không thể chẳng uống nước. Mỗi ngày không thể chẳng đọc kinh Phật, không thể chẳng đọc sách thánh hiền. Như vậy mới thật sự có thể giữ được, không bị ảnh hưởng môi trường bên ngoài. Điều này không làm được thì chắc chắn bị môi trường ảnh hưởng. Chúng ta không khai ngộ, khi chưa khai ngộ nhất định phải hiểu một môn thâm nhập, chỉ học một thứ.
    Quý vị nên xem người xưa. Trong Ảnh Trần Hồi Ức Lục của Đàm Hư Pháp Sư có ghi một câu chuyện có thật. Đàm Hư Pháp sư xuất gia khi tuổi trung niên. Khi chưa xuất gia, theo ba người bạn cùng nhau mở một tiệm thuốc bắc. Trong đó có người cư sĩ họ Lưu, về sau cũng xuất gia. Ông Lưu học Phật là thâm nhập một môn và huân tu lâu ngày. Ông ta đọc kinh Lăng Nghiệm, chỉ một bộ kinh này. Đọc được bao nhiêu năm? Đọc được tám năm, tám năm ròng rã đọc Lăng Nghiêm. Thâm nhập một môn, ông là cư sĩ tại gia.
    Một hôm buổi trưa ít khách, nên đã ngủ gục trên quầy. Giờ nghĩ trưa ông ta ngủ gục trên quầy và nằm mộng. Giấc mộng này hình như là thật. Trong mộng nhìn thấy hai người đi vào tiệm. Hai người này quen, là bạn. Ngày trước vì vấn đề tiền bạc mà kiện cáo ra pháp đình. Hai người này thua kiện nên thắt cổ tự vẫn. Nên khi thấy hai người này đến trong lòng rất sợ hải, có phải là đến trả thù không? Rốt cuộc thấy hai người này đến, thái độ rất hoà nhã không có gì hung ác cả. Đi đến trước mặt ông ta liền quỳ xuống. Ông Lưu hỏi, các ông đến làm gì? Họ nói, tôi cầu siêu độ. Lúc này tâm ông đã định lại, họ đến để cầu siêu độ. Ông ta cũng rất hối hận, vì dính dáng đến tiền bạc mà khiến hai người họ tự tử, cũng rất đau khổ nên hỏi họ. Các ông muốn tôi siêu độ như thế nào? Họ nói, chỉ cần ông đồng ý là được. Ông ta nói được, tôi đồng ý với quý vị. Hai linh hồn này, bước lên đầu gối ông ta, rồi bước lên trên vai và bay lên trời.
    Sau khi hai linh hồn này lên trời, lại có hai người nữa đến. Một phụ nữ dẫn theo một đứa trẻ, nhìn lại thì ra vợ trước của ông dẫn theo đứa con. Họ cũng đã chết. Gặp lại ông liền hỏi, hai người đến làm gì? Cũng là đến cầu siêu độ. Phương pháp giống nhau, chỉ cần ông đồng ý. Được, ông nhận lời. Nhìn thấy hai người này cũng bước lên trên đầu gối rồi bước lên vai và bay lên trời. Ông ta dựa vào năng lực gì để siêu độ người khác? Tám năm ròng đọc Lăng Nghiêm. Thâm nhập một môn huân tu lâu dài, quỷ thần biết ông có bản lĩnh này nên tìm đến cầu xin ông siêu độ. Nếu không thì họ đến tìm làm gì. Vì sao? Bởi tìm cũng vô ích thôi. Điều này chúng ta có thể chứng nghiệm được, tu hành thuần thục một môn công đức lớn biết bao.

    A Di Đà Phật
    HT Tịnh Không

    • Thương

      Amidaphat! Hay quá, cám ơn Liên Du đã chia sẻ!

  2. nguyên

    khi nhìn những người xuất gia,những người niệm PHẬT tướng mạo dung nhan thật đẹp. Biết họ giữ giới nhưng soi lại mình thì làm không nổi. Chỉ biết trách mình thôi

  3. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Nguyên,

    Phải khéo dụng lời dạy của HT Tịnh Không: Có lỗi thì nên công khai. Dám nói lỗi mình trước đại chúng là khó và tốt, nhưng bạn phải cảnh giác với ý niệm thường xuyên chỉ trích mình, bởi nó sẽ phản tác dụng nếu như những lỗi đó không được sửa đổi kịp thời, và như thế không phải thực tâm sám hối.

    Sám hối trọng nơi tâm, không trọng nơi miệng. Ai cũng có lỗi, có lỗi thì sửa, sửa rồi thì thôi, quyết không nhắc lại lỗi cũ nữa, bằng không bạn sẽ kẹt trong thiện-ác.

    Để tránh phạm lỗi, tâm phải thường niệm Phật. Niệm Phật trọng nơi tâm, chẳng trọng nơi miệng, đó gọi là miệng niệm, tâm hành. Đối cảnh mà chẳng sanh tâm đó là tâm thường niệm và lão thật niệm Phật.

  4. nguyên

    không biết chú TRUNG ĐẠO năm nay bao nhiêu mùa xuân rồi?
    có khi nào chú …..thở dài không?

    • Trung Đạo

      A Di Đà Phật

      Cảm ơn bạn Nguyên đã hỏi thăm. TĐ đã bước qua tuổi “U5” được mấy mùa xuân rồi.

      Thở dài khởi đầu chỉ là thói quen: không hài lòng, thất vọng, khó chịu hay bất mãn về bất cứ chuyện gì mà không tiện, không thể tỏ lộ, không muốn tỏ lộ thái độ nên thốt tiếng thở dài. Huân tập lâu ngày, thành tâm bệnh, nếu dồn nén cao độ hoặc sẽ trở thành sân nộ, hoặc sẽ hoặc dẫn tới trầm cảm hay suy nhược thần kinh (depression).

      Vì thế khi có điều gì quá bức bách TĐ thường ngồi tịnh lặng, hít ba hơi thật dài, quán tưởng đang hút những từ khí từ hư không pháp giới vào thân thể, để luồng khí đó trụ từ 3-5 giây nơi phần bụng dưới, giúp chúng lan toả khắp thân thể, kế đó lại khoan thai thở hết luồng khí này ra ngoài và quán tưởng mọi phiền não, uế trược, sân nộ trong tâm đều đã chút hết ra ngoài. Kế đó thì nhiếp tâm niệm Phật.

      Cách ngược lại: hít 3 hơi như trên, trụ khí nơi bụng dưới từ 3-5 giây, quán tưởng những luồng khí này là những khổ đau, phiền não của những thân quyến, chúng sanh xung quanh mình, khởi tâm từ bi, hoà nhập vào luồng khí trong thân, rồi từ từ thở ra, quán tưởng mình đang chuyển luồng từ khí này đến những thân quyến và những chúng sanh đang sống trong khổ nạn. Kế đó là nhiếp tâm niệm Phật.

      Cuộc sống của chúng ta thật nhiều khổ nạn lắm, mỗi ngày ráng trải tâm từ và ráng nhiếp tâm niệm Phật nhiều một chút, huân tập lâu ngày tâm sẽ tịnh lắng, khổ nạn sẽ vợi đi thôi.

      Ráng lên nhé.

  5. nguyên

    một ngày cháu có vô vàn suy nghĩ ,vọng tưởng.
    khi ngủ cũng mơ thấy đủ thứ nhưng không mơ thấy điều lành nào .
    mở mắt dậy tuy là nói mở mắt nhưng suy nghĩ chạy để mất cả thời gian.
    Chú một ngày nếu thấy vọng tưởng nhiều thì cháu cũng sợ.
    cháu một ngày vọng tưởng nhiều thì lại càng sợ.
    cháu cũng chết. Nếu chú nhìn thấy người sống đối xử với người chết chắc sẽ không cam tâm.
    ……….
    Nếu chẳng NGUYỆN vãng sanh được thì cứ ngồi ngẫm nghĩ mình CHẾT đoạ vào TAM ĐỒ ngày ngày bị chày cối giã,bị cắt xẻo lột da,bằm chặt,
    tuy chẳng thật nhìn thấy địa ngục,ngạ quỷ nhưng loài súc sanh thì ngày ngày vẫn thấy rõ,ngày ngày vẫn tìm bắt chúng trên trời hay dưới nước rồi đem cắt tiết,lột da,đem thui ,đem quay,đem luộc. Liệu có ai chọn TAM ĐẠO.? thế nhưng vẫn cứ vào điều này quá nguy hiểm.
    Cháu lắm lúc phải giả điên cho xong chuyện.

  6. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Nguyên,

    1/ Không có vọng tưởng điên đảo không phải là phàm phu. Cái nhân của chúng ta là điên đảo, tất cái quả cũng sẽ tương ưng. Khác một điều trong sự điên đảo đó bạn đã phát tâm tu đạo, bạn đã từng phần giác ngộ, giác ngộ rồi thì phải biết tránh và thoát ra khỏi vòng điên đảo đó, vậy mới thực ngộ đạo.

    2/ Thấy người điên đảo mình chẳng điên đảo theo, tâm mình đang an trụ, nhưng nếu thấy điên đảo, mình nhào vào chốn đó, mình và họ đồng điên đảo. Phật dạy: Chúng sanh mạt thế cang cường trong vô minh. Bạn phải nhận ra được: thân quyến đều là cộng nghiệp. Nghiệp có lành, có dữ; có nặng, có nhẹ. Người lành bạn dễ giúp họ khai đạo; người nghiệp nhẹ, bạn dễ giúp họ chuyển nghiệp. Lý do? vì họ ít vô minh hơn; ngược lại bạn khó có cách nào để chuyển hoá họ. Nhưng bạn chớ nên quá lao tâm với họ, nhiều khi Phật pháp không giúp họ tỉnh ngộ, nhưng nhân quả sẽ giúp họ, thậm chí nhân quả cũng không giúp họ tỉnh ngộ, thì tam ác đạo sẽ giúp họ tỉnh ngộ. Phật cũng nói: Phật chẳng thể độ người vô duyên. Người vô duyên là gì? Là họ tự đoạn hết căn lành của bản thân. Người như vậy bạn có thể độ được sao?

    3/Nghiệp lực của chúng sanh là không thể nghĩ bàn. Người đời nói: Nghĩa tử là nghĩa tận. Lời này chỉ có ý nghĩa khi con người cùng chung sống hoà đồng và biết cách ứng xử trước sau. Nhưng khi nói tới nghiệp thì nó gắn với vô minh, mà vô minh thì không còn phân định sai đúng. Do vậy họ dùng nghiệp để đối đãi với nhau, cho dù người ấy còn sống hay đã chết. Nhìn họ, bạn phải cảnh tỉnh mình để hoá giải nghiệp lực bản thân, đó là bạn biết chuyển nghiệp.

    4. Bạn phải buông xả, xả thật nhiều hơn nữa. Bởi bạn đang rơi vào tình trạng chấp pháp, chấp người, chấp vật, chấp cả bản thân. Khi tính chấp trước ngày càng huân tụ, bạn sẽ kẹt trong mọi chuyện và không thể tiến xa hơn trên đường tu đạo. TĐ có vài lời khuyên bạn:
    – Người tu đạo nhất quyết không nhìn vào người khác để tu, bởi nhìn vào họ, mình sẽ đánh mất bản thân. Tại sao? Bởi sự mê ngộ bất đồng, nếu bạn vô minh lại nương vào cái mê của họ, đồng nghĩa họ và bạn là một.
    – Sai thì sửa, sửa rồi thì xả bỏ, quyết không nhắc lại nữa.
    – Cả thế giới không tu đạo, sống trong ngũ dục, lục trần là chuyện của họ, chẳng phải chuyện của bạn, chuyện của bạn là phát tín-nguyện-hạnh thật tha thiết, thật dõng mãnh để niệm Phật mà vãng sanh. Muốn độ thân quyến mình phải tự độ mình. Vãng sanh Tịnh Độ chính là tự độ mình, rồi sẽ có cơ hội để độ tha.
    – Phải lập công khoá để niệm Phật; đau cũng niệm, khoẻ cũng niệm; vui, buồn, thất vọng… cũng đều không rời công khoá. Đó là sự kiên định trong tu đạo. Được thế khi đối cảnh, tâm bạn sẽ luôn thường niệm Phật. Được thế vọng cảnh thế gian sẽ không thể lôi kéo bạn.
    – Thân quyến vô minh vì bên cạnh họ chưa có ai thoát vô minh. Bạn phải làm biểu pháp tốt giúp họ thấy vô minh là khổ, ngộ đạo là vui, là giải thoát.

    Chúc tinh tấn.

  7. nguyên

    cháu có phương pháp giữ gìn sức khoẻ là thế này.
    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
    vậy tuy chú và cháu tuy ở xa mà thành gần.
    khoẻ thì A DI ĐÀ PHẬT.
    Bệnh lại càng thích …vứt cái áo xấu bẩn này đổi lấy cái áo đẹp.
    ngày hôm nay gần đến cái chết….
    nhưng ngày mai rồi qua đêm mai lại càng gần hơn nữa.
    chú ngoài 50 ,cháu cũng trẻ nhưng cũng có nhiều điều nhưng vẫn có 1 điều giống nhau.
    Đó là …(TỬ)

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *