Công Phu Niệm Phật Được 8 Phần 10 Nhất Định Được Vãng Sanh

Công Phu Niệm Phật Được 8 Phần 10 Nhất Định Được Vãng Sanh

Phát tâm bồ đề là nguyện, có nguyện có hành, dùng hành để thực tiễn lời nguyện, thực tiễn nguyện vọng của chúng ta. Đây là nhất hướng chuyên niệm, nên nhất định phải học. Trong một ngày ngủ không tính, một ngày từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, niệm Phật nhiều hơn tạp niệm, điều này quan trọng hơn bất cứ điều gì. Nếu trường hợp của chúng ta có thể niệm Phật được 8 phần 10, tạp niệm chỉ hai phần, như vậy nhất định được vãng sanh. Không những chắc chắn được vãng sanh, mà muốn khi nào đi thì lúc đó có thể đi, muốn sống thêm vài năm cũng không sao, công phu niệm Phật của quý vị đã thành tựu. Nếu tạp niệm và niệm Phật bằng nhau, 50% so với 50%, nửa này nửa kia, chưa chắc được vãng sanh, còn phải dựa vào nhân duyên khi lâm chung. Nếu công phu của chúng ta là 6 so với 4, mỗi ngày tôi niệm Phật là 60%, tạp niệm 40%, có thể vãng sanh. Cao hơn nữa, niệm Phật 80%, vọng niệm 20%, sẽ tự tại vãng sanh. Nên làm điều này, vì nó là thật, những việc thế gian khác đều là giả. Có thể xả thì nên xả, đáng xả thì phải xả, không còn làm những việc hồ đồ nữa, nhất tâm nhất ý chỉ cầu vãng sanh. Ngoài vãng sanh ra, không có ý niệm nào nữa cả, đây chính là thân nhân thành tựu bồ đề. Thân nhân chính là chủng tử, chủng tử thành tựu quả bồ đề, gọi là thiện căn.

Lại trong Kinh Đại Bi nói: Nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật, là lấy thiện căn đi vào thế giới niết bàn, không thể cùng tận. Đây là nói đến người niệm Phật, thiện căn của Tịnh độ tông là gì? Chính là niệm Phật. Các bậc cổ đức có một ví dụ, công phu niệm Phật phải đến trình độ nào? Trong ví dụ nói: “Sanh xứ chuyển thành thục, thục xứ chuyển thành sanh, như vậy là thành tựu”.

Hiện nay thục của chúng ta là gì? Là tạp niệm, từ sáng đến tối tạp niệm khởi lên không hề hay biết, vì đã thuần thục. Phật hiệu, Phật hiệu mới mẻ thường hay quên mất, không nhớ được. Phật hiệu mới mẻ, vọng niệm thuần thục. Bây giờ thay đổi nó một chút, làm sao để niệm Phật được thuần thục, và tập khí của mình thành mới mẻ. Thay đổi được như vậy, công phu liền thành tựu, cách nói này rất hay. Thuần thục chuyển thành mới mẻ, mới mẻ chuyển thành thuần thục, đem nó thay đổi thành như vậy.

Thay đổi này đầu tiên phải buông bỏ dục vọng, không có tham muốn đối với thế gian này, mới có thể chuyển được. Nếu có tham vọng đối với thế gian này, có tham luyến dục vọng như vậy thì vô cùng khó khăn. Còn phải trả thù oán hận, ghi hận trong lòng, điều này rất khó chuyển. Phải vứt bỏ hết tất cả những ân oán thế gian này, buông bỏ tất cả. Dùng một tâm cảm ân đối với những thân oán này, dùng tâm cảm ân thanh tịnh bình đẳng để đối đãi.

Ở thế giới Ta Bà chúng ta đã vướng víu không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, bây giờ tôi giác ngộ không làm nữa. Cám ơn mọi người, tôi đi đây. Phải có thái độ này, phải có tâm tình này, thật sự buông bỏ. Niệm Phật bằng tâm tình đó, có thể chuyển Phật từ mới mẻ thành thuần thục. Vì vậy phải luôn nghĩ cách, nghe kinh giáo, rất hay, vì sao? Giúp chúng ta giác ngộ. Nghe kinh chính là tu hành, nghe kinh cũng chính là niệm Phật.

Bồ Tát Đại Thế Chí dạy rằng: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định thấy Phật”. Nhớ Phật niệm Phật là nhân, nhất định thấy Phật là quả. Nhớ Phật, đọc kinh là nhớ Phật, chúng ta thường nghĩ đến sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, thường nghĩ đến ân đức của Phật A Di Đà, đây là nhớ Phật.

Niệm Phật chính là xưng câu Phật hiệu này: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, cứ niệm như vậy đừng để gián đoạn, vì sao? Gián đoạn tạp niệm sẽ khởi lên. Dùng phương pháp này để buông xả tạp niệm, vì tạp niệm quá thuần thục, không niệm Phật nó sẽ lập tức khởi lên. Nên dùng phương pháp niệm Phật niệm sạch tạp niệm. Không niệm nó lại đến, như vậy cần phải niệm thường xuyên, niệm đến thuần thục, thuần thục là sao? Không có tạp niệm gọi là thuần thục, không có tạp niệm chỉ có niệm Phật.

Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt

CHIA SẺ BÀI VIẾT:

72 Phúc đáp

  1. Thanh Dung

    Phương thuốc thần hiệu trị dứt các bệnh hình dung xấu xí:

    – Chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, ông bà… điều quan trọng là phải giữ vẻ mặt vui vẻ kính thuận.
    – Luôn giữ dáng vẻ cung kính nhu hòa khi phụng sự các bậc tôn trưởng, thầy tổ.
    – Vẽ tranh, đắp tượng chư Phật, Bồ Tát…
    – Tu sửa tranh, tượng chư Phật, Bồ Tát…
    – Cúng dường các loại đèn, dầu, hương trầm…
    – Khuyên người khác từ bỏ việc thưa kiện, tranh tụng…
    – Đối xử với người luôn giữ lòng khiêm tốn, cung kính giữ lễ.
    – Không khởi tâm sân hận nóng nảy, hung bạo xúc phạm người khác.
    – Không khinh bỉ, chế nhạo những người khuyết tật, giác quan không trọn đủ (như người mù, điếc, câm…)

    Phương thuốc thần hiệu trị dứt các bệnh ngu si, tà kiến:

    – Tôn kính, hết lòng tin sâu Tam bảo.
    – Tôn trọng, quý tiếc các loại giấy có chữ viết.
    – Tôn sùng, kính trọng thầy dạy.
    – Thọ trì, tụng đọc Kinh điển Đại thừa.
    – Thân cận, gần gũi các bậc cao tăng đức hạnh.
    – Giảng giải, chứng minh, làm rõ với người khác về thuyết nhân quả ba đời, khiến cho tự mình cũng như mọi người đều tin sâu nhân quả.
    – Loại trừ, thiêu hủy các loại sách hủy báng, bài xích Phật pháp.
    – Dạy bảo, khuyên răn người khác phải có tâm nhẫn nại, không hề chán nản, mỏi mệt.
    – Không khinh thường những người ít học, kém trí.

    Mỗi một phương thuốc vừa kể trên đây đều bao gồm đủ ba phần: (1) tự thân mình nỗ lực làm, (2) khuyên bảo, chỉ dạy, khuyến khích người khác làm, (3) khi thấy người khác làm được thì sinh tâm hoan hỷ vui mừng, ngợi khen, tán thán.

    Trích AN SĨ TOÀN THƯ, Phần I- Khuyên Người Tin Sâu Nhân Quả
    Soạn giả Chu An Sĩ, dịch giả Nguyễn Minh Tiến

  2. Tuấn Linh

    Đáp lời hỏi của Huyễn Tu Học Nhân – Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên:

    Hỏi: Chuyên tu trì danh, nguyện được Niệm Phật tam-muội, cầu sanh Tịnh Độ thì dụng công ra sao?
    Đáp: Dùng tín nguyện sâu để niệm Phật. Niệm Phật tam-muội cũng chẳng dễ gì đạt được, nhưng phải thường nên phát cái tâm ấy. Đấy gọi là “noi theo pháp bậc thượng, chỉ đạt được bậc trung”.

    Hỏi: Có kẻ nói niệm ra tiếng, trì danh theo lối Truy Đảnh, có người bảo niệm Kim Cang trì, có người nói niệm thầm, có người bảo nhớ số, có người nói “tùy tức” v.v… Muốn đắc nhất tâm bất loạn thì có nên chuyên trì một pháp hay không?
    Đáp: Truy Đảnh dễ bị bệnh. Niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim Cang hay thầm niệm, đều tùy theo tinh thần của chính mình mà điều chỉnh để dùng. Há nên chấp chết cứng một pháp đến nỗi bị bệnh ư? Tùy Tức chẳng bằng Tịnh Thính (lặng lẽ lắng nghe), bởi lẽ Tùy Tức không khéo thì cũng bị bệnh, còn Tịnh Thính thì chẳng bị bệnh!

    Hỏi: Có lúc Kim Cang trì, có lúc niệm thầm, có lúc nhớ số, có lúc niệm theo lối Tùy Tức v.v… chẳng biết [niệm như vậy] có gây trở ngại cho nhất tâm hay không?
    Đáp: Nhất tâm là do niệm, chứ không phải do âm thanh niệm Phật, sao lại bảo là trở ngại? Nhớ số cũng chỉ là nhớ khi động, chứ khi ngồi tịnh tọa chỉ nên niệm thầm, đừng nên lần chuỗi. Nếu lần chuỗi ắt bị tổn thương.

    Hỏi: Hiện thời trong khi tịnh tọa, học nhân niệm ra tiếng bốn chữ hồng danh, nhiếp tâm niệm thiết tha, áp dụng phương pháp “tâm – miệng [niệm Phật] phân minh, rõ ràng để chấp trì, dùng tai lắng nghe”, hơi cảm thấy khinh an (nhẹ nhàng, dễ chịu). Con muốn tu sao cho đạt đến nhất tâm bất loạn thì có thể chuyên hành pháp ấy hòng đạt được hay không?
    Đáp: Pháp ấy rất hay! Lúc tịnh tọa nên niệm thầm, niệm ra tiếng cũng được. Nhất tâm bất loạn là do tâm chuyên chú và khẩn thiết vậy!

    Hỏi: Trong bộ Văn Sao cao quý của thầy, pháp Tùy Tức được cực lực đề xướng, nhưng chưa nói rõ cách niệm như thế nào? [Niệm Phật Tam Muội] Bảo Vương Luận ghi: “Có thể nương cậy lớn lao vào pháp này”, nhưng cũng chỉ nói: “Xưng danh hiệu Phật theo hơi thở”, con vẫn chưa hiểu rõ cách niệm như thế nào? Chỉ có sách Sức Chung Tân Lương ghi: “Tùy Tức Niệm Phật dùng khi thở ra chứ không dùng khi hít vào. Cứ mỗi một hơi thở ra là một câu, hoặc hai chữ đều được” Học nhân nghi rằng: Khi hít vào chẳng niệm, há chẳng phải là gián đoạn ư? Con thường thử luyện mỗi hơi thở ra là một câu, cảm thấy rất phí sức, mà niệm cũng chẳng rõ ràng cho lắm! Chỉ có khi hít vào niệm A Di, thở ra niệm Đà Phật thì đã không gián đoạn, mà còn được rõ ràng, lại chẳng tốn sức. Chẳng biết cách niệm như vậy có được hay chăng? Hay là lúc hít vào thì chẳng được niệm?
    Đáp: Khi hít vào chẳng niệm, trong khi ấy sao lại nói là gián đoạn? Thở ra niệm một câu, hít vô bèn chẳng niệm; chứ khi hít vô lẫn thở ra đều niệm ắt sẽ bị tổn khí. Nếu chỉ niệm hai chữ thì trong một hơi hít vô thở ra niệm một câu Phật hiệu sẽ chẳng trở ngại chi!

    Hỏi: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”, hành trì như thế nào?
    Đáp: Tông chỉ của Niệm Phật là sanh lòng tin chân thật (tức Tín), phát nguyện thiết tha (tức Nguyện), chuyên trì Phật hiệu (tức Hạnh). Ba pháp Tín – Nguyện – Hạnh là tông chỉ của Niệm Phật. Phương pháp dụng công Niệm Phật hay nhất là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. “Nhiếp trọn sáu căn” là cái tâm niệm Phật chuyên chú nơi danh hiệu Phật, tức là nhiếp Ý Căn. Miệng phải niệm sao cho rõ ràng rành rẽ, tức là nhiếp Thiệt Căn. Tai nghe cho rõ ràng rành rẽ tức là nhiếp Nhĩ Căn. Ba căn ấy được nhiếp trong Phật hiệu thì mắt quyết chẳng thể nhìn ngó loạn xạ. Khi niệm Phật nên buông rèm mắt xuống, tức là hạ thấp mí mắt xuống, chớ nên mở banh mắt. Mắt đã nhiếp rồi thì mũi cũng chẳng thể ngửi loạn được, tức là mũi cũng được nhiếp! Thân phải cung kính tức là thân cũng bị nhiếp. Sáu căn đã nhiếp, chẳng tán loạn thì tâm không vọng niệm, chỉ nghĩ đến Phật; đấy mới là tịnh niệm.
    Hễ sáu căn không nhiếp thì tuy niệm Phật trong tâm vẫn có vọng tưởng tơi bời, khó đạt được lợi ích thật sự. Nếu có thể nhiếp trọn sáu căn để niệm thì gọi là “tịnh niệm tiếp nối”. Tịnh niệm đã có thể thường tiếp nối thì nhất tâm bất loạn và Niệm Phật tam-muội sẽ đều có thể dần dần đạt được. Xin chú ý chỉ mong đạt được “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” thì nghiệp sẽ tiêu, trí sẽ rạng, tâm địa sẽ khai thông, lo gì chẳng hiểu rõ nghĩa kinh nữa! Xin hãy gắng sức!

  3. Diệu Kim

    Cho con hòi : Con theo ban hộ niệm được mấy năm lúc trước toàn hộ niệm cho người sống nhưng khi Trưởng ban cháu gặp Tỷ kia sau khi nghe kinh địa tạng phẩm thứ 7 Lợi ích kẻ còn người mất “Đến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung …. cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh một hiệu thấu vào lỗ tai của người sắp mạng chung, hoặc là nơi bổn thức nghe biết. Cứ theo nghiệp ác của người đó đã gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ thân quyến vì người đó mà tu nhơn duyên Thánh đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch.” đã phát tâm niệm phật giúp người đã chết thoát khỏi ba ác đạo. Giờ BHN cháu toàn đi niệm phật trợ duyên cho những ca đã chết rối người nhà mới kêu và đã nhận rất nhiều ca . Nhiều BHN khác thấy đạo tràng cháu NP cho người chết dậy là làm không đúng lý đúng pháp. Nhiều người trong đạo tràng cũng phản đối việc đi NP cho người chết nhưng Trưởng Ban bảo chúng ta hãy làm theo hạnh của Ngài Địa Tạng cứu chúng sanh thoát 3 ác đạo và đến gieo duyên cho người nhà biết Phật pháp. Lúc tới NP cũng khai thị cho HL Niệm Phật cầu sanh TPCL , buông xả vạn duyên……Cháu thấy có vài ca niệm khoảng 5,6 tiếng thì trong miệng hương linh chảy nước bọt hoặc chảy máu lúc đó trưởng ban kêu người nhà tới sám hối trước hương linh. Thời gian niệm Phật khoảng 12 tới 15 tiếng, nếu còn điểm ấm ở bụng , ngực thì niệm tiếp khi nào thăm thân thấy lạnh hết thì giao. Sau khi xong có nói người nhà rằng hương linh đã về cõi lành, dặn dò người nhà cố gắng nên ăn chay, niệm phật, phóng sanh giúp tăng phẩm vị cho hương linh trong 49 ngày. Cháu mong các cư sĩ giải đáp dùm cho cháu có nên tiếp tục đi theo cách làm này nữa hay không, liệu có thật sự giúp HL thoát khỏi 3 ác đạo nếu như HL lúc cò sống ko biết Phật pháp. Cháu xin cảm ơn ! A Di Đà Phật !

    • Cư sĩ Phước Huệ

      Chào bạn Diệu Kim,
      Trong kinh Địa Tạng đã ghi rõ đối tượng đó là “người sắp mạng chung”, có nghĩa là người đang còn sống mà hấp hối sắp chết, chứ không phải là người đã chết rồi. Ý kinh đã rõ như vậy, nên e rằng vị Trưởng ban có nhầm lẫn gì chăng? Còn khi người đã chết rồi, thì người thân làm các việc thiện lành hồi hướng thì người chết chỉ hưởng được một phần trong bảy phần công đức đó. Cho nên, hộ niệm là cho người còn sống đang hấp hối. Bạn xem kỹ lại phẩm thứ 7 sẽ rõ. Còn với người đã chết, vì người đó tụng niệm danh hiệu thì cũng có lợi ích như kinh đã nêu nhưng sẽ chẳng bao giờ bằng được với việc hộ niệm lúc đang hấp hối.

      PH nghĩ mục tiêu của hộ niệm là trợ giúp người sắp chết sanh về Cực Lạc, hoặc cõi lành, thì nên đặt lợi ích của người ấy lên ưu tiên. Nghĩa là, theo ý kinh, khi sắp chết mà được hộ niệm thì được nhiều lợi ích như thế thì nên hộ niệm những người đang còn sống, còn trường hợp bất đắc dĩ, đến nơi mà người đó đã chết thì mình vẫn niệm Phật để tạo công đức chia sẻ với họ, chứ không phải biến việc hộ niệm cho người đã chết thành mục tiêu vì rõ ràng trong phẩm kinh thứ 7, chủ yếu là khuyên hộ niệm cho người đang sống.

      Sau khi chết, được hồi hướng công đức, có thoát khỏi 3 ác đạo hay không thật rất khó nói, chúng ta chỉ y theo kinh thì biết là có ích cho người mất, nhưng có ra khỏi ba đường ác hay không còn tuỳ thuộc vào duyên nghiệp nặng, nhẹ,lành, dữ của riêng từng người.
      Chúc bạn tinh tấn.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Vũ Hoa Sen

      HN cho người đã chết cũng có thể được vãng sanh, do người khai thị đúng lý, đúng phapif các PH Trung Phong Tam Thời Hệ niệm cũng là đại lễ cầu siêu, và nhiều hương linh chết đã nhiều năm cũng nhờ vào các PH TPTTHN mà được siêu thoát đó thôi.

  4. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Xin chào Mọi Người!
    Bài mở đầu và bài Pháp -đoạn chia sẻ của Liên hữu Tuần Linh rất hữu ích, thật hay.HVCL đã phải xóa bớt 1 số câu hỏi vì nội dung trong bài đã trả lời rồi.
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân,Cư Sỹ Phước Huệ!
    Hôm nay HVCL lại có 1 số vấn đề gặp phải khi niệm Phật,xin được Thầy chỉ dạy!
    1) “Nếu dùng sắc để thấy ta, dùng âm thanh để cầu ta, người ấy tu đạo tà, không thể thấy Như Lai” câu này có nghĩa là gì ạ?
    2)Khi niệm Phật tâm phải thanh tịnh không được cho vọng niệm xen tạp, nhưng HVCL đọc thấy trong 1 số phần giảng của mình, LPS Tịnh Không có nói ( HVCL chỉ nhớ ý đại khái, vì ko biết chính xác ở đâu để trích dẫn): Nếu thường nghĩ nhớ đến Phật, đến Thế Giới TPCL trang nghiêm,thanh tịnh, thì nhất định được sanh về.
    Tương tự ,trong Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục ( T122- phần chỉ dạy phương pháp tu trì): ” Niệm Phật phải tưởng như mình sắp chết, sắp đọa địa ngục,thì chẳng khẩn thiết cũng sẽ tự khẩn thiết, chẳng tương ứng cũng tự tương ứng,dùng tâm sợ khổ niệm Phật là diệu pháp thoát khổ bậc nhất, cũng là diệu pháp tùy duyên tiêu nghiệp bậc nhất..” Nếu thời thời khắc khắc đều nhiếp tâm,thanh tịnh niệm Phật, thì thời gian để nhớ nghĩ về những điều này lúc nào mới thích hợp? HVCL nên hiểu ý Tổ và LPS như thế nào cho đúng ạ? Bởi khi nhiếp tâm niệm Phật thì đến ý nguyện cầu vãng sanh cũng không khởi ( câu này hôm trước HVCL cũng đọc trên đây,nhưng cũng ko nhớ rõ ở bài nào nữa).
    3)Thời khòa niệm Phật của HVCL chỉ là 1h bào buổi sáng,nên ko dụng ý tịnh tọa dưỡng thần, chỉ là ngồi( thiền) niệm Phật, vậy có thể lần chuỗi niệm Phật ko? vì theo như Tổ AQ có khuyên” chuỗi chỉ dùng khi đi hoặc đứng niệm”, còn pháp thập niệm thì áp dụng mọi khi đi,đứng,nằm,ngồi.. tổn khí là gì và sẽ biểu hiện ra sao.
    4)Niệm 10 câu Phật hiệu hết 1 hơi=> lấy hơi bình thường=> niệm tiếp 10 câu=> liên tục như vậy, tâm ý đặt vào và nghe rõ từng câu=> duy trì như vậy trong 1h hoặc nhiều hơn thì có bị tổn khí hay không? ( HVCL áp dụng cách này của Tổ thấy có tập trung vào câu Phật hiệu được , nhưng vì đã quen lần chuỗi nên thấy ko có chuỗi nó cứ làm sao đó => ko biết mình đã niệm được bao nhiêu danh hiệu => cảm giác như buổi này mình chưa hành thời khóa vậy.
    5)Niệm Phật phải có thời khóa rõ ràng, chỉ được tăng chứ ko nên giảm, vậy giảm ở đây ý nói về số lượng hay về thời gian?vì khi dùng pháp thập niệm để nhiếp rõ từng câu Phật hiệu thì HVCL đọc chậm lại=> lượng câu Phật hiệu ít hơn tuy thời gian dành ra vẫn vậy. Như vậy có phải mình đang làm lười nhác ko?
    Vẫn biết ít mà chất lượng thì tốt hơn là nhiều, nhưng nếu nhanh ( nên nhiều hơn) mà số vọng niệm cũng cố gắng khắc chế được vậy có cần phải chậm lại ko ạ?
    6) HVCL thấy Thầy Tịnh Không đọc 1 câu lấy hơi 1 câu/ rồi lại đọc 1 câu lấy hoi 1 câu ( ko biêt sHVCL nghe có chuẩn ko).Như vậy tập trung cũng rất tốt, nhưng ko biết Thầy có ghi nhớ như pháp thập niệm, hay chỉ câu nào chắc câu đó?
    7)Có phải tâm người niệm Phật nhanh khác với tâm người niệm Phật chậm hay không? vì HVCL thấy mình ưa niệm nhanh nên mọi việc giao tiếp, nói chuyện hay phản ứng nhanh kiểu chấp chới, người niệm Phật chậm thì từ tốn, bình tĩnh ,trong mọi tình huống??
    Không biết Thầy Thiện Nhân và CS Phước Huệ đang áp dụng cách niệm Phật nào để đạt được lợi ích , an lạc, điềm tĩnh trong mọi tình huống?? Mong Thầy và CS chia sẻ ,giúp HVCL định tâm niệm Phật từ buổi sớm mai trở đi.
    Hôm nay HVCL vẫn làm như mọi ngày, nhưng vì có nhiều chỗ chưa hiểu ,nên tuy kìm chế tạp niệm ít khởi , nhưng lại ko có cảm giác mình đã hoàn thành thời khóa của ngày.
    HVCL đa tạ Thầy và Cư sỹ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      Câu hỏi của bạn quả là đồ sộ. Chỉ riêng câu 1 nếu phân tích ra tỉ mỉ và hiểu thật ngọn ngành cũng đủ để chúng ta tu một đời rồi. TN ráng dùng chút trí mọn của mình để chia sẻ cùng bạn. Những gì chưa liễu nghĩa, mong là CS Phước Huệ và các đạo hữu khác sẽ cùng chia sẻ thêm.

      1) “Nếu dùng sắc để thấy ta, dùng âm thanh để cầu ta, người ấy tu đạo tà, không thể thấy Như Lai” câu này có nghĩa là gì ạ?

      *Nếu dùng sắc để thấy ta: để hiểu rõ chữ sắc lẽ ra TN phải cùng bạn tìm hiểu về cụm từ này trong Kinh Bát nhã, nhưng e rằng sẽ khiến bạn bị rối, nên TN sẽ nói trực diện vào chữ sắc và chữ ta.

      a/ Sắc=sắc tướng. Hễ có tướng=hư giả (phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng=phàm những gì có tướng đều là hư vọng). Ví như: Phật Thích Ca đã nhập niết bàn cách đây 2561 năm, những gì chúng ta nhìn thấy chỉ còn là tranh, tượng, phim ảnh. Những thứ này đều do con người tạo nên (do tâm tưởng sanh), do vậy dù có đẹp, hoàn mãn tới không thể chê chăng nữa thì những tranh, tượng, phim này cũng chỉ là hư giả, bởi nó tạo nên từ tâm – tâm vốn là vọng. Một niệm tâm khởi khi thấy cảnh (sắc) ngay đó nó đã xuyên suốt 3 thời: quá khứ-hiện tại-vị lai rồi. Đó là quy luật của vũ trụ nhân sanh: thành-trụ-hoại-diệt.

      b/ Ta: có hai nghĩa: cái ta của hư giả (giả ngã) và cái ta chân ngã tức Phật tâm, cũng tức Phật Thích Ca (người nói pháp) và cũng là chư Phật 3 đời.

      Gộp lại: nếu hàng ngày nghe, nhìn, ngắm, bái, lạy, niệm hồng danh Phật (nói chung) bằng cái tâm phân biệt, chấp chước, bằng tâm tham, sân, si, mạn, nghi…tức chỉ thấy sắc tướng hư giả của Phật chứ không ngộ được điều Phật dạy, đồng nghĩa chỉ thấy cái ta hư giả chứ không thấy cái chân ta, tức ta tự tánh thanh tịnh.

      *dùng âm thanh để cầu ta: hàng ngày chúng ta niệm hồng danh A Di Đà Phật mọi thời, mọi khắc, đó chính là dùng âm thanh để niệm. Nhưng những niệm đó được khởi phát lên từ đâu? Và với mục đích, vọng nguyện gì? điều này hàng ngày chúng ta phải quán xét thật thấu đáo, bằng không chúng ta sẽ rơi vào tình trạng miệng niệm mà tâm không hành, nghĩa là miệng niệm hồng danh Phật nhưng tâm thì nhớ nghĩ tán loạn đủ thứ chuyện thị nhân ngã (gọi chung là phiền não). Nếu quả đúng vậy thì chúng ta mới chỉ biết niệm suông chứ trong tâm thật không có Phật.

      *người ấy tu đạo tà: tà là sai lệch, thiên kiến, không chân chánh. Hàng ngày niệm Phật mọi thời, mọi khắc, niệm cả trong 4 oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm thậm chí cả ăn, uống, ngủ, nghỉ cũng niệm nhưng lại dùng phiền não làm nhân, đương nhiên càng niệm, tâm càng thêm điên đảo.

      *không thể thấy Như Lai: Như Lai là giác, là giải thoát. Niệm Phật chính là niệm giác để làm nhân giải thoát, nhưng hàng ngày chúng ta lấy nhân điên đảo để niệm, đương nhiên chúng ta vĩnh viễn không thể giác ngộ, không thể giải thoát.

      2) Nếu thời thời khắc khắc đều nhiếp tâm,thanh tịnh niệm Phật, thì thời gian để nhớ nghĩ về những điều này lúc nào mới thích hợp? HVCL nên hiểu ý Tổ và LPS như thế nào cho đúng ạ? Bởi khi nhiếp tâm niệm Phật thì đến ý nguyện cầu vãng sanh cũng không khởi.

      Người luôn thường nhiếp tâm thanh tịnh niệm được Phật mọi thời khắc, đồng nghĩa người đó đã giác được sanh tử vô thường trong gang tấc, thân này là giả tạm, một hơi thở ra không kịp hít vào=mạng sống kết thúc; đã giác được đời là bể khổ; giác được nhân quả báo ứng xuyên suốt 3 đời không sai lệch và muốn chuyển hoá những nhân khổ đó để vĩnh viễn không còn trôi lăn trong đó. Sao bạn còn phải dành thời gian để nhớ nghĩ đến những điều đó làm chi cho mệt?
      Ví dụ: nếu ông, bà A biết ăn uống nhiều sẽ bội thực, vì muốn tránh bội thực, ông bà A chỉ cần ăn, uống đủ no, vậy là hoạ bội thực đã tránh được. Tránh được rồi thì đâu cần đặt câu hỏi cho mình vì sao không nên ăn nhiều hay phải nhớ nghĩ đến chuyện bội thực nữa? Như thế chẳng phải là chuốc thêm phiền phức lắm sao?

      3)Thời khòa niệm Phật của HVCL chỉ là 1h bào buổi sáng,nên ko dụng ý tịnh tọa dưỡng thần, chỉ là ngồi( thiền) niệm Phật, vậy có thể lần chuỗi niệm Phật ko? vì theo như Tổ AQ có khuyên” chuỗi chỉ dùng khi đi hoặc đứng niệm”, còn pháp thập niệm thì áp dụng mọi khi đi,đứng,nằm,ngồi.. tổn khí là gì và sẽ biểu hiện ra sao?

      Dụng công tu thiền, niệm Phật, trì chú mỗi người đều phải tự chọn cho mình một phương pháp thích hợp với căn cơ, thể trạng và phước duyên của mình. Nếu bạn thấy niệm Phật lần chuỗi mà an lạc thì cứ thế mà niệm; nếu thấy toạ thiền niệm Phật mà an lạc thì cứ thế mà niệm; nếu thấy thập niệm mà an lạc thì cứ thế mà niệm, nhưng 1 trong 3 phải chọn cho ra pháp an lạc. Tu=an lạc. Nếu tu mà không an lạc=sai đường. An lạc còn được hiểu sao mỗi thời công phu tinh thần, thể lực, trí tuệ phấn chấn, lạc quan, minh mẫn, sáng suốt hơn khi đối người tiếp vật, nhưng nếu công phu xong mà thấy toàn thân rũ bấy ra như thân chuối héo=đã bị tổn khí. Do vậy, việc niệm hồng danh A Di Đà Phật 4 hay 6 chữ, nhanh hay chậm, 1 hơi hay 2-3 hơi cũng rất quan trọng. Tuỳ theo thể lực mỗi người, chứ nhất quyết không dập khuân theo cách tu của người khác.

      4) Niệm 10 câu Phật hiệu hết 1 hơi=> lấy hơi bình thường=> niệm tiếp 10 câu=> liên tục như vậy, tâm ý đặt vào và nghe rõ từng câu=> duy trì như vậy trong 1h hoặc nhiều hơn thì có bị tổn khí hay không? ( HVCL áp dụng cách này của Tổ thấy có tập trung vào câu Phật hiệu được , nhưng vì đã quen lần chuỗi nên thấy ko có chuỗi nó cứ làm sao đó => ko biết mình đã niệm được bao nhiêu danh hiệu => cảm giác như buổi này mình chưa hành thời khóa vậy.

      *Pháp thập niệm ký số chỉ là pháp đề xướng của chư Tổ, nhưng khi hành pháp đó chúng ta phải xem thể lực mình có thích hợp hay không rồi mới thực hành. Người hơi thở ngắn mà ép mình niệm bằng được 10 Phật hiệu/1 hơi, chắc chắn chỉ 5-10 phút là té sỉu và tổn khí.

      *Lần chuỗi có thể bước đầu mới tu vì tâm còn nhiều tạp loạn nên phải nương vào tràng hạt, nhưng nếu tu lâu dài, mà không có chuỗi tràng không thể niệm được thì sự tu lúc nào là bị kẹt lớn. Bởi khi lâm chung chắc chắn chúng ta chẳng thể lần tràng hạt mà chỉ có thể nhép nhép miệng là có thể vượt bể khổ. Do vậy các bạn phải cẩn trọng khi hành trì, làm sao để pháp niệm Phật phải thật giản đơn nhất, hiệu quả nhất. Bởi hàng ngày tu=chuẩn bị hành trang cho ngày xả báo thân.

      *Bạn chớ nương chấp vào số lượng Phật hiệu. Niệm nhiều mà tâm tán loạn, không bằng niệm ít mà tâm thanh tịnh. Sở dĩ phải niệm nhanh, liên tục=tâm nhiều tạp niệm. Nếu ít thì càng chậm càng tốt, bởi khoảng thời gian kéo dài giữa hai Phật hiệu chính là điểm đế phán xét tâm mình đang vọng hay chân?

      (TN còn trao đổi tiếp)

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      TN xin được trao đổi hai câu cuối.

      6) HVCL thấy Thầy Tịnh Không đọc 1 câu lấy hơi 1 câu/ rồi lại đọc 1 câu lấy hoi 1 câu ( ko biêt sHVCL nghe có chuẩn ko).Như vậy tập trung cũng rất tốt, nhưng ko biết Thầy có ghi nhớ như pháp thập niệm, hay chỉ câu nào chắc câu đó?

      Pháp niệm Phật mà HT Tịnh Không đang hành là cảnh giới của người đã đạt được đại định. Nếu bạn nghe kỹ bạn sẽ cảm nhận được điều đó. Từng câu, từng chữ thật rõ ràng, thật thanh tịnh, âm điệu không sai chẹo. Để đạt được công phu như Ngài chẳng dễ, đòi hỏi chúng ta phải có sự huân tập chân chánh không mỏi mệt.

      Một người khi đã đạt đại định rồi thì tâm sẽ không còn mảy may vọng trần nào khởi lên nữa, tâm người đó đã hoà tận hư không biến pháp giới của 10 phương chư Phật rồi, cho nên câu hỏi của bạn là không cần đặt ra nữa.

      7)Có phải tâm người niệm Phật nhanh khác với tâm người niệm Phật chậm hay không? vì HVCL thấy mình ưa niệm nhanh nên mọi việc giao tiếp, nói chuyện hay phản ứng nhanh kiểu chấp chới, người niệm Phật chậm thì từ tốn, bình tĩnh ,trong mọi tình huống?

      Niệm nhanh-chậm cũng tuỳ thuộc từng giai đoạn.

      Niệm nhanh: Thông thường khi tâm còn nhiều tạp niệm, tán loạn, chúng ta thường phải niệm nhanh hơn để giúp tạp niệm không thể khởi.
      Lợi: có cơ hội áp chế tán tâm;
      Hại: nếu không biết lấy hơi sẽ bị tổn khí, dẫn đến nhức đầu, chóng mặt, hoa, bốc hoả lên mắt, đau tim.

      Niệm chậm: Khi tâm tán loạn đã được cải thiện, không còn thường khởi, nhưng còn đan xen, lúc ẩn, lúc hiện. Lúc này chúng ta cần phải tỉnh giác để nhận biết đâu là vọng, đâu là chân bằng cách chỉ cần nhiếp tâm vào từng câu, từng chữ Phật hiệu. Việc nạp khí lúc này cũng sẽ không còn thô, ồn như lúc niệm nhanh mà trở nên nhẹ nhàng, vi tế hơn.

      Để niệm Phật không bị tổn khí huyết, chúng ta ráng quán hơi thở của mình xem ngắn, dài, nhanh, chậm ra sao? kế đó mà áp dụng niệm 6 hay 4 câu; mỗi hơi niệm 3-5-10 niệm hồng danh cho thích hợp.

      Niệm Phật chính là công phu để tăng trưởng định lực. Vì thế niệm Phật cũng chính là niệm giới (giữ giới), nhờ giữ giới mà sanh định, nhờ định mà sanh huệ. Mỗi người thể trạng khác nhau, cho nên mỗi người chúng ta phải nên tìm một pháp thật an lạc cho chính mình, như thế mới gọi là diệu pháp.

      Chúc bạn thường tinh tấn.

      TN

  5. Cư sĩ Phước Huệ

    Chào bạn Hướng Về Cực Lạc,
    PH xin chia sẻ vài ý như sau.

    1. Đó là một bài kệ trong kinh Kim Cang. Đây là phần lược giải mà PH lấy từ trang thuvienhoasen. “Chữ Ta ở đây là tự tánh Phật. Tự tánh bất nhị, chẳng có năng sở, nên chẳng phải sở thấy sở cầu. Nếu đuổi theo căn trần để thấy để cầu là hành theo tà đạo, chẳng thể đạt đến kiến tánh. (Lược giải hết)”. Ngoài ra, kế tiếp bài kệ này trong kinh có một đoạn Phật dạy phải phá luôn cái chấp chấp vào ý đoạn kệ bên trên thì mới được. PH cũng chỉ hiểu trên văn nghĩa chứ chưa hành được nên không dám bàn thêm.

    2. Ý của hai vị đó là chỉ cho lúc chưa nhiếp tâm. Ví dụ, nếu thấy chán nản, thì phải nghĩ đến cái chết để tâm hăng hái, khẩn thiết, hoặc nếu cuộc sống hiện tại quá khổ thì nghĩ đến cõi Cực Lạc để tâm phấn chấn lên mà niệm Phật. Còn khi đã nhiếp tâm được thường xuyên thì mỗi một câu là tương ưng với cõi Cực Lạc rồi, mỗi câu chính là nhớ Phật, thì còn phải khởi nghĩ gì khác nữa. Chỉ e là không thể nhiếp tâm được thường xuyên thôi.

    3. Bạn đừng quá chấp vào lời của cổ đức về mặt hình thức. Bạn thích lần chuỗi thì cứ lần chuỗi, đâu có hại gì. Chúng ta cần hiểu là các lời dạy về phương pháp của chư vị đều không ngoài mục đích để người tu dễ nhiếp tâm, chứ không phải ở điểm lần chuỗi hoặc thập niệm. Cách nào mà bạn dễ nhiếp tâm thì cứ an tâm mà thực hành.

    4. Người hơi dài thì niệm một hơi mười câu, người hơi ngắn thì chia ra niệm ba, bốn câu mỗi hơi. Nếu bạn hơi ngắn mà ráng niệm một hơi 10 câu thì sẽ bị hụt hơi, mệt và PH nghĩ là nếu cứ thế thì lâu ngày sẽ bị tổn khí.

    5. Tuỳ theo cách mỗi người. Với người chuyên niệm trong vòng một tiếng (không tính số lượng), thì phải giữ mức 1g đó hoặc tăng thêm. Với người niệm theo số lượng thì sẽ dựa trên số lượng mà tính. Theo cách của bạn là dựa trên thời gian thì cứ y theo thời gian mà tính. Nếu niệm nhanh mà nhiếp tâm được thì cứ niệm nhanh.

    6. Câu này thì bạn phải hỏi ngay thầy Tịnh Không chứ PH đâu có biết ngài để tâm như thế nào. Nhưng PH nghĩ, thầy niệm thế nào không quan trọng bằng bạn niệm thế nào để dễ nhiếp tâm.

    7. Câu này PH cũng không biết, cũng có thể giống như bạn nghĩ. Mỗi người tuỳ tập khí, thói quen của mình mà chọn một phương pháp thích hợp. Thích hợp nghĩa là mình thấy thoải mái và dễ nhiếp tâm khi thực hành. Cách nào cũng có ưu, nhược điểm. Ví dụ, với PH thì thường ngồi niệm thầm trong tâm, cách này giúp mình dễ phát hiện khi tâm có vọng tưởng (vì các căn khá yên, tâm hơi lắng xuống nên dễ phát hiện vọng tưởng) tuy nhiên vì thân, tâm đều khá yên nên cũng sẽ dễ bị hôn trầm.

    PH cũng chẳng được an lạc, điềm tĩnh gì đâu, nên bạn đừng lầm, bên trong PH là cả một đám tập khí sâu dày, mà càng ngày càng phát hiện ra thêm nhiều tập khí khác nữa. Bạn hãy bỏ qua chuyện niệm nhanh hay chậm vì đó chỉ là phương pháp, chủ yếu là tâm bạn thế nào. Bạn cần luyện tâm bình tĩnh chứ không phải tập niệm Phật cho chậm. PH để ý khi niệm Phật mà mỗi khi vọng tưởng xuất hiện là mình biết liền, rồi không nghĩ theo nó thì khi ở ngoài gặp việc bạn có thể giữ được bình tĩnh mà niệm Phật. Bạn cũng cần lưu ý, khi niệm Phật ra tiếng, những câu đầu rất dễ nhiếp tâm, nhưng những câu sau có khi tâm mình đã bị phân tán (dù vẫn niệm Phật) mà mình không hay, hoặc với cách niệm Phật thập niệm ký số, khi niệm quen thì đôi khi mình vẫn nhớ niệm, vẫn nhớ số mà..vẫn có thoáng nhớ, thoáng nghĩ qua chuyện khác, hoặc có khi chỉ chuyên tâm nhớ số mà lại không chuyên tâm vào Phật hiệu. Nên, quan trọng nhất vẫn là nhiếp tâm vào từng câu Phật hiệu, càng lâu, càng nhiều càng tốt.
    Chúc bạn tinh tấn.
    Nam Mô A Di Đà Phật.

  6. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi thầy Thiện Nhân, cư sỹ Phước Huệ!
    HVCL bận cả ngày nên chỉ có ít phút nghỉ trưa để đáp mail của Thầy và Cư Sỹ.Nên chắc ko hỏi được nhiều ạ!HVCL mong Thầy Thiện Nhân giải thích rõ hơn ý cuối cùng vì đúng như HVCL thấy là mình niệm chậm hay bị vọng niệm chen vào,nếu nhanh thì tập trung được mà cơ thể cũng quen được ạ! hVCL sẽ suy nghĩ thêm đến chiều và sẽ quay lại với 1 vài câu hỏi nữa ạ!
    HVCL đa tạ Thầy và Cư Sỹ!
    A Di Đà Phật!

  7. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân, Cư Sỹ Phước Huệ!
    HVCL vô cùng biết ơn Thầy và Cư Sỹ đã thâm nhập sâu nội dung cả câu hỏi và trả lời để giảng cho HVCL (và HVCL chắc là trong đó có rất nhiều bạn mới cùng được lợi ích).Những phần Phúc đáp của Thầy và Cư Sỹ ,HVCL thấy dễ hiểu nên đã ngộ ra được nhiều ạ!
    HVCL muốn hỏi Thầy là bao lâu thì nên thôi dùng chuỗi? khi tự thấy vọng niệm ít đi hay nên dần tập cho mình( cái gì lúc đầu cũng chưa quen nhưng rồi cũng sẽ quen), vì quả thực lâm chung( mà chưa thể nhiếp tâm) chắc chẳng thể có sức mà nâng tràng hạt nữa.
    2)HVCL xin trích dẫn ý này của Thầy: “Nếu bạn thấy niệm Phật lần chuỗi mà an lạc thì cứ thế mà niệm; nếu thấy toạ thiền niệm Phật mà an lạc thì cứ thế mà niệm; nếu thấy thập niệm mà an lạc thì cứ thế mà niệm, nhưng 1 trong 3 phải chọn cho ra pháp an lạc. Tu=an lạc. Nếu tu mà không an lạc=sai đường. An lạc còn được hiểu sao mỗi thời công phu tinh thần, thể lực, trí tuệ phấn chấn, lạc quan, minh mẫn, sáng suốt hơn khi đối người tiếp vật..” Và cũng như câu trả lời số 7 của Cư Sỹ Phước Huệ.
    HVCL ko nhạy bén về chuyện này( hay tại mình niệm Phật quá quá ít ) mà quả thực chưa nhận ra được mình tu cách nào hiệu quả thưa Thầy, Chưa biết cách nào dễ nhiếp tâm thưa Cư Sỹ !Điều này HVCL có để ý để mình,nhưng vì chưa “ổn” nên mới hay thay đổi như vậy đó ạ! Là vì niệm 1 hơi nhiều hơn 10 câu Phật hiệu ( sau nhiều thời khóa 1h)HVCL cũng thấy bình thường, mà thử đổi qua niệm 5 câu lấy hơi 1 lần cũng vẫn vậy. Thấy mình nếu không thường giác thì lúc đối cảnh vẫn sân si,giật mình tỉnh ra thì mới A Di Đà Phật,điều như Thầy nói “Tu= an lạc” là do tự mình luôn tỉnh giác nhận ra hay có 1 sự màu nhiệm nào đó từ sự gia trì của Phật,Bồ Tát ạ? ( Thầy thứ lỗi cho HVCL hỏi câu quá ngớ ngẩn này ạ).Chư Tổ và các Vị giảng về Tịnh Độ vẫn khuyên là chớ nên hấp tấp vội vàng hay chán nản,chỉ cần kiên trì thì lo gì không nhất tâm. Nhưng nếu mình ko an ổn 1 cách tu thì làm sao ( sẽ đến lúc) được nhất tâm ạ?

    3)HVCL thử niệm thầm thấy hay bị hôn trầm( dù đã ngủ đủ giấc), thử niệm nhỏ và niệm chậm hay bị tạp niệm,như vậy nếu muốn chậm để định tâm có phải rất khó không? Hay là miễn sao,phương pháp nào để đạt nhất tâm thì tự sẽ được “định” ạ?
    4)HVCL đang thực hành lạy 48 lạy + niệm hoặc hơn mỗi sáng, nay muốn đổi thành chỉ còn 10 lạy+niệm thì có sao không ạ? HVCL muốn chuyển hết t/g để niệm Phật cho dễ nhiếp tâm!

    HVCL cảm tạ ơn Thầy và Cư Sỹ!
    A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *HVCL ko nhạy bén về chuyện này (hay tại mình niệm Phật quá quá ít) mà quả thực chưa nhận ra được mình tu cách nào hiệu quả thưa Thầy, Chưa biết cách nào dễ nhiếp tâm thưa Cư Sỹ!

      Khi mới tu chúng ta thường hay khởi tâm vọng cầu, ví thử: mau chuyển hoá nghiệp, mau an lạc, mau giúp được người này, kẻ nọ, mau thâm nhập được kinh tạng, mau chứng đắc… tất cả những thứ tâm niệm này đều là phiền não vọng tưởng, bởi chuyển hoá nghiệp nhanh hay chậm vốn phụ thuộc vào sự giác ngộ nhân quả nhanh hay chậm, và nghiệp cần chuyển hoá là sâu nặng hay nhẹ, điều này vô cùng quan trọng, bởi nếu nghiệp sâu nặng mà ngay phút chốc chúng ta muốn chuyển hoá, vốn chẳng thể được, điều này giống như một người nợ một tỉ đồng, nhưng lương thu nhập hàng tháng chỉ 500.000đ mà muốn trả nợ trong vòng vài tháng, vài ngày là điều không thể; cũng tương tự việc giác ngộ cũng phải trải qua từng thời kỳ, cùng sự tinh tấn, đúc kết và chân chánh tu đạo mới có kết quả.

      Phật pháp không có chứng đắc mà chỉ có sự giải thoát, bởi nếu có chứng đắc thì còn có sự vướng kẹt trong không chứng đắc, vì vậy khi tu học chúng ta phải cảnh giác cái tâm háo cầu đốn ngộ (chứng đắc) vì nó sẽ dẫn chúng ta vào ma đạo lúc nào không hay biết.

      Khi chúng ta chân chánh tu học, chư Phật, chư Bồ tát, chư Hộ pháp luôn ở bên cạnh để gia hộ cho chúng ta tu học, với điều kiện chúng ta phải giữ tâm đạo thật thanh tịnh. Thanh tịnh được hiểu ở sự trì giới. Niệm Phật chính là trì giới, bởi khi niệm Phật thì tâm phiền não (tham, sân, si…) sẽ khó, không thường dấy khởi, nhờ đó chúng ta không tạo nghiệp bất thiện. Sự huân tập lâu dài sẽ giúp tâm bồ đề tăng trưởng. Điều này chúng ta có thể kiểm chứng. Ví thử khi trời mưa bão, sấm chớp lớn, chúng ta chí thành chấp tay lại trì niệm hồng danh Quán Thế Âm Bồ tát, nguyện cho bão sấm ngưng tan để các chúng sanh không phải sống trong khổ nạn, chỉ một lát sau, trời quang, mây tạnh… điều này chứng tỏ chư Bồ tát luôn ở bên cạnh chúng ta, chỉ cần chúng ta chí thành, chí kính vì chúng sanh khổ nạn mà nguyện, chắc chắn chư Bồ tát thường ủng hộ. Do vậy khi tu, cho dù pháp môn nào chúng ta đừng vội tìm sự vi diệu trong Phật pháp mà phải luôn thường quán xét cái tâm của chính mình, bởi tâm sanh ra vạn pháp, nên sự vi diệu hay không vi diệu nó cũng từ chính cái tâm đó chứ không ở bên ngoài. Nhưng sự tương thông giữa tâm chúng sanh và tâm chư Phật, Bồ tát là không thể nghĩ bàn. Cảm ứng đạo giao chính là điểm này.

      *HVCL thử niệm thầm thấy hay bị hôn trầm( dù đã ngủ đủ giấc), thử niệm nhỏ và niệm chậm hay bị tạp niệm, như vậy nếu muốn chậm để định tâm có phải rất khó không? Hay là miễn sao,phương pháp nào để đạt nhất tâm thì tự sẽ được “định” ạ?

      Hôn trầm không nhất thiết là do thiếu ngủ, mà còn có thể do thân thể quá stress (công việc, sinh hoạt) hoặc tham chước chuyện nghỉ ngơi, do vậy khi ngồi niệm Phật, giai đoạn đầu không nên nhắm mắt, mà chỉ khép hờ, lấy chóp mũi làm tâm. Nếu khi hành trì mà vẫn hôn trầm thì mở to mắt, quán lên hình hay tượng Phật ít phút để định tâm, kế đó lại khép hờ mắt.

      Tạp niệm đan xen khi niệm Phật là chuyện bình thường, bởi nếu tâm vô tạp niệm thì chúng ta đã đạt cảnh niệm Phật chân không rồi. Quan trọng là khi vọng niệm khởi, biết ngay đó là vọng để không chạy theo hay bị nó lôi kéo, mà chỉ cần nhiếp tâm vào Phật hiệu, ít ngày sau sẽ tiến bộ.

      Niệm Phật chậm mà ít bị vọng đen xen chỉ có thể khi tâm chúng ta đã có định lực và sự quán vọng đã ở mức khá thành thục. Nhưng hàng ngày chúng ta phải thử nghiệm. Ví thử niệm nhanh 15-20 phút, rồi giảm dần tốc độ niệm thật chậm rãi, nếu thấy vọng khởi liên tục thì phải niệm nhanh một chút rồi lại chậm rãi. Khoảng cách giữa hai niệm A Di Đà Phật và 4 chữ A-Di-Đà-Phật chính là sự kiểm chứng tâm chúng ta đang có vọng hay không có vọng. Bạn phải thực nghiệm thì mới biết tâm mình đang ở giai đoạn nào?

      *HVCL đang thực hành lạy 48 lạy + niệm hoặc hơn mỗi sáng, nay muốn đổi thành chỉ còn 10 lạy+niệm thì có sao không ạ? HVCL muốn chuyển hết t/g để niệm Phật cho dễ nhiếp tâm!

      Niệm-lạy Phật đều tốt cả, quan trọng ở tâm chân thành-thanh tịnh-tỉnh giác. Vì thế bạn cứ hoan hỉ mà thực hành, ắt có lợi lạc.

      Chúc tinh tấn

      TN

  8. Lê Quang Anh

    Thưa các liên hữu, con năm nay 19 tuổi và con đã tiếp xúc với pháp môn niệm Phật được mấy năm nhưng cho tới nay công phu của con vẫn còn rất nhiều tạp niệm bởi con thường hay giải đãi, suy nghĩ lung tung. Con kính mong các vị đạo hữu chỉ cho con cách trở nên tinh tấn hơn trên con đường tu học của mình ạ. Con cũng cảm thấy ngưỡng mộ với các vị tổ sư bên Tịnh Độ sau khi đọc về câu chuyện niệm Phật của các ngài ạ !. Nam Mô A Di Đà Phật. Con xin cảm ơn mọi người ạ !

  9. Tìm về nhà xưa

    Chỉ chú tâm niệm phật, theo thiển ý của tôi, nên niệm thầm là hay nhất. Không nên trụ câu niệm phật ở đâu hết. Trụ trên đầu thì sẽ bị chóng mặt, nhức đầu, lâu ngày sanh bệnh. Cứ để tự nhiên, chỉ chú ý như con meo rình chuột, lâu ngày sẽ quen dần. Không làm phiền tới ai hết, mà có thể niệm mọi lúc mọi nơi. Lúc đầu thì sẽ mệt một chút, nhưng hãy kiên trì. Lâu ngày sẽ thấy sự màu nhiệm cùa câu niệm phật. Bốn chử hay, sáu chử gì cũng được. Dùng tín, nguyện, hạnh và tốt nhất là phải ăn chay và giữ giới. Sau khi niệm phật khá rồi đến bất niệm tự niệm, mình có thể nghiên cứu thêm kinh điển như Bát nhã tâm kinh, Thủ lăng nghiêm để có thể hiểu rõ hơn.

  10. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Thầy ơi HVCL đã cố gắng chậm dãi đọc hiểu những ý Thầy truyền đạt rồi!Câu hỏi lặp đi lặp lại, Thầy vẫn kiên nhẫn trả lời lại trả lời đi..không phải HVCL cố ý như vậy để mọi người chán nản đâu mà thực đó là những gì tâm HVCL đang mắc kẹt.Sự hiểu của HVCL sao như cái vòng tròn,,có vẻ như càng về sau lại có nhiều câu hỏi như lúc mới đầu vậy? Nếu không như vậy tại sao tất cả các phần trả lời của Thầy đều chỉ dạy xoay quanh những điểm đó? Là HVCL biếng nhác,ko chịu khó chịu khổ được lại đòi hấp tấp.. hiểu được vậy nhưng nghĩ và làm lại ko như thế!Mỗi lần trả lời” HVCL đã đọc và hiểu rõ ý của Thầy,của Tiền Bối rồi..” Nhưng sao câu hỏi ở đâu lại ra lắm thế này? Vấn đề đâu có lạ đâu?HVCL đã tự làm mình rối tung rồi đó..
    HVCL như đứa trẻ đang chập chững tập đi ,tập từng bước nhỏ trên con đường giải thoát,về quê hương đích thực của mình có Cha là Đấng Từ Phụ A Di Đà,cùng tất cả các anh em Liên Hữu.Trẻ con mà mới đang chập chững ,ko có ” người lớn” bên cạnh dìu dắt ,tập cho thì làm sao đi nổi!
    HVCL ái ngại khi phải đưa ra nhiều câu hỏi ko đâu với đâu( nhưng vì không biết hỏi ai nên cứ phải viết cả ra đây), nên nếu có thể trực tiếp liên lạc Thầy thì tốt quá! Tại sao Thầy và các vị Cư Sỹ khác lại ko thể ” xuất hiện’ ạ? HVCL và các bạn sơ học mong ngóng lắm, làm sao để khi cần được liên lạc trực tiếp thì tốt biết mấy! Thầy và các vị Cư Sỹ có thể xem xét ý kiến của HVCL 1 lần nữa không ạ?
    HVCL thành kính tri ân Thầy!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      Bạn thử đọc câu truyện Phật giáo dưới đây rồi cho TN cùng các liên hữu biết ý kiến của bạn nhé.
      …………………………………………….

      NĂM TRĂM NGÀN SAO CÓ THỂ MUA ĐƯỢC Ô TÔ?

      Có một vị khách tu tại gia gọi điện cho lão hòa thượng phàn nàn rằng: “Thưa thầy! Vì sao con cảm thấy mình đã cố gắng rồi mà vẫn chẳng được gì? Con vẫn niệm kinh, cũng làm việc thiện rồi mà số mệnh vẫn không thay đổi?”.
      Lão hòa thượng: “Vậy, ta cho ông 500 ngàn có được không?”.
      Người gọi điện: “Tiền của hòa thượng con không dám lấy ạ!”.
      Lão hòa thượng: “Ta là muốn ông làm giúp ta một việc”.
      Người gọi điện: “Thầy cứ nói ra con sẽ làm giúp thầy”.
      Lão hòa thượng: “Ông hãy giúp ta mua một chiếc ô tô”.
      Người gọi điện (giật mình hoảng hốt): “Thưa thầy, 500 ngàn thì làm sao có thể mua ô tô cho được”.
      Lão hòa thượng: “Ông biết 500 ngàn không mua được xe ô tô, thế là tốt rồi. Nhưng trên đời này có rất nhiều người đang vắt hết óc để nghĩ cách, làm thế nào để chỉ bỏ ra một chút ít mà vẫn thu về được nhiều thứ!”

  11. Ngọc Thủy

    xin kính chào quý đạo hữu!!
    trước kia mình cũng ráng chuyên lòng niệm Phật. nhưng bây giờ mình đã tìm được một cách để chắc chắn được vãng sanh về cõi an lạc sau khi chết. đó là mình ứng dụng luật nhân quả qua ý nghiệp. bây giờ mình đã thay câu niệm Phật bằng những lời sau, xin mời quý đạo hữu cùng tham khảo :
    1. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, không bao giờ sợ chết, không bao giờ buồn dù biết mình sắp chết, khi cái chết đến thì ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản, an lạc, dễ chịu, thoải mái, không chút đau đớn, không chút tiếc nuối, không làm phiền lụy bất kỳ chúng sinh nào.
    2. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, sau khi chết được vãng sanh về cõi có Phật, có Bồ Tát, được Phật, Bồ Tát dạy dỗ,siêng năng thực hành theo lời dạy của Phật, Bồ Tát, và đạt được hạnh phúc vô tận, chấm dứt tất cả mọi đau khổ, thành tựu được Phật quả.
    3. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
    4. cầu mong cho tất cả chúng sinh, mọi bệnh tật đều thuyên giảm dần, thuyên giảm dần rồi hết hẳn, sống an vui, hạnh phúc, mạnh khỏe, chỉ toàn gây tạo những nghiệp nhân thiện lành, ba nghiệp ý nghĩ lời nói việc làm hoàn toàn hiền lành, hoàn toàn hiền thiện.

  12. Trung Đạo

    A Di Đà Phật

    Bạn Ngọc Thuỷ,

    TĐ xin bạn chia sẻ thật cụ thể để các liên hữu khác được rõ thêm một số điều sau.

    1. Nếu bạn không niệm Phật thì khi cận tử nghiệp ập tới bạn sẽ về cõi nào? Cõi an lạc mà bạn đề cập là cõi nào vậy?
    2. Theo bạn chết là gì? Tại sao lại phải sợ chết và không sợ chết?
    3. Bạn cầu cho tất cả chúng sanh khi chết được về cõi Phật, cõi ấy là cõi nào vậy?
    4. Tại sao tất cả chúng sanh lại bị đoạ vào 3 đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?
    5. Bệnh tật từ đâu khởi? làm cách nào để giảm bệnh tật? làm cách nào để chúng sanh chỉ hành toàn hiền thiện?

    Xin tri ân bạn.

    • Ngọc Thủy

      xin chào bạn Trung Đạo và quý đạo hữu!!
      Ngọc Thủy cảm ơn những câu hỏi của bạn.
      bạn Trung Đạo thân mến, mình chưa phải là Phật nên mình không dám chắc chắn có đủ trí tuệ để nói ra mọi điều đều đúng. nên mình mong bạn và các đạo hữu hãy suy nghĩ kỹ những điều mình nói.
      bạn ạ, mình không cầu về cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, với mình, sau khi chết được về một cõi không có đau khổ là được rồi. trước kia, mình đã có một ý nghiệp, và ý nghiệp đó đã thành sự thật đối với bản thân mình. nên bây giờ mình vận dụng ý nghiệp để mà tu. mình hiểu câu”tất cả pháp đều vô ngã” có nghĩa là luật nhân quả chi phối tất cả chúng sinh, không có chúng sinh nào không bị chi phối bởi luật nhân quả.
      chúng ta tu chung quy lại cũng chỉ là để thoát mọi sự đau khổ. nếu ở trong luân hồi sinh tử này bạn gây toàn những nghiệp nhân thiện lành nên bạn không bao giờ bị quả báo đau khổ, bạn luôn được quả báo an vui hạnh phúc thì lúc đó bạn có muốn thoát luân hồi sinh tử không? bạn có bao giờ tự hỏi thoát luân hồi sinh tử bạn sẽ ra sao không? nếu bạn nghĩ ở trong cõi Ta Bà này khổ vì cái ăn cái mặc thì khi không cần ăn không cần mặc nữa sẽ hết khổ? hay là muốn ăn thì có ăn, muốn mặc thì có mặc, như vậy thực tế hơn đúng không? bạn nghĩ ở trong cõi này khổ chăng? sự thật không ai có thể đem cái khổ đến cho bạn, bạn khổ hay không khổ đều là do nhân quả của bạn thôi.
      có người bệnh này, có người bệnh khác, đâu phải ai cũng bệnh giống ai. rõ ràng mọi người có nhân quả riêng của họ.
      có người nói, trong đạo Phật có 84000 pháp môn, bạn không nên tin,bạn hãy bảo người ta kể ra 84000 pháp môn đó là pháp môn nào.
      thật sự mà nói, mình có một ước mơ bạn ạ, mình mơ ước trên toàn Trái Đất này sẽ không còn đau khổ nữa.
      đâu phải tự nhiên mà có cõi Trời, theo thiển ý của mình thì từ những cõi đất này mà tiến hoá dần lên thành cõi Trời bạn ạ.
      người ta nói sát sinh là tội lỗi, cũng đúng, và nếu người ta tìm cách nào để sát sinh mà làm con vật không bị đau khổ khi bị giết thì tội lỗi cũng giảm được chút ít.
      có một điều rất quan trọng trong đạo Phật mà bị lạc mất. đó là nguyên lý của luật nhân quả. tại sao ý nghĩ lời nói việc làm gây đau khổ cho chúng sinh thì nhận lại đau khổ ? tại sao ý nghĩ lời nói việc làm mang hạnh phúc cho chúng sinh thì sẽ nhận lại hạnh phúc?
      mình xin kể ra đây vài ý nghiệp của mình nữa, bạn nào thích thì tham khảo
      1. cầu mong /(cầu nguyện) cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này,không tham không sân không si, không tội lỗi, không đau khổ.
      2. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, hiểu đúng về Phật, biết cách tu hành thành Phật,và thành tựu được Phật quả.
      3. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này,có những đứa con khỏe mạnh, thông minh, giỏi giang, khi các con lớn lên, các con đóng góp được thật nhiều cho sự giàu mạnh, văn minh, tiến bộ của nhân loại mà không chấp công, không cầu phước báo, không khoe khoang, không kiêu mạn, không tự hào, không ganh tỵ với bất kỳ chúng sinh nào.
      4. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, có sức khỏe thật tốt, không bị bệnh gì.
      5. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, thấu suốt nhân quả của tất cả mọi chuyện trên thế gian này.
      6. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, luôn có công việc lương thiện để làm, không bao giờ bị thất nghiệp.
      7. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, luôn có đầy đủ tiền bạc, có dư dả tiền bạc bằng cách chân chính lương thiện và biết sử dụng từng đồng tiền một cách khôn ngoan tiết kiệm, biết chi tiêu hợp lý.
      8.cầu mong cho tất cả các cặp vợ chồng trên thế gian này càng ngày càng yêu thương nhau, càng ngày càng mặn nồng, càng ngày càng hạnh phúc.
      9. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, chung thủy tuyệt đối với người bạn đời, và có người bạn đời chung thủy tuyệt đối, hai vợ chồng tin tưởng lẫn nhau, sống hạnh phúc bên nhau.
      10. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, không bao giờ bị khuyết tật về cơ thể, cũng như không bao giờ bị khuyết tật về tâm hồn.
      11. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ buồn chán, không bao giờ tự tử, không bao giờ có cảm giác bất an.
      12. cầu mong cho tất cả chúng sinh, đời đời kiếp kiếp sau và hiện đời này, sống có lòng biết ơn và sống xứng đáng với những ân nghĩa trên cuộc đời này.
      trên đời này, không gì là không thể, quan trọng là có nghiệp nhân không. có nghiệp nhân rồi thì khi đầy đủ nhân duyên sẽ thành nghiệp quả. nhân duyên rất quan trọng, ví dụ như bạn không thể học lớp 12 khi bạn mới 3 tuổi. có thể bạn sẽ thấy quả báo lâu xuất hiện, không phải là không có quả báo, mà là chưa đúng nhân duyên, thời điểm để trổ quả.(nhân duyên ở đây không chỉ về mặt thời gian mà còn về mối liên quan giữa chúng sinh nữa). chúc các bạn chỉ toàn gây tạo những nghiệp nhân thiện lành. Thân ái!!

    • Cư sĩ Phước Huệ

      Chào bạn Ngọc Thuỷ,
      PH xin được tán thán những ý nguyện thiện lành của bạn. PH xin được nêu lên vài ý, bạn suy nghĩ thêm nhé.

      – Chúng ta không biết được trong quá khứ đã từng gieo nhân xấu nào, và khi nào thì nó trổ quả.

      – Chắc bạn đã nghe qua về cận tử nghiệp, mà nghiệp lực này mạnh và vi tế vô cùng. PH đã nghe một vị Sư giảng rằng, có khi thần thức ngửi qua mùi thịt gà, thấy thích thú là ngay khi đó đã tái sanh vào loài gà. Như vậy, nếu ngay lúc gần chết mà nghiệp xấu trổ quả thì ngay lập tức đi vào đường ác. Mà khi đã vào đường ác, thì tâm trí chẳng còn nhớ, sáng suốt để tiếp tục gieo ý nghiệp thiện lành nữa.

      – Nếu muốn không theo nghiệp cận tử thì cái Định ngay lúc ấy phải ở mức nào? Quả thật, bậc Thánh thì mới có thể sanh theo ý nguyện, chứ phàm phu chúng ta, vừa thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi,…liền chạy theo ngay (chẳng còn nhớ gì đến ý nguyện thiện lành) thì làm sao chắc chắn được cảnh giới tái sanh của mình.

      Mong bạn cẩn trọng suy gẫm thêm.
      Chúc bạn an vui.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

  13. Tịnh Châu

    Chân thành cảm ơn đồng tu HVCL đã có những câu hỏi mà chắc là nhiều người còn vướng phải nhưng chưa dám hoặc chưa biết cách để hỏi và trả lời giải đáp cặn kẽ thấu đáo của thầy.
    Bản thân tôi chưa tu kiên cố được như bạn HVCL, còn dễ duôi rất nhiều. Hiện công việc tôi đang rất khó khăn, áp lực phải trả nợ cho khách hàng, đối tác rất nhiều trong khi chưa có nên còn phải thất hứa, thất hẹn, các công việc triển khai vướng mắc nên tinh thần bất an, có khi kéo dài nhiều ngày liền. Trong thời điểm như thế này nếu dùng câu Phật hiệu để an lạc với tôi quả thật quá khó.
    Qua đây tôi áp dụng lời Phật dạy “ Lấy khổ làm thầy” để động viên mình. Nhận thấy mình tuy khổ nhưng lại làm khổ cho bao nhiêu người. Trong xã hội còn bao nhiêu người còn khổ hơn mình (Không chỉ riêng về mặt tiền tài). Tuy vậy mình có tài sản quý giá không có gì sánh được là được làm người, được biết Phật pháp và có duyên tu Tịnh độ để có cơ hội một đời được về với Đức Phật A Di Đà. Khi nghĩ tưởng như vậy tự nhiên tâm bồ đề được hé lộ (dù đang yếu ớt), và có lòng thương đến mọi người, con vật và các chúng sinh khác, biết ơn đến Chư Phật, chư tăng, chư tổ … Như vậy tôi thấy được sự an lạc, hạnh phúc riêng của mình. Từ đó lời Phật dạy và câu Phật hiệu phát khởi tự nhiên hơn.
    Tôi có đôi lời nông cạn như vậy chia sẻ tới bạn HVCL, có gì sai sót mong bạn bỏ quá cho.
    A Di Đà Phật.

  14. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy !
    HVCL chỉ quen lắng nghe lời của Các Thầy,các vị Tiền Bối chứ ko dám mạo muội để bàn về .Trong cuộc sống đời thường,HVCL có đem những gì mình đã được nghe, được học nói cho những người chưa từng biết đến Pháp môn Niệm Phật, và hoàn toàn cũng tùy duyên, tùy lúc,hoàn cảnh mới dám nói.
    Bây giờ Thầy hỏi thì HVCL ko dám ko trả lời, vì HVCL cũng nghĩ câu chuyện ko nằm ngoài những gì giáo lý Phật dạy. Nếu thực sự có duyên mong sẽ được Thầy Thiện Nhân nâng đỡ ạ!
    Trong câu chuyện trên có 2 vấn đề cần làm sáng tỏ:
    1) Vấn đề của người Phật Tử tại gia: vì anh ta cũng hấp tấp, vội vàng (như HVCL vậy), nhưng cụ thể ở đây, người đó mong sớm có thể thay đổi vận mệnh của mình. Vì lẽ này nên tâm tụng kinh ,niệm Phật , làm điều phước thiện .. có tính toán => tâm không thanh tịnh=> công đức chưa đủ lớn để có thể chuyển được nghiệp.
    Tu là để sửa mình,học Phật để tìm con đường giác ngộ ,giải thoát , chứ không nên mong cầu Phước báu thế gian.Ngoài chánh hạnh là niệm Phật, thì các trợ hạnh khác như :ăn chay,phóng sanh,hành bố thí.. là giúp cho chánh hạnh mau được thành tựu.
    Người tu hành thanh tịnh, tinh tấn, thật vì muốn tự độ độ tha,thật Tín cùng Nguyện thiết, Hạnh chuyên cầu vãng sanh, thì không mong cầu mà tự được thành tựu, huống hồ chi những phước báu hữu lậu , nghiệp tự có thể chuyển biến.
    2) Về ý của Lão Hòa Thượng, HVCL cũng hiểu như những gì đã hiểu ở trên.500k (vnd) mà mua xe ô tô là điều hoang tưởng [ trừ khi là 500k usd ( điều này còn hoang tưởng hơn vì Lão HT ko có nhiều tiền như vậy)] . HVCL đoán rằng ở phần sau,HT sẽ chỉ bày cho anh Phật Tử tại gia 1 phương cách hữu hiệu để làm được điều phi lý đó:
    *) Hành bố thí với tâm ko mong cầu=> sẽ có được công dức vô lượng.
    **)Phát tâm tu hành thanh tịnh ko vì mục đích thỏa mãn tham, sân ,si của bản thân => về sau chắc chắn ko mong cầu mà đạo hành thành tựu, phước báo tự đến, nghiệp tự chuyển biến.

    Mong Thầy chỉ dạy thêm cho HVCL và các bạn Sen những điều mà HVCL chưa nhận ra ạ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Bạn đã hiểu đúng vấn đề rồi đó, nhưng hiểu rồi thì phải đem vào thực hành trong cuộc sống tu đạo thì mới thực sự có lợi lạc. TN thường hay chia sẻ lời cổ Đức: Miệng tụng tâm hành! Ví như miệng chúng ta thường niệm Phật thì tâm phải hướng về Phật=lý-sự viên dung. Hướng Phật không phải chỉ thích tụng kinh, niệm Phật là đủ, mà quan trọng hơn cả là phải hành theo hạnh của Phật dạy. Tuy nhiên khởi đầu tu học chúng ta chưa thể làm ngay việc đó, mà thế đó miệng niệm Phật, nhưng tâm lại khởi đầy phiền não và như vậy lý-sự đã không viên dung=không có lợi lạc.

      *Đạo Phật là đạo giác ngộ và giải thoát. Giác=không mê; ngộ=sáng tỏ. Giải thoát=không còn sự ràng buộc hay hệ luỵ. Đây là con đường Phật chỉ cho chúng ta đi, khi đi không ai có thể tránh không có những ngăn trở, chướng ngại. 500k mà Lão HT muốn cho vị cư sĩ nọ để mua ô tô không gì khác hơn là ngài muốn chỉ cho chúng ta thấy: tu nhưng đừng xa rời nhân quả. 500k để dụ cho hành trang còn quá ít ỏi nhưng lại muốn đi thật xa; ô tô để dụ cho tâm ham muốn ngũ dục, lục trần lôi kéo và thiếu thực tế (không thấu nhân, không hiểu quả). Do vậy bạn phải ráng học và năng thực hành hạnh nhẫn nhục, bởi nhẫn nhục chính là tiền đề để chúng ta vững vàng và trưởng thành trong đường đạo.

      *Luận lời Phật dạy thì chân tâm chúng ta giống như khối vàng ròng, nhưng còn ẩn sâu trong lòng đất và bị tạp chất che lấp. Muốn cho khối vàng đó lộ thiên thì hàng ngày, hàng giờ chúng ta phải miệt mài đào, bới, dũa, sàng sẩy… từng li, từng tý một thật cẩn trọng để thanh lọc những tạp chất bám phủ lâu đời khiến khối vàng ròng bị che lấp.

      Ẩn sâu trong lòng đất=nghiệp lực quá sâu dày; tạp chất=huân tập tam nghiệp tham, sân, si; miệt mài đào, bới, dũa, sàng sẩy… từng li, từng tý một thật cẩn trọng để thanh lọc những tạp chất bám phủ lâu đời=tin sâu-nguyện thiết-thực tâm hành+chân thành-thanh tịnh-bình đẳng-giác.

      Với tâm hành trì như vậy không lẽ nào chúng ta không thành tựu.

      Chúc thường tinh tấn.

      TN

  15. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Gửi bạn Tịnh Châu!
    HVCL rất cám ơn TC đã có ý chia sẻ kinh nghiệm bản thân để giúp HVCL và các bạn khác cùng học hỏi. HVCL thấy ý đó rất tốt.Trong mọi hoàn cảnh ,nghịch duyên, nếu tỉnh giác và luôn vững tâm, tinh tấn thì trần lao cũng là giải thoát (HVCL học ý câu này của Tổ Ấn Quang).
    Cảm ơn bạn, hãy cũng cố gắng nhé!
    Nam mô A Di Đà Phật!

  16. XUYẾN HUỲNH

    Nam Mô A Di Đà PHẬT .Thưa cư sĩ Phước Huệ cùng Thiện Nhân tôi có một câu hỏi vì nó làm tôi băn khoăn rất nhiều .câu Nam Mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà PHẬT thì có một vị nói với tôi rằng đã có Đạo sư thì không có tiếp dẫn mà đã có tiếp dẫn thì không có Đạo sư và nói câu này có vấn đề.đã tiếp dẫn thì không phải là đạo phật .vì đạo phật thì ai ăn nấy no không thể mình ăn mà nguời khác no được ,người phật tử phải có trí tuệ không để người mù dẫn đường mà lạc lối .Còn nói là Phật A Di Đà là một vị PHẬT giáo ,không phải là vị PHẬT qúa khứ .A Di Đà PHẬT thành kính hai cư sĩ giải đáp thắc mắc dùm

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn Xuyến Huỳnh,

      Khi học đạo Phật chúng ta luôn phải tuân thủ theo 4 nguyên tắc mà Phật đã dạy:
      – Y pháp bất y nhân: Ai nói đúng chánh pháp của Phật thì nên quán xét xem có lợi lạc cho mình hay không, nếu có thì nên áp dụng cho dù người nói là tu sĩ hay cư sĩ.
      – Y nghĩa bất y ngữ: Học pháp của Phật chỉ nên chiếu xét nghĩa chân chánh mà Phật dạy chứ không nên nương theo ngôn ngữ của người thuyết pháp (hay, dở, miền vùng)
      – Y trí bất y thức: Học pháp của Phật phải dùng trí tuệ để quán xét sự việc, thay vì dùng tâm thức phân biệt khởi lên khi các căn tiếp xúc với cảnh trần.
      – Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa: Học Phật pháp phải luôn nương theo những điều chân chánh có giá trị tuyệt đối hay còn gọi là chân lý mà Phật dạy, không nên nương theo những điều mang tính luận thuyết thế gian, bởi luận thuyết thế gian là khởi lên từ vọng thức do phân biệt chấp chước (thật-giả, hay-dở, chánh-tà, cao-thấp…)

      Trở lại điều bạn băn khoăn, TN xin trích dẫn lại lời Phật dạy trong A Di Đà Kinh, Phẩm thứ Năm – Nhân Hạnh Vãng Sanh: “…Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà”.

      Đoạn kinh văn này Phật dặn chúng ta điều gì? Nếu có chúng sanh nào nghe nói tới Đức Phật A Di Đà rồi chấp trì danh hiệu từ 1-7 ngày một lòng không tạp loạn, khi lâm chung Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó. Hiện thân để làm gì? Để giúp cho chúng sanh đó tâm không bị điên đảo, mà nhiếp tâm niệm Phật để Phật A Di Đà và Thánh chúng tiếp dẫn hành giả đó về Tây Phương Tịnh Độ. Đây là lời Phật Thích Ca dặn dò cho nên chúng ta phải một mực tin tưởng tuyệt đối lời Phật, chớ có sanh tâm hoài nghi mà bỏ lỡ cơ hội của chính mình.

      *Đạo Sư: còn gọi là người hướng đạo, giúp cho chúng sanh phá mê-khai ngộ, lìa khổ-được vui, chuyển phàm thành Thánh. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc đạo Sư hiện thân cõi Ta bà để giúp chúng sanh thời mạt pháp giác ngộ rồi tuỳ theo sở cầu sở nguyện mà vượt thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi; Phật A Di Đà cũng là Đạo Sư ở cõi Cực Lạc, Ngài có nhiệm vụ trợ duyên cho các chúng sanh tin tưởng vào lời Phật Thích Ca diễn nói và tin tưởng vào đại hạnh nguyện của Phật A Di Đà, kế đó khi nhân duyên hội đủ, Ngài sẽ tuỳ duyên mà tiếp dẫn chúng sanh đó về Cực Lạc.

      *Tiếp dẫn: tiếp là trợ lực; dẫn là chi đường, nghĩa là với những chúng sanh nào phát khởi được niềm tin chân chánh nơi Tịnh Độ, nhưng phước đức chưa thực tròn đầy, Phật A Di Đà sẽ hiện thân trợ duyên cho người đó, giúp người đó chánh niệm để niệm Phật mà sanh về Tịnh Độ. Trong đạo gọi là tự lực nương vào tha lực.

      Do vậy Đạo Sư – Tiếp Dẫn xét về lý có vẻ như hai nghĩa nhưng đi vào sự lại chỉ là một: Cùng giúp cho chúng sanh khai ngộ để thoát vòng sanh tử luân hồi. Vì thế ai muốn tranh biện Đạo Sư là Đạo Sư; Tiếp Dẫn là tiếp dẫn, TN nghĩ bạn không cần bận tâm làm gì cho tổn sức, điều quan trọng là bạn có thực tin vào lời Bổn Sư truyền giảng và có thực tin tưởng vào đại nguyện của Phật A Di Đà để tự cứu mình thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi hay không?

      TN

  17. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà phật!
    Kính gửi Thầy!
    Những lời thầy và CS Phước Huệ đã chỉ bảo ,HVCL sẽ cố gắng ghi nhớ và chịu khó thực tâm hành.
    Hạnh nhẫn nhục quả là khó! Từ việc hiểu cho đến hành rất xa nhau nếu mình coi thường điều đó. Như sáng qua, lúc đưa con đến lớp, HVCL( trước nay chưa khi nào bị mẹ chồng nói xấu trước mặt) thấy bà nói cháu rồi chuyển sang ” ..giống y như con mẹ mày” ( HVCL xin lỗi Thầy và mọi người vì trích dẫn). HVCL giật mình ,ko nói câu gì, kịp trấn tĩnh, chỉ thầm A Di Đà Phật. Lúc ra khỏi cổng thấy buồn vì bà, sau thôi,nghĩ biết đâu kiếp trước mình là con gái bà ấy chứ. Trên đường đến cty, vọng niệm này vẫn khởi đến 2 lần trong khi niệm Phật. HVCL lo lắng, Sau này còn nhiều việc ko đâu khác, bà thấy mình im im lại càng làm quá , như trong phim vậy,mình phải làm sao đây! Trước nay mình hay phải nói đôi ba câu, nay biết phải chịu nhẫn nhục, thế chưa đáng là gì, nhưng lần đầu tiên bị như vậy với mẹ chồng cũng phải suy nghĩ lắm ạ! Không biết nếu ở vào tình thế lúc đó Thầy và các vị Tiền Bối sẽ xử lý sao để định tâm ngay ! Phải như thế nào mới gọi là khắc chế được cửa ải này ạ?
    Sáng nay khi niệm Phật, HVCL có tập niệm chậm 1 hơi 1 câu như Thầy Tịnh Không,HVCL để ý thấy 20 phút đầu vì tỉnh táo, khoẻ khoắn nên tập trung nghe được từng câu, vọng niệm đếm được và đã quay lại ngay với câu Phật Hiệu,tuy nhiên vì chưa quen lấy hơi gấp vậy nên HVCL thấy hơi mệt,quay sang niệm nhanh như trước thì thấy tạp niệm khởi nhiều hơn,nên dừng thời khoá lại, xin Thầy ” chẩn bệnh” và có lời khuyên đối trị thích hợp.
    HVCL mong thầy hoan hỷ khi cứ cập nhật status liên tục như vậy, vì tâm vọng thường biến đổi,lại không thể hỏi riêng Thầy, HVCL mong tìm được cách niệm phù hợp qua tham vấn của các Thầy có kinh nghiệm, để rồi chỉ cần chăm chỉ, tinh tấn sẽ có tiến bộ.
    Thêm một việc nữa ạ, HVCL suy nghĩ như vậy ko biết có đúng không! 2,3 bữa nay , thay vì bắt ép trẻ con trong nhà phải làm theo ý mình để ko thế này hay thế kia, HVCL ko còn muốn nói nữa( thôi kệ nó làm gì thì làm, miễn ko bị ảnh hưởng đến nguy hiểm), thấy mình cũng vượt qua được nỗi tức giận rồi đó, cũng ko đến nỗi nào( dù phải dọn dẹp cũng lẩm nhẩm mấy câu ), nhưng tự HVCL thấy ko còn ” ham” mắng con nữa! Người khác thì HVCL ko mấy khi để ý làm gì, ai làm gì nói gì mình cũng ko quan tâm!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Cư sĩ Phước Huệ

      Chào bạn Hướng Về Cực Lạc,
      Trong tình huống bạn nêu, để được định tâm ngay thì công phu phải sâu dày. Bạn đang làm rất tốt, cứ kiềm chế tâm sân bằng câu Phật hiệu như thế, qua một thời gian sẽ thấy khác. Đừng quá nóng lòng, cũng đừng nên nghĩ “mẹ chồng sẽ làm tới” vì mục đích của bạn là kiềm cơn sân chứ không phải làm sao để mẹ chồng đừng làm tới, nếu nghĩ như thế là sẽ tiếp lửa vào cơn sân. Khi đã bình tĩnh hoàn toàn, nếu cảm thấy lời mẹ chồng sẽ gây ảnh hưởng xấu cho con của bạn thì mới hoà nhã trình bày riêng với mẹ chồng.

      Về cách niệm Phật, nếu bạn thấy mệt vì lấy hơi gấp thì lấy hơi chậm lại, không cần gấp vội như thế thì sẽ hết mệt. Cách nào cũng có chướng ngại riêng của nó, bạn cần phải vượt qua nó thì mới có tiến bộ, đừng nên thay đổi liên tục như thế. Giống như có nhiều đường đi, đường này thì có sông, đường kia thì có núi, đường nọ thì có thú dữ,..nếu bạn gặp sông thì quay lại, rồi đi qua đường có núi, rồi lại quay lại,..thì bao giờ mới đi được đến nơi? Chướng ngại là chắc chắn có và bạn cần giữ tâm trí quyết liệt để vượt qua, đó là một cửa ải bắt buộc trên đường đi mà bạn phải vượt qua.

      Về giáo dục con trẻ, không phải là không rầy la mặc tình để chúng làm này nọ, mà cần phải kiềm chế cơn sân của mình. Bạn đừng nhầm ở điểm này. Bạn rầy la, nhưng phải với tâm bình tĩnh, vì lợi lạc của chính đứa trẻ đó chứ không phải vì cơn sân, hoặc vì chúng trái ý mình. Ngoài ra, còn có nhiều cách khác để dẫn chúng đi đúng hướng, la mắng không phải là cách duy nhất. Ví dụ, phạt chúng không được xem ti vi,..cứ dựa vào thứ chúng yêu thích mà cắt, giảm,..thì sẽ có hiệu quả.
      Chúc bạn tinh tấn.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Hạnh nhẫn nhục quả là khó!

      Trong Lục Độ Ba La Mật thì hạnh nhẫn nhục đứng thứ ba: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
      Tại sao nhẫn nhục lại đứng thứ 3 mà không phải thứ nhất? Bởi muốn nhẫn nhục thì trước hết phải biết bố thí. Chúng ta khi mới tu học thường hay nghĩ: bố thí là ban bố tiền của, vật chất, nhưng thực tế trong hạnh bố thí gồm 3 hạnh quan trọng nhất: bố thí tài=tiền, của; bố thí vô uý =mang lại sự an lạc và không sợ hãi; và bố thí pháp=giúp người khác hiểu được chánh tà, mê ngộ.

      Trường hợp mẹ chồng bạn sở dĩ bạn còn thấy khó chịu mỗi khi nghe bà nói hay hành động, bởi trong tâm bạn còn khởi niệm phân biệt, chấp trước: đó là mẹ chồng, không phải mẹ đẻ mình. Mẹ (nói chung) quán chiếu theo nhân quả vốn thường quý con trai hơn con gái. Đây là nghiệp quả của chúng sanh tạo nên, vì thế khi thọ thai, hễ con trai vì sanh tâm mê luyến phụ nữ mà quyết tâm thọ thai để chiếm hữu; hễ con gái cũng vì sanh tâm mê luyến đàn ông mà quyết tâm thọ thai để chiếm hữu. Đây là nhân tại sao khi ra đời: mẹ thường là thương con trai, không thích con gái và cha thường quý con gái, không thích con trai. Điều này trong Kinh Đại Bảo Tích (Phẩm Thọ Thai) Phật đã dạy rất cụ thể. Mẹ chồng của bạn cũng không ngoại lệ. Vì bà sợ mất con trai nên bà luôn tìm cách chiếm giữ để con trai bà không vượt khỏi sự kiểm soát của mình; con trai bà (chồng bạn hiện nay) cũng vì quá thương yêu mẹ nên không chấp nhận bất cứ mọi hình thức, cư xử nào dẫn đến tổn hại mẹ mình. Trong đời gọi đó là thiên vị, bất công bằng, nhưng trong đạo gọi đó là nhân quả: vì đắm luyến trong ái dục nên có sự thương, ghét=sanh tử luân hồi. Khi học pháp, tu đạo bạn quán được cái nhân duyên thọ thai đó bạn sẽ phải làm gì? Một: đừng tìm cách chiếm hữu chồng mà hãy biết san sẻ với mẹ chồng để bà không có cảm giác bị mất con. Hai: hãy biết chia sẻ với mẹ chồng trong từng ý niệm. Ba: hãy dùng tâm từ bi để đối đãi với mẹ chồng. Tâm từ là gốc của đạo Phật. Nếu tâm bạn còn có ta, có người=còn phân biệt, chấp trước=còn phiền não. Bốn: hãy luôn lắng nghe và hoan hỉ kể cả khi mẹ chồng bạn có những ứng xử không thiện cảm với mình. Sự hoan hỉ sẽ phá tan màn ngăn cách giữa bạn và mẹ chồng, từ đó mà mối quan hệ được cải thiện.

      * Sáng nay khi niệm Phật, HVCL có tập niệm chậm 1 hơi 1 câu như Thầy Tịnh Không,HVCL để ý thấy 20 phút đầu vì tỉnh táo, khoẻ khoắn nên tập trung nghe được từng câu, vọng niệm đếm được và đã quay lại ngay với câu Phật Hiệu, tuy nhiên vì chưa quen lấy hơi gấp vậy nên HVCL thấy hơi mệt,quay sang niệm nhanh như trước thì thấy tạp niệm khởi nhiều hơn,nên dừng thời khoá lại.

      Tất cả đều là sự huân tập, niệm nhanh hay chậm cũng vậy. Việc lấy hơi gấp cho thấy tâm của bạn còn quá lao xao ở việc nương chấp số lượng danh hiệu Phật. Đừng để tâm tới số lượng mà quan trọng là khi niệm hãy lắng nghe tâm của bạn xem tâm đó đang muốn gì? Câu hỏi này bạn luôn thường phải đặt ra: Ai đang niệm Phật?

      *Thêm một việc nữa ạ, HVCL suy nghĩ như vậy ko biết có đúng không! 2,3 bữa nay , thay vì bắt ép trẻ con trong nhà phải làm theo ý mình để ko thế này hay thế kia, HVCL ko còn muốn nói nữa( thôi kệ nó làm gì thì làm, miễn ko bị ảnh hưởng đến nguy hiểm), thấy mình cũng vượt qua được nỗi tức giận rồi đó, cũng ko đến nỗi nào( dù phải dọn dẹp cũng lẩm nhẩm mấy câu ), nhưng tự HVCL thấy ko còn ” ham” mắng con nữa! Người khác thì HVCL ko mấy khi để ý làm gì, ai làm gì nói gì mình cũng ko quan tâm!

      Người Việt mình có một thói quen áp đặt lối sống cho con cái, vì vậy nhiều khi đã đánh mất tính, tư duy tự chủ của con cái mình. Đơn cử hễ ai hỏi câu gì nó phải ngước nhìn cha mẹ rồi nếu được sự đồng ý, nó mới dám trả lời. Điều này có sự nguy hại là biến những đứa trẻ trở thành một công cụ phục vụ cho cha mẹ và đương nhiên chúng giống như chiếc máy, hễ cha mẹ nhấn nút nó mới được chạy. Lúc còn nhỏ có thể tụi trẻ sẽ vì lo sợ cha mẹ nên chúng sẽ nhất cử, nhất động đều làm theo cha mẹ, nhưng khi chúng lớn ra tiếp xúc nhiều với xã hội thì có hai điều bất lợi, hoặc chúng trở nên thụ động hoàn toàn trong nếp nghĩ và lối sống hoặc chúng ta tìm cách phá rào cản của cha mẹ và tạo sự đối kháng mãnh liệt với cha mẹ.

      Việc niệm Phật, dạy con tu đạo cũng tương tự, chúng là những chúng sanh, chúng ta cũng là những chúng sanh, căn cơ, phước báu không đồng. Một chúng sanh không ham ưa Phật pháp mà chúng ta cưỡng chế họ phải nghe, phải học, phải tu theo, thì mình đã tự làm khó cho họ và cho chính mình. Phật pháp không lìa thế gian, vì thế mọi hành vi động niệm chỉ cần chúng ta nắm vững được thời cơ (nhân duyên chín mùi), tất chúng ta có thể tác pháp.

      Việc dạy dỗ con cái cũng như vậy, bạn hãy biết chọn thời điểm tối ưu mà tác pháp. Ví thử một đứa trẻ thích bắt những con vật để chơi rồi hành hạ, khiến chúng bị đau đớn rồi phải bỏ mạng và cảm thấy ưa thích, nếu ngay lúc đó vì sợ đứa trẻ đó tạo nghiệp mà chúng ta nói: nếu con làm vậy, sau này con sẽ phải trả báo, con sẽ bị đoạ…chắc chắn chúng sẽ phản ứng, bởi chúng chưa thể lý giải nhân quả báo ứng. Nhưng nếu chúng ta lấy một ví dụ: nếu chính con bị người khác ngược đãi, đánh đập, hành hạ thì sẽ ra sao nhỉ? Chắc chắn là sẽ đau đớn, khó chịu lắm. Câu hỏi tựa hồ rất đơn giản, nhưng sẽ đánh động vào tâm thức đứa trẻ, buộc nó phải động não. Khi đứa trẻ phản tỉnh=nó đã biết được nhân-quả. Do vậy các pháp của thế gian cũng chính là Phật pháp, bởi nó giúp cho mỗi chúng ta đều biết bỏ ác, hành thiện, biết nhân, biết quả, khác chăng ở sự khéo léo tác pháp và tâm tác pháp mà thôi.

      Tâm ham, ưa, thích mắng nhiếc người=tâm sân nộ. Một trong 4 nghiệp của khẩu có nghiệp không nói lời sân nộ. Ngược lại lời sân nộ là lời từ ái. Con cái thời nay nếu chỉ dùng lời từ ái chắc chắn sẽ khó mà giáo dục chúng, vì thế đôi khi cha mẹ phải dùng lời lẽ, hành động tưởng như sân nộ để khiến tụi trẻ biết sợ mà thức tỉnh. Thế nào là tưởng như sân nộ? Nghĩa là tâm không được sân, mà , thân, miệng giả đò sân. Điều này không dễ, bởi nếu chúng ta thường ngày không quán chiếu được tâm mình (quen sống trong sân nộ), ngay khi đối cảnh (con cái không nghe lời, hỗn hào…) lập tức tâm sân đã bừng lên và thân, khẩu cũng sẽ hành tương ưng. Trường hợp đó mà dạy con quả thực là khó đem lại tác dụng.

      Khi học pháp, những người xung quanh mình chính là thiện tri thức, bởi họ giúp mình thành tựu các hạnh: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

      Ví thử: con vừa làm sai, mình đã nổi sân nộ, quát mắng, đánh đòn…=mình chưa biết bố thí vô uý (người làm sai thường hay hoảng sợ, lo âu) nhưng mình không dùng lời từ ái để an ủi, động viên, thế đó lại nổi sân, quát mắng, thậm chí đánh đập chúng=mình chưa giữ được giới thiện là không sân nộ; khi sân nộ nổi lên đương nhiên hạnh nhẫn nhục cũng không có; nếu sự việc luôn tái diễn=mình không tinh tấn tu đạo=tâm không có định=trí huệ không thể ló rạng. Như vậy một hành vi sai của con, nhưng lại giúp mình thành tựu 6 bồ tát hạnh. Hiểu rõ rồi, mình phải dùng tâm hạnh này để dạy con, không lẽ gì con mình không tiến bộ. Điều này hoàn toàn khác với việc con làm sai, mình kệ nó, quan trọng nó không đụng tới chuyện tu của mình. Làm vậy là mới chỉ lợi mình chứ không có lợ tha. Lý là thế, nhưng đi vào sự thì phải trải qua thực nghiệm, đúc kết chúng ta mới thấy: giữ tâm định trong mọi thời khắc là khó, vì khó nên cần phải tinh tấn huân tập thì mới đạt hiệu quả.
      Chúc bạn tinh tấn và an lạc.

      Mail của TN: [email protected]

  18. XUYẾN HUỲNH

    Nam Mô A Di Đà PHẬT
    Chân thành cảm ơn Thiện Nhân rất nhiều,vì mình niềm tin chắc còn yếu nên dễ bị cảnh trần chi phối,giờ có giải đáp của Thiện Nhân làm tăng thêm niềm tin vào 48 lời nguyện của Đức phật a di đà «Y Pháp Bất Y nhân Y liễu nghĩa Bất Y Bất liễu nghĩa» Thành kính chúc an LẠC và bình an.

  19. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Cư Sỹ Phước Huệ!
    HVCL đa tạ những chỉ bảo của Cư Sỹ!
    Quả thực nghe CS lấy hình ảnh của con đường ví như cách niệm Phật HVCL thấy thuyết phục lắm ạ!
    Nhưng..
    HVCL vừa hì hục viết sắp xong đến nơi,chỉ 1s bất cẩn lại bị reset từ đầu, ôi thôi nghĩ mà chán nản,máy thì hay đơ bàn phím,công sức gần 1h đồng hồ của HVCL ..A Di Đà Phật !

    HVCL bức xúc bản thân ,đến cái máy cũng thử thách mình hay sao..
    Thôi thì ngày mai HVCL sẽ viết lại vậy ạ!

    HVCL có 1 thỉnh cầu, xin CS Phước Huệ giúp đỡ! Vì có chuyện rất khó nói ,liên quan đến danh dự người lớn,nên HVCL ko thể viết ra đây.Chuyện này từ HVCL mà ra,bây giờ nguy hại lắm rồi! Xin CS rủ lòng từ bi, HVCL ko biết phải làm sao,hỏi ai để vẹn toàn! Sdt của HVCL:0168.366.9930

    HVCL thành kính tri ân Cư Sỹ ! HVCL cũng biết giới hạn của mình ạ!
    Nam mô A Di Đà Phật

    • Cư sĩ Phước Huệ

      Chào bạn Hướng Về Cực Lạc,
      Vì PH đang ở Mỹ nên không tiện liên lạc với bạn qua điện thoại. Bạn hoan hỷ gởi lên email của bạn, PH sẽ gởi email đến bạn.
      PH chưa biết là việc gì, nhưng mong bạn hãy gắng bình tĩnh, và nhớ kiên trì, tha thiết cầu Phật A Di Đà gia hộ nhé.
      Nam Mô A Di Đà Phật.

  20. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Cư Sỹ Phước Huệ!
    E-mail của HVCL:
    [email protected]

  21. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    HVCL xin thầy Thiện Nhân và Cư sỹ Phước Huệ hoan hỷ nhắn lại nếu đã nhận được email ạ!

  22. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    HVCL xin chào tất cả mọi người: Cư sỹ Phước Huệ,Thầy Thiện Nhân, các vị Cư sỹ,các vị Thiện tri thức,các liên hữu!
    Xin các vị giải thích giúp HVCL về vấn đề ăn phi thời mà Đức Phật nói đến! Nếu làm được và không làm được sẽ trở nên như thế nào? Vì nề nếp này đã được huân tập nhiều đời,nên nay Ngoại trừ ngày Bát Quan Trai hàng Phật tử tại gia cố gắng tu tập theo lời Đức Thế Tôn,những ngày còn lại làm sao để dần đạt đến trạng thái đó? Có sự nên/ không nên hay uyển chuyển nào ở vấn đề này không ạ?
    HVCL cám ơn mọi người!
    A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      TN xin chúc bạn cùng tất cả các liên hữu một năm vạn sự an lạc.

      *”không ăn phi thời” là chỉ dùng một bữa trước giờ ngọ (12 giờ trưa). Đây là giới luật Phật chế ra cho hàng Tu sĩ thời Phật còn tại thế nhằm khắc chế tâm ngũ dục: tài, sắc, danh, ăn uống, ngủ nghỉ. Trong đạo gọi là tâm thiểu dục và tri túc. Thiểu dục là ít muốn; tri túc là biết đủ. Ăn một bữa cũng nhằm giúp cho hàng tu sĩ luôn hướng tâm về hai điều đó để tập trung vào sự tu đạo thanh tịnh.

      *Ngày nay tại các chùa cũng có nơi các hàng tu sĩ giữ được giới luật ăn một bữa trước giờ ngọ này, ngoài ra thì vẫn áp dụng ăn bình thường (2-3 bữa/ngày) nhưng có sự tiết độ vì phụ thuộc vào thể trạng của mỗi người.

      *Với hàng tu tại gia, giới luật không ăn phi thời chỉ áp dụng khi tu học tại đạo tràng, đặc biệt là tu Bát Quan Trai, bởi lúc thọ Bát Quan Trai Giới Phật tử sẽ thực nghiệm lối sống của hàng tu sĩ trong vòng 24 giờ. Tuy nhiên, cũng có nhiều người đã áp dụng lối sống này và đã đạt hiệu quả như nguyện. Vấn đề này chúng ta phải khéo tuỳ duyên chứ không nên gượng ép cho chính bản thân mình, bởi nếu ráng ép không ăn phi thời cho giữ đúng giới, nhưng sức khoẻ không đảm bảo, đồng nghĩa không có sức khoẻ để làm việc và tu học. Điều này khi phát tâm tu đạo, Phật Thích Ca đã làm biểu pháp cho chúng ta thấy gần 6 năm tu đạo trong rừng già, hàng ngày chỉ ăn một hạt mè, uống chút nước, kết quả là thân thể cạn kiệt, không còn sức sống=trí tuệ không thể sanh khởi. Do vậy việc “không ăn phi thời” chúng ta nên hiểu ở ý nghĩa: không nên tham ăn uống vô độ, nghĩa là khi chưa thọ ngũ giới, hễ gặp gì ăn nấy, ăn mọi nơi, mọi thời, không kể ngày đêm. Nay phát tâm tu đạo rồi chúng ta ráng ăn, uống theo đúng giờ giấc quy định trong ngày: sáng-trưa-chiều. Ngoài ra ráng tiết chế những bữa ăn uống không đúng thời khắc nói trên. Tác dụng: giảm tâm ham ưa ăn uống. Khi tâm ham ăn uống được điều tiết chúng ta sẽ có nhiều thời gian dành cho sự tu học. Đây là điều mà ngay trong khoá tu Bát Quan Trai vị Thầy thọ giới cũng sẽ hỏi và giải thích cho các giới tử khi thọ giới không ăn phi thời, nghĩa là nếu ai có thể ăn một bữa trước ngọ thì nguyện: Con nguyện giữ được; ngược lại thì nguyện con sẽ cố gắng=được dùng tiểu thực vào bữa chiều, ngoài ra không được ăn, uống thêm những gì khác. Trong đạo gọi đó là khai giới.

      *Chúng ta là người tu tại gia, vì vậy cuộc sống gắn với công việc, muốn đảm bảo sức khoẻ để lao động, làm việc và duy trì sự tu học, bản thân mỗi người đều phải tự lập cho mình một lối sống phù hợp cả đời lẫn đạo, ngoại trừ khi chúng ta đã không còn tham gia lao động, hàng ngày chỉ còn nghỉ ngơi và tu học thì việc học lối sống không ăn phi thời là điều đáng khích lệ.
      Mọi chuyện nên tuỳ duyên thì sẽ có lợi lạc.

      TN

  23. Liên Trúc

    A Di Đà Phật!
    Xin quí vị hướng dẫn dùm e,e được 1 người nói e là có căn duyên,vậy e xin hỏi có căn duyên ý là như thế nào vậy ạ,có liên quan tới vấn đề xuất gia ntn vậy ạ,e xin cảm tạ các quí vị ạ!
    Nam Mô A Di Đà Phật!

  24. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL có thói quen xấu là rất hay ăn vặt, sẵn có đồ ăn hay ai đó mời đều khó từ chối . Nghe Thầy phân tích như vậy,HVCL sẽ nghe lời Thầy, dần tiết chế thói ăn linh tinh ko theo giờ giấc này .Ngày tu tập BQT chỉ 1 ngày thôi nên HVCL chịu được ,mà những ngày khác thì hơi khó khăn ạ, vì bữa ăn chính chỉ đồ rau , nhanh no cũng nhanh đói, vậy là HVCL ăn bất cứ khi nào đói.
    Dù đã 3 lần tu BQT 1 ngày, nhưng hôm vừa rồi HVCL mới có ý nghĩ tìm hiểu về giới ăn phi thời. Trước giờ Ngọ mà ăn thì có công đức ( giảm dần khi càng tới Ngọ),nếu ăn muộn từ 4 giờ chiều trở đi, gây phiền não cho cõi Ngạ Quỷ. Về điều này ,từ hôm biết được, mỗi lúc ăn bữa tối HVCL thấy áy náy lắm, thử đặt mình vào tình trạng đó chắc không chịu nổi. Mà vẫn phải ăn để còn đi làm vậy. Nhưng HVCL xin hỏi Thầy là có cách gì / thần chú gì/ .. 1 cách nhanh và đơn giản hay chỉ niệm Phật để hồi hướng, để những chúng sanh gần đó bớt được khổ sở bức bách không ạ?
    Nghĩ lại trước đây có nhiều ngày- ngày ngủ,đêm ăn ( do CV), bây giờ lại hay ăn tùm lum tào lao, dù là ăn để làm để tu học, nhưng cảm giác ko thoải mái như lúc ko biết vậy!
    HVCL đa tạ Thầy đã chỉ dạy!
    HVCL sơ suất ,
    Xin chúc Thầy ,Cư Sỹ Phước Huệ, các Vị Cư Sỹ, Các vị Thiện Tri Thức, Các Liên Hữu , tất cả mọi người sang năm mới thân tâm thường an lạc, Tu hành tinh tấn, Sớm thành tựu chánh hạnh, Như nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới trong đời này.
    P/S: HVCL sẽ repeat lời chúc mừng này mãi thôi,đến Tết cổ truyền HVCL cũng sẽ dùng lại nữa. vì HVCL không nghĩ ra được lời chúc nào khác đầy đủ và ý nghĩa, và đúng cho hành giả tịnh Độ như vậy ạ. 🙂

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Ngày tu tập BQT chỉ 1 ngày thôi nên HVCL chịu được ,mà những ngày khác thì hơi khó khăn ạ, vì bữa ăn chính chỉ đồ rau , nhanh no cũng nhanh đói, vậy là HVCL ăn bất cứ khi nào đói.

      Bạn chớ khởi nghĩ: Tu BQT một ngày thì ráng chịu đựng, qua rồi thì sẽ tiếp tục sống như mình thích. Một ngày tu BQT nhưng nếu tâm thực thanh tịnh thì công đức vô lượng, vì thế khi thọ giới tâm bạn phải thật thanh tịnh, đừng khởi nghĩ bất cứ ý niệm nào ngoài tâm thanh tịnh đó, được vậy 24 giờ tu mới thực có lợi lạc.

      Việc hay ăn vặt cũng là thói quen; thói quen huân tập=nghiệp=nghiệp ăn vặt. Vì thế, khi ăn, Phật dạy: đừng khởi niệm ngon hay không ngon; nhiều hay ít, mà hãy chú tâm vào bữa ăn của mình, ngoài bữa ăn không khởi nghĩ điều gì khác=ăn trong chánh niệm. Bạn đã tu BQT, hẳn vị thầy truyền giới cũng khai thị khi thọ trai về Tam Đề và Ngũ Quán. Trong đó Ngũ Quán là rất quan trọng, điều này nếu trong mỗi bữa ăn chúng ta đều giữ được, dù ăn cơm rau bạn vẫn thấy thân thể không hề mỏi mệt. Sở dĩ niệm đói thường khởi là do chúng ta còn quá nhiều phiền não và để tâm đeo đuổi những phiền não=tổn sinh khí và năng lượng trong thân thể, nhưng nếu tâm luôn chánh niệm=sinh lực không tổn=ít nghĩ tới ăn uống.

      *Trước giờ Ngọ mà ăn thì có công đức (giảm dần khi càng tới Ngọ), nếu ăn muộn từ 4 giờ chiều trở đi, gây phiền não cho cõi Ngạ Quỷ. Về điều này, từ hôm biết được, mỗi lúc ăn bữa tối HVCL thấy áy náy lắm, thử đặt mình vào tình trạng đó chắc không chịu nổi. Mà vẫn phải ăn để còn đi làm vậy.

      Bạn chớ hiểu lầm, bởi công đức phải ở sự trì giới thanh tịnh, vì vậy như bên trên TN đã chia sẻ: ăn, uống nếu biết tiết độ và có chánh niệm=có công đức, hoàn toàn không phải cứ ăn một bữa trước ngọ là có công đức. Trong nhà thiền có một câu chuyện kể một vị cư sĩ, nguyện thọ trì 5 giới, nhưng cả 5 đều phạm hết, duy nhất có một giới khi ăn cơm trong đạo tràng là vị này luôn giữ được chánh niệm. Tuy nhiên một vị Hộ pháp đã thấy thất vọng, nên đã báo mộng cho vị cư sĩ nọ và tuyên bố sẽ không hộ pháp cho vị cư sĩ nữa. Tỉnh dậy, vị cư sĩ nọ hoảng hốt bèn thuật lại cho vị Thầy của mình và đã xin thọ lại ngũ giới và nguyện giữ giới thật thanh tịnh. Qua tiết chuyện này chúng ta thấy chư hộ pháp luôn thường ủng hộ người tu đạo, với điều kiện chúng ta phải thực tâm tu và giữ giới thanh tịnh, ngược lại thì chúng ta không có một sự lợi lạc nào cả.

      Việc cho rằng ăn từ 4 giờ chiều sẽ gây phiền não cho giới ngạ quỷ là không đúng, bởi mỗi giới đều có sự thọ thực khác biệt. Ngạ quỷ giới muốn thọ thực họ đều phải nhờ con người làm lễ thí thực qua việc gia trì mật chú của Phật thì họ mới có thể thọ dụng, ngoài ra họ không thể thọ dụng bất cứ thứ gì. Do vậy trước khi ăn, vào buổi sáng và trưa (tại gia) chúng ta nên chắp tay lại, niệm: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; buổi chiều: Nam Mô A Di Đà Phật! Khi chánh niệm, đồng nghĩa chúng ta đang cúng dường thập phương pháp giới chư Phật và chư chúng sanh, vì thế bữa ăn cũng tránh bị những độc tố sâm hại.

      *Nhưng HVCL xin hỏi Thầy là có cách gì / thần chú gì/ .. 1 cách nhanh và đơn giản hay chỉ niệm Phật để hồi hướng, để những chúng sanh gần đó bớt được khổ sở bức bách không ạ?

      Trong đạo Phật có pháp cúng thí ngạ quỷ còn gọi là Pháp Mông Sơn Thí Thực. Tuy nhiên người tại gia không nên làm. Một: do không thông hiểu pháp nên làm không đúng pháp. Hai: do công đức và năng lực tu không hội đủ rất dễ bị cảnh giới ngạ quỷ tới quấy phá. Do vậy các hồi hướng đơn giản nhất khi ăn vẫn là niệm hồng danh Bổn Sư và A Di Đà Phật.

      *Nghĩ lại trước đây có nhiều ngày-ngày ngủ, đêm ăn (do CV), bây giờ lại hay ăn tùm lum tào lao, dù là ăn để làm để tu học, nhưng cảm giác ko thoải mái như lúc ko biết vậy!

      Bạn chớ để tâm bị kẹt vào chuyện ăn uống. Chưa tu thì ăn phi thời, ăn không tiết độ. Nay biết tu và thực tu thì ăn uống tiết độ=giảm dần thói ăn uống phi thời. Sở dĩ còn niệm không thoải mái vì bạn còn bị kẹt trong niệm ăn, uống. Phải buông xả niệm này bạn sẽ thấy ăn uống không còn là cực hình nữa.

      TN

  25. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL tuy đã 3 lần được tu 1 ngày 1 đêm BQT, nhưng chưa lần nào được biết về Tam Đề và Ngũ Quán ạ! Có lẽ do lượng Phật Tử quá đông mà 2 lần HVCL đều phải ngồi ở ngoài sân, lần thứ 3 quyết tâm đi sớm nên được vào trong nhà, nhưng có thể các Thầy đã nói ở nhiều lần trước mà lần đó thì không..Xin Thầy nói cho HVCL được rõ ạ!HVCL muốn được hiểu rõ để không chỉ trong ngày tu tập BQT được viên mãn công đức mà những ngày bình thường cũng giúp tâm giảm được thói quen xấu này .Trước đây, HVCL vì ko biết nên thường dễ dãi với bản thân, ko nghĩ là xấu ,là nghiệp, may sao có duyên hỏi đến mới nhận ra để sửa mình. HVCL ngẫm nghĩ cũng thấy lạ! Hii
    Thông tin HVCL đọc được “sau 4 giờ chiều sẽ gây phiền não cho giới ngạ quỷ “, cụ thể là khi họ nghe thấy tiếng leng keng bát đĩa của người ăn, nghiệp của họ( rất đói) khiến cổ họng cháy khết.. ý đại khái là vậy ạ.Thưa Thầy nếu như vậy thì cõi đó họ dùng thức ăn gì ạ? Làm thế nào để những chúng sanh đó được giải thoát khỏi khỏi cảnh giới khổ đau đó( nói riêng và nói chung cho cả cảnh giới Địa Ngục)?

    HVCL chỉ giữ được chánh niệm lúc ban đầu ( trước khi ăn chắp tay thỉnh mời” cúng dường Phật,Pháp,Tăng”, HVCL học được ở đâu đó lâu lắm ,nhưng không liên quan đến vấn đề ăn phi thời),
    sau đó thì như Thầy nói ạ: cuốn theo vị ngon của đồ ăn và vì đói .. => mất hết chánh niệm 🙁

    Nhờ Thầy chỉ bảo nên HVCL đã hiểu vấn đề này rồi ạ, sẽ không suy nghĩ nhiều nữa, cố gắng giữ chánh niệm nhiều hơn!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Tam Đề và Ngũ quán là một nghi thức trước khi thọ trai trong các đạo tràng, đặc biệt khi có Phật tử tại gia thọ Bát Quan Trai Giới thì việc giúp các giới tử hiểu rõ hạnh nguyện của người xuất gia là điều thường được vị Trụ trì hay vị Thầy thọ giới nhắc tới. Để các bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa thọ trai trong trai đường, TN xin trích lại bài viết của Thầy Thích Nguyên Tạng hướng dẫn chi tiết về nghi thức thọ trai, hy vọng các bạn nào chưa hiểu rõ có thể lấy đó làm nền tảng để khi được thọ BQT không bị bỡ ngỡ và có thể lấy đó làm nền tảng tu học tại gia.

      ……………………………………………..

      CÚNG QUÁ ĐƯỜNG
      Thích Nguyên Tạng

      Cúng Quá Đường là một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong mùa an cư kiết hạ hay kiết đông của hàng đệ tử xuất gia. Năm nay, Canh Dần 2010, mùa An Cư Kiết Đông kỳ thứ 11 của Giáo Hội Úc Châu được tổ chức từ ngày 6 đến 16-7 năm 2010 tại Thiền Viện Minh Quang, ở thành phố Canley Vale, cách trung tâm thành phố Sydney 30 phút lái xe, người viết xin ghi lại đôi nét về lễ nghi quan trọng này để giúp quý Phật tử mới vào đạo hiểu thêm về nghi thức này.

      Quá Đường, còn gọi là Thượng Đường hay Phó Đường, nơi Tăng chúng đến thọ thực mà tâm không tham trước (theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang, trang 5752). Quá Đường, nghĩa đen: Đường là nhà, Quá là đi qua, nghĩa là chư Tăng đi từ Tăng đường, Khách đường, Tây đường, Đông đường…. đến Trai đường để thọ thực, nên gọi là Quá Đường hoặc Phó Đường. Theo sự nghiên cứu của HT Thích Huyền Tôn, Ngài nhớ đã đọc trong Vạn Tục Tạng, Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy, quyển 6, theo tài liệu này cho rằng nghi thức cúng Quá Đường xuất xứ tại Chùa Từ Ân ở Lạc Dương, tỉnh Hà Nam thuộc triều đại nhà Đường (618-907) Trung Quốc, chứ trước đó chưa có danh từ Quá Đường. Ai cũng biết triều đại nhà Đường, nhất là thời Vua Đường Thái Tông (599-649), là vị hoàng đế thứ hai của triều đại này trong lịch sử Trung Hoa, trị vì từ năm 626 đến 649. Ông là một vị vua tài ba, người đã thiết lập sự cường thịnh của Triều đại nhà Đường, đặc biệt ông cũng là người hỗ trợ cho Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang mọi điều kiện để dịch thuật Kinh Tạng tại Chùa Từ Ân ở Trường An.

      Thời Phật còn tại thế ở Ấn Độ cũng như các quốc gia theo Phật Giáo Nam truyền không có nghi thức cúng Quá Đường mà chỉ theo phương thức “ nhật trung nhất thực, thọ hạ nhất túc”, nghĩa là “ giữa ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây một lần”, buổi sáng đắp trì bát vào thành khất thực, sau đó về tịnh xá thọ thực và tọa thiền dưới gốc cây, truyền thống tuyệt vời này hiện nay vẫn còn áp dụng một cách sống động ở các quốc gia như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và miền Tây Việt Nam. Cho đến khi Phật Giáo truyền đến Trung Hoa, rồi sau đó truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… thì chư Tổ Đức mới tạo ra nghi thức cúng Quá Đường này như một pháp tu tập, trước để dâng cúng mười phương Tam Bảo, sau đó hành giả mới dùng cơm, đây là nghi cách đặc biệt trong việc tri ơn và báo ơn ngay trong bữa ăn của mình. Trước khi ăn phải cúng dường, phải tưởng niệm và sau đó giữ chánh niệm trong lúc ăn, nếu hành giả nghiêm trì và cẩn thận trong bữa ăn như vậy, phước và đức phát sinh và tăng trưởng từ đây.

      Tiếp theo đây, xin nói chi tiết và thứ lớp trong nghi thức Quá Đường, sau khi hành giả vào trong trai đường, nghe Thầy Duy Na nhịp ba tiếng chuông, chấp tay xá một xá và ngồi xuống, khi nghe một tiếng khánh, mở nắp bình bát ra, cắm chiếc muỗng quay ra phía ngoài vào cơm in sẵn, sau đó nghe chuông hành giả tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải kiết ấn cam lồ ngang miệng bình bát hay bát cơm để tụng bài cúng dường: “ Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật, Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật, Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật, Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”.

      Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường, cũng được gọi là “cử án tề mi”, tức là đưa lên ngang chân mày để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo, đây là cung cách cúng dường trong nghi cúng Quá Đường, vừa đẹp vừa trang nghiêm, do vậy mà đại chúng không nên đưa bát cơm quá cao hoặc quá thấp mà phải ngang trán của mình.

      Cúng dường xong để bát xuống, liền xoay hướng muỗng vào bên trong, với ý nghĩa, phần cơm dành cho mình, còn trước khi cúng, quay muỗng ra ngoài là để dâng cúng mười phương Tam Bảo. Ở đây, người viết xin giải thích một chút về việc kiết ấn cúng dường, tay phải kiết ấn cam lồ với ngón tay cái đặt lên ngón áp út co sát vào trong lòng bàn tay, ba ngón tay còn lại vươn thẳng lên, ấn cam lồ này là biểu trưng cho lòng từ bi, như hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lồ, tay bắt ấn để ban rải lòng từ bi để cứu khổ chúng sanh. Tay trái kết ấn Tam Sơn, ngón giữa và ngón áp út co lại, ba ngón còn lại vươn thẳng lên, như ba ngọn núi, tạo một thế kiềng ba chân vững chắc để đặt bình bát cơm vào giữa. Ấn Tam Sơn này biểu trưng cho Giới Định Tuệ, là ba môn vô lậu học, một môn học có thể đưa hành giả đi vào đường giác ngộ. Ta thấy trong nghi cách dâng bát cơm cúng dường này đã gói gọn ý nghĩa từ bi và trí tuệ, là hai yếu tố quyết định quan trọng trong đời mình, hạnh phúc hay đau khổ cũng chính từ đây mà có. Từ bi là lòng thương không có điều kiện, và trí tuệ là trí hiểu biết không nhiễm ô, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả, ai thành tựu được pháp hành này, người ấy luôn sống an lạc tự tại dung thông ngay trong hiện tại và mai sau, tất nhiên, con đường dẫn đến giải thoát sinh tử luân hồi đã ngắn dần ở phía trước.

      Tiếp đó, Hòa Thượng Chứng Minh Trường Hạ để một cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, kiết ấn cam lồ và mặc niệm: Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa giới. Án độ lợi ích tá ha. (3 lần) và đại chúng đồng tụng bài biến thực biến thủy chơn ngôn “Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng(3 lần); Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần). Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần). HT Chứng Minh thầm nguyện: “Nhữ đẳng quỉ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỉ thần cộng. Án mục lăng tá bà ha. (3 lần).

      Theo sau là Thị Giả tống thực, đem chung nhỏ ra trước bàn ngoài sân để cúng Đại Bàng bằng cách hô to: ”Đại Bàng Kim Sí Điểu, Khoáng dã quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. (7 lần) (nghĩa là: Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần nơi đồng rộng, mẹ con quỉ la sát, cam lồ được no đủ). Tiếp theo, Thầy Duy Nha xướng Tăng Bạt: “Phật chế đại chúng, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di Đà Phật”, (Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng giữ chánh niệm).

      Tiếp đó, tất cả đại chúng hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc: “Chấp trì ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần), nghĩa là: Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận của trời người cúng”. Ứng cúng ở đây là xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời, chỉ cho bậc A La Hán, người đã đoạn tận tam độc tham, sân, si và vô minh phiền não. Trong khi cúng Quá Đường ý niệm này khởi lên, mong cho chính bản thân mình và hết thảy chúng sinh sớm chứng đắc A La Hán và thoát ly sinh tử luân hồi khổ đau.

      Nghe tiếng khánh để bát cơm xuống và múc ít cơm ra chén để lưu phạn; nghe chuông, bưng chén cơm để trước ngực và thầm đọc: “Dĩ kim sở tu phước, phổ triêm ư quỉ chúng. Thực dĩ ly khổ não, xả thân sanh lạc xứ. Bồ-tát chi phước báo, vô tận nhược hư không, thí hoạch như thị quả, tăng trưởng vô hưu tức. Án độ lợi ích tá ha. (nghĩa là: nay đem phước đã tu, ban cho tất cả quỉ, ăn rồi hết đau khổ, xả thân về cõi tịnh, hưởng phước của Bồ Tát, rộng lớn như hư không, quả tốt như vậy đó, tiếp tục lớn thêm mãi). Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỉ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn.

      Lưu phạn xong, nghe 2 tiếng chuông đại chúng bắt đầu dùng cơm, trước khi ăn, hành giả phải khởi niệm Tam Đề và Ngũ Quán, đây là một nghi cách đẹp và có ý nghĩa của nhà Phật mà hành giả không phải chỉ áp dụng trong khi cúng Quá Đường mà có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn khác của mình trong đời sống. Tam Đề là ăn ba muỗng cơm lạt đầu tiên, muỗng thứ nhất: thầm đọc, nguyện chấm dứt tất cả những điều ác (Nguyện đoạn nhứt thiết ác) ; muỗng thứ hai: nguyện làm tất cả những việc lành (nguyện tu nhứt thiết thiện); muỗng thứ ba: nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh (Nguyện độ nhứt thiết chúng sanh). Ý nghĩa Tam Đề này là nói rõ mục đích tối hậu của hành giả tự độ mình là dứt ác, làm lành, đạt đến giải thoát và thực thi hạnh độ tha là giúp đỡ người khác rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, ra khỏi tà kiến để chấm dứt đau khổ trong đời sống để rồi cuối cùng cũng đạt đến giác ngộ giải thoát như bản thân mình.

      Tiếp đến bắt đầu ăn cơm phải tưởng Ngũ Quán: Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này; Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này; Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn; Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật; Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này. (Nhất kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ. Nhị thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng. Tam phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông. Tứ chánh sự lương dược, vị liệu hình khô. Ngũ vi thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực).

      Trong suốt thời gian dùng cơm, hành giả luôn luôn giữ chánh niệm với 5 phép quán trên. Thiền ngữ của chư Tổ đã từng cảnh báo chư hành giả về sự quan trọng của phép ăn cơm rằng:

      “Ngũ quán nhược minh kim dị quá,
      Tam tâm dị liễu thủy nan tiêu”,

      Có nghĩa là “nếu phép ngũ quán được liễu thông thì dù có ăn vàng đi chăng nữa thì vàng đó cũng được tiêu hóa, ngược lại nếu ba tâm kia không hiểu rõ dù có uống nước, nước kia cũng không thể tiêu được. Hiểu được ý này mà Thầy Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức,TT Thích Tâm Phương đã từng nhắc nhở hàng đệ tử trước khi dùng cơm trong các kỳ thọ bát Quan Trai rằng:

      Mỗi khi nâng bát cơm đầy,
      Nhớ ơn Tam Bảo, ơn Thầy, Mẹ Cha
      Nhớ người tín thí gần xa
      Con nguyện sống hạnh vị tha đáp đền.

      Ăn cơm xong, lấy tăm xỉa răng và thầm nguyện “Tước dương chi thời, đương nguyện chúng sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư phiền não. Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng thâu đà da, đà ra đà ra, tố di ma lê, sa phạ ha (3 lần), có nghĩa là: “Nhấm tăm dương chi, nên nguyện chúng sinh, tâm tính thuần hóa, cắn nát phiền não”. Ngày xưa tăm dùng trong chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương. Ăn xong xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ và tâm tư thư thái, hoan hỷ, không có chút lo lắng phiền não, nên cũng mong cho người khác cũng giống như chính mình.

      Xỉa răng xong, nghe Thầy Duy Na nhịp một tiếng chuông, đại chúng cùng uống nước, hai tay bưng bát nước cung kính trước ngực và thầm nguyện: Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần). (nghĩa: Phật nhìn một bát nước, có tám vạn tư vi trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Qua Phật nhãn, Đức Thế Tôn thấy rõ có vô số vi trùng trong một bát nước, một cái thấy mà mãi đến hơn 2000 năm sau mới có người phát hiện, đó là vào hậu bán thế kỷ 19, nhà Sinh vật học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) khám ra những vi khuẩn gây bệnh qua kính hiển vi. Cũng chính vì bài kệ chú uống nước có tính siêu khoa học này mà nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, ông Albert Einstein (1879-1955) đã không ngần ngại khi tuyên bố “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”.

      Uống nước xong, nghe chuông, đại chúng cùng tụng bài Kiết Trai: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần). Sở vị bố thí giả, tất hoạch kỳ lợi ích. Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp. (nghĩa: gọi là bố thí, tất được ích lợi ; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn mãn, đầy đủ Phật pháp.)

      Theo sau là nghi thức niệm Phật và Kinh Hành, đi từ trai đường lên Chánh Điện, hành giả chấp tay nghiêm trang và từng bước chân kinh hành, miệng niệm Phật trong chánh niệm, vào điện Phật, lễ Tứ Thánh, quỳ xuống tụng bài Sám Nguyện và hồi hướng công đức, đó là hoàn mãn thời Cúng Quá Đường trong mùa An Cư.

      Trên đây là nghi thức Cúng Quá Đường trong thiền môn, được xem là nghi thức dùng cơm trong chánh niệm, áp dụng cho tất cả các bữa ăn khác, hành giả cần phải phải thuộc lòng các bài kệ chú để áp dụng trong bữa ăn để giúp mình giữ gìn chánh niệm, không tạp tưởng, mơ màng trong lúc ăn là mục đích chính.

      Trong lúc chúng ta đang ăn cơm trắng, uống nước trong tại Trường Hạ, thì số người bị thiếu ăn trên toàn thế giới hiện đã lên tới hơn 1 tỷ, tương đương 1/6 dân số thế giới, một con số cao nhất trong lịch sử loài người, đây là thống kê mới nhất của tổ chức Lương Nông Thế Giới, FAO, http://www.fao.org/, tất cả đều do tác động của sự khủng hoảng tài chánh toàn cầu trong hơn một năm qua. Mong rằng năng lượng từ tâm của đại chúng tại Trường Hạ Minh Quang từ Úc Châu và hàng triệu đệ tử Phật trên khắp hành tinh này trong mùa An Cư năm nay, sẽ giúp chuyển tải năng lượng tu tập đến cho thế giới, giúp cho họ giảm bớt đau khổ và sớm cải thiện cuộc sống nghèo đói, nhất là mọi người đều có đủ cơm ăn và nước uống trong mỗi ngày.

      Nam Mô A Di Đà Phật

      Viết tại Trường Hạ Minh Quang, Sydney, 10-7-2010
      Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng

  26. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Bài diễn giảng vừa “chay” vừa dài Thầy ạ! 🙂
    HVCL không biết bao lâu mới thuộc và biết cách làm,nên HVCL sẽ để mọi thứ tự nhiên!
    HVCL cảm ơn Thầy rất nhiều vì đã lắng nghe và chia sẻ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *TN nhận thấy bạn học Phật pháp nhưng vẫn còn rất thụ động do bạn chưa vận dụng chánh tư duy để tiếp nhận Phật pháp, vì vậy bạn chưa có lợi lạc. Sở dĩ TN trích bài Nghi Thức Cúng Quá Đường của Thầy Thích Nguyên Tạng bởi đó là một ngih thức rất quan trọng của hàng tu sĩ, trong đó có cả hàng cư sĩ khi phát tâm tu Bát Quan Trai – thực hành Tăng hạnh thanh tịnh trong 24 giờ. Trong nghi thức này có Tam Đề và Ngũ Quán hàng Phật tử nói chung, đặc biệt là tại gia chúng ta khi thực hành thọ BQT giới đều phải nắm vững.

      *Tam đề: Tam là 3, đề là đề mục, đề xuất, đề nguyện. Ba đề nguyện là: không làm các việc ác; chuyên làm các việc thiện; nguyện độ tận chúng sanh. Hai việc thiện, ác thì rõ rồi, nhưng chúng ta nhiều khi chỉ hiểu thiện ác ở bề mặt, nhưng vi tế niệm nhiều khi chúng ta không để ý. Ví thử: Sát sanh để chiên, xào, nấu, nướng…là ác. Nay ăn chay chúng ta không sát sanh nữa, nhưng khi gắp đồ chay, tâm vẫn tưởng, cảm đến những món đồ mặn và cảm thấy nó ngon hơn đồ chay; hoặc chúng ta không trực tiếp sát sanh để ăn thịt, nhưng ra chợ lại chỉ, chỏ con nọ, con kia, rồi sai, nhờ người khác giết thịt cho mình mang về; về nhà lại nhờ người băm, chặt, chiên xào nấu nướng cho mình ăn. Lý thì chúng ta không trực tiếp, nhưng sự thì gián tiếp, nghiệp này cũng chẳng nhỏ=ác niệm. Thiện: ăn chay, giữ giới là thiện, nhưng đi đâu, nơi nào cũng đem sự ăn chay, giữ giới của mình ra để diễn nói, khiến ai cũng để ý, tán dương mình=chưa phải thiện, vì dùng ngã tướng để tu. Hễ có ngã sẽ có nhân, hễ có tướng sẽ có giả tướng (tức hư vọng). Đem cái nhân-ngã, cái hư vọng để tu=tà tâm=ác. Độ tận chúng sanh: chúng sanh này là chúng sanh nào? Chúng ta chớ khởi nghĩ là tận hư không giới chúng sanh. Chúng ta chưa đủ đức hạnh để mà độ tận những chúng sanh đó, trái lại chúng sanh này là chúng sanh tâm, tức mỗi mỗi niệm tâm khởi lên trong chúng ta. Niệm đó là gì? tham, sân, si, mạn, nghi, phân biệt, chấp trước. Những niệm này là chúng sanh niệm. Phật nói về thiện và bất thiện như sau: “Tham là bất thiện, vô tham là thiện. Sân là bất thiện, vô sân là thiện. Si là bất thiện, vô si là thiện. Như vậy ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện. Sát sanh là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện, Lấy của không cho là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Nói láo là bất thiện, từ bỏ nói láo là thiện. Nói hai lưỡi là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù phiếm là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện. Xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện. Sân là bất thiện, từ bỏ sân là thiện. Tà kiến là bất thiện, từ bỏ tà kiến là thiện. Như vậy này Vacchagota, mười pháp là bất thiện, mười pháp là thiện”. (Trung Bộ II, 135 bộ mới – HT Thích Minh Châu). Hàng ngày, hàng giờ chúng ta đều luôn sống với chúng, vì thế, nguyện độ tận chúng sanh=độ cho bằng hết những chúng sanh tâm bất thiện đó. Lý giản đơn: mình chưa thể độ mình, người dĩ nhiên chẳng thể độ.

      *Ngũ quán:
      Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này: Những người này là ai? hiểu sâu xa là những người nông dân cày cấy, chăm sóc lương thực, là những chúng sanh bọ rày, sâu, rệp… đã phải bỏ mạng, là những người gián, trực tiếp nấu bữa ăn, dọn, dẹp cho mình ăn và giúp mình có cơ hội tu BQT.

      Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này: hiểu cụ thể là: mình đã làm được những gì, có giới hạnh gì để mà thọ bữa cơm trong khoá tu BQT này?
      Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn: Tại sao ăn mà lại phải đoạn trừ lòng tham? Bữa ăn của Tăng chúng thời Phật tại thế chỉ vẻn vẹn trong cái bát, nhiều, ít cũng có vậy, không hơn, không kém. Vì thế khi ăn, mọi người không còn khởi tâm thêm, nếm hay ăn uống vô độ nữa.

      Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật: Loài người nếu không ăn, ắt sẽ chết, vì thế ăn là để duy trì huệ mạng mà tu đạo, do vậy thức ăn ví như vị thuốc giúp cho thân thể không tật bệnh mà tu đạo.

      Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này: Chánh niệm là không tán tâm, không khởi phiền não. Thường khi chúng ta ngồi trước bàn thờ Phật, may ra chúng ta mới không tán tâm, thực tế thì tâm chúng ta lúc nào cũng tán loạn cả, điều này khi ngồi niệm Phật chúng ta đều nhận ra. Vì thế, khi dùng trai (khi ăn) chúng ta cũng phải giữ tâm không tán loạn, trước là tâm không tán, thân khẩu không tạo nghiệp; thứ đến thức ăn sẽ đúng là vị thuốc để nuôi huệ mạng tu đạo. Ngược lại thì chúng ta sẽ tạo nghiệp ngay khi ăn và thức ăn sẽ trở thành độc tố khiến chúng ta bị đoản mạng.

      Năm điều này chúng ta phải thường quán niệm mọi thời, mọi lúc, bởi tu mọi thời chứ không phải ngồi trước bàn thờ Phật hay tới đạo tràng mới là tu.

      TN

  27. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL hổ thẹn!
    Thầy nói vậy vẫn là nhẹ nhàng cho HVCL ạ!
    Đa tạ Thầy đã chỉ bảo !

    HVCL không chịu bỏ thời gian ra suy ngẫm,tìm tòi, nghiên cứu mà lại muốn biết, nên điều gì cũng hỏi,như vậy là không tốt đúng không ạ!

    HVCL không biết nói gì hơn ngoài lòng cảm kích và biết ơn và biết ơn và biết ơn Thầy cùng các vị Thiện tri thức khác ở đây.
    HVCL sẽ cố gắng ko lười biếng, mong là học tốt được môn niệm Phật thù thắng này thì sẽ không cần phải có nhiều câu hỏi như vậy nữa ạ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      Không riêng gì bạn mà hàng ngày TN đều cảm thấy hổ thẹn với Tam Bảo vì mình chưa hành đúng như pháp Phật dạy. Những lúc như vậy TN đều phải sám hối ngay để quyết tâm trừ diệt tâm ô nhiễm và phiền não. Chúng ta đều là người mới tu đạo, vì vậy không thể tránh những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, giải đãi, nghi vấn… nhưng quan trọng là chúng ta phải tỉnh giác để nhận ra mình đang kẹt hay đang có xu thế thiên vào những ý niệm đó. Được vậy mỗi ngày chúng ta đều sẽ giải trừ được những vướng kẹt.

      Dưới đây là bài Nghi Thức Cúng Quá Đường mà Phật tử tại gia chúng ta nên tham khảo và học thuộc. Mong là bạn cũng nên phát tâm học thuộc, để khi tham dự tu BQT không còn ngỡ ngàng và có thể tự tin để cùng đại chúng tu cho đúng pháp. Được thế lợi lạc thực không thể nghĩ bàn.

      ………………………………………………………….

      NGHI THỨC QUÁ ÐƯỜNG (Phần in nghiêng dành cho Phật tử tại gia cần học thuộc)

      Giới tử đứng trước bàn ăn nghe tiếng khánh chắp tay đồng xá rồi ngồi xuống. Sau nghe ba hồi bảo chung, đồng tụng bài cúng dường. (Tay trái bắt ấn Tam sơn, tay mặt kiết ấn Tam Muội để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi dâng lên ngang trán đồng tụng bài cúng dường)
      Kết ấn Tam Sơn: Tay trái, ngón giữa và ngón đeo nhẫn co vào lòng bàn tay, ngón cái, ngón trỏ và út thẳng đứng như 3 ngọn núi (còn được ví là biểu tượng của giới, định, huệ), đặt bát cơm vào giữa 3 ngón đứng thẳng, sao cho không nghiêng ngả.
      Kết ấn Tam muội: Tay phải, ngón đeo nhẫn co vào lòng bàn tay, ngón cái vịn lên đầu ngón đeo nhẫn, 3 ngón còn lại hơi khum và để lên miệng bát cơm. Quan trọng khi kết ấn và trì chú, tâm phải thật thanh tịnh.

      1- CÚNG DƯỜNG
      Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật.
      Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật.
      Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật.
      Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phaät.
      Cực Lạc Thế Giới A Di Ðà Phật.
      Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật.
      Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. (Cúng dường rồi để bát xuống)

      2- XUẤT SANH
      Giới Sư để 1 cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, quyết ấn cam lồ mặc niệm: Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa giới. Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)

      Ðồng Tụng: Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng (3 lần)
      Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô tà bà
      ha. (3 lần). Án Nga nga nga nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần)

      Chủ Lễ Thầm Nguyện: Nhữ đẳng quỉ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỉ thần cộng. Án mục lăng tá bà ha. (3 lần)

      3- TỐNG THỰC (Thị giả): Ðại Bàng Kim Sí Ðiểu, Khoáng dạ quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. (7 lần) (nghĩa: Chim đại bàng cánh vàng, chúng quỉ thần đồng rộng, mẹ của quỉ la sát, cam lộ no đủ cả.)

      4- XƯỚNG TĂNG BẠT (Thầy chủ lễ): Phật chế Tỷ kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di Ðà Phật. (Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng chánh niệm).

      5- Hai Tay Bưng Bát Cơm Đưa Lên Trán Và Thầm Đọc: Chấp trì Ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần). (dịch nghĩa:Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận trời người cúng dường)

      6- Gắp Ba Miếng Cơm Rồi Thầm Nguyện: 1. Nguyện đoạn nhất thiết ác. 2. Nguyện tu nhất thiết thiện. 3.Thệ độ nhất thiết chúng sanh. (1. Nguyện dứt tất cả điều ác, 2. Nguyện làm tất cả điều lành, 3. Nguyện độ tất cả chúng sanh).

      7- Bắt Đầu Ăn Và Thầm Quán Tưởng Năm Pháp Quán:
      Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này.
      Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trao dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này.
      Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn.
      Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật.
      Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ con thọ dụng những thức ăn này.

      8- Ăn cơm xong, trước khi uống nước, xin thầm đọc: Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần). (nghĩa: Phật nhìn một bát nước, tám vạn tư vi sinh, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh.
      9- Tụng bài Kiết Trai: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần)

      Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích, Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, Đương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp. (Dịch nghĩa: Người phát tâm cúng dường, tất được nhiều lợi ích, nếu vui mừng bố thí, về sau được an lạc, dùng cơm đã xong, nguyện cho chúng sanh, mọi việc đều rõ, đầy đủ Phật pháp)

      10- Phục nguyện (Thầy chủ lễ xướng): Thân Phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Phổ Nguyện đàn na tín thí, tăng ích phước điền, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật Ðạo. Ðồng niệm: Ðại chúng đồng niệm: Nam mô A-Di-Ðà Phật! Nghe khánh cùng đứng dậy chắp tay xá và lui ra.

      11- Niệm Phật Kinh Hành: A-Di-Ðà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân, Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di, Cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-Ðà Phật. Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần) Nam-mô Ðại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần); Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần) Nam-mô Ðịa-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần); Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)

      Hồi Hướng: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật Ðạo.
      Nam Mô A Di Ðà Phật

  28. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Vâng, HVCL sẽ nghe lời Thầy ạ!

    HVCL định sẽ không hỏi thêm nữa đâu để Thầy chút nghỉ ngơi. Nhưng lần này không phải là HVCL hỏi mà là câu hỏi của bé con của HVCL. Bé năm nay 7tuổi ạ. Câu hỏi này mới gần đây thôi HVCL đã hỏi Thầy và CS Phước Huệ,nhưng hiện tại ko biết nói sao cho con hiểu. Bé kể là tối qua con mơ thấy ác mộng ( gặp quái vật) mà niệm Phật mấy câu nó cũng chưa sợ,chưa biến mất. Đây là lần thứ 2 con hỏi điều này,lần ác mộng trước , HVCL có bảo con phải niệm Phật thật nhiều ngay cả lúc bình thường (nhưng bản thân mình còn chưa làm tốt được điều đó), và lúc đó con ko được sợ hãi mới được. Bé hỏi tại sao lại vậy hả mẹ?
    HVCL hiểu là nếu sợ hãi sẽ mất phần chánh khí nên không thể cảm ứng được với Phật lúc này ,chỉ có bình tĩnh mới phát huy được sức mạnh câu Phật hiệu. Nhưng càng giảng giải thì trẻ con càng hỏi vì ko hiểu.
    HVCL xin Thầy hướng dẫn cho cách giảng để trẻ con có thể hiểu được. HVCL thấy bé cũng hoang mang như mình trước vậy, nếu niệm Phật mà ko kỳ diệu như mẹ nói thì rất có thể làm mất niềm tin của con vào Pháp môn niệm Phật này.
    HVCL đa tạ Thầy !

    • Tuấn Linh

      Chào đạo hữu HVCL.
      Cách giải thích dễ hiểu nhất là dùng ví dụ trăng và nước. Tâm chúng sinh như nước, Phật, Bồ tát như trăng. Tâm bình tĩnh không sợ hãi ví như mặt nước tĩnh lặng sẽ phản chiếu trọn vẹn ánh trăng, nếu sợ hãi sẽ giống như mặt nước xao động khiến trăng không thể hiện bóng rõ ràng.

    • NguyenPhu

      Chào bạn HVCL, NP nghĩ bé còn nhỏ sẽ khó tiếp thu được những ý sâu sắc trong kinh, cứ chia sẻ những điều đơn giản, gieo niềm tin nhiều vào, để nhân duyên của bé thêm dày, tới lúc trưởng thành thì sẽ tốt hơn cho bé nhiều lắm.NP lúc nhỏ mỗi tối khi nằm ngủ là mẹ bắt niệm Phật nhe con, riết thành một thói quen, lên giường nằm là phải niệm, rồi cũng hỏi mẹ này kia…nhưng mẹ cũng đâu thể giải thích được, chỉ nói đơn giản niệm Phật nhiều vào, niệm Quan Âm Bồ Tát nhiều vào cho các ngài phù hộ con bình an. Nhờ tiếp xúc Phật pháp sớm mà nhân duyên của NP thêm thù thắng khi trưởng thành, thói quen niệm Phật ngày xưa tuy không còn nhưng lúc nào NP cũng nhớ. Bạn năng kể chuyện về Phật giáo, về lòng vị tha, từ bi…những điều lành, những ý đơn giản về Phật pháp cho con gái nghe, gieo thật nhiều giống Phật vào cho con, khi trưởng thành nhân duyên của bé sẽ tốt lắm. Thêm một điều nữa, tuy biết là pháp môn có nhiều kỳ diệu nhưng cần cẩn thận với ý nghĩ kỳ diệu, nếu lỡ để con đi theo hướng có kỳ diệu xảy ra thì mới tu học, ko kỳ diệu thì mất niềm tin là không nên, Phật pháp đơn giản, bình dị xung quanh cuộc sống, giúp ta xoá bỏ mọi ưu tư phiền não, thấu suốt mọi việc trong cuộc sống chính mình, đây chính là điều kỳ diệu nhất mà người tu học hướng đến, nhờ hiểu rõ mà ta luôn an lạc trước sóng gió, tối ngủ cũng chẳng mơ, hoặc có mơ thì cũng là giấc mơ an lạc. Mỗi chúng ta tu học cần xác định đúng hướng ngay từ đầu, như vậy mới lợi lạc. Kinh Chuyển Pháp luân là bài pháp đầu tiên đức Phật thuyết, bất kỳ ai tu học cũng cần xem qua, bài thuyết trong kinh vô cùng quan trọng, tuy ngắn gọn nhưng đức Phật chỉ rõ cho ta đâu là khổ, đâu là nguyên nhân của sự khổ, như thế nào là giải thoát và con đường nào đưa ta đến với sự giải thoát, trước đây tu học tôi cũng di lòng vòng, chẳng rõ, chẳng biết, phiền não cứ khởi, càng chạy càng tránh thì nó càng khởi, cũng ngại tu học lung tung sẽ loạn, nhưng vì chính mình không hiểu rõ, không thấy được lợi lạc chân thật, tu học nhưng lại mơ hồ, không rõ, không chắc được điều gì, tôi bắt đầu tìm hiểu, xem nhiều kinh, lụm nhặt những gì mình hiểu để giải đáp thắc mắc phiền não là gì, sinh tử là gì, nó từ đâu đến (ngày nay tu học tuy khó khăn vì không có thầy kế bên chỉ dạy nhưng quả thật Phật pháp thật kỳ diệu, tâm có cầu chắc chắn sẽ có ứng), rồi nhân duyên cứ dẫn dắt tôi, càng xem càng ngộ ra nhiều điều, đến ngày tôi tìm xem được quyển kinh chuyển pháp luân là ngày tôi vô cùng hạnh phúc, tôi cảm giác như chính mình đang ngồi nghe đức Phật thuyết pháp, tôi cảm nhận được Phật pháp vô cùng kỳ diệu, vô cùng chân thật, và quá vĩ đại. Các bạn đồng tu thân mến, tôi chia sẻ quá trình tu học của chính mình, những thắc mắc, những ngoài nghi…và những gì mình thấy với các bạn với hy vọng giúp được các bạn một phần nào đó trên con đường tu học, mỗi người chúng ta cần hiểu rõ khổ là gì, nó từ đâu đến, rồi từng bước tu học, nếu chưa thật sự rõ khổ thì tu học sẽ khó khăn, khi chưa rõ nó chúng ta dễ bị nó dụ hoặc lôi kéo, đánh mất chánh niệm, cẩn thận tư duy, quan sát mỗi mỗi trong chính cái túi da này, rồi quán chiếu xung quanh, tư duy thật kỹ từng lời dạy của đức Phật, bất kỳ ai bắt đầu tu học cũng cần năng lau chùi tâm mình như bài kệ của sư Thần Tú, rồi dần lâu dần lâu nhân duyên đến thì tự khắc sẽ thấy được tự tánh thanh tịnh như bài kệ của tổ Huệ Năng.

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *TN rất hoan hỉ khi được chia sẻ cùng các bạn, bởi dù ít, dù nhiều mỗi chúng ta đều có sự lợi lạc nào đó để củng cố hành trang tu học.
      Điều đầu tiên TN muốn nói cùng các bạn là chúng ta phải phá bỏ ý niệm: trẻ con còn qua thơ ngây, chưa kịp tạo bất cứ nghiệp tội nào, vậy làm sao chúng lại thường gặp ác mộng, hay bị ốm đau, bệnh tật trên thân? Khi tu học chúng ta đều phải nắm vững: chúng sanh tạo nghiệp, nói khác đi là nghiệp của chúng sanh là không thể nghĩ bàn. Nghiệp báo gồm: hiện báo, sanh báo và hậu báo.
      a. Hiện báo: là nghiệp có ngay trong đời hiện tại, nghĩa là đời này tạo nghiệp, quả báo tức thì ập đến.
      b. sanh báo: đời này tạo nghiệp, đời sau mới phải chịu nghiệp.
      c. Hậu báo: đời này tạo nghiệp nhưng phải nhiều đời, nhiều kiếp về sau mới phải trả nghiệp.

      *Giấc mộng của con gái bạn nằm trong trường hợp b và c. Điều này không cứ con gái mới bảy tuổi, mà ngay khi vừa sanh ra, nhiều đứa trẻ cũng đã phải sống trong cảnh hoảng loạn, tật bệnh rồi. Lý đời không thể giải thích được nguyên nhân này, nhưng khi tu đạo chúng ta có thể nhận ra được, bởi mọi chuyện xảy ra trong đời đều không ngoài nhân quả. Để giúp con gái bạn hiểu tường tận lý lẽ này là điều khó vì nó vô cùng trìu tượng, do vậy bạn chớ nên tạo cho con gái áp lực tu học ngay từ nhỏ mà chỉ cần khéo léo vận dụng những câu chuyện nhân quả, ví thử: một đứa trẻ thích ăn sokola lại hay ăn về đêm, rồi vệ sinh răng không sạch sẽ, chắc chắn sẽ bị sún răng hoặc sâu răng rồi phải nhổ bỏ. Vì vậy muốn có hàm răng đẹp thì không nên ăn nhiều sokola và lại càng không nên ăn về đêm. Những con sâu răng chính là những gì con gái đang gặp trong giấc ngủ; hàm răng sún, sâu khiến mọi người nhìn thấy mình đều không ưa thích, hoảng sợ chính là tâm con gái khi ngủ gặp mộng dữ. Do vậy muốn tránh mộng dữ thì phải năng niệm Phật hay Quán Thế Âm Bồ tát, bởi năng niệm giống như con gái năng đánh răng để giữ gìn hàm răng đẹp, từ đó mọi người ai nhìn cũng thấy yêu mến. Chư Phật và Bồ tát cũng vậy, giống như ba mẹ, đều rất yêu thương, chăm lo cho các con của mình, vì thế chỉ cần các con ngoan ngoãn, vâng lời thì sẽ không bao giờ mắc phải những chuyện mình không mong muốn nữa.

      Bạn phải tuyệt đối tránh nói, gợi những hình ảnh siêu hình về Phật và Bồ tát, vì chúng sẽ khiến cho tâm trí non nớt của con gái bạn gặp trở ngại trong suy tưởng, trong đạo gọi là tâm vọng dấy khởi. Điều này ngay cả chúng ta khi tu đạo, nếu không cảnh giác, chúng ta cũng sẽ lạc vào vọng tưởng đó, lâu sẽ thành ma chướng.

      *Trường hợp con gái luôn gặp ác mộng, hàng ngày trước khi ngủ, bạn nên cùng con gái niệm hồng danh Quán Thế Âm chừng 5-10 phút, kết hợp phát tâm trì tụng KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN trong vòng 7-21 ngày liên tục để hồi hướng cho oan gia trái chủ của con gái, và của chính bạn, nguyện cho họ buông bỏ oán thù, khởi tâm từ bi, đồng tu Phật pháp để sanh về Tịnh Độ. Nếu duyên nghiệp với con gái không quá sâu đậm, ít ngày sau sẽ an lạc.

      TN

  29. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật
    Xin cảm ơn trợ giúp của đạo hữu Tuấn Linh rất nhiều !
    Không biết tính hay hỏi nhiều có phải do di truyền từ mẹ sang hay không nữa, con bé nó hỏi ko biết mệt. HVCL phát bực bao lần..
    A Di Đà Phật!

    • Nguyễn Đạt

      Nam Mô A Di Đà Phật.
      Thưa HVCL, bé hỏi và tiếp cận phật pháp từ nhỏ như thế thì thật là tốt, mong HVCL hoan hỷ giảng giải cho bé tường tận để cả bé và HVCL đều được lợi ích.
      Nếu HVCL không quá bận, mong HVCL mỗi ngày dành ra một ít thời gian trò chuyện, giảng giải cho bé về phật pháp.
      Nếu bé mới tiếp cận phật pháp, mong HVCL hoan hỷ đọc cho bé: “Phật pháp cho trẻ em” : https://goo.gl/uzcpa7
      Nam Mô A Di Đà Phật, chúc HVCL và bé tinh tấn và đạt được nhiều lợi ích

  30. Hằng

    Nam Mô A Di Đà Phật.
    Con có một chút thắc mắc này ạ, con kính mong cô chú giải đáp giúp con với ạ.
    Bác con bị tai biến vỡ mạch máu vừa mới qua đời. Con biết đến Phật pháp nhưng con lại không thể giúp bác được:(((((. Lúc Bác con mất, người thân trong gia đình có động chạm và đem đi tắm rửa ngay do mọi người không biết đến Phật pháp. Lâu nay con không học Phật, niệm Phật nữa nên con k thể báo cho người thân biết đến. Con thấy con có lỗi lắm. Hôm gia đình con đua bác đu hoa thiêu, trên đường đi con có ngồi cạnh quan tài của Bác, con bật nhạc niệm Phật và con cũng niệm Phật 2 tiếng đồng hồ đến chỗ hoả thiêu rồi con hồi hướng cho Bác. Con không rõ là Bác có nghe được tiếng niệm Phật không:((((. Nhưng luc hoả thiêu xong, con thấy xương của Bác có một chỗ màu xanh lẫn màu hồng hoặc cam, màu săc đẹp nhueng con k nhìn rõ. Con không biết đó có phai là do công Đức niệm Phật không nữa, con thấy có chút vui nhưng con không dám chắc đó là xá lợi vì Bác con k biết đến Phật pháp, k biết đến pháp môn niệm Phật va bac khong niem Phat uc song ên con nghĩ có thể đó k phai là xá lợi. Nhung con vẫn phân vân và con kính mong cô chú giai đáp cho con với ạ.
    Con xin cảm ơn cô chú.

  31. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Cư sỹ/ Tiền Bối Nguyen Phu!
    HVCL tuy có hay đọc được những phúc đáp của CS/TB cho mọi người, mà chưa có khi nào được CS/TB phuc đáp nên vẫn chưa biết xưng hô sao cho phải, HVCL xin được chỉ bảo ạ!
    Nghe CS/TB nói về vấn đề mong chờ sự kỳ diệu khi niệm Phật, HVCL cũng vô tình ko để ý thật ạ! Bản thân HVCL thì đã được đọc nhiều bài viết liên quan,nên đã ý thức được, hành giả Tịnh Độ chỉ nên cầu vãng sanh mà thôi, ngoài ra ko nên cầu nhất tâm,hay cảm ứng,hay thần thông..gì cả. Khi dạy con niệm Phật, HVCL ko chủ trương, nhưng lại ko để ý,nên vô tình rất có thể đã gieo vào đầu chúng sự màu nhiệm nếu biết niệm Phật! HVCL nghĩ là trẻ con mà,bản thân chúng đã chưa phải lo lắng, phiền não điều gì,nên nếu bảo là niệm Phật để được an lạc, khỏe mạnh.. xem ra chưa chạm đến điều mà những đứa trẻ suy nghĩ đến. HVCL cũng nói rằng con niệm Phật đi sẽ được Phật,Bồ Tát gia trì,che chở cho con bình an, mạnh khỏe, nhưng nhiều lúc con nó bị bắt nạt,bị ho bị ốm,bị ác mộng.. như lúc trước vậy, thì với những điều mẹ đã nói,con hỏi lại là đúng , đúng không ạ?
    Trong trường hợp này, HVCL nên tiếp theo làm gì cho đúng ạ?
    HVCL rất cảm ơn sự chỉ bảo của CS/ TB Nguyen Phu ạ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • NguyenPhu

      A Di Đà Phật.
      Chào liên hữu HVCL, NP chỉ là một người trẻ tuổi thích học Phật, những lúc rãnh cũng hay vào đây xem, chia sẻ cùng mọi người.NP chưa hiểu ý của HVCL muốn hỏi cho lắm nên NP xin tạm chia sẻ vài ý đến bạn.
      HVCL không cần giảng giải những gì vượt qua sự hiểu biết của trẻ con, vì có giải tụi trẻ cũng ko hiểu được, những điều mà đôi lúc người lớn chúng ta nếu không khéo tu học cũng chẳng ngộ nhập được. Theo NP trẻ con như mảnh đất trống, chưa có cây cũng chưa có cỏ nhiều, bố mẹ bên cạnh thường xuyên hướng con về điều lành bằng những mẫu truyện, phim hoạt hình nói về nhân quả,về điều tốt, về lòng từ bi, nhẫn nhụt, hy sinh, vị tha, lễ phép, hiếu thảo,… Khéo léo trui rèn cho con những đức tính tốt đó, vì nó chính là nền tảng vững chắc của người tu đạo sau này, một người nếu ko có những đức tính tốt đó sẽ khó lòng tu học, nền tảng đó càng vững chắc càng mạnh mẽ thì con đường tu đạo càng thuận lợi,một người có tập tính thói quen xấu rất khó tiếp nhận Phật pháp chứ chưa nói đến họ chịu tu học, không phải ai cũng có thể nghe bạn nói về Phật pháp, những người có duyên sẽ nghe, và những người đó dù ít dù nhiều sẽ có những điểm tương đồng như bạn…những điều vi tế này chỉ cần chúng ta khéo nhìn sẽ thấy rất rõ. Trở lại vấn đề trên, khi một đứa trẻ lớn lên không được ba mẹ chú trọng giáo dục về đạo đức, nhân cách, chúng sẽ tự học qua môi trường xung quanh, những thói xấu sẽ dần tiêm nhiễm, rồi từ từ chúng sẽ chẳng còn tin Phật pháp, sẽ chẳng còn tin nhân quá rồi chẳng chịu tu học, trẻ nhỏ chỉ cần ta dạy bảo chúng như vậy, dạy chúng thành người hiền lành, thánh thiện là đủ, khi chúng dần ý thức được những điều lớn hơn ta lại khéo đưa chúng vào đạo nhiều hơn. Bạn có hay cho con xem phim hoạt hình về Phật giáo không, trên kênh youtube có phim hoạt hình chú tiểu sadi hay lắm, rất gần gũi với trẻ con, đạo lý bên trong thì vô cùng sâu sắc, thử cho bé xem rồi cứ thủ thỉ bên cạnh gieo hạt giống Phật pháp vào cho con nhé. Những gì phù hợp với tụi trẻ thì nói, những gì quá cao siêu thì tránh đừng nhắc tới cho chúng khỏi hỏi, tụi trẻ càng ko hiểu thì lại càng thích hỏi vì bản tính tò mò, NP thấy quanh quẩn hiếu thảo, từ bi, nhẫn nhịn, lễ phép, vâng lời….nhiêu đó thôi dạy tụi trẻ cũng đã vô cùng khó khăn rồi, cứ nhìn mấy đứa nhóc bây giờ NP tự hỏi liệu rồi đây tụi nó có còn tin Phật pháp nữa không, rồi nhìn những thế hệ tuổi trẻ sau mình, so với những thế hệ người lớn hơn mình, so với chính mình thì quả thật giáo dục của chúng ta ngày càng có vấn đề, vấn đề quá lớn, tiên học lễ, hậu học văn nhưng bây giờ thì tiên học văn hậu cũng học văn, lễ nghĩa đạo đức dần dần chẳng được ai quan tâm, cứ mỗi lần nghe mấy nhà lãnh đạo mấy nhà làm giáo dục nói là NP cứ trông ngóng có một người nhìn ra được cái gốc đạo đức đang dần mất đi, nhưng mãi đến giờ vẫn chưa thấy được…nhìn số liệu thống kê ung thư…chất bẩn chất độc…tràn lan quả thật lòng tham bây giờ đã quá lớn mạnh, có lần NP mua đậu hủ về mở ra chẳng biết họ bỏ gì vào mà nhìn như miếng bọt rửa chén, lỗ lỗ hang hang, xơ cứng…, hơi lan mang một tí mong bạn thông cảm nhé, vậy đấy con người giờ phải đối mặt bệnh tật, thiên tai, dịch bệnh…tuổi thọ giảm súc…vì cái gốc của đạo làm người đang dần mất đi,lòng tham, lũ giặc hoành hành…, như vậy thì số người tin học Phật sẽ dần dần chằng còn bao nhiêu, rồi dần dần Phật pháp sẽ ẩn mất, chúng ta phải cùng nhau giữ gìn Phật pháp mãi về lâu sau cho con cháu chúng ta, trước đây khi sơ phát tâm học Phật NP có phát nguyện chừng nào Phật pháp ẩn mất trong cõi ta bà này thì chừng đó NP mới về với Phật, có lẽ chính nhờ nguyện này mà NP thấy con đường tu đạo của mình thuận lợi, bạn hãy dõng mãnh phát nguyện, một nguyện chí tâm chân thành thì chắc chắn đường đạo bạn đi sẽ đúng hướng, chư Phật thuở quá khứ hiện tại vị lai đều phát những nguyện lớn, trải qua vô lượng thời gian, chịu biết bao gian khổ để hoàn thành lời nguyện hòng đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sanh, tất cả chúng ta là Phật sẽ thành vì vậy hãy học theo chư Phật thuở quá khứ dõng mãnh phát nguyện thật lớn thật vĩ đại, NP chắc chắn đường đạo sẽ chẳng còn trở ngại, vì đức từ bi sẽ dẫn dắt chúng ta vượt qua tất cả. Chúc bạn và gia đình an lạc, con gái luôn được chư Phật bảo hộ dẫn đường, chúc toàn thể liên hữu gia đình luôn được đại đại bình an, cùng nhau về đất Phật. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nguyện đời đời kiếp kiếp giữ mãi Phật đạo.

  32. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    HVCL cảm ơn chia sẻ của Nguyễn Đạt nhiều nhé!

  33. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Khi Thầy Thiện Nhân nói là rất hoan hỷ khi được chia sẻ cùng mọi người thì HVCL cũng bỗng nhiên thấy hoan hỷ theo, và thở phào nhẹ nhõm, HVCL ko làm Thầy và mọi người khó chịu , thật là tốt. Tuy vậy nhưng HVCL cũng biết chừng mực ạ nên sẽ cố gắng hạn chế bớt nhiều cái tại sao, HVCL sẽ chỉ hỏi khi thực sự ko biết hoặc ko biết và đều liên quan đến việc tu tập. HVCL muốn dần làm theo được lời khuyên của Thầy và CS Phước Huệ là tập cho tâm lắng xuống.
    Nhưng lần này Thầy vẫn hoan hỷ HVCL nha khi trò vẫn còn khúc mắc(dù Thầy biết ý đã cố gắng giải thích tường tận & vì biết HVCL sơ học nên chưa hiểu hết, rồi kiểu gì cũng hỏi,nên Thầy giải thích giúp luôn..:)
    Là như vậy ạ: trước đây,lúc mới bắt đầu học Phật, HVCL đã có khoảng t/g ngắn ( chừng 10 ngày gì đó) đọc 1 phần kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện. Vì ban ngày bận làm việc,nên lúc đó HVCL chỉ đọc buổi tối. HVCL ko hiểu có lý do nào không, nhưng cứ đọc buổi tối là có những ko thoải mái, thấy nặng vai , cảm giác “ko yên tâm”, nhưng nếu chuyển buổi sáng thì ko sao. HVCL có đem đến cả cty ngồi đọc những lúc chưa ai đến. Và bây giờ như thành lối suy nghĩ cầu toàn mà HVCL chỉ có thời khóa niệm Phật sáng sớm. Không có thời khóa tụng kinh nào cả vì chưa có gian biểu phù hợp ạ!
    Nghe Thầy bảo phát tâm đọc tụng kinh Địa Tạng, HVCL chưa dám làm ạ! Nếu như niệm Phật dùng tâm thanh tịnh là thù thắng nhất rồi,thì vì sao các thầy vẫn khuyên nên thọ trì trong vòng bao nhiêu ngày đó ạ? Tụng Kinh mà tạp niệm dấy khởi trùng trùng ( vì nhiều khi dài quá khó tránh),vậy các oan gia trái chủ họ có nhận được chút lợi lạc nào ko ạ Thầy? HVCL thật lòng chưa hiểu rõ,xin Thầy đừng nghĩ HVCL hỏi khó.. chịu Thầy nhà!
    Tần suất mơ gặp ác mộng là lâu lâu 1 lần thì ( chắc chắn là làm được sẽ tốt,lợi lạc cho nhiều người,ko phải cứ lúc gặp việc mới làm, nhưng như chưa sắp xếp được thời gian thì hãy cứ nên cố gắng không ạ? Tất cả các oan gia trái chủ khi nghe kinh Địa Tạng đều có lợi ích nên mọi chuyện sẽ “ổn”, là tạm ổn hay ổn thỏa luôn ạ?(sauy họ có còn quay lại nữa hay không?) Tại sao thời gian 21 ngày lại được đặt ra?
    Thưa Thầy thứ lỗi, HVCL thực lòng chưa biết! Kính mong thầy giảng giải !
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Phật dạy vạn pháp do tâm tạo. Khi tụng kinh, niệm Phật, trì chú chúng ta đều phải nhiếp tâm thì mọi chuyện đều an lạc. Tuy nhiên khi bước vào học Phật pháp, phần lớn chúng ta đều tự tu, tự hành, không có người hướng dẫn trực tiếp nên thường là gặp chướng ngại mà không biết, từ đó không biết cách hoá giải. Điều này là sự thật. Do vậy khi học pháp chúng ta đừng quá thụ động khi cho rằng chỉ cần một câu Phật hiệu là đủ, đủ khi chúng ta thực là người đại căn, đại trí, còn ngược lại thì ngoài việc chuyên nhiếp tâm niệm Phật chúng ta phải tìm cách học hỏi thêm đạo pháp phù hợp với căn cơ cũng như pháp mình đang tu, trong đạo gọi là trợ hạnh pháp (tụng kinh, trì chú). Bằng không trí tuệ chúng ta vốn đã còm cõi, phước mỏng, nghiệp quá sâu dày, nay lại từ mò mẫm tu hành, ắt sẽ gặp trở ngại và khổ nạn.
      Việc tụng KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN mà thấy khó chịu, bất an là do tâm bạn không chánh niệm chứ không phải do kinh. Trong KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN đều nói rất cụ thể: chỉ cần có chúng sanh nào phát tâm cung kính, đọc tụng thì các chư hộ pháp, quỷ thần đều rất hoan hỉ và luôn thường ủng hộ. Tại sao chúng ta không được ủng hộ? điều này chúng ta phải tư duy thật nghiêm túc.

      *Việc hoá giải oan gia trái chủ là rất vi tế, bởi mỗi chúng sanh có căn cơ, nghiệp lực phước báu khác nhau, vì thế khi thực hành tu học, hoá giải nghiệp lực cũng không đồng nhau. Có người nhanh, có người chậm, có người toàn phần, có người bán phần, có người không thể hoá giải. Điều cốt yếu là niềm tin, chân thành, trí tuệ và sự tinh tấn hành trì.

      *Con số 7, 21, 49 ngày là một khái niệm, có lẽ được căn cứ theo 7 lời Phật dạy còn gọi là Thất Giác Chi hay Thất Bồ Đề Phần. Để các bạn hiểu cụ thể về điều này, TN xin trích lời dạy của HT Thích Thiện Hoa, mong các bạn tư duy thật sâu sắc để mang lại sự lợi lạc trong việc tu học của mình.

      ………………………………………………………..
      PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
      Thất Bồ Đề Phần
      A. Mở Đề
      Thất Bồ đề phần cũng là một pháp môn quan trọng không kém gì ngũ căn. Sở dĩ đức Phật chế ra nhiều pháp môn như thế là để tùy căn cơ từng người, ai hợp pháp môn này về tên gọi, về chi tiết thì có khác nhau, nhưng về đại thể, về tinh thần thì có nhiều chỗ giống nhau. Vì thế, chúng ta sẽ thấy trong pháp môn “Thất Bồ đề phần” có nhiều điểm giống như trong “Tứ Như ý túc” hay “Ngũ căn, Ngũ lực”.
      B. Chánh Đề
      I. Định Nghĩa Thất Bồ Đề Phần
      Bồ đề do phiên âm chữ Phạn Boddhi mà ra. Người Trung hoa dịch là Giác đạo, hay đạo quả gíac ngộ. Phần là từng phần, từng loại. Thất Bồ đề phần là bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả vô thường Bồ đề, hay bảy pháp giúp người tu hành thnàh tựu đạo quả Đại giác.
      Nó cũng có tên là Thất giác chi. “Giác: tức là Bồ đề, còn “Chi” tức cũng như phần vậy. Thất giác chi tức là bảy nhánh, bảy phương tiện đi đến đích giác ngộ.
      II. Thành Phần Và Nội Dung Của Thất Bồ Đề Phần
      Thất Bồ đề phần gồm có:

      1. Trạch pháp: Trạch là lựa chọn; Pháp là pháp môn, là phương pháp tu hành. Trạch pháp là dùng trí huệ để lựa chọn pháp lành để tu, pháp dữ để tránh. Trong sự tu tập, nếu ta không có trí phân biệt chánh tà, tất phải lầm lạc. Như các bài trước đã nói, lòng tin của người Phật tử phải dựa trên lý trí, nếu không là mê tín. Đức Phật có dạy: “Hãy dùng trí huệ suy nghiệm, giải trạch các pháp, rồi sẽ tin thọ, thực hành theo”. Nếu tu lầm, tin chạ, đều có nguy hại gấp trăm nghìn lần người không tu hành. Vì vậy, Phật tử chúng ta muốn thẳng tiến trên đường giác ngộ, giải thoát, không phải nghe ai bảo gì tin nấy, không phải tự bảo một cách bừa bãi: “đạo nào cũng tốt cả”; không phải dung hòa Phật giáo với ngoại đạo; trái lại, Phật tử cần sáng suốt để phòng sự đánh lộn sòng của các ngoại đạo, sự xuyên tạc xảo quyệt để làm mất lòng tin sáng suốt của chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo phân biệt chánh, tà, chân, ngụy; phải thường trí huệ mà giản trạch cả những pháp ở ngoài và những ý tưởng chân vọng của tâm để tu, để đoạn.

      2. Tinh tấn: Nhưng một khi đã lựa chọn được pháp môn chân chính để tu rồi, thì phải tinh tấn, nghĩa là luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập, không quản ngại gian lao khó nhọc, không khiếp sợ; không thối chuyển, không tự mãn, tự cao mà bỏ dở mục đích chưa đạt được (như đã nói ở bài ngũ căn).

      3. Hỷ: Nghĩa là hoan hỷ. Nhờ tinh tấn tu hành, nên đoạn trừ được dần phiền não thành tựu vô lượng công đức, do đó, sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành.
      4. Khinh an: Khinh là nhẹ nhàng. An là an ổn. Nhờ sự tinh tiến tu tập nên thân tâm được thanh tịnh; do đó người tu hành cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, khinh an, như đã trút được gánh nặng dục vọng, mê mờ.

      5. Niệm: (Cũng như chữ niệm trong mấy bài trước) nghĩa là thường ghi nhớ chánh pháp để thực hành. Tâm niệm ta, nếu không thường nhớ chánh pháp, tất nhiên tạp niệm phát sanh, phiền não tăng trưởng. Cũng như một đám đất nếu không trồng hoa, thì cỏ mọc. Vì thế người tu hành cần phải để tâm ghi nhớ chánh pháp, đừng cho xao lãng buông lung nghĩ bậy.

      6). Định (Cũng như chữ định ở mấy bài trước) nghĩa là tâm chuyên chú, tập trung vào pháp mình đang tu.

      (Tham khảo thêm: Ðịnh là samadhi, là giữ tâm an trụ vào một điểm, một đối tượng, không cho tâm phan duyên phóng đi nơi khác. Ðịnh giác chi là tâm luôn luôn an định tỉnh giác, không bị chi phối bởi phiền não vọng tưởng và các duyên bên ngoài tác động vào tâm thức. Chúng ta biết giáo lý đạo Phật là giáo lý nội quan, cho nên việc thực hành chánh định không thể thiếu trong đời sống của người con Phật. Mục tiêu của đạo Phật là giúp con người quay lại tìm về chính mình, nhận chân giá trị của mọi giá trị không có giá trị nào bằng giá trị nơi từng con người, vì chính hạnh phúc hay khổ đau đều do con người tạo nên. Cho nên Ðức Phật từng nói : Con người là tối thượng. Việc tu tập để tâm định không có nghĩa là để biết người khác, tìm tòi “soi căn, soi kiếp của người khác”, hay để có thần thông, phép lạ trị bệnh chữa tà, sai khiến quỷ thần, những điều đó trái với tinh thần đạo Phật. Trái lại, định của Phật dạy là để chữa căn bệnh vọng tưởng chạy theo cảnh duyên bên ngoài, không nhận chân được giá trị của nguồn hạnh phúc của chính mình, đây thực sự là điểm khác biệt của đạo Phật với các tôn giáo)

      6. Xả: Nghĩa là bỏ ra ngoài không vướng bận. Xả tức là hành xả tâm sở, một trong 11 món Thiện tâm sở.
      Hành xả nghĩa là thế nào?
      Người tu hành, nhờ trí sáng suốt, nhận biết “thọ là khổ”, nên không nắm giữ một thứ nào hết, dù quý báu bao nhiêu. Ngay trong sự tu hành cũng vậy, họ không trụ trước ở các pháp mình đã tu, đã chứng; trái lại họ luôn luôn xả bỏ những gì mình đạt đến, để tiến triển trên bước đường đi đến giải thoát. Nếu người tu hành cứ mãi say đắm vào quả vị mình đã chứng, thì suốt đời sẽ bị trầm một nơi đó, không bao giờ có thể tiến lên, để đạt thành đạo quả vô thượng Bồ đề. Kinh Kim Cang sớ có nói: “Người tu hành phải như người nương thuyền qua sông, khi thuyền đã cập bến, nếu ta không bỏ nó để lên bờ, thì đừng hòng đến đâu và biết gì được. Người muốn thành đấng siêu việt tự tại, cần phải từ trước khước mọi đắm say”.
      Pháp hành xả này giúp chúng ta thành tựu sự siêu việt.

      C. Kết Luận
      Tóm lại, người tu bảy pháp Bồ đề phần này, chắc chắn sẽ được bốn kết quả quý báu sau đây:
      1. Tất cả pháp ác đều được tiêu trừ.
      2. Tất cả pháp lành càng ngày càng tăng trưởng.
      3. Vì thường tu thiện, đoạn ác, nên luôn luôn được an lạc, không bị đau khổ.
      4. Sẽ chứng thành Phật quả.
      (Hòa Thượng Thích Thiện Hoa Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn Hành 1997 KHOÁ THỨ 3: THINH VĂN THỪA PHẬT GIÁO Bài Thứ 9 (tt) Đạo Đế (Nirodha Gamadukkha)

  34. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL thành kính tri ân Thầy!
    Qua đây HVCL xin thay mặt cho các bạn sen (mới bước chân lên con đường tu học)thỉnh Thầy hướng dẫn các bước cơ bản phải làm đầu tiên khi bắt đầu phát tâm ( HVCL cũng sẽ tham khảo và bổ sung ạ), vì thỉnh thoảng HVCL vẫn bắt gặp những câu hỏi “con mới bắt đầu học, con phải làm thế nào?..” mong cho tất cả cùng được lợi ích! A Di Đà Phật!
    Theo như mở đầu Thầy có nói, HVCL con hiểu là bây giờ mình nên kèm thêm trợ Pháp, cụ thể là tụng kinh hoặc trì chú để tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời nay,nhưng làm thế nào để biết mình phù hợp tụng kinh hay trì chú gì ạ? HVCL hiểu là về kinh điển thì hành giả Tịnh Độ chỉ cần 1 bộ kinh Vô Lượng Thọ là đủ ( trong Tam Kinh). Về trì chú thì có phải là thần chú vãng sanh không ạ? Bây giờ là Kinh Địa Tạng,trong đó có phải là gồm cả Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh rồi không ạ? HVCL đang làm theo nghi thức niệm Phật hàng ngày, trong đó chỉ Niệm Phật mà thôi, vậy HVCL có thể sắp xếp như thế nào? chư Tổ bảo làm thế nào phù hợp với mình, đâu cần người khác phải sắp xếp thời gian biểu cho mình.. HVCL sau thời gian hỏi Thầy và CS Phước Huệ về cách niệm Phật sao cho hợp với mình, bây giờ cũng dần tìm ra rồi ạ! Vậy mới biết tất cả đều phải hỏi, Vì HVCL nghiệp chướng sâu dày, băt đầu học thì mò mẫm, vẫn phải từng ngày tham khảo các bậc thiện tri thức để bổ sung khiếm khuyết, con xin Thầy giúp cho được toại nguyện.
    Trong phần trích dẫn về Thất Bồ Đề Phần của Thầy, HVCL có hiểu ý đầu tiên ” Trạch Pháp”, rằng nay mình đã tìm được Pháp môn niệm Phật hợp với mình rồi, thì hãy nên Tinh tấn, thọ trì trọn đời ko thối chuyển đúng không ạ?
    Thời gian trước khi tụng kinh Địa Tạng, HVCL ngồi trên bàn học, p.học và ngủ là 1 ( ko có vấn đề khác), tư thế ngồi ngay thẳng,đọc đủ nghe, vì chưa đọc bao giờ nên tập trung từng câu từng chữ, không hiểu sao HVCL lại có cảm giác đó ạ!

    HVCL ơn Thầy vô cùng!
    Nam mô a Di Đà Phật!

  35. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Tiền Bối Nguyen Phu ( HVCL có thể gọi như vậy được không ạ).
    Rất đa tạ phúc đáp của các vị, HVCL thấy ý của mọi người đều hay cả nên sẽ lựa lúc nào phù hợp thì tùy ý vận dụng. Những bộ phim về Phật giáo, nhạc niệm Phật, HVCL cũng hay mở ra cho cả nhà xem và nghe ạ!
    HVCL rất cảm ơn mọi người!
    Nam mô A Di Đà Phật!

  36. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL tranh thủ lúc Thầy chưa online,xin hỏi Thầy thêm 2 câu hỏi nữa để Thầy trả lời 1thể,sau đây HVCL sẽ bớt việc hỏi lại để dành phần cho người khác ạ, hii!
    1) về việc niệm Phật: giờ đây HVCL đã tìm được cách niệm phù hợp rồi ạ. HVCL đã niệm chậm được, dù tâm thỉnh thoảng vẫn bị vọng tưởng lôi kéo, lúc vút tận TPCL,lúc lại là vài chuyện quanh mình. Nhưng bây giờ HVCL ko lấy đó làm lo, phần vì biết phải từ từ có thời gian, phần vì khi nó xuất hiện là HVCL nhận ra được nên quay lại với câu Phật hiệu ngay. Câu hỏi của HVCL ở đây là: niệm chậm được, nhưng phải niệm to thành tiếng,hễ chuyển niệm thầm chỉ được khoảng 10 câu là buồn ngủ. Khi đi đường có thể niệm thầm được. Có nghĩa là cứ phải động mà không yên tĩnh được,yên tĩnh hoàn toàn thì chỉ ít phút sau HVCL con đã chìm vào giấc ngủ. A Di Đà Phật!
    ==> Về sau này có thể khắc phục được ko? Điều này có làm trở ngại khi lâm chung,khi mà cứ nằm im là chìm vào mộng mị,ko thể nhiếp tâm niệm thầm không ạ?
    2) khoảng thời gian làm việc, HVCL biết mình khó nhiếp tâm niệm Phật,nên hay để nhạc niệm, trong đó có cả chú Đại Bi,chú vãng sanh.. nghe thành quen nên nhiều lúc các bài hát đó cứ văng vẳng bên tai,tự nhiên phải hát theo mới được. Nêu nghe niệm mộc 4 chữ Phật hiệu được cả ngày thì tốt, nhưng HVCL ko làm được. HVCL muốn hỏi Thầy là: như vậy có phải là đã gián đoạn,xen tạp hay không? HVCL chỉ nghe thay vì hay nghe nhạc thế gian trước đây. Và hát theo mà lại câu hát câu không thì có mang tội bất kính hay không ạ?
    HVCL ko kính ghi!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Nguyễn Đạt

      Nam mô A Di Đà Phật,
      Thưa HVCL, trước khi Thầy Thiện Nhân trả lời câu hỏi của HVCL thì NĐ có chút chia sẻ thế này: Trước đây NĐ mới bắt đầu niệm phật cũng gặp phải tình trạng là cứ phải niệm to đến tai nghe thấy tiếng niệm phật rồi lấy đó làm trụ thì mới không bị vọng tưởng lôi kéo còn cứ niệm thầm hay niệm không ra tiếng là vọng tưởng lại nổi lên không kiềm chế mà niệm được, như thế hơi thấy bất tiện những nơi không niệm to thành tiếng được. Cũng một thời gian khó khăn không biết làm như nào, sau đó NĐ cũng tìm được cách,
      +) Do tình cờ nghe được tiếng đại chúng niệm phật (HVCL hoan hỉ tìm trên youtube) nên NĐ tập trung (tức Buông xả hết tất cả những điều suy nghĩ, lo lắng, tính toán, không nhớ nghĩ gì nữa) nghe đi nghe lại tiếng đó thật thuần thục đến khi in sâu tâm trí rồi sau đó ở bất cứ đâu, nơi nào cũng nhớ nghĩ đến tiếng niệm phật của đại chúng, nghĩ tưởng rằng đang có rất rất nhiều người niệm phật cùng mình, từng câu từng câu niệm phật thật rõ ràng rành mạch y như trong video đã nghe cứ y như thế hiện lên, lấy đó làm trụ mà tiếp tục niệm.
      +) Một cách nữa, thế này, trk kia NĐ chưa tiếp cận phật pháp, niệm phật thì có xem rất nhiều phim không lành mạnh hình ảnh đã có ấn tượng thường xuyên nghĩ tới những hình ảnh/ đoạn phim không lành mạnh đó là tâm trí không ổn định ảnh hưởng tới cả khi bắt đầu niệm phật, lại nữa không chỉ những hình ảnh đó mà khi bắt đầu niệm phật còn tự xuất hiện những hình ảnh “không tốt” với tượng phật, với tam bảo làm NĐ vô cùng lo lắng và sợ hãi. Sau đó NĐ quyết định đã vậy thì nhớ luôn hình ảnh 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” màu sắc vàng phát ánh hào quang (cái này NĐ tự tưởng tượng ra 6 chữ đó sao cho đẹp đẽ thù thắng nhất nhưng HVCL cũng có thể hoan hỉ lên Google tìm). Từ đó mỗi khi cảm giác có tạp niệm, những hình ảnh khác nổi lên là NĐ là niệm phật 6 chữ đó, niệm đến đâu chữ đó hiện lên, hết lượt 6 chữ này thì 6 chữ khác lại hiện lên, từng chữ từng chữ sắc vàng phát ra ánh hào quang rực rỡ hiện lên nối tiếp, liên tục không gián đoạn. Lấy đó làm trụ tiếp tục niệm.
      +) Lại nữa, khi tạp niệm, vọng tưởng nổi lên quá nhiều, xung quanh lại quá ồn ào, người nói qua lại. Được vậy ta liền quán tưởng luôn cả âm thanh niệm phật lẫn hình phật. HVCL quán tưởng mình đang trên một con thuyền đang chèo thuyền, đang chèo đến Tây Phương Cực Lạc, sắp chèp đến rồi, đã nhìn thấy phật A Di Đà cao lớn, tướng quang minh, thân phát ra ánh hào quang rồi, nhìn rõ mồn một ngay trước mặt không sai được trong khi đó tai lại nghe tiếng đại chúng bên kia bờ (TPCL) đang đồng thanh niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” tai đã nghe rõ ràng phân minh rồi không sai được, lại nữa mỗi khi mình chèo trên sông, mình “chèo” tiến lên (niệm) một chữ là chữ đó lại hiện lên rõ ràng đẹp đẽ (như trên) mình chèo liên tục liên tục đến đâu thấy chữ hiện đến đó liên tục không gián đoạn. Cứ vậy lấy cả âm thanh và hình ảnh quán tưởng như vậy làm trụ tiếp tục niêm. Bờ giác đây rồi thấy Phật rồi, sắp đến rồi. Lấy đó làm hoan hỉ mà niệm .
      Thưa HVCL, NĐ có chút chia sẻ vậy, đây là rút ra trong quá trình tu tập niệm phật, không lấy trong kinh điển hay tài liệu hoặc nguồn nào nên hẳn có sai sót. Nhưng NĐ đã áp dụng trong lúc khó khăn mới bắt đầu niệm và thấy hiệu quả, hy vọng là có chút lợi ích trong quá trình tu tập của HVCL. Có sai sót, không đúng hy vọng HVCL và chư vị thiện tri thức góp ý con xin hoan hỉ làm theo
      Nam Mô A Di Đà Phật.

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Niệm Phật mà tâm không vọng tưởng=Thánh nhân tâm. Điều bạn vướng kẹt hiện giờ là tâm lo vọng khởi và tâm tìm cảm giác an lạc, tâm lo sợ khi xả báo thân không chánh niệm, tâm niệm to, tâm niệm nhỏ. Tìm an, lo vọng.. đều là vọng tâm. Vì thế khi niệm Phật bạn chỉ cần nhiếp tâm theo câu Phật hiệu, ngoài Phật hiệu ra không cần quan tâm tới bất cứ điều gì khác, đó gọi là pháp xả ly tâm.

      Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật Phật dạy Diệu Nguyệt cư sĩ như sau: “Thế nào là Xả Ly Tâm?
      Này Diệu Nguyệt, người niệm Phật trong khi xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, phải phát khởi cái Tâm Thái Lìa Bỏ Tất Cả. Sao gọi là Lìa Bỏ? Lìa bỏ nghĩa là không trụ tướng mà niệm Phật, không dính mắc mà niệm Phật, không nắm giữ mà niệm Phật, không tương ưng mà niệm Phật, không đối đãi
      mà niệm Phật, không chống trái mà niệm Phật, không cầu mong mà niệm Phật, không nhiễm duyên mà niệm Phật. Niệm Phật như thế thì gọi là Niệm Phật với cái Tâm Lìa Bỏ. Người niệm Phật chỉ buộc tâm và ý vào danh hiệu Phật, chăm chú lắng nghe, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh, quên cả thân, quên cả cảnh, quên cả cái ý thức tự biết TA đang niệm Phật. Như thế gọi là Niệm Phật với cái tâm Lìa Bỏ”. (HT Thích Thiền Tâm dịch)

      Bạn phải cân nhắc thì kỹ lời dạy trên.

      *Xen tạp được hiểu ở tâm phiền não đan xen vào tâm chánh niệm. Chánh niệm là không có phiền não khởi. Điều này chúng ta phải huân tập lâu dài, chẳng thể ít ngày, ít tháng đã thành tựu. Thà trước mắt bạn thích hát nhạc chú đại bi, và vãng sanh thần chú còn hơn là hát nhạc đời, bởi khi hát đại bi chú và vãng sanh chú, đồng nghĩa tâm bạn đang hướng về Phật, về tam bảo. Nhưng đó chỉ là trợ duyên pháp, giúp chúng ta khi mới học Phật pháp để tránh duyên theo những chuyện hát hò dung tục theo ngoài đời. Tuy nhiên, thích hát nhạc Phật giáo cũng là vọng, bởi hễ có muốn đều là vọng tâm, muốn biết nó thực là vọng hay không, chỉ cần dừng hát lại, xem tâm lúc ấy muốn gì? Nếu là tâm tiếp tục muốn ca hát=tâm còn ưa ham chuyện đờn ca xướng hát. Tâm này phải dần chấn chỉnh để nương về nhất tâm: A Di Đà Phật.

      Dưới đây là phần khai thị của Phật Thích Ca với Diệu Nguyệt Cư Sĩ về pháp niệm Phật, bạn ráng đọc, tư duy thật kỹ nhé:

      “Này Diệu Nguyệt cư sĩ, nên biết rằng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là Pháp Thân Viên Mãn Chu Biến Nhất Thiết Xứ, là Phật Tánh Thậm Thâm, có đầy đủ mọi năng lực vô úy bất tư nghị, có đầy đủ diệu dụng vô ngại bất tư nghị, là cứu cánh siêu việt tối thượng, có đầy đủ năng lực bất khả thuyết, bất khả xưng tán, để chuyển hóa vô minh thành giác ngộ, sinh tử thành niết bàn, là phương tiện vi diệu bật nhất, thường cải biến hết thảy sở y và sở hành của mọi chúng sinh, đưa tất cả tướng trạng hữu lậu, trói buộc trở về với bản tánh vô lậu giải thoát.
      Cho nên, nếu chúng sinh nào đem tâm thể của mình mà duyên với danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì tâm thể của người ấy dần dần trở nên Vô Cấu Nhiễm, dần dần phát sinh vô lượng vô biên Đức Tướng Như Lai. Do vậy, tự nhiên thấy mình ở trong thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng. Cùng một lúc, cái niệm tưởng Nam Mô A Di Đà Phật sẽ phát khởi thân lượng, oai nghi, tướng hảo, và quang minh của Đức A Di Đà cùng chư vị thánh chúng.
      Này Diệu Nguyệt cư sĩ, người nơi ý nghĩa ấy phải nên hiểu rõ như thế. Pháp môn Niệm Phật chính là chuyển biến cái tâm thể của chúng sinh bằng cách không để cho tâm thể ấy duyên với vọng niệm, hoặc duyên với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), không để cho duyên với huyễn cảnh, với
      trí lực, với kiến chấp, với mong cầu, với thức phân biệt, v.v… Mà chỉ đem cái tâm thể ấy duyên mãi với danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Không bao lâu, người niệm Phật tự nhiên đi vào chổ vắng lặng, sáng suốt, an lạc, cảm ứng với nguyện lực của Đức A Di Đà, thấy mình sinh vào cõi nước Cực lạc, thân mình ngồi trên tòa sen báu, nghe Phật và Bồ Tát nói pháp, hoặc thấy Phật lấy tay xoa đỉnh…
      Lại nữa Diệu Nguyệt, nếu có chúng sinh nào chí thành xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì uy lực bất khả tư nghị của danh hiệu khiến cho tâm thể thanh tịnh mà chúng sinh ấy không hay biết, tự nhiên chứng nhập Sơ Phần Pháp Thân, âm thầm ứng hợp với Bi Trí Trang Nghiêm của Phật, nhưng
      chưa thể đắc tam minh, lục thông, vô lượng đà la ni, vô lượng tam muội, nhẫn đến chưa thể đắc Nhất Thiết Chủng Trí, chẳng thể đồng đẳng với Chư Phật được, mà chỉ thành tựu bước đầu tiên trên lộ trình Như Thật Đạo.
      Thí dụ như làm gạch để xây nhà vậy. Tuy đã nhào trộn đất sét, bỏ vô khuôn và đã đúc ra hình dạng của viên gạch. Nhưng muốn viên gạch được bền lâu, chắc chắn, không tan rã, chịu được nắng chói mưa xan, thì cần phải đưa vào lò lửa nung đốt một hạn kỳ. Người niệm Phật cũng lại như thế. Tuy công
      phu niệm Phật trong một kiếp đã đạt được nền tảng vững vàng cho sự nghiệp giải thoát, nhưng sau đó phải vãng sinh Tịnh Độ, lãnh thọ sự giáo hóa của Phật và Thánh Chúng, cho đến khi thành tựu Vô Sinh Pháp Nhẫn. Sau đó, mới đủ năng lực hiện thân khắp mười phương, hành Bồ Tát Đạo, ra vào sinh tử không trói buộc, trở lại chốn ác trược mà chẳng nhiễn ô, cứu độ chúng sinh không có hạn lượng.
      Thí dụ như việc khắc hình họa tượng. Tuy đã dùng gỗ tốt đẽo gọt lâu ngày và tạo nên hình dáng con người. Nhưng phải bỏ ra một thời gian lâu xa để chạm trổ thêm mắt, tai, miệng, nét mặt, vết nhăn, dáng vẻ, bộ tịch, thần sắc… Người niệm Phật lại cũng như thế. Tuy đã phát khởi tín tâm dũng
      mãnh, và công phu không gián đoạn bê trễ, nhưng nếu tái sinh cõi Ta Bà thì vẫn bị luân chuyển vì Định Tuệ còn non kém, quả Đức chưa hoàn mãn. Vì thế, cần phải vãng sinh Cực Lạc Thế Giới, kề cận Phật và Thánh Chúng, thành tựu vô lượng Ba La Mật, thâm nhập Tâm Muội Tổng Trì Môn, phát hoằng thệ nguyện đi khắp mười phương giáo hóa vô số chúng sinh. Không lâu lấy cỏ rải nơi Bồ Đề Đạo tràng, hàng phục ma quân, thành Đẳng Chính Giác, chuyển pháp luân vô lượng.” (HT Thích Thiền Tâm dịch)

      Chúc bạn thường tinh tấn.

      TN

  37. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    HVCL sơ xuất ko sửa từ ngữ câu cuối cùng !
    Xin Thầy đọc được hoan hỷ!
    HVCL kính ghi!
    Nam mô A Di Đà Phật!

  38. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Rất cảm ơn Nguyễn Đạt đã vì HVCL chia sẻ thông tin của mình trong quá trình tu tập!
    Hiện tại HVCL ko còn quá lo về tạp niệm Nguyễn Đạt à,như HVCL đã nói ở trên đó. HVCL lo mình cứ phải quen niệm to hoài mà cứ nhiếp tâm niệm thầm nghe từng chữ rõ ràng chỉ được khoảng 10 danh hiệu là bị hôn trầm rùi. HVCL lo lúc lâm chung tứ đại tan rã mà không quen được cách niệm thầm trong tâm, cứ nằm im là “ngủ”, rồi còn oan gia trái chủ nữa thì sao? Lúc đó đâu có sức miệng niệm rõ từng chữ cho tai mình nghe đây!
    HVCL cũng có vài điểm giống Nguyễn Đạt đó,là việc dạo gần đây tập coi mọi âm thanh,dù là tiếng bước chân mình cũng ” gắn” theo câu Phật hiệu, HVCL cũng đang tập nhìn mọi người, cảnh vật đều là Phật A Di Đà ( giúp giảm sân cho mình ),( nhưng vì mới tập nên đa phần vẫn ” thất bại” :)). Giống luôn cả điểm quán tưởng ra các chữ A Di Đà Phật) luôn( nhưng ko có màu vàng thôi).
    Bây giờ HVCL có điểm khác ND là : ko quán tưởng gì cả, vì điều này cũng là vọng,ko phải chân. Vì mình là phàm phu mà, vọng đã thuần thục quá rồi,lại dùng vọng nữa là tiếp tay cho vọng thêm mạnh. Điều này HVCL cũng học các vị Thiện tri thức ở đây đó. Trừ khi là cách tượng niệm Phật.
    HVCL giờ mới ngấm câu then chốt như vầy nè ( các Thầy tốn bao tâm huyết mà giờ HVCL mới ngấm) niệm phật chí tâm, khẩn thiết, nghe rành rọt từng chữ, từng câu hồng danh, khởi từ tâm,qua tai,lại vào tâm.
    Ngoài ra không để bất kỳ tạp niệm nào xen vào( là điều HVCL đang hướng tới).
    HVCL ko góp ý gì với ND đâu,là HVCL nói những gì mình đang làm thôi. Nếu ND đã vượt qua được giai đoạn này,bây giờ ko còn (mấy khi) tạp niệm thì HVCL mừng cho ND nha!
    Chúc bạn thường tinh tấn!
    A Di Đà Phật!

  39. Hướng về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Thầy Thiện Nhân và bạn Nguyễn Đạt cùng hiểu ý của HVCL diễn đạt giống nhau, chắc do HVCL viết lan man ko có điểm nhấn nên gây ra như vậy !
    Cũng chắc do Thầy nhiều việc, HVCL thấy Thầy online có 1 chút rồi Off liền.HVCL hỏi Thầy nhiều,nhưng Thầy chỉ chỉ dạy có 2 ý ở mail cuối. Xin Thầy giải nghi cho HVCL được rõ! vì HVCL khi niệm Phật trong thời khóa đều cố gắng ko nghĩ ngợi điều gì. Ý niệm lo lắng cho lúc lâm chung là tạp niệm trong muôn trùng tạp niệm khi HVCL ko niệm Phật.Mà HVCL lại chưa hiểu rõ nên chưa yên tâm ,nhiếp tâm niệm Phật được Thầy ạ!
    HVCL sẽ Freeze tâm mình, bớt những tại sao ngay sau mail này được không ạ!!!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Tâm “cố gắng không nghĩ ngợi” là phiền não tâm. Bạn phải phá bỏ cái tâm này, thế đó bằng cái tâm buông xả: chẳng cầu an, chẳng lo vọng, chẳng sợ khi chết mất chánh niệm, chẳng vui khi sống đạt niệm bất tự niệm, bởi nếu trong tâm còn có A tất sẽ sanh B. Vì thế TN mới trích đoạn kinh văn quan trọng trong Niệm Phật Ba La Mật khi Phật Thích Chỉ cho Ngài Diệu Nguyệt cư sĩ (vì hạnh nguyện của A Di Đà mà hỏi cho chúng sanh mạt pháp cách niệm Phật chánh niệm): “Người niệm Phật chỉ buộc tâm và ý vào danh hiệu Phật, chăm chú lắng nghe, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh, quên cả thân, quên cả cảnh, quên cả cái ý thức tự biết TA đang niệm Phật. Như thế gọi là Niệm Phật với cái tâm Lìa Bỏ”.

      – Buộc tâm ý vào danh hiệu Phật là sao? Ngoài A Di Đà Phật ra không còn một niệm nào khác khởi lên nữa. Lý là thế, nhưng đi vào sự thì vọng vẫn khởi. Vọng khởi là chuyện của vọng, không hoảng sở, không bám, đuổi theo vọng=vọng tự diệt.
      – Chăm chú lắng nghe, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh: Điều này TN cũng thường chia sẻ rồi: miệng niệm-tai nghe-tâm nhớ rõ. Nhưng khi niệm vì lo vọng khởi nên lúc nhanh lúc chậm, lúc to, lúc nhỏ=niệm chưa rõ ràng, chưa phân minh. Nay phải diệt cái niệm đó để niệm niệm đều đặn không đứt đoạn. Muốn thế tai và tâm đều phải tỉnh giác.
      – Quên cả thân, quên cả cảnh, quên cả cái ý thức tự biết TA đang niệm Phật: Khi ngồi niệm Phật, ngay khởi đầu chúng ta thường chấp: ngồi bán già, ngồi kiết già, ngồi bình thường, rồi ngồi trong đạo tràng, ngồi tại gia, ngồi nơi làm việc; tâm thì khởi thấy nọ, thấy kia, thấy ta đang niệm to, niệm nhỏ… tất thảy những thứ này đều là vọng. Nay biết vọng, chỉ cần hoan hỉ nhiếp tâm niệm theo tâm tỉnh giác. Bước đầu hãy vậy đã. Khi tiến bộ rồi thì cả cái niệm mình đang tỉnh giác cũng phải lìa. Lìa rồi đến bước kế nữa là niệm lìa tỉnh giác cũng không còn nữa=thực là chân tỉnh giác=chân niệm.

      Bạn ráng quán chiếu, tư duy thật kỹ lời Phật, ắt sẽ ngộ được.

      TN

    • Nguyễn Đạt

      Nam Mô A Di Đà Phật.
      Kính thưa thầy Thiện Nhân, trong một lần niệm phật con có bị như thế này: Con còn một khóa công phu niệm phật buổi tối, hôm đó con đang niệm phật mọi thứ đều yên tĩnh, con đang niệm phật cũng không có vọng tưởng nổi lên lúc đó, nhất nhất tai chỉ nghe theo tiếng niệm phật rõ ràng phân minh, nhưng trong khi con đang niệm phật trong cảnh yên tĩnh ấy đột nhiên có vật gì đó rơi mạnh xuống đất làm con bị giật mình mạnh và buổi công phu bị gián đoạn. Con từ khi niệm phật tâm lúc nào cũng trụ tiếng niệm phật, rất tĩnh lặng, ít dao động, không hấp tấp cũng khó nổi nóng, nhưng lại bị một vật rơi làm chấn động mạnh như vậy, do công phu chưa được đắc lực còn kém nên kính mong thầy và các chư vị thiện tri thức giảng giải cho con như vậy là có nguyên nhân từ đâu và con phải làm thế nào con xin hoan hỉ làm theo, con xin chân thành cảm ơn.
      Nam Mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn Nguyễn Đạt,

      *Bạn có thể cho biết vật rơi mạnh xuống đất là vật gì vậy? Nếu nó là vật trong gia đình mà do treo, gá, để không cẩn thận, nay nó tự rơi thì nó là chuyện bình thường thôi, có gì mà bạn phải sanh tâm hoảng loạn tới vậy?

      *Phật dạy: quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hiện tại không ngừng sanh diệt. Vật rơi thì đã rơi rồi; tâm hoảng loạn thì cũng đã qua rồi=quá khứ đã qua rồi, nhưng bạn không chấp nhận nó và bám chấp vào nó để rồi đánh mất chánh niệm=bạn đang để tâm duyên theo cảnh sanh diệt của sự loạn động.

      *Tự tánh của tâm (chân tâm) vốn không có sanh-diệt, động-tịnh. Sở dĩ chúng ta còn bị giật mình khi bị tiếng động khởi lên là do tâm chúng ta còn động, vì vậy hễ nghe động là lập tức tâm khởi và duyên theo, từ đó mà mất chánh niệm.

      *Điều bạn nên làm là khi niệm Phật chẳng nên chấp tịnh, chẳng nên chấp động, chỉ cần nhiếp tâm niệm Phật, nhiếp tâm mà không thấy mình nhiếp tâm; niệm niệm không gián đoạn mà không thấy mình không gián đoạn=thực sự có công phu.

      TN

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Tụng kinh, trì chú chỉ là tạp tu khi chúng ta dụng pháp chỉ để cầu phước báu nhân thiên, nhưng nếu chúng ta vì muốn chuyển hoá nghiệp lực, vì muốn giác ngộ, độ sanh và tối thượng là khi trì tụng xong đều hồi hướng về Tây Phương Tịnh Độ thì sự thọ trì đó không thể coi là tạp tu. Tạp là khi trì tụng tâm mất chánh niệm, chạy đuổi theo duyên trần hay để tham, sân, si, ngũ dục lôi kéo, mà như thế thì cho dù chúng ta có tụng trăm vạn ức hồng danh A Di Đà Phật hay kinh Vô Lượng Thọ cũng vẫn chỉ là tạp tu chứ không phải là chánh tu. Vì thế các bạn phải cẩn trọng trong hai ý niệm tạp và chánh. Khi tạp, chánh phân minh thì mọi pháp đều rõ ràng, không lẫn lộn, có gì khiến chúng ta phải sợ hãi?

      TN

  40. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    Vâng HVCL sẽ nghe lời Thầy!
    Nam mô A Di Đà Phật!

  41. Hướng Về Cực Lạc

    A Di Đà Phật!
    Kính gửi Thầy Thiện Nhân!
    HVCL hiểu ý Thầy rồi ạ!
    Nhưng HVCL có câu hỏi”phụ” không biết Thầy có hoan hỷ HVCL không? HVCL đã hứa rồi mà lại ko giữ được! HVCL có phải là sẽ khó tiến bộ ko Thầy!!
    Nam mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT

      Gửi bạn HVCL,

      *Khi bạn nhận biết mình “khó tiến bộ”, đồng nghĩa bạn đang rất muốn tiến bộ, nhưng bạn đang kẹt trong pháp: trợ hạnh-chánh hạnh; kẹt trong nhanh-chậm; kẹt trong đúng-sai; kẹt trong ngu-trí… tất cả những vướng kẹt này sẽ khiến tâm bạn luôn khởi niệm hoài nghi, khi nghi không được giải toả rốt ráo, tâm sẽ luôn bất an. Vì thế, nói là hàng ngày niệm Phật và niệm mọi nơi, mọi chốn, thực tế chúng ta chưa niệm đúng pháp, bởi niệm đúng pháp là tâm không còn hồ nghi bất cứ một điều gì nữa. Lý là vậy, nhưng khi đi vào sự, tức thực hành, thì nghi vấn luôn trỗi dậy. Chẳng phải chỉ hạng phàm phu chúng ta mới có nghi vấn, mà thời Phật tại thế, các đệ tử, các bồ tát mới phát tâm cũng đều có nghi và đều hỏi Phật. Khác một điều là khi Phật giải đáp xong thì mọi người đều khai ngộ, còn thời chúng ta thì khác, vì nghiệp chướng quá sâu nặng, nên học pháp của Phật nhưng tâm vẫn hoài nghi, nghi-đáp-đáp-nghi không cùng tận, do vậy càng học càng thấy mình kẹt cứng trong pháp. Vì vậy trong các pháp Phật dạy luôn lấy Bát Chánh Đạo làm nền tảng, trong đó có chánh kiến, chánh tư duy là tối quan trọng, bởi nếu thiếu đi hai yếu tố này, chúng ta có học cả 84000 pháp môn của Phật thì hoặc là rơi vào mê tín, hoặc là tà tín.

      *Chuyện tiến bộ nhanh-chậm đều ở một niệm: hàng ngày mình có chịu sửa hay không? Ví thử: khi ngồi niệm Phật, biết tâm mình hay vẩn vơ, nhưng khi niệm vẩn vơ vừa khởi thì tâm đã bám chặt vào niệm đó và rong ruổi với niệm đó cho hết buổi niệm Phật; hoặc hễ niệm Phật một lát là hôn trầm, nếu do cơ thể quá mỏi mệt, suy nhược công việc mà khởi hôn trầm thì dễ khắc phục, nhưng cơ thể tỉnh táo, trí lực đều xung mãn, nhưng hễ ngồi niệm Phật là hôn trầm thì đó là nghiệp chướng ngăn trở. Nghiệp không muốn tu, nghiệp giải đãi.

      Thời Phật tại thế, có câu chuyện kể về một đại để tử của Phật là Ngài A Na Luật, hễ nghe Phật thuyết pháp là Ngài lại thấy buồn ngủ ríu mắt và ngủ ngon lành. Vài ba lần Phật đã trách mắng nhưng Ngài A Na Luật vẫn tái phạm. Một hôm Phật gọi A Na Luật đến bảo rằng:

      · Này A Na Luật! Ông xuất gia học đạo vì sợ phép nước hay sợ trộm cướp.
      · Bạch Thế Tôn! Không phải như vậy.
      · Thế vì lý do gì mà ông xuất gia?
      · Bạch Thế Tôn vì con chán cảnh sinh, lão, bệnh, tử và muốn giác ngộ, giải thoát hết các khổ não.
      · Này A Na Luật! Ông là con người đoan chính, phạm hạnh không sa ngã bở nữ sắc, cho nên được giáo đoàn kính trọng. Tính háo sắc, người đời khó trừ được còn ông là người không mù quáng, thế tại sao tính ham ngủ ông lại không dẹp bỏ được? Trong lúc nghe pháp mà ngủ thì bao giờ mới chứng đạo giải thoát?
      Nghe Phật quở, A Na Luật quỳ lạy sám hối và phát lời thề rằng:
      · Bạch Thế Tôn con xin sám hối tội hay ngủ gục trong lúc nghe phá, cúi xin Đức Thế Tôn lượng thứ. Từ nay về sau con sẵn sàng chịu mọi cực hình miễn sao diệt trừ được tật xấu ngủ gục.
      Từ đó Tôn giả quyết tâm không ngủ. Lúc nào cũng mở to đôi mắt nhìn vào khoảng không, từ đầu hôm đến sáng, từ sáng đến chiều không chớp mắt. Sức người có hạn, sau những giờ làm việc mệt nhọc, con người cần có giấc ngủ để lấy lại sức lực. Sự vận hành của thiên nhiên giữ cho con người đuợc thăng bằng. Mặt trời xuất hiện soi sáng mọi vật, giúp con người hoạt động. Mặt trời đi ngủ khiến không khí mát mẻ, bóng đêm tràn ngập, giúp con người ngủ nghĩ để tâm hồn bình thản, trái với thiên nhiên, con người mất hết sức lực. Mất ngủ là một bệnh, cơ thể dã dượi, hai mắt sưng húp. A Na Luật đã cải thiên nhiên, ngồi chong mắt hết ngày nọ đến ngày kia, khiến hai mắt sưng vù. Từ trên pháp tòa, nhìn thấy A Na Luật đã sưng vù hai mắt, Phật rất lo lắng gọi đến và dạy rằng:
      · Này A Na Luật! Người tu hành hãy tránh hai thái cực: Bất cập hoặc thái quá đều chẳng đạt đạo. Dây đàn căng quá hoặc chùng quá khiến đàn không kêu, dây đàn vừa phải, tiếng đàn mới thánh thót. Sự tu hành phải đi theo con đường trung đạo. Ông không nên hành đạo theo con đường thề độc của ông, nguy hiểm lắm đạo chưa đạt mà mắt đã mù, sẽ chịu thiệt hại nhiều thứ.
      · Bạch Thế Tôn! Con không thể trái nguyện, xin Thế Tôn cho con được giữ tròn.
      · Này A Na Luật! Sống trong đời con mắt rất cần yếu, mắt bị mù sẽ không thấy biết gì hết. Con người sống được nhờ ăn, có ngủ nghĩ con mắt mới tinh sáng. Giấc ngủ là thức ăn của con mắt, ông không ngủ tức là bắt mắt nhịn đói, đói ngủ nó sẽ mù sức khỏe của ông cũng sẽ kiệt, sức kiệt thì làm thế nào tiến đến Niết Bàn, ông nên biết Niết Bàn cũng cần thức ăn.
      · Bạch Thế Tôn! Thế thức ăn của Niết Bàn là gì?
      · Thức ăn của Niết Bàn là không buông lung (bất phóng dật), người không buông lung mới đạt Niết Bàn.
      Mặc dù Phật từ mẫn khuyên bảo, Tôn giả vẫn không nghe cứ tiếp tục cố mở mắt, một thời gian ngắn, đôi mắt bị mù. Một hôm Tôn giả mặc một tấm áo, biết có chỗ rách bèn ngồi vá áo, nhưng không biết mượn ai xâu chỉ vào kim, Phật đến trước A Na Luật và nói:
      · Để ta xâu giúp cho.
      Tình thương của Phật thật bao la, A Na Luật rất cảm động. Xâu chỉ xong, Phật trao kim lại nhưng A Na Luật cũng chẳng thấy để may, tay cứ mân mê cái áo. Thấy thế Đức Phật lại bảo:
      · Để ta giúp cho.
      Suốt ngày Phật nắm tay A Na Luật hướng dẫn để mũi kim lên xuống đều đặn, mãi đến chiều ba y đã vá xong. Để giúp cho A Na Luật không cần mắt thịt vẫn thấy xuyên suốt ba ngàn thế giới, Phật dạy A Na Luật phương pháp nhập định, luyện phép thiên nhiên. Bản chất vốn hay cương quyết, lại tuyệt đối tin Phật, A Na Luật chứng được Thiên Nhãn Thông. Được giáo đoàn suy tôn là bậc Thiên Nhãn Đệ Nhất trong hàng Thánh chúng”.

      Bạn thấy gì qua câu chuyện trên? Điều gì thái quá cũng sẽ dẫn đến bất cập. Bất cập là lợi bất, cập hại, khó đạt kết quả. Tâm bạn luôn háo cầu mau đốn ngộ nên ma chướng ham ngủ sẽ khởi; tâm bạn luôn khởi tà-chánh thì nghi vấn sẽ thường khởi; tâm luôn lo sợ vãng sanh mất chánh niệm thì niệm sợ hãi sẽ thường trực. Do vậy chúng ta phải học lời khuyên của Phật dạy Ngài A Na Luật đó là đi theo con đường trung đạo. Nghĩa là không kẹt bên A cũng chẳng thiên bên B và cũng đừng kẹt đứng ở giữa, mà mọi chuyện ăn, uống, ngủ, nghỉ, sinh hoạt, tu học đều phải thật nhịp nhàng, uyển chuyển trong chánh niệm. Được vậy thì sự tu học mới có lợi lạc.

      TN hy vọng câu chuyện của Ngài A Na Luật sẽ giúp cho không riêng bạn mà tất cả chúng ta đều có một bài học quý giá trong việc đúc kết tu học.

      TN

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Ngừa thư rác *