Bắn Vật Không Ngờ Bắn Trúng Con Mình

Bắn Vật Không Ngờ Bắn Trúng Con Mình

Ở Lư Lăng có người tên Ngô Đường, rất giỏi săn bắn, khi đi săn thường dắt theo đứa con trai nhỏ. Một hôm, gặp nai mẹ dẫn theo nai con, Ngô Đường bắn một phát trúng nai con ngã xuống chết. Nai mẹ kêu lên tiếng bi thương rồi chạy đi. Ngô Đường liền nấp vào trong lùm cỏ rậm, rình thấy nai mẹ quay lại thè lưỡi liếm xác con, liền giương cung bắn chết luôn nai mẹ.

Thoáng chốc bỗng thấy có một con nai nữa, liền bắn ngay, hóa ra mũi tên trúng vào con trai mình. Ngô Đường ôm xác con khóc rống lên, chợt nghe giữa không trung có tiếng nói: “Ngô Đường! Nai kia cũng thương con có khác gì ngươi?”

Ngô Đường đang lúc hết sức kinh hãi, bỗng thấy xuất hiện một con cọp vồ lấy đứa trẻ, cắn đứt một cánh tay, khiến nó chết ngay lúc ấy.

  • Lời bàn:

Có người hỏi: “Trị tội người không nên liên lụy đến con cái, Ngô Đường tất nhiên độc ác, nhưng con trai còn nhỏ của ông ta nào có tội gì? Oán ghét người cha mà giết đứa con, lưới pháp âm ty liệu có khắc nghiệt quá chăng?”

Đó là không biết rằng, người làm thiện ắt sẽ sinh vào nhà làm thiện để cùng hưởng phúc, người làm ác ắt phải sinh vào nhà làm ác để cùng chịu tội. Đứa con trai Ngô Đường chắc chắn đời trước đã từng làm nhiều việc ác, phải chịu quả báo bị cọp vồ mà chết, thế nên mới sinh vào nhà Ngô Đường để chịu tai họa ấy. Như vậy là để cho thiên hạ biết mà kiêng sợ, để người cha biết được sự trừng phạt là như thế. Nhân duyên hội tụ thành những điều như vậy, đều là do nghiệp lực không thể nghĩ bàn chiêu cảm mà thành.

Đức Phật có nói: “Khi thời gian một kiếp sắp hết, tuổi thọ trung bình của con người chỉ còn được 10 tuổi, chúng sinh gặp nhau, tất cả đều sinh tâm ác độc giết hại lẫn nhau, không chút từ tâm thương xót, cũng giống như người thợ săn ở chốn núi rừng, khi nhìn thấy muôn loài cầm thú chỉ khởi tâm ác độc muốn giết hại mà thôi, không chút thương xót. Vì thế, khi kiếp này sắp hết, trong vòng bảy ngày cuối cùng, cỏ cây đất đá đều hóa thành đao trượng, [chúng sinh nhân đó] tàn hại lẫn nhau, do đó mà khi chết đi rồi tất cả đều đọa vào các đường ác.”

Xin khuyên hết thảy người đời, khi nhìn thấy đồng loại, nên khởi sinh tâm từ bi cứu độ, khi nhìn thấy muôn loài chúng sinh, cũng nên khởi sinh tâm từ bi cứu độ. Dù sinh ra ở đâu cũng phát khởi tâm nguyện Bồ-đề. Được như thế thì dù có tội chướng [đã tạo trước đây] cũng sẽ tức thời tiêu tan như băng tuyết dưới ánh mặt trời.

Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Bỏ Sự Giết Hại
Nguyên tác Hán văn: Vạn Thiện Tiên Tư
Tác Giả: Chu An Sĩ
Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến

7 Phúc đáp

  1. Tiểu Đào

    Vong Linh Đeo Bám Suốt Nhiều Kiếp Để Trả Thù Nhờ Thiện Trí Thức Khai Thị Liền Buông Bỏ Ân Oán

    Hôm ấy giảng pháp sáng xong, tôi nghĩ “ dùng cơm trưa xong thì giảng tiếp đến 4 rưỡi chiều” rồi đợi cư sĩ Ninh Ba lái xe đến đón về. Nhưng khoảng 4 giờ chiều, thì vị Sư ni kia đột nhiên đứng dậy, chạy đến trước tôi la lớn:

    – Ngài Quả Khanh! Xin hãy cứu tôi!

    Rồi bà đứng tại đại điện vung vẫy tay áo tràng, quơ tay múa chân. Lúc ấy các cư sĩ trong điện đều rời chỗ ngồi đứng dậy vây quanh. Tôi thỉnh mọi người hãy vì Sư niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Riêng tôi vẫn đứng giữa điện vừa trì “ Chú Đại Bi” vừa quán sát để tìm xem : Là linh thức nào đang gá vào thân bà?

    Một phút, hai phút, rồi ba phút trôi qua…tôi vẫn chưa nhìn ra là vong linh nào đang đến đòi nợ vị Ni kia , đành phải cầu Bồ tát Quan Thế Âm gia hộ. Đột nhiên vị Ni đang quơ tay múa chân kia bỗng té nhào xuống ( nằm sóng xoài trên đất, chân trái duỗi ra, chân phải cong lại… Trong chớp mắt tôi nhận ra hình dạng này giống y như hình hài một cô bé bị té lầu chết). Lúc đó tôi rất bàng hoàng, lòng thực sự lo âu vì tình huống phát sinh bất ngờ này, nhưng niệm ưu tư này trong chớp măt đã tan biến, bởi tôi tin chắc rằng : Phật, Bồ tát tuyệt không ngồi nhìn mà bất quản! Nhất định các ngài sẽ từ bi gia hộ…

    Khi đó mọi người niệm Phật vang rền đại điện, “Chú đại bi” lại về trong tâm tôi. Tôi tin chắc vị Sư này không thể chết đi, cho dù sắc diện bà đã chuyển sang sắc tối đen cực kì u ám. Trong suốt mười phút, vị Sư không hề động đậy, tôi cảm thấy đại chúng cũng đang lo âu cho sự sống chết của bà. Nhưng do tôi cứ đứng yên chắp tay trong đại điện, nên mọi người cũng an lòng, bình tĩnh niệm “ Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”…

    Đột nhiên, vị Ni kia lồm cồm đứng dậy, hai tay chấp lại đi về phía tôi, miệng lớn tiếng rên rỉ:

    – Ngài Quả Khanh, xin hãy cứu tôi!

    Tôi thầm cảm tạ Phật lực gia trì, khẽ hỏi:

    – Ngươi là ai?

    Vong linh đáp:

    – Tôi là một cô gái 20 tuổi, nguyên là có hai nam nhân muốn cưới tôi. Nhưng hắn ( chỉ tiền thân vị Ni này kiếp trước là nam) vì muốn chiếm đoạt tôi, nên đã lừa tôi lên lầu, dở trò xâm hại, vô lễ…nhưng tôi kiên quyết không thuận theo, vì không thỏa mãn được thú tính nên hắn đã xô tôi té lầu mà chết. Lúc đó oan hồn tôi một mực đeo theo hắn, rất muốn báo thù, giết hắn chết nhưng do hắn còn phúc báu quá lớn, nên tôi không thể tiếp cận làm hại được. Mãi đến sau này, khi hắn chết đi rồi thì đầu thai làm nữ nhân, song tôi vẫn chưa thể tiếp cận báo thù được.

    Rồi đến khi hắn vào làm ở tiệm ăn, tạo đại sát nghiệp, tự tàn phá phúc báu của mình khiến phúc thọ bị giảm ( thì xem như tôi đã có cơ hội báo thù rửa hận!) Nhưng…đột nhiên hắn lại xuất gia! Vì vậy mà ngay trong đời này của hắn, tôi vẫn chưa báo được thù…
    Suốt hai ngày nay, tôi đã được nghe ngài thuyết pháp, nên cũng minh bạch lý nhân quả. Tôi thầm nghĩ : “ Đời trước hắn hại tôi chết, ắt là có nguyên nhân khuất tất trước đó nữa.. Biết đâu, tôi cũng đã từng hại chết hắn ? Nếu như bây giơ tôi báo thù, thì “ oan oan tương báo” sẽ tiếp nối tái diễn không bao giờ dứt, thế thì tôi sẽ thống khổ hết chỗ nói… Vì vậy mà tôi không còn muốn báo thù hắn nữa, cầu xin ngài hãy chỉ cho tôi con đường sáng để đi…

    Dù khi nạn nhân trình bày, lời nói không được rõ ràng, nhưng tôi rất hiểu : Oan hồn cô gái này đã hỉ xả, chịu buông bỏ oán thù, phát tâm muốn qui y Phật. Thế nên tôi bảo:

    – Nơi này gần Phổ Đà, cô hãy đến đó bái Bồ tát Quan Âm làm thầy nha

    Tôi nói xong liền thấy Sư ni thần thái khôi phục lại bình thường, nhưng vẫn còn ẩn hiện vẻ phấn khởi vui mừng của vong linh. Mấy vị nữ cư sĩ liền dìu bà vào lieu phòng nghỉ ngơi.

    Lúc này đã hơn 5 giờ chiều. Cư sĩ Ninh Ba thúc tôi khởi hành. Lúc tôi chuẩn bị lên xe bỗng nghe tiếng gọi to:

    – Ngài Quả Khanh xin hãy đợi tôi chút!

    Tôi quay đầu nhìn, thấy Sư ni hồi nãy hình dáng giống như cô gái trẻ tuổi bước ra, tiến đến trước tôi quỳ xuống bậc thềm biểu thị lòng cảm tạ.

    Tôi bảo:

    – Đó là nhờ Bồ tát Quan Thế Âm từ bi gia hộ, chúng ta nên làm đệ tử ngoan của Bồ tát. Ngài lúc nào cũng gia hộ cho các phật tử.
    Qua câu chuyện này, tôi muốn nhắc nhở:

    Nếu tâm khởi sinh chút ý hận ( mặc dù trong khoảnh khắc) cũng sẽ huân thành tập quán xấu, vì vậy phải lo tu chỉnh sửa sai ngay.
    Không nên dung dưỡng chút lỗi nhỏ nào, cần cảnh giác trong từng khởi tâm động niệm, lúc nào cũng phải luôn đề tỉnh, giữ chánh niệm, tăng gia quán chiếu tu hạnh nhẫn. Được vậy mới không sinh phiền não mà còn tăng công phu tu cho bản thân.

    Trích: Nhân quả phụ giải Lương Hoàng Sám
    Tác giả: Quả Khanh

  2. Tâm Thanh

    Công Chúa Xấu Xí Do Khẩu Nghiệp Tiền Kiếp Được Phật Hóa Độ Thành Xinh Đẹp

    Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái Tử Kỳ Đà.
    Khi đó phu nhân của Vua Ba Tư Nặc là Mạt Lợi, sinh được cô con gái đặt tên là Kim Cương (Ba Xà La ). Tướng người rất xấu! Da sần sù hình như da ngựa, tóc tựa long đuôi ngựa, hình vóc không giống người, chẳng khác gì quỷ Dạ Xoa, thực là trên đời chưa từng có một người thứ hai như cô.
    Nhà vua thấy Công chúa như vậy, lấy làm buồn giận! Nhưng, không biết làm thế nào phải giao cho một người nuôi riêng nơi nhà kín ngoài ra không dám cho ai biết.
    Khi lớn tuổi nhà vua lại càng thêm khó nghĩ, chẳng lẽ nuôi con mãi, không lập gia đình, nếu gả chồng, thì sánh vào hạng người nào? Nhà vua và Hoàng hậu bàn nhau như vầy:
    Vua nói: – Bây giờ Kim Cương đã lớn tuổi, bà tính sao, có gả chồng cho nó không?
    Hoàng hậu nói: – Tậu Bệ hạ! Tôi nghĩ rất khó! Trong triều văn võ bách quan, ai là người lấy nó, nếu họ nhìn thấy nó họ cũng phải chết khiếp.
    Vua nói: – Tôi tính như vầy: Bây giờ sẽ tìm cho nó một người dân thường, nhưng phải dòng quý phái và có học thức, bà nghĩ có được không?
    – Vâng! Bệ hạ! Tôi cũng đang nghĩ như vậy!
    Ngày mai nhà vua gọi quan Lại thần vào nói rằng:
    – Ta có một chút việc riêng. Khanh vào các thôn quê tìm cho ta một người học trò nhà nghèo, chừng hai mươi tuổi, nhưng phải dòng quý phái mới được!
    Quan Lại thần đáp:
    – Dạ! Hạ thần xin tuân mạng!
    Cách ít bữa sau, ông tìm được một thanh niên khôi ngô tuấn tú, ra vẻ bút nghiên kinh sử, và cũng đúng như lời vua dặn. Cậu con nhà quý phái, nhưng chỉ một nỗi nghèo. Chàng được thấy vua triệu vào cung trong dạ mừng thầm và cũng lo thầm! Chưa biết cát hung thế nào? Rồi cùng ông quan này lên đường về kinh.
    Tới kinh, Lại thần nói:
    – Anh hãy đứng đây để tôi vào tâu vua trước.
    – Dạ! Xin đứng đây chờ Ngài.
    Lại thần vào trước sân rồng quỳ xuống tâu rằng:
    – Muôn tâu Bệ hạ! Theo thánh chỉ hạ thần đã đi tìm được một thanh niên hiện đương ở ngoài cổng thành!
    Nhà vua nói: – Trẫm cho phép, khanh đưa nó vào đây!
    Lại thần bái tạ, trở ra đưa chàng vào cung.
    Vua hỏi chàng: – Anh năm nay bao nhiêu tuổi?
    Đáp: – Kính tâu Hoàng thượng! Con năm nay hai mươi tuổi!
    – Học hành thế nào?
    – Dạ! Con đương theo học khoa tú tài!
    – Cha mẹ còn sống hay chết?
    – Dạ! Cha chết đã lâu, còn mẹ già hàng ngày làm mướn cho con đi học!
    Vua nói: – Hôm nay kêu ngươi vào đây, vì trẫm có người con gái hình thù xấu xa, trong triều không thể sánh duyên cùng ai được, nghe biết ngươi tuy nghèo, nhưng dòng hào tộc, vậy ta gả con ta cho, ngươi có ưng thuận không?
    – Dạ! Muôn tâu Thánh thượng, nhà con có đầy phúc đức nên nay mới được Hoàng thượng ngó tới, thực là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” con xin tuân theo lời ngọc chỉ, không dám trái mạng. Tâu Thánh thượng! Con gái của Thánh thượng tuy xấu, nhưng dầu sao cũng là con của Thánh thượng, là khí huyết của Thánh thượng sinh ra, thực là phước đức cho con vô cùng vô tận, hôm nay nếu Thánh thượng có gả con chó cho con, thì con cũng không dám từ chối, nữa là được diễm phúc sánh hàng Phò mã.
    Nhà vua nghe anh nói mỉm cười, rồi định ngày làm lễ đính hôn cho con gái.
    Ngày lễ này nhà vua cũng giấu, không cho bá quan và nhân dân biết, chỉ trong hoàng cung làm lễ sơ sơ. Sau cuộc này nhà vua cho hai vợ chồng chàng rể ở riêng một tư thất nơi hậu viên bảy lần cửa khóa cây cối âm u, có vẻ kín đáo. Vua dặn riêng chàng: Luôn luôn để vợ trong cung cấm, nếu có đi đâu phải khóa cửa, và một điều ngặt nhất chớ cho ai ngó thấy, vì lỡ để thiên hạ chê cười!
    Từ đó anh học trò nghèo vinh hạnh được nhà vua thâu nạp làm Phò mã, vinh hoa nhất mực lộc nước phấn vua, thoát khỏi nỗi cơ hàn bần khổ nơi hương thôn hủ tục, được dự với những hàng quan liêu trong triều chính, chẳng khác gì đại long thoát khỏi chốn ao tù ra nơi biển cả, phượng hoàng sổ cánh bay bổng chốn mây xanh.
    Gặp thời buổi thanh bình bốn phương an lạc, nơi kinh thành những thú vui dồn dập. Khi ấy các quan triều và các nhà quý phái, kết hội với nhau, hàng tháng có những ngày họp mặt, để thưởng thức những thú vui! Ông Phò mã này cũng vào một chân. Khi tới hội ai cũng đem theo vợ, nhưng riêng ông Phò mã chỉ đi có một mình, nên một số người tò mò thắc mắc, tự nói với nhau rằng:
    – Ông Phò mã này kỳ nào cũng đi một mình, không thấy vợ đi! Một là vợ đẹp, hai là vợ ông xấu, hôm nay chúng ta tìm cách để xem vợ hắn vì lý do gì mà không tới hội.
    Mọi người đều thuận lời bàn ấy, hôm đó họ mời ông Phò mã uống rượu rất say, xong cuộc ăn uống, Phò mã bị say ngủ bất tỉnh, họ cởi trộm lấy chìa khóa rồi sai năm người tới nhà xem cô vợ của ông ra sao?
    Giữa lúc Phò mã đi dự hội, cô Kim Cương một mình ngồi trong nhà, thơ thẩn buồn bực tự than rằng:
    – Không biết kiếp trước ta tạo tội gì, kiếp này bị thân hình xấu ác, suốt tháng quanh năm vua cha giam giữ trong nhà kín, không nhìn ngó thấy bóng mặt trời mặt trăng cho đến một ai, là thân người không khác gì loài chim lồng cá chậu, thực là khổ quá không biết bày tỏ cùng ai!
    Cô lại nghĩ như vậy:
    – Hiện nay đức Phật ra đời cứu giúp quần sinh muôn loại, rất nhiều người được hàm ân thoát khổ, ta cũng không được tới nơi Ngài mà chiêm ngưỡng, để cầu Ngài cứu khổ ban vui!
    Nói rồi cô lấy hương đốt, hướng về núi Linh Sơn nơi đức Phật ngự, một mình chí thành đảnh lễ khấn rằng:
    – Kính lạy đức Thế Tôn! Mở lượng từ bi thương xót đến con, tới đây để con được cúng dàng, và giáo hóa cho con.
    Vì lòng thành kính thiết tha cầu nguyện của cô, nên đức Phật dùng thần túc hiện bay đến chỗ cô ở, đầu tiên Ngài cho cô nhìn thấy tóc của Ngài xanh, nhỏ mềm, có ánh quang minh.
    Cô quỳ xuống lễ lạy vui mừng! Nên bộ tóc đuôi ngựa của cô tư nhiên biến thành tóc xanh nhỏ mướt. Lần thứ hai Ngài cho cô nhìn thấy dung nhan như vầng mặt trăng đêm rằm, tươi đẹp siêu phàm. Thấy thế, cô vui mừng! Một lòng tha thiết lễ kính. Vì thế bộ diện sù xì của cô đã biến thành cô gái tiên nga, mắt sáng tựa sao, mồm tươi hoa nở.
    Lần thứ ba Ngài hiện toàn thân cho cô chiêm ngưỡng, thân tướng của Ngài như quả núi vàng, làm sáng rực cả căn nhà của cô. Cô sung sướng quá! Lễ kính dưới chân, ăn năn hối lỗi! Vì thế nên những tướng xấu da thô, được tiêu tan, thân cô tự nhiên đoan chính, tươi đẹp siêu nhân.
    Tới đây đức Thế Tôn thuyết pháp cho cô nghe. Những diều kiêu mạn sân si nên bỏ, lòng từ bi khiêm nhượng nên tu.
    Cô nghe lời giáo hóa, như người được uống nước cam lồ, vội vàng thụp lạy xin thọ giáo. Cũng do lòng thành phát khởi, nên những nghiệp ác của cô đã tạo từ đời quá khứ được tiêu tan, ngay giờ phút ấy tự nhiên trí óc sáng tỏ, chứng được quả Tu Đà Hoàn.
    Đức Phật nhận thấy cô đã thoát nghiệp, và chứng quả nên Ngài ẩn hình biến về Linh Sơn.
    Đoạn này nói đến năm người, vừa lúc đức Phật ra về thì họ mở cửa bước vào. Nhìn thấy cô họ thưa rằng:
    – Thưa cô! Xin lỗi cô, có phải cô là vợ Phò Mã không?
    – Thưa phải, các ông tới đây có việc gì?
    – Thưa, chúng tôi tới đây có chút việc tư, muốn gặp Phò Mã!
    – Hôm nay Phò Mã đi chơi!
    Năm người xin cáo lui, ra đường, họ nói cùng nhau rằng:
    – Quả nhiên vợ anh đẹp nên anh không mang đi đấy thôi.
    Trở về họ trả lại chìa khóa cho Phò Mã. Sau đó Phò Mã tỉnh rượu về nhà nhìn không thấy vợ, chỉ thấy cô gái đẹp!
    Ông hỏi:
    – Xin lỗi cô tới đây có việc gì?
    – Thưa ông tôi là bạn của Kim Cương đây!
    – Thưa! Kim Cương đi đâu cô biết không à?
    Cô phì cười thưa rằng:
    – Đố anh tìm thấy Kim Cương đấy?
    Phồ Mã còn đương hoang mang, cô nói tiếp:
    – Em chính là Kim Cương, không phải ai đâu? Anh đừng có lạ! Hôm nay em buồn vì sự xấu xa của em nên em đốt hương cầu nguyện đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ tâm cứu tế, Ngài tới đây em được lễ kính nên những tội ác nhiều đời của em được tiêu tan, biến thân gái xấu, đổi thành đẹp, nên anh không nhận được, có phải ai đâu, cửa anh khóa còn ai vào được. Bây giờ anh đến tâu Phụ Vương và Mẫu Hậu để em lên yết kiến.
    Phò Mã vui quá! Biết đích là vợ mình, vội lên vương cung tâu vua rằng:
    – Tâu Phụ Vương, Kim Cương muốn lên để yết kiến Phụ Vương!
    Đáp: – Thôi! Ta bận việc anh cẩn thận, chớ cho nó đi đâu để khi nào ta đến thăm!
    Phò Mã tâu: – Tâu Phụ Vương! Kim Cương hôm nay được nhờ công đức Phật biến thân gái xấu đổi thành đoan chính tươi đẹp, giờ đây Phụ Vương có nhìn cũng không nhận được!
    Vua nói: – Thế à! Quả như vậy thì anh về mau đem nó lại ta xem.
    Phò Mã tất tưởi về đưa vợ lên yết kiến vua và Hoàng hậu, nhìn thấy Kim Cương tươi đẹp khác xưa trong tâm vui vẻ nói:
    – Nam mô Phật! Đức Phật xuất thế làm lợi ích cho muôn loài chúnh sinh, con ta hôm nay được Ngài giải thoát tội lỗi, lại được đổi xấu thành đẹp, thực là phúc đức vô lượng! Biết lấy gì đền đáp được Ngài.
    Sớm ngày mai nhà vua sửa soan lễ vật, rồi cùng đi yết kiến Phật, tới nơi mọi người đều lễ Phật rồi lui về một bên, vua Ba Tư Nặc bạch Phật rằng:
    – Kính lạy đức Thế Tôn! Chẳng hay đứa con gái của con đời quá khứ làm phước gì, nay được sinh vào nhà tôn quý, và không rõ tạo tội gì, phải chịu thân gái xấu, da tóc thô kịch hình như súc sinh, kính xin Ngài chỉ bảo cho chúng con được biết nguyên do?
    Phật nói: – Ông muốn biết tội căn và phước bào của Kim Cương tôi sẽ nói ông hay. Người ta ở trên đời đẹp tốt hay xấu xa cũng do nghiệp hành đời trước, tội hay phước cũng do báo ứng của trần thế.
    Thuở đời quá khứ đã lâu lắm, bấy giờ có một nước lớn tên là Ba La Nại, nước ấy có ông Trưởng giả giàu có vô chừng, ông biết tôn kính ngôi Tam Bảo cúng dàng chư Tăng. Ông phát nguyện xin suốt đời cúng dàng một vị Bích Chi Phật, vị ấy thân thể thô kịch hình dáng nhem nhuốc xấu xa, ông có cô con gái còn nhỏ tuổi, khi thấy vị Bích Chi Phật lại nhà, thì sinh lòng khinh mạn rồi nói: Ông này thân thể thô kịch xấu xa, da dẻ sần sù, ghê tớm lắm như vậy. Song Ngài vẫn làm thinh, và thường thường đến nhận các món cúng dàng của ông trưởng giả.
    Vị Bích Chi Phật khi sắp tịch diệt vào Niết Bàn, muốn để những người tin theo ngôi Tam Bảo phát khởi lòng tu cho bền chắc, cho tinh tiến; nên Ngài bay lên hư không để hiện các phép thần thông; trên mình Ngài phun ra lửa, dưới phun ra nước, đầy cả hư không rồi hiện bên Đông, lặn bên Tây, hiện bên Nam, lặn bên Bắc; hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đi, hoặc đứng, trên hư không. Khiến cho cả nhà ông Tưởng giả coi thấy phép thần biến, rồi từ trên hư không bước xuống đi vào nhà ông Trưởng giả. Ông rất vui mừng và thận trọng kính mến. Người con gái nhỏ lúc đó tự biết mình có tội nói xấu Ngài, kiếp sau quyết bị quả báo, sợ hãi ăn năn, tới trước chắp tay quỳ thẳng thưa với Ngài rằng: “Muôn xin Tôn giả tha thứ, trước đây con không biết Ngài là bậc Thánh, đem lòng khinh mạn, ác tâm nói xấu tội con quá nặng, kính xin Tôn giả xá tội và chớ để tâm”. Vị Bích Chi Phật cũng thể lòng từ bi cho cô sám hối.
    Đại Vương nên biết, người con gái ấy nay là Kim Cương, con của ông, lúc đó ác tâm chê dèm bậc Thánh nhân, cho nên từ kiếp ấy đến nay, sinh vào thế giới nào cũng phải chịu thân hình xấu ác, vì biết hối lỗi, nên nay mới được đoan chính tốt tươi, anh tài vượt chúng, cũng do sự cúng dàng vị Bích Chi Phật nên đời đời thường được sinh vào nhà tôn quý hưởng sự giàu sang sung sướng, và cũng do nhân duyên này mà được giải thoát, như thế đó. Đại Vương! Tất cả chúng sinh phải nên gìn giữ thân, miệng, ý cho cẩn thận chớ nên càn dỡ khinh người chê bai mắng chửi, sau chịu quả báo đau khổ khó mà thoát khỏi.
    Bấy giờ vau Ba Tư Nặc và quần thần cùng tất cả đại chúng, nghe Phật nói căn do quả báo của Kim Cương như vậy, ai nấy đều sợ hãi, và phát tâm tin kính, tụ cảm thấy trước Phật, nhân sự tín tâm, nên có người chứng sơ quả cho đến tứ quả, cũng có người phát tâm bình đẳng vô thượng và cũng có người trụ ngôi bất thoái, ai nấy đều khát ngưỡng lời giáo hóa của Phật, vui vẻ tuân theo cúi đầu tạ lễ lui ra.

    Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái Tử Kỳ Đà.
    Khi đó phu nhân của Vua Ba Tư Nặc là Mạt Lợi, sinh được cô con gái đặt tên là Kim Cương (Ba Xà La ). Tướng người rất xấu! Da sần sù hình như da ngựa, tóc tựa long đuôi ngựa, hình vóc không giống người, chẳng khác gì quỷ Dạ Xoa, thực là trên đời chưa từng có một người thứ hai như cô.
    Nhà vua thấy Công chúa như vậy, lấy làm buồn giận! Nhưng, không biết làm thế nào phải giao cho một người nuôi riêng nơi nhà kín ngoài ra không dám cho ai biết.
    Khi lớn tuổi nhà vua lại càng thêm khó nghĩ, chẳng lẽ nuôi con mãi, không lập gia đình, nếu gả chồng, thì sánh vào hạng người nào? Nhà vua và Hoàng hậu bàn nhau như vầy:
    Vua nói: – Bây giờ Kim Cương đã lớn tuổi, bà tính sao, có gả chồng cho nó không?
    Hoàng hậu nói: – Tậu Bệ hạ! Tôi nghĩ rất khó! Trong triều văn võ bách quan, ai là người lấy nó, nếu họ nhìn thấy nó họ cũng phải chết khiếp.
    Vua nói: – Tôi tính như vầy: Bây giờ sẽ tìm cho nó một người dân thường, nhưng phải dòng quý phái và có học thức, bà nghĩ có được không?
    – Vâng! Bệ hạ! Tôi cũng đang nghĩ như vậy!
    Ngày mai nhà vua gọi quan Lại thần vào nói rằng:
    – Ta có một chút việc riêng. Khanh vào các thôn quê tìm cho ta một người học trò nhà nghèo, chừng hai mươi tuổi, nhưng phải dòng quý phái mới được!
    Quan Lại thần đáp:
    – Dạ! Hạ thần xin tuân mạng!
    Cách ít bữa sau, ông tìm được một thanh niên khôi ngô tuấn tú, ra vẻ bút nghiên kinh sử, và cũng đúng như lời vua dặn. Cậu con nhà quý phái, nhưng chỉ một nỗi nghèo. Chàng được thấy vua triệu vào cung trong dạ mừng thầm và cũng lo thầm! Chưa biết cát hung thế nào? Rồi cùng ông quan này lên đường về kinh.
    Tới kinh, Lại thần nói:
    – Anh hãy đứng đây để tôi vào tâu vua trước.
    – Dạ! Xin đứng đây chờ Ngài.
    Lại thần vào trước sân rồng quỳ xuống tâu rằng:
    – Muôn tâu Bệ hạ! Theo thánh chỉ hạ thần đã đi tìm được một thanh niên hiện đương ở ngoài cổng thành!
    Nhà vua nói: – Trẫm cho phép, khanh đưa nó vào đây!
    Lại thần bái tạ, trở ra đưa chàng vào cung.
    Vua hỏi chàng: – Anh năm nay bao nhiêu tuổi?
    Đáp: – Kính tâu Hoàng thượng! Con năm nay hai mươi tuổi!
    – Học hành thế nào?
    – Dạ! Con đương theo học khoa tú tài!
    – Cha mẹ còn sống hay chết?
    – Dạ! Cha chết đã lâu, còn mẹ già hàng ngày làm mướn cho con đi học!
    Vua nói: – Hôm nay kêu ngươi vào đây, vì trẫm có người con gái hình thù xấu xa, trong triều không thể sánh duyên cùng ai được, nghe biết ngươi tuy nghèo, nhưng dòng hào tộc, vậy ta gả con ta cho, ngươi có ưng thuận không?
    – Dạ! Muôn tâu Thánh thượng, nhà con có đầy phúc đức nên nay mới được Hoàng thượng ngó tới, thực là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” con xin tuân theo lời ngọc chỉ, không dám trái mạng. Tâu Thánh thượng! Con gái của Thánh thượng tuy xấu, nhưng dầu sao cũng là con của Thánh thượng, là khí huyết của Thánh thượng sinh ra, thực là phước đức cho con vô cùng vô tận, hôm nay nếu Thánh thượng có gả con chó cho con, thì con cũng không dám từ chối, nữa là được diễm phúc sánh hàng Phò mã.
    Nhà vua nghe anh nói mỉm cười, rồi định ngày làm lễ đính hôn cho con gái.
    Ngày lễ này nhà vua cũng giấu, không cho bá quan và nhân dân biết, chỉ trong hoàng cung làm lễ sơ sơ. Sau cuộc này nhà vua cho hai vợ chồng chàng rể ở riêng một tư thất nơi hậu viên bảy lần cửa khóa cây cối âm u, có vẻ kín đáo. Vua dặn riêng chàng: Luôn luôn để vợ trong cung cấm, nếu có đi đâu phải khóa cửa, và một điều ngặt nhất chớ cho ai ngó thấy, vì lỡ để thiên hạ chê cười!
    Từ đó anh học trò nghèo vinh hạnh được nhà vua thâu nạp làm Phò mã, vinh hoa nhất mực lộc nước phấn vua, thoát khỏi nỗi cơ hàn bần khổ nơi hương thôn hủ tục, được dự với những hàng quan liêu trong triều chính, chẳng khác gì đại long thoát khỏi chốn ao tù ra nơi biển cả, phượng hoàng sổ cánh bay bổng chốn mây xanh.
    Gặp thời buổi thanh bình bốn phương an lạc, nơi kinh thành những thú vui dồn dập. Khi ấy các quan triều và các nhà quý phái, kết hội với nhau, hàng tháng có những ngày họp mặt, để thưởng thức những thú vui! Ông Phò mã này cũng vào một chân. Khi tới hội ai cũng đem theo vợ, nhưng riêng ông Phò mã chỉ đi có một mình, nên một số người tò mò thắc mắc, tự nói với nhau rằng:
    – Ông Phò mã này kỳ nào cũng đi một mình, không thấy vợ đi! Một là vợ đẹp, hai là vợ ông xấu, hôm nay chúng ta tìm cách để xem vợ hắn vì lý do gì mà không tới hội.
    Mọi người đều thuận lời bàn ấy, hôm đó họ mời ông Phò mã uống rượu rất say, xong cuộc ăn uống, Phò mã bị say ngủ bất tỉnh, họ cởi trộm lấy chìa khóa rồi sai năm người tới nhà xem cô vợ của ông ra sao?
    Giữa lúc Phò mã đi dự hội, cô Kim Cương một mình ngồi trong nhà, thơ thẩn buồn bực tự than rằng:
    – Không biết kiếp trước ta tạo tội gì, kiếp này bị thân hình xấu ác, suốt tháng quanh năm vua cha giam giữ trong nhà kín, không nhìn ngó thấy bóng mặt trời mặt trăng cho đến một ai, là thân người không khác gì loài chim lồng cá chậu, thực là khổ quá không biết bày tỏ cùng ai!
    Cô lại nghĩ như vậy:
    – Hiện nay đức Phật ra đời cứu giúp quần sinh muôn loại, rất nhiều người được hàm ân thoát khổ, ta cũng không được tới nơi Ngài mà chiêm ngưỡng, để cầu Ngài cứu khổ ban vui!
    Nói rồi cô lấy hương đốt, hướng về núi Linh Sơn nơi đức Phật ngự, một mình chí thành đảnh lễ khấn rằng:
    – Kính lạy đức Thế Tôn! Mở lượng từ bi thương xót đến con, tới đây để con được cúng dàng, và giáo hóa cho con.
    Vì lòng thành kính thiết tha cầu nguyện của cô, nên đức Phật dùng thần túc hiện bay đến chỗ cô ở, đầu tiên Ngài cho cô nhìn thấy tóc của Ngài xanh, nhỏ mềm, có ánh quang minh.
    Cô quỳ xuống lễ lạy vui mừng! Nên bộ tóc đuôi ngựa của cô tư nhiên biến thành tóc xanh nhỏ mướt. Lần thứ hai Ngài cho cô nhìn thấy dung nhan như vầng mặt trăng đêm rằm, tươi đẹp siêu phàm. Thấy thế, cô vui mừng! Một lòng tha thiết lễ kính. Vì thế bộ diện sù xì của cô đã biến thành cô gái tiên nga, mắt sáng tựa sao, mồm tươi hoa nở.
    Lần thứ ba Ngài hiện toàn thân cho cô chiêm ngưỡng, thân tướng của Ngài như quả núi vàng, làm sáng rực cả căn nhà của cô. Cô sung sướng quá! Lễ kính dưới chân, ăn năn hối lỗi! Vì thế nên những tướng xấu da thô, được tiêu tan, thân cô tự nhiên đoan chính, tươi đẹp siêu nhân.
    Tới đây đức Thế Tôn thuyết pháp cho cô nghe. Những diều kiêu mạn sân si nên bỏ, lòng từ bi khiêm nhượng nên tu.
    Cô nghe lời giáo hóa, như người được uống nước cam lồ, vội vàng thụp lạy xin thọ giáo. Cũng do lòng thành phát khởi, nên những nghiệp ác của cô đã tạo từ đời quá khứ được tiêu tan, ngay giờ phút ấy tự nhiên trí óc sáng tỏ, chứng được quả Tu Đà Hoàn.
    Đức Phật nhận thấy cô đã thoát nghiệp, và chứng quả nên Ngài ẩn hình biến về Linh Sơn.
    Đoạn này nói đến năm người, vừa lúc đức Phật ra về thì họ mở cửa bước vào. Nhìn thấy cô họ thưa rằng:
    – Thưa cô! Xin lỗi cô, có phải cô là vợ Phò Mã không?
    – Thưa phải, các ông tới đây có việc gì?
    – Thưa, chúng tôi tới đây có chút việc tư, muốn gặp Phò Mã!
    – Hôm nay Phò Mã đi chơi!
    Năm người xin cáo lui, ra đường, họ nói cùng nhau rằng:
    – Quả nhiên vợ anh đẹp nên anh không mang đi đấy thôi.
    Trở về họ trả lại chìa khóa cho Phò Mã. Sau đó Phò Mã tỉnh rượu về nhà nhìn không thấy vợ, chỉ thấy cô gái đẹp!
    Ông hỏi:
    – Xin lỗi cô tới đây có việc gì?
    – Thưa ông tôi là bạn của Kim Cương đây!
    – Thưa! Kim Cương đi đâu cô biết không à?
    Cô phì cười thưa rằng:
    – Đố anh tìm thấy Kim Cương đấy?
    Phồ Mã còn đương hoang mang, cô nói tiếp:
    – Em chính là Kim Cương, không phải ai đâu? Anh đừng có lạ! Hôm nay em buồn vì sự xấu xa của em nên em đốt hương cầu nguyện đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ tâm cứu tế, Ngài tới đây em được lễ kính nên những tội ác nhiều đời của em được tiêu tan, biến thân gái xấu, đổi thành đẹp, nên anh không nhận được, có phải ai đâu, cửa anh khóa còn ai vào được. Bây giờ anh đến tâu Phụ Vương và Mẫu Hậu để em lên yết kiến.
    Phò Mã vui quá! Biết đích là vợ mình, vội lên vương cung tâu vua rằng:
    – Tâu Phụ Vương, Kim Cương muốn lên để yết kiến Phụ Vương!
    Đáp: – Thôi! Ta bận việc anh cẩn thận, chớ cho nó đi đâu để khi nào ta đến thăm!
    Phò Mã tâu: – Tâu Phụ Vương! Kim Cương hôm nay được nhờ công đức Phật biến thân gái xấu đổi thành đoan chính tươi đẹp, giờ đây Phụ Vương có nhìn cũng không nhận được!
    Vua nói: – Thế à! Quả như vậy thì anh về mau đem nó lại ta xem.
    Phò Mã tất tưởi về đưa vợ lên yết kiến vua và Hoàng hậu, nhìn thấy Kim Cương tươi đẹp khác xưa trong tâm vui vẻ nói:
    – Nam mô Phật! Đức Phật xuất thế làm lợi ích cho muôn loài chúnh sinh, con ta hôm nay được Ngài giải thoát tội lỗi, lại được đổi xấu thành đẹp, thực là phúc đức vô lượng! Biết lấy gì đền đáp được Ngài.
    Sớm ngày mai nhà vua sửa soan lễ vật, rồi cùng đi yết kiến Phật, tới nơi mọi người đều lễ Phật rồi lui về một bên, vua Ba Tư Nặc bạch Phật rằng:
    – Kính lạy đức Thế Tôn! Chẳng hay đứa con gái của con đời quá khứ làm phước gì, nay được sinh vào nhà tôn quý, và không rõ tạo tội gì, phải chịu thân gái xấu, da tóc thô kịch hình như súc sinh, kính xin Ngài chỉ bảo cho chúng con được biết nguyên do?
    Phật nói: – Ông muốn biết tội căn và phước bào của Kim Cương tôi sẽ nói ông hay. Người ta ở trên đời đẹp tốt hay xấu xa cũng do nghiệp hành đời trước, tội hay phước cũng do báo ứng của trần thế.
    Thuở đời quá khứ đã lâu lắm, bấy giờ có một nước lớn tên là Ba La Nại, nước ấy có ông Trưởng giả giàu có vô chừng, ông biết tôn kính ngôi Tam Bảo cúng dàng chư Tăng. Ông phát nguyện xin suốt đời cúng dàng một vị Bích Chi Phật, vị ấy thân thể thô kịch hình dáng nhem nhuốc xấu xa, ông có cô con gái còn nhỏ tuổi, khi thấy vị Bích Chi Phật lại nhà, thì sinh lòng khinh mạn rồi nói: Ông này thân thể thô kịch xấu xa, da dẻ sần sù, ghê tớm lắm như vậy. Song Ngài vẫn làm thinh, và thường thường đến nhận các món cúng dàng của ông trưởng giả.
    Vị Bích Chi Phật khi sắp tịch diệt vào Niết Bàn, muốn để những người tin theo ngôi Tam Bảo phát khởi lòng tu cho bền chắc, cho tinh tiến; nên Ngài bay lên hư không để hiện các phép thần thông; trên mình Ngài phun ra lửa, dưới phun ra nước, đầy cả hư không rồi hiện bên Đông, lặn bên Tây, hiện bên Nam, lặn bên Bắc; hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đi, hoặc đứng, trên hư không. Khiến cho cả nhà ông Tưởng giả coi thấy phép thần biến, rồi từ trên hư không bước xuống đi vào nhà ông Trưởng giả. Ông rất vui mừng và thận trọng kính mến. Người con gái nhỏ lúc đó tự biết mình có tội nói xấu Ngài, kiếp sau quyết bị quả báo, sợ hãi ăn năn, tới trước chắp tay quỳ thẳng thưa với Ngài rằng: “Muôn xin Tôn giả tha thứ, trước đây con không biết Ngài là bậc Thánh, đem lòng khinh mạn, ác tâm nói xấu tội con quá nặng, kính xin Tôn giả xá tội và chớ để tâm”. Vị Bích Chi Phật cũng thể lòng từ bi cho cô sám hối.
    Đại Vương nên biết, người con gái ấy nay là Kim Cương, con của ông, lúc đó ác tâm chê dèm bậc Thánh nhân, cho nên từ kiếp ấy đến nay, sinh vào thế giới nào cũng phải chịu thân hình xấu ác, vì biết hối lỗi, nên nay mới được đoan chính tốt tươi, anh tài vượt chúng, cũng do sự cúng dàng vị Bích Chi Phật nên đời đời thường được sinh vào nhà tôn quý hưởng sự giàu sang sung sướng, và cũng do nhân duyên này mà được giải thoát, như thế đó. Đại Vương! Tất cả chúng sinh phải nên gìn giữ thân, miệng, ý cho cẩn thận chớ nên càn dỡ khinh người chê bai mắng chửi, sau chịu quả báo đau khổ khó mà thoát khỏi.
    Bấy giờ vau Ba Tư Nặc và quần thần cùng tất cả đại chúng, nghe Phật nói căn do quả báo của Kim Cương như vậy, ai nấy đều sợ hãi, và phát tâm tin kính, tụ cảm thấy trước Phật, nhân sự tín tâm, nên có người chứng sơ quả cho đến tứ quả, cũng có người phát tâm bình đẳng vô thượng và cũng có người trụ ngôi bất thoái, ai nấy đều khát ngưỡng lời giáo hóa của Phật, vui vẻ tuân theo cúi đầu tạ lễ lui ra.

    Trích Kinh Hiền Ngu

  3. Mau Mau Niệm Phật

    Ông Tả Thân, người Lâm Hải, thọ Bồ Tát giới với Thần Chiếu Pháp sư. Ông nghe giảng pháp yếu Đại thừa bỗng rỗng suốt tỏ ngộ. Từ đó ông nghiêm trì giới luật, tạo tượng Tây phương Tam Thánh, sớm tối kính lễ cầu sanh Tịnh Độ. Ông tụng Kinh trước sau tính được 3.400 bộ Pháp Hoa, 20.000 quyển Kim Cang.

    Năm Thiệu Thánh thứ 2, mùa Thu, ông nhuốm bệnh, bảo con trai của ông là Sa môn Tịnh Viên xướng đề Kinh Pháp Hoa. Kế đó ông mơ thấy ba người cao lớn đứng bờ sông kêu ông mau lên thuyền, ông tuân lời, thuyền liền vụt đi về phía Tây. Thức dậy, ông tự biết đã đến giờ vãng sanh, liền thỉnh chư Tăng đến nhà tụng Kinh A Di Đà. Ông nói với mọi người rằng : “Tôi đã thấy quang minh của Phật”. Ông tự đi tắm gội thay đổi y phục, căn dặn quyến thuộc đừng than khóc mà làm ngại sự vãng sanh của ông. Rồi ông ngồi ngay thẳng tay kiết ấn mà qua đời.

    Trích ở các bộ : Pháp Hoa Trì Nghiệm Ký & Phật Tổ Thống Kỷ
    ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

    HT Thích Trí Tịnh

  4. Mở Rộng Tâm Lượng

    Phương Pháp Cầu Sống Lâu

    Đức Phật bảo Phạm vương:

    – Này thiện nam tử! Nếu kẻ nào chán sự khổ ở thế gian muốn cầu thuốc trường sanh, thì nên an trụ nơi chỗ vắng lặng sạch sẽ, kiết giới thanh tịnh và thật hành một trong các phương pháp như sau: Hoặc tụng chú vào trong áo mà mặc, hoặc tụng chú vào nước uống, thức ăn, chất thơm, dược phẩm mà dùng. Nên nhớ mỗi thứ đều tụng 108 biến, tất sẽ được sống lâu. Nếu có thể kiết giới đúng pháp, và y như pháp mà thọ trì, thì mọi việc đều thành tựu.

    Phép kiết giới như thế nào? Hoặc tụng chú vào lưỡi dao sạch, rạch đất xung quanh làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào nước sạch, rảy 4 phương làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào hột cải trắng, liệng ra bốn phía làm giới hạn. Hay dùng tâm tưởng đến chỗ nào thì chỗ đó là giới hạn. Hoặc tụng chú vào tro sạch, rải xung quanh làm giới hạn. Hoặc tụng chú vào chỉ ngũ sắc, treo vây bốn bên làm giới hạn. Mấy phương pháp trên đây, dùng cách nào cũng được. Nên nhớ mỗi thứ đều phải tụng cho đủ 21 biến. Nếu tụng trì đúng pháp, tự nhiên sẽ được hiệu quả.

    KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI
    Đời Đường, Sa môn Dà Phạm Đạt Mạ
    Dịch Giả: Thích Thiền Tâm

    • Phong sương

      Xin cho mình hỏi. Muốn gia trì hay trì chú vào trong vật dụng như ly nước hay áo quần thì phải làm như thế nào vậy ạ ? Xin hoan hỷ chỉ bày cho ạ

  5. Tâm Thanh

    Chuyện nhơn quả: CHA ÔNG TÍCH ĐỨC, CON CHÁU NƯƠNG NHỜ

    Dương Đức công vốn tên là Tạc, người phủ Thường Tín xứ Sơn Nam ( nay là huyện Thường Tín, thuộc tỉnh Hà Tây). Về triều vua Huệ Tông nhà Lý (1211 – 1224), ông làm quan coi việc hình án ở trấn Tuyên Quang (Vĩnh Phúc, Yên Bái ngày nay) xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các vụ án đều được công bằng.

    Vì sự nhân từ phúc hậu, người thời bấy giờ gọi là Đức công. Năm 50 tuổi, Đức công vẫn không có con trai, chợt bị ốm nặng rồi chết lâm sàng, hồi lâu bất chợt tỉnh lại khiến mọi người kinh hoàng. Sau khi bình tĩnh lại, ông bảo với mọi người rằng:
    – Ta vừa đến một chỗ thành đèn vách sắt, toan bước chân vào thì có một viên chức ngăn lại. Viên ấy dẫn ta đi sang phía hữu, thấy có những cửa đỏ biển son. Vén áo đi vào cửa này thì thấy san sát những tòa rộng dẫy dài, có đến hơn trăm người thắt đai đứng hầu sau trước.
    Giữa có hai vị mặc áo bào tía ngồi đối diện nhau ở bên một cái án, đưa mắt cho viên chức kia bảo lấy sổ son của họ Dương ra xem, một lát hai vị cùng nhìn nhau bảo rằng: “Dương gian thật không có người nào được thế, cứu sống cho mọi người nhiều lắm. Chỉ tiếc hưởng tuổi không dài và dòng sau không người nối dõi. Người như thế mà không biểu dương thì làm sao khuyến khích cho kẻ khác được; ta sẽ phải tâu lên Thượng đế”.

    Bèn truyền cho Đức công hẵng xuống tạm nghỉ ở cái hành lang phía đông. Chừng độ nửa ngày, hai vị ấy lại sai dẫn Đức công vào, bảo rằng:
    – Nhà ngươi ngày thường vốn có tiếng là người lương thiện. Thượng đế khen ngợi, ban cho một người con trai tốt và cho sống lâu thêm hai kỷ (24 năm) nữa. Nên mau về đi mà cố gắng làm thêm điều âm đức, đừng bảo là trong cõi u minh không biết gì đến.
    Đoạn sai viên chức kia dẫn về. Khi ra khỏi cửa, Dương hỏi rằng:
    – Chẳng hay đây là dinh tòa nào? Ai là chủ trương và coi giữ công việc gì?
    Viên chức ấy nói:
    – Đây là một tòa trong 24 tòa ở Phong Đô (một tòa coi việc hình ngục ở địa phủ), phàm người mới chết đều phải qua cả. Người nào tên ghi ở sổ son, may ra còn có khi sống mà về được, chứ đã tên ghi sổ mực thì chẳng còn có mong gì. Nếu ông không phải là người xưa nay hết lòng làm việc thiện thì cũng khó bề thoát được.

    Bèn cùng nhau chia tay từ biệt, rồi ta bừng tỉnh như một giấc chiêm bao. Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào bụng, bụng bỗng thấy rung động. Rồi bà có mang đủ ngày đủ tháng sinh ra được một cậu con trai, đặt tên cho là Thiên Tích. Tích Thiên Tích thiên tư thông minh, học vấn rộng rãi, phàm sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là không thiệp liệp.
    Đức công mừng mà rằng: ‘”Thế là ta có dòng giống rồi!”

    Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con. Sau đó 24 năm, ông vô bệnh mà mất, Thiên Tích thương xót rất mực, xa gần ai nấy đều cảm động.
    Khi đã hết tang, Thiên Tích sớm hôm học hành, không hề trễ biếng. Nhưng gia cảnh nghèo nàn, ăn tiêu không đủ. Thường tìm những nhà có con gái xin vào gửi rể, nhưng chẳng ai nhận cả. Láng giềng hàng xóm, họ thấy nghèo thường đem lòng khinh. Chàng than rằng:

    – Cha ta thuở trước cứu sống được cho hàng nghìn người, mà rút lại không cứu sống được một đứa con. Làm thiện như thế phỏng có ích gì?
    Nói chưa dứt lời, bỗng thấy một bóng người áo mũ chững chạc, tự xưng là quan đại phu họ Thạch, hiện đến vái chào mà rằng:
    – Ngày xưa tôi từng chịu ơn dày của Dương công, không biết lấy gì đền báo. Có đứa con gái là Hán Anh, vậy xin hiến cậu để hầu hạ chăn gối. Cậu nên tự bảo trọng lấy mình, đừng vì cớ nghèo mà để tiêu mòn mất chí khí.

    Nói xong chợt biến đi đằng nào mất, khi ấy mới hay đó là một vong hồn. Thiên Tích rất lấy làm quái lạ, bèn ghi nhớ lấy những lời nói ấy.
    Nhân nghe ở huyện Tiên Du (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) có Trần tiên sinh dạy học trò đến mấy trăm người, bèn cắp sách đến theo học, ở ngụ tại một nhà trong xóm Thanh Lân. Xóm ấy có một nhà giàu có họ Hoàng, thấy Sinh mặt mũi khôi ngô, văn chương thông thái, có cái ý muốn kén làm rể. Người chồng bảo vợ rằng:
    – Nhà ta mấy đời lấy nghề buôn bán mà khởi gia, hiện tiền của chẳng thiếu gì, chỉ thiếu có người rể tốt. Nay có Dương sinh ở trọ bên láng giềng, thật là một tay hào kiệt ở Nam Châu; vả xem tướng mạo, sau này chắc có thể làm nên. Con bé nhà ta tuổi cũng lớn lao rồi; mối duyên trao tơ, ngoài đám ấy thì còn đám nào hơn nữa!
    Vợ cũng bằng lòng. Họ Hoàng bèn đón Dương sinh đến làm rể, phàm những phí tổn về lễ lạt khách khứa, hết thảy đều tự bỏ ra cả. Sinh rất mừng rỡ và sung sướng.
    Nhưng thường trong những lúc vắng vẻ, Sinh hay ngồi ngẩn ra nghĩ ngẫm, gấp sách lại thở dài. Vợ Sinh một khi bắt gặp, nhân hỏi han duyên cớ. Sinh nói:

    – Ngày xưa tôi thấy có “vong hồn” hiện lên, bảo tôi sẽ lấy người vợ họ Thạch tên là Hán Anh. Nay tôi may mắn cưới được nàng, được vào làm rể chốn cao môn. Như thế là lời vong hồn bảo về việc ấy không đúng, vậy chắc việc thành đạt sau này cũng không đúng nốt, vì thế cho nên tôi không khỏi bận lòng.

    Vợ Sinh nghe nói giàn giụa nước mắt mà rằng:
    – Đó tất là cha thiếp đấy. Thiếp thuở nhỏ tên là Hán Anh, cha thiếp họ Thạch tên là Mang, làm quan Thú ở Tuyên Quang, bị quan trên vu hãm, cả nhà bị bắt rồi chết trong ngục. Bấy giờ thiếp đương còn trẻ dại, có ông Dương Đức công ( cha của Sinh) thương cha thiếp là vô tội, hết sức chống cự với những viên quan khác, rồi tìm cách tha cho thiếp được ra khỏi ngục tù. Tấm thân hèn yếu may được sống còn, được nhà họ Hoàng ở đây thương hại, mới nhận làm con nuôi. Thiếp nương ở đây mười năm nay, thực thì vốn là con của quan đại phu họ Thạch.

    Sinh kinh ngạc nói:
    – Thế thì tôi chính là con của Dương Đức công. Mới biết xưa nay vợ chồng, chẳng ai là không bởi túc duyên; ai dám bảo là thắm chỉ hồng là những câu chuyện hão!.
    Sinh thấy mối nhân duyên lạ lùng, tình ái vợ chồng càng thêm thắm thiết. Vì trong đã có chỗ nương thân, ngoài không phải lo hồ khẩu, nên Sinh được thảnh thơi để chí về đường văn học, rồi đi thi hai khoa đều đỗ.
    Ban đầu Sinh lĩnh một giáo chức ở Kinh, sau thăng lên đề hình, trải hai mươi năm, làm nên đến chức tể tướng.

    (Trích Truyền Kì Mạn Lục _ Nguyễn Dữ)

  6. Liễu

    OAN HỒN XÓM NHỎ (Câu Chuyện Ma Không Dành Cho Người Yếu Tim)

    Sáng nay cô chủ nhà sang phòng trọ tôi, mặt xám ngắt, hổn hển kể:
    – Tối qua hai cha con đi đám cưới nhà bà dì ở Bình Thạnh, tao ngủ một mình trên gác, sợ quá tụi mày ơi.
    Cô thì thào:
    – Tao gặp ma chúng mày ạ.
    Tôi và con Trang hoảng sợ xúm lại hỏi: Cô thấy những gì kể tụi con nghe với ?
    – Đi uống cafe với mấy bà trong cơ quan xong, khi về tao lên gác ngủ cho mát. Tầm khoảng 2 giờ sáng, nửa tỉnh nửa mơ tao thấy có tiếng giầy gõ lộp cộp trong phòng. Cứ tưởng hai ba con về khuya nên yên tâm ngủ tiếp. Nhưng tiếng giầy cứ khua mãi không ngừng rồi dừng ở cuối giường. Tao tưởng ông xã đang cởi giầy lên giường ngủ, mở mắt tính cằn nhằn việc ông phá giấc ngủ. Eo ơi, khi mở mắt thì…- Cô rùng mình ớn lạnh khi nhớ lại – Không phải ông xã mà là một bóng đen cao to đứng cuối giường, đang nhìn trừng trừng không nói một câu nào. Tao hoảng quá tính la lên nhưng toàn thân cứng đờ không nhúc nhích được, miệng ú ớ không thành tiếng.
    – Rồi thế nào cô ? – Cả hai đứa hồi hộp theo dõi.
    – Thấy thế hoảng quá, ú ớ một hồi rồi lịm người đi, đến khi tỉnh dậy thì đã 5 giờ sáng, không còn thấy gì nữa.
    Nghe xong, con Trang cười xòa: Không ma tà gì đâu cô ơi. Cô mệt mỏi lại thêm mất ngủ, có lẽ là bị bóng đè rồi tưởng tượng vậy thôi chứ ma quỷ làm gì có. Rồi nó dùng một mớ kiến thức khoa học lí giải hoạt động của bộ não như thế nào, việc tái tạo hình ảnh trong mơ ngủ ra làm sao. Nó kết luận những hiện tượng đó chỉ là sản phẩm do bộ não con người tạo ra chứ trên đời không hề có thần thánh, ma quỷ. Tôi thì khác, tôi tin là có ma quỷ thật, chuyện cô chủ nhà chưa biết thực hư thế nào, nhưng ma tà thì đúng là tôi đã từng chứng kiến rồi. Bây giờ nhớ lại vẫn còn dựng tóc gáy.
    Nhà tôi chuyển từ quê vào vùng đất Tây Nguyên khi tôi đang học năm lớp sáu. Cả xã có vài chục hộ dân nằm rải rác ven con đường đá ngoằn nghoèo, um tùm lau sậy. Nhà tôi ở cạnh nhà bác tên Trường, làm thợ rèn, mọi người vẫn quen gọi là Trường Rèn. Nhà bác có bảy người con, đứa nào cũng khôn ngoan, mạnh khỏe, duy nhất chỉ có cô thứ hai tên là Nhì thì bị ngớ ngẩn. Hai mươi hai tuổi rồi mà ngây ngô như đứa trẻ con. Một hôm cả nhà đi làm rẫy hết, một mình chị ở nhà. Thấy người ta hay bắt cóc làm thịt cho trẻ ăn, chị bắt chước bắt mấy con ở góc nhà làm thịt. Chị ngờ nghệch không biết, ăn luôn cả tùm gan và trứng. Đi làm về, mọi người thấy chị nằm co giật trên giường, vội đưa đi bệnh viện huyện nhưng không kịp. Đám tang của chị diễn ra chóng vánh, rồi cũng không ai quan tâm gì đến con Nhì dở người nữa.
    Bẵng đi hơn một tuần. Bữa đó tôi đi học về, gần tới nhà thì thấy đám đông lố nhố đứng ngoài đường ngay cổng nhà tôi. Họ đang chỉ trỏ vào nhà bác Trường. Tôi rẽ đám đông đi vào nhà. Bỗng bên nhà bác Trường có tiếng ré lên, tiếng gào thét thảm thiết. Giật mình nhìn sang, tôi thấy chị Ba, em chị Nhì, lao ra sân tóc tai rũ rượi, mắt trợn ngược, hoa chân múa tay, miệng liên tục gào rú ghê rợn. Đám đông đứng ở cổng chạy dạt ra xa nhìn không dám tới gần. Tôi là đứa con gái khá lì lợm gan góc, vậy mà nhìn cảnh này cũng bủn rủn chân tay, mặt tái nhợt, chỉ sợ chị Ba nhảy bổ qua hàng rào túm lấy mình. Hôm đó ba đi làm vắng, chỉ có mẹ ở nhà. Mẹ kéo tôi vào góc bếp thì thầm: con Nhì nó về nhập vào con Ba, lồng lộn từ sáng tới giờ mà không biết nó đòi gì. Hai mẹ con sợ lắm, nhưng tò mò nên hé cửa nhìn ra. Vẫn đứng giữa sân, chị Ba hết múa may, gào thét lại cười khanh khách, cử chỉ điệu bộ y như lúc chị Nhì còn sống. Gần nửa tiếng sau, bỗng chị ngã vật ra đất ngất lịm đi. Cả nhà bác Trường vội ra khiêng chị Ba vào xoa bóp cho hồi tỉnh.
    Cứ như thế, khoảng vài ba ngày chị Ba lại bị ma nhập làm cả xóm náo loạn, hoang mang. Một hôm bác Trường sang nhà kể chuyện, vẻ mệt mỏi:
    – Khổ lắm. Cứ vài ngày nó lại về hành con Ba. Nhưng mà cũng tội lắm. Đôi lúc nó về cứ khóc ròng bảo đói quá chả có gì ăn. Bao nhiêu đồ thờ cúng bị những đứa khác giật hết. Nó bảo thèm thứ gì tôi mua thứ đó, lần nào cũng ăn hết sạch.
    Ba tôi không mấy tin ma cỏ nên ậm ờ ngồi nghe chuyện không bình luận gì. Chỉ có mẹ con tôi là há hốc mồm hóng chuyện.
    – Thế nó còn kể chuyện gì nữa không bác ? – Mẹ tôi hỏi.
    – Có bữa sau một hồi khóc lóc nó bảo bố mẹ phải cẩn thận chứ không mấy con heo bị mất trộm đấy. Nó về tầm khuya thấy mấy thằng ăn trộm đang rình mò ở chuồng heo, nó lùa cho heo lồng lên, bọn trộm sợ quá bỏ chạy. Tôi ra coi thì đúng là có nhiều dấu chân lạ xung quanh chuồng.
    Đang trò chuyện thì thằng út nhà bác sang báo: chị Ba lại đang nói lảm nhảm. Bác vội lật đật chạy về, lần nào cũng chỉ có bác khuyên nhủ vong mới nghe.
    – Cái này cũng chỉ là một trạng thái thần kinh nào đó thôi chứ ma mãnh cái gì. Ba tôi hớp một ngụm trà chậm rãi nói.
    – Thế thì con bé Ba làm sao nó biết được những chuyện như bác Trường kể chứ ?
    Ba tôi có tiếng là gan góc, hồi trước ở quê, các vụ tự tử hay chết trôi dưới sông mọi người ghê sợ thì ba tôi đều xắn tay giúp đỡ. Ba luôn tin người chết là hết, những chuyện vong hồn, ma quỷ chỉ do con người tưởng tượng ra. Ngược lại, mẹ tôi hay đi chùa chiền, cúng bái nên luôn tin có thế giới tâm linh huyền bí nào đó. Vì vậy những câu chuyện như thế này thì ba mẹ luôn tranh luận không có hồi kết.
    Vong chị Nhì ngày nào cũng về, có khi chẳng nói chẳng rằng đập phá hết đồ đạc trên ban thờ. Càng ngày càng hung hăng, đòi hỏi đủ thứ. Công việc gia đình bị xáo trộn, chị Ba ngày một vàng võ, hốc hác do bị vong hành liên tục. Thấy khuyên nhủ không được, bác Trường âm thầm đi mời thầy cúng về yểm bùa. Ông thầy thứ nhất đến nhà quan sát một hồi rồi xin phép về, lắc đầu không dám nhận làm. Ông thầy thứ hai là người Nùng, bác Trường phải lặn lội hơn ba mươi cây số, tới nhà năn nỉ mãi ông mới chịu tới giúp. Hôm ông làm lễ, cả xóm xúm vào xem. Ông đem tám cái cọc tre, bên trong có tờ giấy màu vàng vẽ bùa loằng ngoằng và vài thứ vỏ cây lạ, đóng xung quanh nhà. Xong xuôi ông lập đàn cúng bái gần một tiếng.
    Cả ngày hôm đó nhà bác Trường căng thẳng theo dõi xem vong có về nữa không. Ngày thứ hai, ngày thứ ba hoàn toàn yên ả. Mọi người vui mừng như trút được gánh nặng. Nhưng đến ngày thứ tư thì thật khủng khiếp. Khoảng mười một giờ trưa, nhà tôi đang ăn cơm thì thấy bên nhà bác Trường náo loạn cả nên. Vong về dữ tợn, mắt long sòng sọc, tay vớ lấy thanh gỗ vụt tới tấp mấy đứa em, bác Trường vào can cũng bị xô ngã, đầu đập vào cột nhà. Vong gào thét những âm thanh kì quái, ghê rợn, hơn một tiếng sau mới chịu rời khỏi chị Ba bỏ đi. Mẹ con tôi sợ rúm người, chỉ có ba sang hỏi thăm, giúp đỡ.
    Hai ngày sau bác Trường cắm biển bán nhà, dọn đồ sang huyện bên cách đây gần năm mươi cây số. Chỉ có người nơi khác chứ xung quanh thì không ai dám mua căn nhà này. Vài tháng sau cỏ dại đã mọc um tùm, ngôi nhà trở nên hoang hóa, điêu tàn. Dần dà mọi người cũng quên chuyện nhà bác Trường.
    Một buổi chiều, tôi với ba đang ngồi xem ti vi. Mẹ từ nhà hàng xóm hớt hải chạy về:
    – Anh, anh…thằng Hân xóm bên nó nói trưa nay nó nhìn thấy con Nhì.
    – Sự thể là như thế nào ? Chắc nhìn gà hóa cuốc. Xóm này lắm chuyện nhảm quá.
    – Thật mà. Mẹ tôi nghỉ lấy hơi rồi kể. Trưa qua nó đi tìm cây nhân trần về làm thuốc. Ngó quanh thì thấy vườn phía sau nhà bác Trường, dưới tán cây điều cây này rất nhiều. Mừng quá, cứ thế nó vào nhổ. Bỗng thấy một quả điều rớt vào lưng, mải việc nó không để ý gì. Đến khi thấy liên tục ba, bốn lần điều rớt vào người, nó ngước lên cây điều thì hỡi ôi…
    – Thấy ma chứ gì ? – Ba tôi nhếch mép cười bình thản như không.
    – Đúng. Thằng Hân thấy con Nhì đang ngồi vắt vẻo trên cây miệng cười nhăn nhở. Nó hoảng quá, hồn vía lên mây lao thẳng một mạch về nhà. Mãi chiều nau nay mới hoàn hồn kể chuyện cho mọi người. Giờ khắp người nó đầy vết gai cào, rách hết da thịt. Nó bảo lúc đó cứ thế lao đi, không biết gì, giờ mới thấy đau rát. Nhà nó giờ đầy người ngồi nghe chuyện kìa. Anh không tin thì sang đó mà xem.
    Chuyện chú Hân nhìn thấy ma lại làm xôn xao xóm nhỏ, đi đâu người ta cũng râm ran bàn tán. Đàn bà, trẻ con sợ sệt, trời nhá nhem tối là không dám bước ra khỏi nhà. Đoạn đường ngang ngõ nhà tôi và nhà bác Trường vắng tanh, nhiều người rất sợ đi ngang qua vào buổi tối. Mẹ con tôi thì khỏi nói rồi, tối nào cũng đóng cửa sớm lên giường ngủ, chỉ có mình ba xem ti vi tới khuya.
    Một hôm, khoảng bảy giờ tối, trời mưa lâm thâm, cả nhà tôi đang xem thời sự, bỗng nghe thấy tiếng nhốn nháo ở ngoài ngõ. Cả nhà ra xem thì thấy mọi người đang tìm cách khiêng bác Minh về. Họ bảo vừa tới đây thì thấy bác Minh nằm gục bên vũng nước, lay mãi không tỉnh, có lẽ bị trúng gió. Ba tôi cũng phụ một tay đưa bác về nhà. Sau một hồi sơ cứu, cạo gió bác dần hồi tỉnh. Mọi người yên tâm ra về. Nhưng đến ngày hôm sau, bác Minh vẫn chưa tỉnh hẳn. Khi tỉnh mắt nhìn quanh, dáo dác, hốt hoảng, miệng ú ớ không nói được thành lời, rồi lại lịm đi mê man. Vợ con đưa ra bệnh viện huyện gần một tuần bác Minh mới đỡ. Hôm bác từ bệnh viện về cả xóm kéo nhau sang tham hỏi. Chiều hôm ấy tôi cũng theo ba sang nhà bác. Giọng bác vẫn còn yếu:
    – Ở gần xóm nhưng chuyện nhà chú Trường tôi chẳng mấy quan tâm. Phải đến cái hôm ấy tôi mới tin đấy.
    Mọi người im bặt lắng nghe. Rít một hơi thuốc bác kể:
    – Hôm đó trời mưa lành lạnh, tôi thịt một con gà, nổi hứng làm vài li rượu. Hũ rượu chuối hột đã cạn, chắt được hai li nhỏ thì hết. Tôi xách can rượu đi bộ tới nhà thằng Định mua. Trời đang tối dần, đứng gần mới rõ mặt người. Đường vắng không một bóng người. Lúc tới gần nhà chú Trường tôi thấy có bóng người cứ lui cui, bắt con gì ven đường. Trong lòng nghĩ: xóm mình ai cũng khiếp cái nhà hoang ấy thế mà có người còn đứng ở đó giờ này thì gan thật. Gần tới nơi tôi thấy một người mặc áo mưa, trên tay cầm một con cóc, tay kia đang huơ huơ rình chộp con khác dưới mặt đường. Tôi buột miệng nói đùa: này, bắt cóc ăn thịt không sợ bị chết giống con Nhì à ? Người đó ngẩng đầu lên: Bác Minh à, cháu là Nhì đây mà, cho cháu nhậu với nhá. Tôi cười khẩy: tao tần này tuổi đầu rồi mà còn nhát ma tao à ? Người đứng xích lại gần tôi hơn, vạch cái áo mưa ra cho hở khuôn mặt: bác không nhận ra cháu à. Trời ạ!
    Bác Minh ôm ngực thở, lấy hơi kể tiếp:
    – Đúng là khuôn mặt con Nhì rõ một một. Nó ngoác miệng cười, nhe hàm răng trắng ởn. Tôi ngã rụi xuống đường, ngất đi không biết gì nữa.
    Mọi người nghe xong, ai nấy xanh xám mặt mày. Khi đi về tôi bám chặt tay ba, tay chân quýnh quáng. Xóm tôi sau chuyện bác Minh kể thì bao trùm một không khí hoảng sợ đến kinh người. Xóm đã vắng người giờ lại thêm thê lương, ảm đạm.
    Thế nhưng với ba tôi thì vẫn còn nghi hoặc, ba vẫn cho là ảo giác, ảo thanh. Trong khi mọi người sợ sệt thì ba vẫn điềm nhiên như thường, vẫn thức khuya xem ti vi, đi sớm về khuya không chút bận tâm dù sống ngay cạnh ngôi nhà ma ám.
    Một tối tôi thức giấc, nhìn đồng hồ chỉ mười một giờ hai mươi. Không thấy mẹ nằm gần, tôi lò dò ra ngoài phòng khách. Chợt thấy cả ba và mẹ đang nhìn qua cửa sổ ngó sang căn nhà hoang. Tôi cũng mon men lại gần nhìn theo. Trời, ở bên đó có ánh điện. Thấy tôi dậy, mẹ kéo tay tôi ngồi vào ghế.
    – Điện bật từ chín giờ tối, không biết người hay ma bật – Mẹ tôi thì thào.
    – Chắc mấy thằng nghiện hút ở đâu ghé vào ngủ thôi – Ba tôi trấn an.
    – Xóm mình thì làm gì có đứa nào nghiện hút.
    – Em không biết à. Đám con ông Khôi nó nghiện từ ngoài quê, vào đây vẫn đem theo hàng để chích choắc đấy. Cứ để anh sang xem là biết ngay.
    Mẹ tôi đứng phắt dậy níu tay ba:
    – Anh đừng có dại mà đụng vào ma cỏ. Nó vật cho chết chứ chẳng chơi.
    Ba tôi đã quyết thì không ai ngăn được. Ba với tay lấy con dao góc bếp, phăm phăm bước qua hàng rào tiến về ngôi nhà hoang, mặc cho mẹ tôi đang kinh hãi nhìn theo.
    Hơn mười phút sau thì ba về nhà. Tay vẫn cầm con dao nhưng run bần bật. Mặt nhợt nhạt như kẻ chết đuối. Mẹ hỏi han dồn dập nhưng ba không nói câu nào. Ba lại gần tủ lấy can rượu ra uống vội vài chén, ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Mẹ biết tính ba nên kéo tôi vào ngủ không hỏi thêm gì nữa. Từ bữa đó ba tôi tối nào cũng uống rượu rồi lên giường ngủ sớm.
    Hơn một tháng sau, cả xóm ngỡ ngàng khi thấy có một cặp vợ chồng với hai đứa con nhỏ dọn đến ở. Họ phát quang cây cối, làm sạch vườn tược, sửa sang lại nhà cửa tinh tươm. Vài ngày sau chủ nhà mới sang nhà tôi làm quen. Chú tên là Đô, ở quê mới vào. Ba tôi hỏi chú có nghe kể gì về ngôi nhà này chưa. Chú cười đáp:
    – Em nghe rồi nhưng em vẫn mua. Trừ ma quỷ là nghề của dòng họ em mà. Thấy em đến là nó khiếp vía thôi.
    Ba tôi trợn mắt kinh ngạc. Mấy ông thầy có tiếng đến còn bất lực mà một tay trẻ măng thế này lại “thâm hậu” đến thế ư. Hiểu được ý ba tôi, chú Đô kể:
    – Họ nhà em ba đời làm pháp sư anh ạ. Đến đời bố em và em là không duy trì tiếp nhưng sách vở vẫn cất giữ. Chỉ khi nào cần thiết lắm mới đem ra dùng.
    – Thế từ bữa chú về có dùng bùa phép trấn yểm gì không mà không thấy nó về dọa nạt, phá phách ? – Ba tôi hỏi.
    – Em chưa làm gì hết, em chỉ đặt chiếc gương cổ truyền từ nhiều đời của họ nhà em lên ban thờ là đã yên rồi. Tối hôm đầu tiên ngủ ở ngôi nhà mới này, em mơ thấy có con bé mặc áo hoa đỏ đứng ở ngoài cổng khóc và nói: chú làm ơn hạ chiếc gương xuống cho cháu vào thăm nhà một lần cuối rồi cháu đi, cháu hứa không bao giờ quay lại nữa. Hôm sau em úp chiếc gương xuống, lúc sau thì thấy một con bướm đen to bằng hai bàn tay lượn trong nhà vài vòng rồi biến mất.
    – Thú thực chưa bao giờ tôi tin có ma quỷ. Nhưng cách đây hơn một tháng tôi tận mắt chứng kiến và tin là có thật.
    – Tối hôm ấy anh thấy gì mà hỏi mãi không nói ? Mẹ tôi chen vào câu chuyện.
    – Bây giờ chú đuổi được nó đi tôi mới dám kể. Tối đó cả nhà tôi nhìn sang thấy bên nhà hoang đèn bật sáng. Tôi không tin có ma nên sang xem thử. Rón rén tới gần cửa ghé mắt vào. Một cảnh tượng mà tới giờ tôi vẫn còn kinh hãi. Một đứa con gái ngồi giữa nhà, mặt quay vào trong đang chải tóc. Nó mặc bộ đồ ngủ hoa màu đỏ, đúng là bộ trước khi chết con Nhì mặc. Thần kinh tôi cực kì vững để không gục ngã tại chỗ, cố lết về nhà. Từ đó tối nào tôi cũng uống rượu để quên đi hình ảnh khiếp đảm đó.
    – Giờ anh yên tâm đi, nó đã bỏ đi rồi – Chú Đô tươi cười.
    Chiều đó ba tôi và chú Đô ngồi nhậu, trò chuyện tâm đầu ý hợp. Cả nhà tôi thở phào nhẹ nhõm, xóm làng bình yên trở lại, không còn cảnh lo sợ mỗi khi trời tối như trước nữa.

    Tên tác giả: KudoShinichi
    Nguồn: mystown.com

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *