Nhập đạo có nhiều cửa, chỉ do chí hướng của mỗi người, trọn không có một pháp nhất định. Cái nhất định là Thành, là Cung Kính. Hai sự này dẫu chư Phật tột cùng đời vị lai xuất thế cũng chẳng thể thay đổi được. Nhưng bọn phàm phu sát đất chúng ta muốn tiêu nghiệp lụy nhanh chóng, mau chứng Vô Sanh lại chẳng dốc sức nơi hai chuyện này thì ví như cây không rễ lại muốn xum xuê, chim không cánh lại muốn bay, há có được chăng? Là Thành, là Cung Kính. Những chữ ấy cả thế gian đều biết, nhưng đạo ấy cả thế gian đều lầm. Ấn Quang do tội nghiệp sâu nặng, mong tiêu trừ tội chướng để báo ân Phật nên thường tìm cầu khuôn mẫu tu trì tốt đẹp của cổ đức, do vậy mới biết Thành và Cung Kính quả thật là bí quyết cực diệu để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Vì thế, tôi thường ra rả bảo cùng những ai hữu duyên.
Một pháp Niệm Phật là pháp giản dị nhất, dễ dàng nhất, rộng nhất, lớn nhất, nhưng phải khẩn thiết, chí thành đến cùng cực mới có thể cảm ứng đạo giao, được lợi ích thật sự ngay trong đời này (Chiều hôm đại sư Ấn Quang thị hiện viên tịch, đã bảo các vị như Diệu Chân rằng: “Pháp môn Tịnh Độ không có gì là lạ lùng, đặc biệt cả, chỉ cần khẩn thiết chí thành thì không một ai chẳng được Phật tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh”. Theo Vĩnh Tư Tập). Nếu biếng trễ, lười nhác, không mảy may kính sợ, dẫu gieo được viễn nhân, nhưng cái tội khinh nhờn khó thể tưởng được nổi… Tôi thường nói: “Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp thì phải hướng về cung kính mà cầu. Có một phần cung kính thì tiêu tội nghiệp một phần, tăng phước huệ một phần. Có mười phần cung kính, thì tiêu tội nghiệp mười phần, tăng phước huệ mười phần. Nếu không cung kính đến nỗi khinh nhờn thì tội nghiệp càng tăng, phước huệ càng giảm”.
Lễ tụng trì niệm, các thứ tu trì đều phải lấy thành kính làm chủ. Nếu thành kính cùng cực thì công đức sẽ như trong kinh nói: “Dẫu thuộc địa vị phàm phu, tuy chưa thể viên đắc, nhưng sở đắc của người ấy đã khó thể nghĩ bàn”. Nếu không thành kính sẽ giống như diễn tuồng, khổ, sướng, buồn, vui đều là giả vờ, chẳng do nội tâm phát ra. Dẫu có công đức cũng chẳng thể vượt khỏi si phước trong nhân thiên mà thôi; nhưng ắt sẽ lại ỷ vào si phước ấy mà tạo ác nghiệp, nỗi khổ trong tương lai khi nào hết được?

“Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp thì phải hướng về cung kính mà cầu. Có một phần cung kính thì tiêu tội nghiệp một phần, tăng phước huệ một phần. Có mười phần cung kính, thì tiêu tội nghiệp mười phần, tăng phước huệ mười phần.”
Kinh Kim Cang dạy: “Nếu kinh điển này ở đâu, chỗ ấy có Phật, phải như đệ tử tôn trọng [Phật]”. Lại dạy: “Nơi nơi, chốn chốn, nếu có kinh này thì hết thảy thế gian trời, người, A Tu La đều phải nên cúng dường. Phải biết chỗ ấy chính là tháp, đều nên cung kính, làm lễ, đi nhiễu, dùng các thứ hương hoa rải lên nơi đó”. Vì sao lại dạy như thế? Do hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của hết thảy chư Phật đều từ kinh này mà ra.
Các kinh Đại Thừa đâu đâu cũng dạy con người phải cung kính kinh điển, chứ không phải chỉ nói một lần rồi thôi! Ấy là vì các kinh Đại Thừa chính là mẹ của chư Phật, là thầy của Bồ Tát, là Pháp Thân xá-lợi của tam thế Như Lai, là thuyền Từ thoát khổ của chúng sanh trong chín giới. Dù cao đăng Phật quả vẫn còn phải kính pháp, ngõ hầu báo đáp đến tận gốc, chẳng quên đại ân. Vì thế, kinh Niết Bàn dạy: “Pháp là mẹ của Phật, Phật từ Pháp sanh”.
Tam thế Như Lai đều cúng dường Pháp, huống gì hạng phàm phu sát đất, toàn thân đầy nghiệp lực, như tù nhân phạm tội nặng bị giam cầm lâu ngày trong lao ngục, không cách gì thoát ra được! May sao nhờ vào thiện căn đời trước, được xem kinh Phật, như tù nhân nhận được lệnh tha, mừng rỡ vô ngần! Do vậy, bèn nương theo kinh pháp vái chào tam giới mãi mãi, thoát khỏi lao ngục sanh tử vĩnh viễn, đích thân chứng Tam Thân, về thẳng quê nhà Niết Bàn. Vô biên lợi ích do nghe kinh bèn đạt được, há có nên dựa theo tri kiến cuồng vọng chẳng giữ lòng kính sợ, giống như nhà Nho đọc sách trong cõi tục, buông tuồng khinh nhờn ư?
Người học Phật ban đêm đừng ngủ trần truồng, phải mặc áo, quần đùi, tâm thường như đối trước Phật. Ăn cơm chớ nên quá mức. Cơm ngon đến đâu đi nữa chỉ ăn đến mức tám chín phần [là tối đa]. Ăn mười phần đã chẳng có ích cho người; ăn mười mấy phần ắt tạng phủ bị thương tổn. Thường ăn như thế nhất định bị đoản thọ. Hễ ăn quá nhiều, tâm hôn trầm, thân mỏi mệt, tiêu hóa chẳng kịp, ắt phải trung tiện. Chuyện trung tiện là chuyện tệ nhất, là chuyện gây nên tội lỗi lớn nhất. Nơi Phật điện, tăng đường, đều phải cung kính; như thắp hương chẳng qua để biểu lộ tấm lòng, chứ xét rốt ráo ra, chẳng có loại nào đáng xem là hương cả! Nếu ăn nhiều, vãi trung tiện hết sức hôi thối, khiến cho hơi thối ấy xông sực Tam Bảo, tương lai ắt sanh làm loài giòi trong hầm phân. Chẳng ăn quá mức sẽ chẳng phóng trung tiện!

“Pháp môn Tịnh Độ không có gì là lạ lùng, đặc biệt cả, chỉ cần khẩn thiết chí thành thì không một ai chẳng được Phật tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh.”
Nếu như dùng chất lạnh, cảm thấy không ổn, hễ vô sự bèn đi ra chỗ trống xả ra, đợi đến khi tan mùi lại quay vào trong thất. Nếu có việc chẳng ra ngoài được, hãy nên dùng sức kềm lại, chưa đầy một khắc nó sẽ tan mất trong bụng. Có người nói chẳng phóng ra sẽ thành bệnh; lời lẽ này còn nặng tội hơn chuyện phóng trung tiện, vạn phần chớ nghe theo… Chúng ta là nghiệp lực phàm phu ở trong Phật điện của bậc Thánh Trung Thánh, Thiên Trung Thiên (thánh của các thánh, trời của các trời), nơi có đủ Tam Bảo, sao dám chẳng kiềm chế, mặc tình trung tiện ư? Tội lỗi ấy lớn nhất không gì sánh bằng! Có lắm kẻ do chẳng xem nhiều trước thuật của cổ đức, nên tưởng là cổ đức không nói đến. Chẳng biết cổ đức nói rất khéo, gọi đó là “tiết hạ khí” (hơi rỉ ra từ bên dưới). Họ cũng chẳng hiểu câu đó có nghĩa là gì, chẳng thèm để ý. Ba mươi, bốn mươi năm trước, Quang thường nói đến chuyện này, sau thử hỏi lại, người ta chẳng biết là chuyện gì! Do vậy, tốt nhất cứ nói thẳng là “trung tiện”. Trong tuồng hát, hễ chửi người khác nói năng buông tuồng, bèn nói: “Lời ngươi nói như thả rắm”. Phàm có chuyện gì kinh sợ, đều chẳng dám thở mạnh, làm sao còn đánh trung tiện được? Do buông tuồng không kiêng dè, nên mới trung tiện! Chớ có nói “nhắc đến chuyện trung tiện nghe không nhã”, thật ra, tôi vì muốn tạo cách cứu người khỏi bị làm giòi trong hầm phân!
Sáng dậy và lúc đại tiểu tiện xong, phải rửa tay. Phàm sờ lên thân, mò xuống chân đều phải rửa tay. Những tháng mùa Hạ ống quần chớ buông thùng thình, phải bó lại. Tùy tiện khạc đàm hỉ mũi là chuyện tổn phước lớn lắm! Đất Phật thanh tịnh, chẳng những trong điện đường chẳng được khạc nhổ, hỉ mũi, mà ngay cả trên cuộc đất sạch phía ngoài điện đường cũng chẳng nên khạc nhổ, xỉ mũi. Nhổ trên đất sạch sẽ tạo thành vẻ dơ bẩn! Có kẻ luông tuồng chẳng kiêng dè, khạc bừa ra đất hay khạc lên vách trong phòng! Một gian phòng đẹp đẽ mà khắp đất, đầy tường toàn là đàm. Kẻ ấy khạc đàm để ra vẻ hống hách, lâu ngày thành bệnh, hằng ngày thường khạc; tinh hoa của đồ ăn thức uống đều biến thành đàm hết!

Thiếu Lòng Thành Kính Sẽ Mất Phần Lợi Ích Cho Người Học Phật
Trích Ấn Quang Đại Sư Văn Sao Tinh Hoa Lục 
Đại sư Ấn Quang







Con kính tri ân lời Ấn tổ. Những chuyện nhỏ nhặt hàng ngày hạng phàm phu chúng con cứ vô tư phạm phải mà chẳng biết là đang tạo tội, phước báu giảm dần. Những chuyện tế nhị như ban đêm ngủ phải mặc đủ áo quần không nên ngủ “100% mát rượi”, không hỉ mũi đờm dãi nơi đất trống, không thả “trung tiện” nơi có Tam Bảo như thả “bom” ngoài đồng vắng, khi ăn chớ nên ăn no đến cành bụng ná thở mà chỉ nên ăn 8-9 phần… Con xin ghi tâm ạ. A Di Đà Phật.
Các anh chị nào biết xin chia sẻ trường hợp vãng sanh của vị tổ sư gần nhất của Tịnh Tông là Ấn Quang đại sư được không ạ? Em nghe nói ngài là hoá thân của bồ tát Đại Thế Chí. Làm thế nào mà mình biết được điều này vậy các anh chị?
Mai Trần hỏi trúng ngay chuyện mà hễ người niệm Phật nghe tới là hai lỗ tai tự động dựng lên, cái tâm đang chạy rong ngoài đồng cũng phải lật đật quay về ngồi ngay ngắn đó nghen!
Ấn Quang đại sư thường được Phật tử tôn xưng là vị Tổ thứ mười ba của Tịnh Độ tông Trung Hoa. Ngài viên tịch tại chùa Linh Nham Sơn vào ngày mùng 4 tháng 11 năm Canh Thìn, tức ngày 2 tháng 12 năm 1940. Chuyện những giờ phút cuối đời của Ngài được pháp sư Viên Anh, một bậc cao tăng sống cùng thời, ghi lại khá rõ ràng.
Nói cho thiệt tình, Tổ không có cho in thiệp rồi báo trước rằng: “Bà con nhớ tới đúng năm giờ sáng, tui về Tây Phương nghen!” Tu hành mà làm rần rần như đám cưới dưới quê thì đâu còn phong cách của vị Thường Tàm Quý Tăng, nghĩa là ông Tăng thường tự thấy hổ thẹn. Nhưng qua những việc Tổ sắp xếp, người chung quanh nhận ra Ngài đã biết thời khắc ra đi gần đến.
Cuối tháng mười âm lịch năm ấy, Tổ bỗng thúc giục làm lễ đưa pháp sư Diệu Chân lên làm phương trượng chùa Linh Nham. Ban đầu người ta chọn ngày mùng 9, Tổ nói trễ quá. Chọn lại ngày mùng 4, Tổ cũng nói còn trễ. Cuối cùng Ngài bảo làm ngay ngày mùng 1. Khi ấy ai nấy còn ngơ ngác, chắc trong bụng tưởng Tổ nóng ruột như ông nông dân nghe trời sắp mưa mà lúa còn nằm đầy sân. Đến sáng mùng 4 Ngài viên tịch, mọi người mới hiểu vì sao ngày mùng 4 mà Tổ còn bảo là trễ.
Chiều mùng 3, Tổ vẫn còn khai thị. Tối hôm ấy, Ngài nói với lão hòa thượng Chân Đạt rằng pháp môn Tịnh Độ không có gì kỳ lạ, cốt yếu chỉ là chí thành khẩn thiết; người thật lòng tin nguyện niệm Phật thì sẽ được Phật tiếp dẫn, mang nghiệp vãng sanh. Nghe câu này tui thấy Tổ dạy thẳng băng như đường ruộng mới đắp, không cho mình quẹo vô bụi rậm tìm phép lạ, thần thông hay bí quyết giấu dưới đáy lu nước.
Khoảng một giờ rưỡi sáng mùng 4, Tổ ngồi dậy trên giường, lớn tiếng nói mấy lần:
“Niệm Phật thấy Phật, quyết định sanh Tây.”
Rồi Ngài cất tiếng niệm Phật. Đến khoảng hai giờ mười lăm, Tổ rửa tay, đứng lên và cho biết đức Phật A Di Đà đã đến tiếp dẫn. Ngài khuyên đại chúng phải niệm Phật, phải phát nguyện và phải cầu sanh Tây Phương. Sau đó Tổ ngồi ngay ngắn trên ghế, hướng mặt về phương Tây, miệng tiếp tục niệm Phật.
Khoảng hơn ba giờ, Tổ căn dặn phương trượng Diệu Chân phải giữ gìn đạo tràng, hoằng dương pháp môn Tịnh Độ và đừng bày ra dáng vẻ quyền thế, phô trương. Lời cuối mà cũng nhắc chuyện đừng làm lớn lối! Tui nghe tới đây mắc cười mà không dám cười lớn, bởi cái cười này có chút cay cay. Người đời mình có khi chưa làm trưởng nhóm đã đi đứng như quan huyện, còn Tổ đức trùm thiên hạ mà cả đời cứ tự xưng là ông Tăng thường hổ thẹn.
Sau lời căn dặn ấy, Tổ không nói thêm, chỉ mấp máy môi niệm Phật. Gần năm giờ sáng, giữa tiếng niệm Phật của đại chúng, Ngài an nhiên ngồi mà viên tịch, nét mặt vẫn có vẻ mỉm cười như người đã nhìn thấy quê nhà. Đến chiều hôm sau, khi nhập khám, thân Ngài vẫn giữ tư thế ngồi ngay ngắn, đầu không cúi nghiêng và sắc diện được ghi nhận là vẫn tự nhiên.
Một trăm ngày sau, vào lễ trà-tỳ, các bản hành trạng Phật giáo còn ghi nhận có nhiều viên xá-lợi và những phần linh cốt mang màu sắc khác nhau. Tuy nhiên, theo cái hiểu quê mùa của Tong Thật Lù tui, điều đáng kính nhất không phải là mình ngồi đếm coi có bao nhiêu viên xá-lợi, khói bay màu gì, ánh sáng lóe mấy lần. Điều đáng kính nhất là Tổ sống thế nào thì lúc đi Ngài cũng như thế ấy: cả đời khuyên người tin sâu, nguyện thiết, chân thật niệm Phật; đến phút cuối chính Ngài vẫn niệm Phật, khuyên người phát nguyện và cầu sanh Tây Phương.
Có người nghe chuyện Tổ biết trước thời giờ liền nóng ruột hỏi: “Tui niệm bao lâu mới được giống vậy?” Trời đất quỷ thần ơi, lúa mới gieo hôm qua mà sáng nay đã đem bao ra chờ gặt thì chắc chỉ gặt được… sình với đỉa! Biết trước ngày giờ không phải tấm bằng tốt nghiệp bắt buộc của người niệm Phật. Có người biết trước, có người không biểu hiện cho ai biết; điều quan trọng là lúc lâm chung có tín nguyện, tâm không điên đảo và được Phật tiếp dẫn.
Ấn Tổ cũng chẳng dạy chúng ta chạy theo cảm ứng. Ngài luôn nhắc người học Phật phải làm tròn bổn phận, giữ lòng chân thành, tránh điều tà vạy, không làm các việc ác, siêng làm các việc lành; rồi thật sự vì sanh tử mà phát tâm Bồ-đề, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Tu như vậy mới là đi theo dấu chân Tổ. Chớ miệng hỏi chuyện xá-lợi của Ngài mà về nhà nổi nóng với vợ con, giành nhau miếng đậu hũ chiên thì coi bộ chiếc ghe Tịnh Độ của mình chưa ra khỏi con mương sau bếp đã mắc cạn queo rồi!
Câu chuyện vãng sanh của Ấn Quang đại sư khiến tui cảm động nhất ở chỗ Ngài không để lại lời nào cao xa. Lời sau cùng vẫn chỉ là nhắc mọi người niệm Phật, phát nguyện, cầu sanh Tây Phương và giữ gìn đạo tràng cho chân thật, đừng phô trương. Một bậc Tổ sư mà trước khi đi còn cúi xuống nhắc từng chuyện nhỏ cho người ở lại, như người cha già đã bước lên xuồng mà vẫn ngoái đầu dặn con nhớ đóng cửa, tắt đèn, coi chừng mưa tạt.
Mai Trần à, mình đọc chuyện Tổ không phải chỉ để trầm trồ: “Chà, Ngài tu cao quá!” rồi xong. Mình đọc để biết rằng câu A Di Đà Phật mà mình đang niệm chính là câu Tổ đã niệm suốt đời và vẫn niệm trong giờ phút cuối. Đường Tổ đã đi không phải con đường dành riêng cho cao tăng; đó cũng là con đường mở cho những người phàm phu lấm lem như tụi mình.
Tổ đã về rồi, nhưng lời dặn vẫn còn vang bên tai:
Hãy niệm Phật.
Hãy phát nguyện.
Hãy cầu sanh Tây Phương.
Vậy thì bà con mình đừng đứng trên bờ khen chiếc thuyền đẹp nữa. Mau bước xuống thuyền, nắm chắc câu A Di Đà Phật mà chèo về nhà. Chèo chậm cũng được, áo quần có dính bùn cũng không sao, miễn là đừng quay mũi ghe trở lại biển sanh tử.
Còn chuyện Ngài là hóa thân của Đại Thế Chí Bồ Tát thì nguồn được nhắc đến nhiều nhất nằm trong Ấn Quang đại sư Vĩnh Tư Tập, là tập văn tưởng niệm Ngài. Cư sĩ Dương Tín Phương kể rằng năm 1936, khi mới mười tám tuổi và chưa hiểu biết nhiều về Phật giáo, cô nằm mộng thấy Quán Thế Âm Bồ Tát đứng trên một hòn đảo giữa biển. Trong mộng, Bồ Tát nói Đại Thế Chí đang giáo hóa chúng sanh tại Thượng Hải, chính là Hòa thượng Ấn Quang, và bốn năm nữa thì hóa duyên sẽ mãn.
Tỉnh dậy, cô còn phải hỏi người khác xem có vị Bồ Tát tên Đại Thế Chí và có vị hòa thượng tên Ấn Quang hay không. Sau đó đọc báo Thân Báo, cô mới biết Ấn Quang đại sư quả thật đang ở Thượng Hải chủ trì pháp hội tại Giác Viên. Cô cùng mẹ con người bạn đến nghe pháp và quy y với Ngài. Bốn năm sau, Ấn Quang đại sư viên tịch đúng như lời được báo trong giấc mộng, Dương Tín Phương mới viết lại câu chuyện để tưởng niệm Ngài.
Đó là căn cứ chính khiến nhiều Phật tử tin Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát ứng hóa. Ngoài ra, hạnh nguyện suốt đời của Ngài cũng đặc biệt tương ứng với Đại Thế Chí Bồ Tát: chuyên dùng pháp niệm Phật để nhiếp thọ chúng sanh, khuyên người “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”, trở về Cực Lạc.
Nhưng tui xin nói cho thật rõ nghen Mai Trần: chữ “biết” trong chuyện này là biết theo truyền ký và niềm tin Phật giáo, chứ không phải biết theo kiểu có giấy căn cước Bồ Tát, đóng dấu son đỏ chót rồi đem ra phường chứng thực ba bản. Giấc mộng của Dương Tín Phương là một chứng nghiệm tâm linh cá nhân. Người có lòng tin thì xem đó là sự cảm ứng và lời báo trước rất đặc biệt; người chưa đủ duyên tin thì có thể kính trọng mà chưa vội kết luận. Mình không nên vì chuyện này mà tranh cãi tới mức người ta chưa chịu nhận Ngài là Bồ Tát thì mình muốn… xắn quần lội ruộng rượt theo giảng đạo. Làm vậy Bồ Tát chưa vui mà đàn vịt dưới ruộng chạy tán loạn hết trơn!
Điều đáng kính hơn nữa là Ấn Quang đại sư không hề đem thân phận Bồ Tát ra quảng cáo cho mình. Trong một truyền thuật của Hòa thượng Tuyên Hóa, khi có người đem chuyện Ngài là Đại Thế Chí tái lai tới nói, Ấn Tổ còn quở đừng nói bậy, khiến không ai dám bàn tiếp khi Ngài còn tại thế. Bậc chân tu thường giấu đức, còn mình thời nay mới niệm được năm trăm câu đã muốn cập nhật tiểu sử: “Hành giả chuyên tu, có khả năng là Bồ Tát dự bị”! Trời đất quỷ thần đọc xong chắc cười tới rớt nguyên hàm răng giả.
Cho nên theo tui, mình có thể kính tin Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát ứng hóa, nhưng đừng biến niềm tin ấy thành điều kiện bắt buộc người khác phải công nhận. Cái quan trọng nhất là học lời Ngài dạy. Ngài có phải Đại Thế Chí tái lai mà mình không chịu niệm Phật, vẫn tham sân hơn thua, thì biết chuyện đó cũng giống như đứng ngoài quán cơm đọc thực đơn từ sáng tới tối, bụng vẫn đói meo. Còn người chưa dám xác quyết thân phận của Ngài, nhưng thật sự nghe lời Ngài, giữ lòng thành kính, tin sâu nhân quả, ăn chay thương vật, làm lành lánh dữ, tín nguyện trì danh, thì đã được hưởng pháp ích lớn lao rồi.
Người xưa nói: “Nghe lời nói, phải xem việc làm.” Cả cuộc đời Ấn Quang đại sư chính là lời chứng hùng hồn nhất. Ngài không cần treo bảng “Bồ Tát hóa thân”; sự khiêm cung, giới hạnh, lòng từ, trí tuệ và một đời đưa người trở về câu Phật hiệu đã nói thay hết thảy.
Tui nghĩ mình nhớ đến Tổ thì đừng chỉ tò mò rằng Ngài từ đâu hóa thân tới, mà nên tự hỏi: “Tổ đã về rồi, còn tui đang đi hướng nào?” Nếu miệng niệm A Di Đà Phật mà chân cứ chạy về phía danh lợi, lòng cứ chèo xuồng qua bến hơn thua, thì la bàn có tốt mấy cũng tới chiều là mắc cạn. Còn mình thật lòng tin Phật, nguyện về Cực Lạc, mỗi ngày thành kính niệm Phật, sửa từng tánh xấu, thương từng sinh mạng, tha thứ từng lỗi lầm, thì dù bước chân còn chậm, chiếc xuồng đời đã quay đúng mũi về Tây rồi đó bạn.
Nguyện Mai Trần và tất cả chúng ta chẳng những biết chuyện vãng sanh của Tổ, mà còn biết noi theo con đường của Tổ. Mai này khi hơi thở cuối cùng tới, trong lòng không còn chuyện hơn thua của cõi đời, chỉ còn một câu Nam-mô A Di Đà Phật sáng rỡ như ngọn đèn giữa đêm khuya. Khi ấy, mình khỏi cần hỏi Tổ là hóa thân của vị nào nữa, bởi chính Đại Thế Chí Bồ Tát cùng chư thánh chúng đã theo Đức Phật A Di Đà đến trước mặt mình rồi.
Nam mô A Di Đà Phật.