Trong cái thế giới phù hoa này chúng ta bị lây nhiễm từ chỗ nào? Từ phương tiện truyền thông. Bạn xem ở các đô thị trên các con đường đầy dẫy quảng cáo, chính vì thế nên đã ô nhiễm bạn, đồng nghĩa bảo bạn phải khởi tâm động niệm. Các bản nhạc, rồi đến báo chí tạp chí, cho đến một số sách vở, chẳng có thứ nào là không dạy bạn sát đạo dâm vọng, chẳng có thứ nào mà không dạy bạn tài sắc danh lợi. Dạy bạn đi tranh đoạt, dạy bạn đi tranh đấu, thậm chí còn dạy bạn chiến tranh, dạy bạn tạo nghiệp 3 đường ác nơi 6 nẻo, gây nghiệp địa ngục, chính là bảo bạn làm những thứ này.
Nếu chúng ta là người chân thật học Phật, niệm Phật, phải nhất loạt cự tuyệt những thứ này. Tôi tuyệt đối không tiếp xúc đến. Người niệm Phật như chúng tôi đã không còn xem báo chí, ti vi nữa. Ti vi của chúng tôi chỉ dùng để chiếu video, chỉ phát băng giảng kinh, niệm Phật. Nếu đối với kinh giáo vẫn còn hoài nghi, tín tâm lại chưa kiên định, hãy nghe kinh. Nếu như tín tâm đã vững chắc rồi không còn nghi ngờ nữa, kinh có thể không cần nghe, cứ 1 câu Phật hiệu niệm đến cùng y như lão hòa thượng Hải Hiền vậy, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Tôi xem vị lão nhân này, thấy được trên chiếc đĩa vào lúc nào thì ngài đạt tới cảnh giới này? Đại khái vào khoảng 40 tuổi là ngài đã đại triệt đại ngộ, vạn duyên buông xả. Khởi tâm động niệm, phân biệt chấp trước toàn bộ đều buông bỏ, cả đời này không bị trôi qua vô ích, quá viên mãn rồi. Biểu pháp sau cùng có ý nghĩa gì? Là để cứu Tịnh tông, cứu đồng học Tịnh độ, vì sao vậy? Vì hiện nay nội bộ Tịnh tông rất ồn ào, phê bình lẫn nhau chứ không phải tán thán nhau. Đây là gì? Đây chính là hiện tượng Phật pháp muốn tuyệt diệt rồi, nội bộ tranh cãi, chẳng còn ai hòa hợp nữa. Tam quy, ngũ giới, thập thiện thảy đều chẳng còn, đại chúng trong xã hội nhìn thấy cả rồi. Người học Phật các anh đều biến thành như vậy, còn không bằng người tại gia. Họ sẽ thế nào? Sẽ thối tâm không muốn học nữa, sách cổ của Tịnh tông mọi người phê bình, hủy báng nhau như thế khiến mọi người chẳng còn tin vào kinh điển. Anh thì nói đây là thật, kia là giả. Người kia lại bảo, đây mới thật kia là giả. Vậy rốt cuộc ai thật ai giả? Bỏ đi! Vậy tôi chẳng coi, chẳng học nữa, về nhà lão thật niệm Phật vậy. Cũng sẽ có thành tựu thôi!
Ngài Hải Hiền đã làm ra tấm gương cho tôi xem, kinh giáo gì cũng không cần, mấy người tranh là chuyện của mấy người, mấy người làm loạn cũng là chuyện của mấy người, tôi không tham gia, tôi xin rút lui hoàn toàn. Lão hòa thượng 1 câu Phật hiệu niệm đến cùng, thật sự có thể niệm đến công phu thành phiến, niệm đến sự nhất tâm bất loạn, lý nhất tâm bất loạn, có thể niệm được A Di Đà Phật xuất hiện. Bạn mà thấy được A Di Đà Phật tín tâm sẽ trọn đủ, sẽ không còn nghi ngờ này nọ.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt






Từ trước đến nay tôi chỉ quen gọi chung là Phật, đến chùa thấy tượng nào cũng chắp tay lạy. Gần đây nghe nhắc Phật Thích Ca rồi Phật A Di Đà, tôi mới biết mình còn nhầm nhiều quá. Xin hỏi hai Ngài có phải là một vị mang hai tên khác nhau không? Nếu là hai vị khác nhau thì vì sao người tu Tịnh Độ thường niệm Phật A Di Đà, còn người dạy đạo Phật ở thế gian lại được gọi là Phật Thích Ca? Tôi muốn hiểu cho rõ để khi lễ Phật biết mình đang kính lễ vị nào.
Dì Mười kính,
Con xin thưa ngay cho dì yên bụng: theo kinh điển Đại thừa mà pháp môn Tịnh Độ nương theo, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật A Di Đà là hai đức Phật khác nhau, chứ không phải một vị mang hai tên đâu dì hỉ. Chính Đức Phật Thích Ca đã giới thiệu Đức Phật A Di Đà cùng thế giới Cực Lạc cho chúng ta biết. Dì chịu hỏi để hiểu rõ như ri là quý lắm. Mình đến chùa học đạo thì cứ thong thả học từng chút, có ai vừa bước qua cổng chùa đã phải thuộc hết danh hiệu để quý thầy dò bài mô mà dì ngại.
Trước hết, dì hiểu chữ Phật là danh xưng chỉ bậc đã giác ngộ viên mãn, chứ không phải tên riêng chỉ dành cho một vị. Còn Thích Ca Mâu Ni là danh hiệu của Đức Phật đã xuất hiện ở thế gian chúng ta, vốn là Thái tử Tất Đạt Đa trước khi xuất gia, tu hành và thành đạo. Ngài chỉ dạy con đường giúp chúng sanh nhận ra nguyên nhân của khổ đau và tu tập để giải thoát. Mình thường kính xưng Ngài là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; Bổn Sư có nghĩa là vị thầy gốc. Vậy nên, khi dì nghe gọi Phật Thích Ca hay Phật Thích Ca Mâu Ni thì đó là cùng một Ngài.
Còn Đức Phật A Di Đà là vị Phật của cõi Tây Phương Cực Lạc. Kinh Vô Lượng Thọ kể rằng, thuở còn tu nhân, Ngài là Tỳ kheo Pháp Tạng, đã phát bốn mươi tám đại nguyện và tu hành để thành tựu một cõi nước thanh tịnh, giúp chúng sanh có nơi nương tựa tiến tu. Người tu Tịnh Độ tin vào bản nguyện của Ngài, phát nguyện cầu sanh Cực Lạc và chuyên niệm danh hiệu Ngài. Dì hình dung lòng hướng về Cực Lạc là lòng mong được gần Phật, được học đạo trong hoàn cảnh thuận lợi để tiến tới giác ngộ, rồi có khả năng giúp đỡ chúng sanh.
Đến chỗ dì hỏi vì răng Đức Thích Ca dạy đạo mà người tu Tịnh Độ lại niệm Phật A Di Đà, thì ngay trong kinh A Di Đà đã có lời giải đó dì. Đức Thích Ca nói với ngài Xá Lợi Phất về thế giới Cực Lạc, nơi “có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp”. Ngài còn khuyên chúng sanh phát nguyện sanh về cõi ấy và thọ trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Bởi rứa, người tu Tịnh Độ niệm Phật A Di Đà chính là đang thực hành lời Đức Bổn Sư chỉ dạy.
Con xin mượn một chuyện gần gũi để dì dễ hình dung nghe. Một người thầy thương học trò, biết có nơi học tập rất thuận lợi, liền tận tình chỉ dẫn cho trò đến đó tiếp tục học. Người trò nghe lời mà đi, mang theo lòng biết ơn thầy, thì càng đi càng nhớ công người đã chỉ đường. Ví dụ ni chỉ giúp mình hiểu chuyện nghe lời thầy thôi, chứ công đức chư Phật sâu rộng hơn nhiều. Dì thấy đó, lòng kính Đức Thích Ca và lòng hướng về Đức A Di Đà có thể đi cùng nhau rất tự nhiên. Mình biết ơn Đức Bổn Sư đã mở đường cho mình hiểu đạo, rồi nương theo lời Ngài mà chọn pháp tu phù hợp.
Người tu Tịnh Độ chuyên niệm Phật A Di Đà là để có một hướng hành trì rõ ràng, bền bỉ. Các vị Tổ thường nhắc ba điều căn bản là tín, nguyện, hạnh: tin lời Phật dạy và bản nguyện của Đức A Di Đà; tha thiết nguyện sanh Cực Lạc; thực hành niệm Phật. Ba điều ấy nâng đỡ nhau. Chuyên tu một pháp cũng vẫn giữ trọn lòng tôn kính đối với chư Phật và những pháp môn khác. Dì cứ tưởng tượng mình đã chọn một con đường để đi thì cần bước cho đều; cứ đi được một quãng lại đứng ngó ngang ngó dọc, đôi dép chưa mòn mà bụng đã thấy đường xa rồi đó dì.
Trong lúc tập niệm, dì có thể niệm thong thả, rõ từng tiếng, lắng nghe câu Phật hiệu của mình. Hễ nhận ra tâm đang nghĩ sang chuyện khác thì nhẹ nhàng đưa tâm trở lại, đừng vội trách mình. Cái tâm người mới tập cũng lanh lắm dì hí: thân còn ngồi trên ghế mà nó đã ra chợ mua rau, ghé hàng đậu hũ, tiện đường thăm luôn nồi chè sen. Một vòng chợ xong, chân mình vẫn chưa nhúc nhích! Bởi rứa, mình cần kiên nhẫn tập từng chút. Niệm Phật rồi cũng tập sống hiền lành, nói lời hòa nhã, làm tròn bổn phận, để câu Phật hiệu dần thấm vào cách mình đối đãi với mọi người.
Còn chuyện nhìn tượng để biết mình đang kính lễ vị nào, con xin thưa dì một điều rất thực tế: nên xem danh hiệu ghi nơi thờ và hỏi quý thầy cô ở chính ngôi chùa ấy. Trong chùa có thể thờ chư Phật, các vị Bồ Tát, A La Hán, Tổ sư và Hộ pháp; bởi vậy, không phải pho tượng nào cũng đều gọi là tượng Phật. Cách bài trí giữa các chùa cũng có chỗ khác nhau. Mình học cho rõ từng vị sẽ thấy ngôi chùa thân thuộc hơn, mỗi lần đến lễ lại hiểu thêm một chút về công hạnh của các Ngài.
Có vài dấu hiệu giúp dì nhận biết bước đầu. Bộ Tây Phương Tam Thánh gồm Đức Phật A Di Đà ở giữa, cùng Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí ở hai bên. Tượng Đức A Di Đà tiếp dẫn thường được tạc đứng, một tay đưa xuống như đón người. Đức Phật Thích Ca có nhiều hình tượng khác nhau; hình Ngài ngồi với bàn tay phải hướng xuống chạm đất là một dạng rất quen thuộc. Tuy nhiên, màu y, dáng đứng hay dáng ngồi riêng lẻ chưa đủ để mình kết luận chắc chắn, vì cách tạc tượng có nhiều biến thể. Dì cứ xem những điều ni là gợi ý, rồi đối chiếu danh hiệu hoặc hỏi lại cho rõ nghe dì.
Dì chỉ cần chắp tay thưa thật tự nhiên: “Dạ bạch thầy, con mới tìm hiểu đạo, xin thầy chỉ giúp con đây là tôn tượng vị nào để con biết mà kính lễ cho đúng.” Một câu hỏi nhỏ nhẹ như rứa là được rồi. Học đạo có chỗ chưa biết thì mình hỏi; đâu cần phải mang theo vẻ mặt thông thái mới được bước vào chùa. Có khi mình đứng nghiêm trang quá, người bên cạnh tưởng mình đang nhập định, trong bụng mình lại đang loay hoay chưa biết nên xưng danh hiệu chi! Dì cứ thật thà như trong câu hỏi hôm ni, vừa dễ thương vừa mở được đường cho sự hiểu biết.
Khi đã biết đang lễ Đức Phật Thích Ca, dì có thể xưng niệm Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật với lòng nhớ ơn giáo hóa. Khi lễ Đức Phật A Di Đà, dì xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật và hướng lòng theo nguyện tu của mình. Còn những lần trước chưa phân biệt rõ, dì cũng đừng vì rứa mà tự trách nặng nề. Tấm lòng thành kính đã đưa dì đến cửa chùa; bây chừ mình thêm sự học hỏi để lòng kính ấy có chỗ hiểu biết sáng rõ hơn. Nhìn tượng, nhớ đến đức hạnh của các Ngài, rồi tập sửa mình trong từng việc nhỏ, như rứa mỗi lần lễ Phật đều có điều mang về nuôi dưỡng cuộc sống.
Con nhớ hai câu của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Con xin mượn lời thơ ấy để thương gửi dì một điều: cứ giữ lòng hiền lành, khiêm cung và chịu khó học hỏi như ri nghe dì. Một bữa cơm chay đạm bạc, một lời nói làm người khác nhẹ lòng, một lúc lắng tâm niệm Phật, những việc nho nhỏ ấy mình có thể chăm chút mỗi ngày. Mai mốt bước vào chánh điện, dì vừa biết rõ mình đang kính lễ vị nào, vừa thấy câu Phật hiệu gần gũi hơn trong lòng. Con kính chúc Dì Mười học đạo ngày thêm sáng, niệm Phật ngày thêm bền, lòng an vui như sân chùa vừa đón một làn gió mát.
Nam mô A Di Đà Phật.