Thế nào là thiện đúng hay thiện sai? Trong thời Xuân Thu, các chư hầu thường gây chiến với nhau. Đôi bên đều bắt giữ rất nhiều tù binh làm nô lệ. Người ta có thể dùng tiền để bảo lãnh tù binh về. Nước Lỗ ban hành một luật rằng: ”Ai dùng tiền bảo lãnh tù binh về sẽ được thưởng”. Tử Công là học trò của Khổng Tử, tên là Tứ, giàu có và giỏi về quản lý tài chánh. Tử Công dùng tiền bảo lãnh tù binh nhưng từ chối lãnh phần thưởng. Khổng Tử biết được liền giận và bảo: ”Tứ làm như vậy sai rồi. Việc làm của thánh nhân đều là gương sáng cho dân noi theo, tạo nên phong tục tập quán cho sau này. Đâu thể chỉ nghĩ đến cá nhân mình mà muốn làm gì thì làm. Nước Lỗ người giàu ít mà người nghèo nhiều. Nếu dân bắt chước, cho rằng không nhận thưởng là cử chỉ cao đẹp, thì người nghèo sao có thể bắt chước như Tử Công được? Từ nay về sau chắc không ai lãnh tù binh từ các nước chư hầu về nữa”.
Tử Lộ, tên Do, cũng là học trò của Khổng Từ. Có lần cứu người khỏi chết đuối. Người ta tặng con trâu để tạ ơn. Tử Lộ nhận lãnh. Khổng Tử nghe được lấy làm mừng và bảo: ”Từ nay về sau ở nước Lỗ sẽ có nhiều người lo cứu kẻ chết đuối”. Dưới cặp mắt của người thường thì Tử Công không lãnh tiền thưởng là cao cả, còn Tử Lộ nhận tặng trâu là thấp hèn. Nhưng Khổng Tử lại thích Do mà chê Tứ. Cho nên quan niệm làm thiện không nên nghĩ tới lợi ích trước mắt mà phải nghĩ đến hậu quả lâu dài về sau. Không nên nghĩ đến đúng cho bây giờ mà phải nghĩ đến đúng cho tương lai. Không nghĩ đến riêng cho mình mà phải nghĩ đến cho mọi người. Việc làm tuy thiện cho hiện thời nhưng sẽ có tác hại khi diễn tiến trong tương lai thì đó không phải là việc thiện. Còn việc làm hiện thời tuy không thiện nhưng về sau này sẽ có lợi ích nhiều cho mọi người thì đó không thiện mà thiện. Còn những chuyện khác như nghĩa mà không nghĩa, lễ mà không lễ, tín mà không tín, từ bi mà chẵng từ bi v.v… Mọi việc đều phải cẩn thận lựa chọn.
Trích Liễu Phàm Tứ Huấn
Viên Liễu Phàm







Từ nay, nếu bạn đi làm việc tốt mà có ai đó tặng quà, đừng từ chối! Hãy mạnh dạn nhận lấy, nở một nụ cười thật tươi và nói: “Cảm ơn, tôi nhận để làm gương cho cộng đồng đấy, chứ không phải tôi thích quà đâu nhé!”.
Đấy, vừa làm được việc tốt, vừa giữ được miếng ăn, lại còn đúng chuẩn “đạo học” của Khổng Tử. Quá là đỉnh cao của nghệ thuật sống, đúng không các huynh đệ? 😛
Tôi 38 tuổi, vợ 30 tuổi, quen nhau gần 4 năm mới cưới. Trong thời gian quen, chúng tôi rất hợp nhau, mặc dù thời gian gần nhau không nhiều. Chúng tôi trao nhau những lời yêu thương qua tin nhắn hoặc gọi điện, cả hai rất hạnh phúc. Cưới nhau được nửa nay, vợ có bầu, tôi rất quan tâm và chiều chuộng vợ. Vợ nghén nặng nên không thể đi làm, chỉ ở nhà dưỡng thai. Hàng ngày tôi đi làm đều gọi về liên tục để hỏi thăm và động viên vợ, luôn mong hết giờ làm để về với em.
Rồi con gái chúng tôi chào đời, cả nhà về ở nhà ngoại để mẹ vợ, để bà ngoại tiện chăm cháu giúp. Nhà vợ gần cơ quan tôi nên trưa nào tôi cũng về ăn cơm rồi ở với vợ con. Nửa năm sau, cha mẹ vợ phải về quê một thời gian để chăm sóc bà nội của vợ vì bà già yếu lại đang ốm. Vợ chồng tôi vừa chăm con, vừa trông nom nhà cửa và cơm nước cho em vợ năm sau thi đại học.
Tôi thương vợ rất nhiều, một phần vì em phải chăm con vất vả, con tôi hay quấy, mè nheo, lười ăn; một phần vợ lại phải cơm nước và chăm lo nhà cửa nên tôi càng thương và chiều vợ. Cứ tưởng như thế vợ sẽ vui và cảm nhận được tình cảm của tôi, nhưng vợ ngày càng thay đổi tính nết. Cô ấy hay nổi giận thất thường, có khi còn nói những lời xúc phạm làm tôi buồn nhiều. Nhiều lúc tôi rất giận nhưng vì thương vợ nên bỏ qua, không đôi co. Có phải vì chiều vợ quá nên cô ấy ỷ lại, không còn hiền dịu như lúc trước, mong anh chị cho tôi lời khuyên.
Anh Quang Hòa nờ,
Nghe anh kể mà o bán chè Đông Ba đang múc chén chè hạt sen long nhãn cũng phải dừng tay, chống nạnh thở dài một cái: “Trời đất thần linh ơi, chuyện ni không phải chỉ là vợ được chiều quá nên sinh hư mô nghe anh. Coi chừng anh đang nhìn cái ngọn mà chưa thấy cái gốc, giống như ăn tô bún chay Huế mà chỉ thấy cọng rau thơm, không thấy nguyên nồi nước lèo thanh ngọt đang sôi ùng ục sau bếp đó!”
Anh thương vợ, cái ni o công nhận. Thương từ hồi chưa cưới, thương qua tin nhắn, qua điện thoại, thương tới lúc vợ nghén, vợ sinh, rồi con gái ra đời. Anh đi làm cũng gọi về hỏi han, trưa chạy về ăn cơm, ở với vợ con. Nghe qua thì ngọt lắm, ngọt còn hơn chè hạt sen long nhãn. Nhưng anh nờ, đàn bà sau sinh không phải lúc mô cũng cần nghe hỏi: “Em mệt không?” Có khi nghe câu đó nhiều quá, o vợ muốn đáp: “Dạ mệt, mệt tới mức muốn lấy cái khăn sữa cột lên trán, chèo ghe ra giữa sông Hương ngồi thiền một mình cho yên thân đây anh!”
Vợ anh vừa sinh con, con lại hay quấy, mè nheo, lười ăn. Mà con nhỏ quấy thì thôi rồi, nó khóc một tiếng là cả nhà bật dậy như nghe còi báo động lũ về Kim Long. Chưa hết, cha mẹ vợ đi quê, vợ chồng anh phải trông nhà, lo cơm nước, chăm em vợ năm sau thi đại học. Tức là vợ anh không chỉ làm mẹ, mà còn làm quản gia, đầu bếp, bảo mẫu, cô giáo dự bị, người giữ nhà, người ru con, người dỗ con, người lau nhà, người gom đồ, người nhớ lịch này lịch kia. Một cái đầu mà đội chừng đó cái nón, hỏi răng không quay như nón bài thơ gặp gió Lào cho được.
Cho nên, anh đừng vội kết luận: “Có phải do tôi chiều vợ quá nên vợ ỷ lại không?” O nghe câu đó là o muốn đặt cái vá chè xuống liền. Không chừng không phải vợ anh ỷ lại, mà là vợ anh đuối. Người đang đuối nhiều khi quơ tay quơ chân trúng mặt người cứu mình, chớ không phải họ ghét người cứu mô. Vợ anh cáu, nói nặng, đổi tính, chưa chắc vì hết thương anh. Có thể vì thiếu ngủ, căng thẳng, hormone sau sinh, việc nhà nhiều quá, con nhỏ mệt quá, mà trong lòng không còn chỗ để nói năng dịu dàng như hồi mới yêu nữa.
Hồi yêu, anh nhắn: “Em ăn chưa?” thì vợ đọc xong cười mỉm, tim bay như lá me trước cổng trường Đồng Khánh. Còn sau sinh, cũng câu “em ăn chưa?”, mà lúc đó một tay vợ đang bồng con, một tay khuấy cháo, chân đạp cái khăn rớt dưới đất, tóc tai như vừa đi qua bão số 9, thì câu đó nghe không còn lãng mạn nữa. Nó nghe giống câu kiểm tra bài cũ. Vợ chỉ muốn hét: “Anh hỏi chi nữa, em ăn luôn cái muỗng cũng chưa kịp đây nì!”
Bởi rứa, thương vợ sau sinh phải đổi kiểu thương. Hồi yêu thương bằng tin nhắn. Sau sinh thương bằng rửa bình sữa. Hồi yêu thương bằng gọi điện. Sau sinh thương bằng thay tã. Hồi yêu thương bằng “anh nhớ em quá”. Sau sinh thương bằng “em ngủ đi, con để anh bồng”. Anh nói một câu “để anh làm” mà làm thiệt, không phải nói xong đứng đó nhìn như quan viên đi khảo sát công trình, là câu đó có giá trị hơn mười bó hoa, hai mươi trái tim, ba mươi tin nhắn yêu thương, cộng thêm một xe mè xửng Thiên Hương luôn đó anh.
Nhưng o nói ri không có nghĩa là vợ được quyền nói lời xúc phạm anh hoài. Không có nghe. Thương vợ không phải là biến anh thành cái thớt gỗ để vợ buồn thì chặt, giận thì băm, mệt thì gõ cộp cộp. Anh là chồng, là cha của con, là người đồng hành, không phải cái bao cát treo giữa nhà cho ai tức thì đấm. Khi vợ bình tĩnh, con ngủ rồi, nhà yên yên, anh ngồi xuống nói nhỏ thôi: “Em à, anh biết em cực, anh thương em. Nhưng mỗi lần em nói nặng, anh đau lòng lắm. Mình cố nói với nhau nhẹ hơn được không em?”
Nói rứa thôi nghe. Đừng lựa lúc vợ đang cáu mà nói. Đừng đứng giữa nhà diễn thuyết như đang đọc cáo trạng ở triều đình nhà Nguyễn. Đừng kể công kiểu: “Anh đi làm cực, anh lo cho em, anh thế ni thế tê…” Nói vậy là chưa chữa cháy đã đổ thêm dầu phụng vô chảo bánh khoái, khói bay mù mịt, hàng xóm tưởng nhà mình mở quán đặc sản.
Anh cũng nên coi lại việc nhà chia nhau ra răng. Trưa về ăn cơm với vợ con là tốt, nhưng ăn xong anh có rửa chén không? Có bế con cho vợ ăn trọn bữa không? Có hỏi “chiều ni cần anh mua chi” không? Có cho vợ được ngủ một giấc không ai gọi không? Có tự thấy thùng rác đầy rồi đem đi đổ không, hay đợi vợ chỉ tận nơi như hướng dẫn khách du lịch đi Đại Nội? Đàn ông thương vợ không phải cứ nói “anh thương em” là xong. Nhiều khi cái nắp bồn cầu được đậy xuống, cái bình sữa được rửa sạch, cái đống đồ được phơi lên, mới chính là bài thơ tình hay nhất thời bỉm sữa.
Và anh nghe o dặn kỹ chỗ ni. Phụ nữ sau sinh có khi bị buồn bã, lo âu, cáu gắt, mất ngủ, khóc vô cớ, cảm thấy một mình, cảm thấy không ai hiểu. Nếu vợ anh có dấu hiệu nặng như buồn kéo dài, tuyệt vọng, không muốn chăm con, hoảng sợ nhiều, mất ngủ trầm trọng, hoặc có ý nghĩ làm hại bản thân hay em bé, thì phải đưa vợ đi gặp bác sĩ hoặc chuyên viên tâm lý liền. Đừng có ngại. Đừng nói “chắc tại tính cô ấy vậy”. Không phải mô. Sức khỏe tinh thần cũng là sức khỏe. Đau bụng còn đi khám, răng mà lòng đau lại bắt người ta tự chịu một mình, tội lắm anh nờ.
Còn anh nữa, anh cũng đừng im im chịu hết. Đàn ông nhiều khi tưởng mình nhịn là hay, nhưng nhịn mà không nói ra, lâu ngày buồn nó đóng cục trong bụng như chè đậu xanh để quên qua đêm. Tới lúc bùng lên thì không còn là góp ý nữa, mà thành lụt cảm xúc, cuốn trôi cả bàn ghế tình nghĩa. Anh phải nói, nhưng nói lúc yên. Nói để vợ hiểu, không phải nói để thắng. Vợ chồng mà tranh thắng thua thì thắng xong cũng ngồi ăn cơm nguội một mình, vui vẻ chi mô.
O nói thiệt tình: bây chừ hai vợ chồng anh không phải đang sống trong phim tình cảm Hàn Quốc nữa. Đây là phim thực tế Việt Nam mùa “bỉm sữa và cơm nước”, có nhân vật chính là em bé nhỏ xíu nhưng quyền lực ngang vua Gia Long. Em bé khóc một tiếng là cha mẹ chạy vòng vòng như lính canh thành. Em bé không ăn là cả nhà họp khẩn. Em bé không ngủ là cha mẹ thành hai con cá rô phi phơi nắng. Trong hoàn cảnh đó, vợ anh không còn dịu như hồi yêu cũng là chuyện dễ hiểu.
Nhưng dễ hiểu không có nghĩa là để mặc. Anh cần vừa thương, vừa phụ, vừa nói rõ giới hạn. Thương là: “Anh biết em cực.” Phụ là: “Việc ni để anh làm.” Giới hạn là: “Em mệt anh hiểu, nhưng mình đừng nói lời làm tổn thương nhau.” Ba thứ đó phải đi chung. Thiếu thương thì khô như bánh tráng nướng quên mỡ hành. Thiếu phụ thì thương chỉ còn là lời nói bay qua cửa sổ. Thiếu giới hạn thì nhà thành cái chợ cá lúc xế chiều, ai cũng mệt mà ai cũng lớn tiếng.
Anh thử làm ri một thời gian. Bớt gọi điện liên tục, vì có khi vợ mới ru con ngủ được ba phút, chuông điện thoại reo lên một cái là em bé bật dậy như nghe trống hội. Thay bằng nhắn: “Khi mô rảnh em trả lời, anh thương hai mẹ con.” Về nhà thì tự động làm vài việc, đừng đợi sai. Tối nhận một ca bồng con. Cuối tuần cho vợ nghỉ vài tiếng, đi gội đầu, nằm ngủ, uống ly nước cho đàng hoàng, hoặc đơn giản là ngồi yên không ai gọi “mẹ ơi” trong mười phút. Với mẹ bỉm, mười phút yên tĩnh quý như vàng trong kho vua Minh Mạng đó anh.
Rồi anh nói chuyện với vợ bằng giọng nhẹ. Đừng hỏi “sao em thay đổi?” nghe như tra khảo. Hỏi: “Dạo ni em có thấy quá sức không? Có việc chi anh làm để em đỡ hơn không?” Câu đó mở cửa lòng tốt hơn. Nhiều khi vợ đang chờ một người không chỉ hỏi “em sao vậy”, mà hiểu rằng “em đang gồng quá rồi”.
O chốt lại nghe anh Quang Hòa: không phải cứ chiều vợ là vợ hư. Chiều sai cách mới dễ sinh lệch. Chiều kiểu cái chi cũng nhịn, cái chi cũng không nói, cái chi cũng để vợ tự hiểu, thì không ổn. Mà nghi ngờ vợ ỷ lại trong khi vợ đang kiệt sức cũng không công bằng. Anh hãy đổi từ “chiều vợ” sang “đồng hành với vợ”. Đừng làm ông vua ban phát tình thương, cũng đừng làm nạn nhân âm thầm chịu đựng. Làm người chồng tử tế, biết phụ việc, biết lắng nghe, biết nói điều mình đau, và biết cùng vợ đi qua mùa con nhỏ.
Người Em Vĩ Dạ nói bằng giọng Huế thiệt mềm nì: anh thương vợ là phước của vợ, nhưng anh thương cho đúng thì mới là phước của cả nhà. Mềm như nước sông Hương, nhưng vững như núi Ngự. Dịu như tiếng “dạ” của o gái Huế, nhưng rõ ràng như o bán chè tính tiền cuối buổi: thương là thương, nhưng lời nặng thì phải bớt; mệt là mệt, nhưng việc nhà phải chia; buồn là buồn, nhưng đừng để buồn thành khoảng cách.
Ráng nghe anh. Mùa bỉm sữa ni qua rồi, nếu hai vợ chồng biết nương nhau, sau ni nhìn lại có khi cười: “Trời ơi hồi đó mình sống sót được cũng hay dữ hè!” Còn bây chừ, anh cứ về nhà, xắn tay áo lên, bồng con, rửa chén, nói nhỏ với vợ, bớt đoán tội, thêm hiểu thương. Làm được rứa, nhà anh sẽ êm lại từ từ, như chiều Huế sau cơn mưa, đường còn ướt đó, nhưng trời đã bắt đầu trong.