Ông [cư sĩ Lý Mộc Nguyên] cho rằng nghiệp chướng của mình còn rất nặng, nên cần phải siêng năng niệm Phật. Ngay ngày quy y, ông cũng gặp phải chướng ngại. Mỗi lần gặp chướng ngại, ông càng chứng thực sự bất khả tư nghì của sức niệm Phật, càng tăng trưởng niềm tin đối với công đức niệm Phật.
Lúc trước ở Singapore, cây xăng còn chưa có nhiều, cho nên ông lái xe đều chuẩn bị thêm một bình xăng dự bị để ở thùng xe sau. Chúng ta biết tình hình an ninh ở Singapore trước giờ rất tốt, có tiếng trên thế giới. Cảnh sát lúc nào cũng chú ý đến sự an toàn của người dân. Ngày quy y, ông gặp cảnh sát chặn xe lại giữa đường xét hòi. Cảnh sát thấy sau thùng xe của ông có một thùng xăng, lại có chiếc áo tràng màu đen, nghi rằng ông đi đốt nhà, cướp giật, nên đưa ông về trạm giam ở cục cảnh sát. Cảnh sát nói với ông rằng: “Hôm nay là thứ bảy, cảnh sát trưởng không đến. Ngày mai là chủ nhật, thứ hai là ngày lễ Quốc khánh, thứ ba ông phải ra toà! ”
Ông vì vậy bị đưa vào trại tạm giam. Trong đó đã có hai người tuổi khá lớn, là dân đạp xe ba bánh, vì cờ bạc mà bị bắt. Lý cư sĩ suy nghĩ: Ở trong đây phải làm sao đây? Ông bắt đầu lớn tiếng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, lại còn mời hai vị đạp xe ba bánh cùng niệm. Hai vị này không thèm để ý, ông càng lúc càng niệm lớn tiếng.

“Hai ông bắt chước tôi niệm Phật đi.”
Ông lại nhớ đến lúc quy y, Pháp sư Diễn Bồi có nói: “Hôm nay là muời chín tháng sáu, mọi người ngoài việc niệm thánh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, cũng có thể niệm danh hiệu của đức Phật A Di Đà.” Do đó, ông lại lớn tiếng niệm: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… niệm đến hơn mười một giờ, có một vị cảnh sát đến mở cửa, bảo với ông: “Ông ra ngoài, cảnh sát trưởng cho gọi.”

“Ông ra ngoài, cảnh sát trưởng cho gọi.”
Ông cảm thấy rất lạ, vừa rồi cảnh sát mới nói, hôm nay là thứ sáu, cảnh sát trưởng không đến. Sao bây giờ lại đến? Ông bước ra ngoài xem, cảnh sát trưởng mới hơn ba mươi tuổi. Cảnh sát trưởng hỏi: “Sao ông bị bắt?” Ông đáp: “Tôi trên xe có để thêm một thùng xăng, họ bảo tôi đi đốt nhà. Tôi lại có mang chiếc áo tràng màu đen, họ bảo tôi định đi ăn cướp.”
Ông lại chỉ chiếc áo tràng, rồi nói với viên cảnh sát: “Ông xem, tay áo tràng này rộng như vậy, nếu đi ăn cướp thì chạy thực bất tiện, sẽ vấp ngã!”
Cảnh sát trưởng lại hỏi: “Họ có đối xử không tốt với ông không?” Ông đáp: “Không có.” Cảnh sát trưởng bảo: “Vậy thì ông có thể ra về.”

“Vậy thì ông có thể ra về.”
Cảnh sát trưởng còn bảo một cảnh sát giúp ông mang bình xăng để lại trên xe. Trước khi ra về, Lý cư sĩ còn trở lại phòng tạm giam, bảo với hai người bị giam chung khi nãy: “Tôi niệm Phật có thể được ra. Còn các ông lại không chịu niệm, không chịu tin lời tôi!”

“Tôi niệm Phật có thể được ra. Còn các ông lại không chịu niệm, không chịu tin lời tôi!”
Trích: Niệm Phật Chuyển Hóa Tế Bào Ung Thư 
Giảng sư: Thích Đạo Chứng
Dịch giả: Thích Minh Quang







Hồi nhỏ con nghe ba con bảo làm thân người nữ khổ hơn thân nam. Vì vậy để được sanh ra làm người nam khó hơn là người nữ. Như vậy ai đang là đàn ông tức là họ đã từng tu nhiều hơn phụ nữ ở kiếp trước nên kiếp này mới được như thế. Điều này có đúng không ạ? Đó có phải là lý do khi một người thành Phật thì kiếp cuối cùng của họ phải là thân nam? Và có phải đó cũng là lý do xưa kia Phật Thích Ca ban đầu không cho phép hàng nữ chúng xuất gia?
Anh Trần Ơn,
Câu hỏi này hổng phải mình anh thắc mắc đâu nghen. Nhiều người cũng nghe truyền miệng riết rồi tưởng là chân lý luôn. Mà trong Phật pháp có câu: “Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.” Nếu chỉ y theo mặt chữ của kinh mà giải thích thì oan cho chư Phật ba đời; còn nếu rời kinh chỉ một chữ mà nói thì chẳng khác gì lời ma. Nghĩa là hiểu lời Phật phải coi cho trọn ngọn ngành, chớ nghe một khúc rồi ráp thêm một khúc nữa là nhiều khi chạy tuốt xuống ruộng luôn.
Đúng là trong cõi Ta-bà, nói về hoàn cảnh xã hội thì người nữ từ xưa tới nay thường chịu nhiều thiệt thòi hơn người nam. Chuyện đó là thực tế lịch sử. Nhưng từ chuyện “khổ hơn” mà suy ra “ai làm đàn ông cũng tu nhiều hơn phụ nữ ở kiếp trước” thì giống như thấy ông hàng xóm chạy xe đẹp rồi kết luận kiếp trước ổng toàn đi làm từ thiện. Nhân quả đâu có đơn giản như nấu nồi canh chua bỏ gì ra nấy liền đâu. Có người được thân nam vì nhiều thiện nghiệp, cũng có người được thân nam nhưng phước về mặt này, lại thiếu đức ở mặt khác. Có người mang thân nữ nhưng tâm từ bi, trí tuệ, nhẫn nhục, công đức vượt xa biết bao người nam. Đức Phật chưa từng dạy rằng nam giới mặc nhiên cao hơn nữ giới trên con đường giải thoát.
Phật nhìn chúng sanh đâu có nhìn bằng bộ râu hay mái tóc. Phật nhìn cái tâm. Tâm tham thì nam cũng khổ. Tâm sân thì nữ cũng khổ. Tâm thanh tịnh thì nam nữ đều có thể thành Thánh. Còn tâm đầy phiền não thì mặc áo gì cũng vẫn là mặc áo của luân hồi.
Còn chuyện thành Phật ở kiếp cuối cùng thường thị hiện thân nam thì mình cũng phải hiểu theo nhân duyên lịch sử. Đức Phật ra đời hơn hai ngàn năm trước tại Ấn Độ, một xã hội mà địa vị người nữ rất thấp. Nếu lúc ấy một vị Phật thị hiện thân nữ thì việc giáo hóa đại chúng sẽ gặp vô vàn chướng ngại do tập tục và định kiến của xã hội, chứ không phải vì thân nữ không thể thành tựu giác ngộ. Chư Phật thị hiện đủ mọi hình tướng để độ sanh. Hình tướng chỉ là phương tiện, còn Phật tánh thì bình đẳng nơi tất cả chúng sanh.
Đến câu hỏi vì sao ban đầu Đức Phật không cho nữ chúng xuất gia thì đây cũng là điều cần hiểu cho đúng. Trong kinh ghi lại rằng khi Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng nhiều phụ nữ xin xuất gia, Đức Phật đã từ chối ba lần. Sau đó nhờ Tôn giả A Nan thưa thỉnh và trình bày rằng phụ nữ cũng có khả năng chứng đắc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán như nam giới hay không, Đức Phật xác nhận là hoàn toàn có. Cuối cùng Ngài chấp nhận cho thành lập Ni đoàn với điều kiện thực hành tám điều kính pháp. Việc ban đầu chưa chấp thuận không phải vì xem thường phụ nữ, mà vì Đức Phật cân nhắc rất nhiều yếu tố của xã hội Ấn Độ thời đó, sự an toàn của Ni chúng, sự ổn định của Tăng đoàn và sự tồn tại lâu dài của Phật pháp. Chính trong kinh, Đức Phật còn xác nhận rất rõ rằng nữ giới cũng có đầy đủ khả năng chứng Thánh quả. Chỉ riêng lời xác nhận đó cũng đủ thấy Ngài chưa từng xem phụ nữ thấp kém về mặt tu chứng.
Bởi vậy, nếu hôm nay mình còn ngồi tính coi nam hơn hay nữ hơn thì e là quên mất cái chuyện quan trọng nhất. Giống như hai người đứng ngoài bến sông cãi nhau chiếc ghe sơn màu xanh đẹp hay màu đỏ đẹp, trong khi chuyến đò cuối cùng đã chèo qua bờ bên kia mất tiêu. Người học Tịnh Độ không lo hơn thua nam nữ, mà lo một câu A Di Đà Phật đã niệm được chí thành hay chưa, tín nguyện đã đủ thiết tha hay chưa. Về tới Cực Lạc rồi thì thân đều là thân thanh tịnh, đầy đủ tướng hảo, không còn cái khổ của phân biệt nam nữ nữa.
Tong xin mượn một câu của cổ nhân để kết lại: “Luận người chớ luận hình dung, luận tâm mới biết đục trong thế nào.” Trong mắt phàm phu thì còn thấy nam, thấy nữ, thấy hơn, thấy kém. Còn trong mắt chư Phật thì chỉ thấy chúng sanh đang mê hay đang giác. Mình ráng niệm Nam Mô A Di Đà Phật cho chắc ăn, tới bữa lên chuyến đò Tây Phương rồi thì chuyện mặc áo nam hay áo nữ ở Ta-bà cũng giống như bộ đồ hồi mẫu giáo, nhớ thì nhớ vậy chớ đâu còn ai mặc nữa.