Quả thật là trong cuộc sống, mỗi ngày quý vị ăn cơm chớ nên so đo món ăn này, món ăn nọ, đừng nên so đo mùi vị nữa. Mặc quần áo thứ gì cũng được! Ấm áp là được rồi, đừng nên kén chọn! Đó là gì vậy? Tập khí, tức tập khí phiền não của quý vị. Đấy là gì? Chấp trước, nhất định phải như thế nào đó. Hễ nhất định phải như thế nào đó sẽ phiền phức liền.
Phải học theo Đại Thừa Bồ Tát tự tại tùy duyên, bất luận câu thúc gì đều chẳng có, cái gì cũng đều tốt, chẳng có gì không tốt. Người ta làm chuyện tốt, tốt! Người ta làm chuyện xấu, cũng tốt luôn. Người ta hưởng phước, tốt! Người ta đang chịu tội trong địa ngục, cũng tốt. Chịu tội trong địa ngục là gì? Tiêu nghiệp chướng! Kẻ ấy có lắm nghiệp chướng dường ấy, nhất định phải tới đó để tiêu, tiêu hết thì chẳng phải là tốt đẹp hay sao? Cớ sao chẳng phải là chuyện tốt? Sau đấy mới hiểu: Mười pháp giới vốn là bình đẳng. Quý vị làm chuyện tốt nhiều ngần ấy, đến thiên đường để hưởng phước, đó là gì? Tiêu phước báo ấy! Quý vị làm chuyện tốt nhiều ngần ấy thì phải tiêu, làm những chuyện ác thì phải đến tiêu [nghiệp chướng] trong địa ngục. Quý vị thấy đó: Tiêu phước báo, tiêu nghiệp chướng; thảy đều tiêu sạch, chẳng phải là kiến tánh hay sao?

Người tu hành từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai tu gì? Thấy thấu suốt, buông xuống!
Cái đáng quý là buông xuống, chẳng có gì khác! Do vậy, tôi suốt đời tôn trọng thầy, lúc gặp mặt thầy trong ngày đầu tiên, thầy đã dạy tôi thấy thấu suốt, buông xuống. Tôi mới biết người tu hành từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai tu gì? Thấy thấu suốt, buông xuống! Buông xuống giúp cho thấy thấu suốt, thấy thấu suốt lại giúp buông xuống, hai phương pháp này giúp đỡ thành tựu lẫn nhau từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai. Đẳng Giác Bồ Tát nếu buông một phẩm tập khí sanh tướng vô minh cuối cùng xuống sẽ viên mãn, vẫn là buông xuống! Chỉ có buông xuống mới có thể tiến lên cao; chỉ có hiểu rõ mới thật sự chịu buông xuống. Do quý vị chẳng hiểu rõ nên không buông xuống được, hễ hiểu rõ sẽ buông xuống.

Buông xuống giúp cho thấy thấu suốt, thấy thấu suốt lại giúp buông xuống.
Hiện thời, điều đáng quý là hiểu rõ rành rẽ thế giới Cực Lạc. Hiểu rành rẽ thế giới này, so sánh giữa hai thế giới, bèn buông thế giới Sa Bà xuống, ta về thế giới Cực Lạc, điều này là trọng yếu. Quý vị thật sự muốn buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống, điều này nói dễ, làm chẳng dễ, thật sự là khó! Do nguyên nhân gì? Nghiệp chướng phiền não tập khí quá nặng, từ vô lượng kiếp đến nay đã tích lũy những thứ này, đâu có dễ dàng nói buông xuống liền buông xuống như vậy được! Nay chúng ta buông thân, tâm, thế giới xuống, đó là phần chút ít, rất nhỏ của tập khí phiền não. Chỉ cần chịu buông thứ ấy xuống sẽ có thể vãng sanh.
![So sánh giữa hai thế giới, [ta] bèn buông thế giới Sa Bà xuống, ta về thế giới Cực Lạc](/images/tu-pham-phu-den-qua-vi-phat-cung-deu-phai-tu-2-phap-nhin-thau-buong-xuong-04.jpg)
So sánh giữa hai thế giới, [ta] bèn buông thế giới Sa Bà xuống, ta về thế giới Cực Lạc
Do vậy, đến thế giới Cực Lạc, nhất định phải tin sâu chẳng nghi đức Phật chẳng nói một lời hư giả nào! Nay chúng ta chẳng thể nghe lời con người trong thế gian này, lời giả quá nhiều, nói lời gạt người nhiều quá! Phật, Bồ Tát chẳng nói câu nào lừa người, phải tin sâu chớ ngờ điều này! Nhất định phải tin: Đến thế giới Cực Lạc đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Lời này chính là “pháp khó tín”. Do vậy, kinh này được gọi là “khó tin”, [pháp môn được giảng trong] kinh này được gọi là “pháp khó tin”. [Trong các thế giới phương khác], đâu có chuyện một phẩm Kiến Tư phiền não chưa đoạn, đến thế giới Cực Lạc bèn có thể hưởng thụ sự đãi ngộ như Thất Địa Bồ Tát, A Duy Việt Trí là Thất Địa. Sự đãi ngộ như Thất Địa Bồ Tát do A Di Đà Phật ban cho, chẳng phải do chính mình có, mà do A Di Đà Phật ban cho.
Trích: Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa (tập 18)
Lão hòa Thượng Tịnh Không chủ giảng

Từ Phàm Phu Đến Quả Vị Phật Cũng Đều Phải Tu 2 Pháp: Nhìn Thấu & Buông Xuống.







Khi giảng kinh hoà thượng Tịnh Không có đề cập đến vấn đề khai ngộ trong niệm Phật. Ngài nói:
“Hiện tượng khai ngộ là gì? Câu Phật hiệu này trong hai thời không gián đoạn, trong tâm không có tạp niệm. Đây chính là hiện tượng khai ngộ. Có hiện tượng này là khẳng định vãng sanh, không còn nghi ngờ gì nữa. Nếu cảnh giới này không thể hiện tiền, thì vãng sanh chưa chắc chắn. Còn cảnh giới này hiện tiền, thì tự mình rõ ràng minh bạch, mà còn vãng sanh tự tại. Biết trước giờ lâm chung, biết được khi nào đi, biết được khi nào Phật đến tiếp dẫn. Rõ ràng thấu triệt.”
Ngài nói điều này dựa trên kinh nghiệm bản thân hay kinh điển nào? Hai thời là khoảng thời gian bao lâu?
Bà con mình nghe tới hai chữ “khai ngộ” là con mắt sáng rỡ như thấy trúng vé số độc đắc, nhưng khoan khoan, đừng có mới niệm được vài bữa mà ngồi canh coi mình khai chưa. Làm vậy nhiều khi chưa khai ngộ mà khai… tưởng.
Hoà thượng Tịnh Không khi giảng thường gom ý từ rất nhiều kinh luận của Tịnh Độ Tông chứ không phải nói theo kinh nghiệm cá nhân rồi tự lập giáo nghĩa mới. Ngài đặc biệt y cứ vào Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, cùng các luận của Bồ Tát Thế Thân và chú giải của chư Tổ như Thiện Đạo Đại Sư, Ngẫu Ích Đại Sư, Ấn Quang Đại Sư.
Đoạn “câu Phật hiệu trong hai thời không gián đoạn, trong tâm không có tạp niệm” thực ra là đang diễn tả công phu niệm Phật đạt đến mức tâm thanh tịnh, gần với điều kinh A Di Đà nói là “nhất tâm bất loạn”. Trong Tịnh Độ Tông, “khai ngộ” không nhất thiết có nghĩa là đại triệt đại ngộ như Thiền Tông. Hoà thượng Tịnh Không nhiều lần dùng chữ “khai ngộ” theo nghĩa rộng, tức là tâm bừng sáng, vọng niệm giảm mạnh, tín tâm kiên cố, biết rõ đường mình đi, chứ không phải ai tới mức đó cũng đều minh tâm kiến tánh như Lục Tổ Huệ Năng.
Còn câu “hai thời” thì đây là thuật ngữ Phật giáo đã có từ rất lâu. Thời xưa các chùa chia việc tu thành hai khóa chính mỗi ngày: sáng và chiều (hoặc tối). Cho nên “hai thời công phu” nghĩa là hai khóa tụng niệm hằng ngày, chứ không phải hai tiếng đồng hồ hay hai ngày. Ngày nay nhiều đạo tràng vẫn gọi là công phu sáng và công phu tối.
Riêng câu “nếu cảnh giới này không hiện tiền thì vãng sanh chưa chắc chắn” thì cần hiểu đúng văn cảnh. Đây là lời sách tấn người tu tinh tấn hơn, chứ không phải điều kiện tuyệt đối để được vãng sanh.
Nếu đem đối chiếu với kinh điển thì Kinh A Di Đà chỉ dạy “nhất tâm bất loạn”; Kinh Vô Lượng Thọ nhấn mạnh phát Bồ-đề tâm, một lòng chuyên niệm; đặc biệt bổn nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà chỉ lấy tín, nguyện, trì danh làm chánh nhân tiếp dẫn. Chư Tổ Tịnh Độ như Ngẫu Ích Đại Sư còn nói rất rõ: được vãng sanh hay không là do có tín nguyện hay không; phẩm vị cao thấp mới do công phu niệm Phật sâu cạn. Vì vậy không thể hiểu rằng phải đạt trạng thái “không còn một tạp niệm” mới được vãng sanh.
Còn chuyện biết trước ngày giờ vãng sanh thì đúng là trong lịch sử Tịnh Độ có rất nhiều trường hợp như vậy. Nhưng đó là kết quả tự nhiên của người công phu thuần thục, chớ không phải tiêu chuẩn bắt buộc. Có người biết trước nhiều tháng, có người biết vài ngày, có người chỉ biết vài giờ, cũng có người hoàn toàn không nói gì nhưng lúc lâm chung vẫn được Phật tiếp dẫn.
Nói gọn lại, lời Hoà thượng Tịnh Không không phải tự nghĩ ra, mà dựa trên tư tưởng xuyên suốt của kinh luận Tịnh Độ và lời dạy của chư Tổ, chỉ có điều khi giảng pháp Ngài thường diễn đạt bằng ngôn ngữ dễ hiểu nên đôi lúc người nghe tưởng như đang nêu một tiêu chuẩn tuyệt đối. Nếu đọc toàn bộ kinh luận Tịnh Độ sẽ thấy điều kiện cốt lõi để vãng sanh vẫn là tín sâu, nguyện thiết, trì danh.
Nói theo kiểu nông dân miền Tây nghen: Người ta muốn qua sông thì cần chiếc ghe. Tín với Nguyện là cái ghe, Trì danh là mái chèo. Còn “biết trước giờ đi” giống như tới gần bến rồi nhìn thấy bảng “Cực Lạc còn 100 mét”. Thấy bảng thì mừng thiệt, nhưng đâu phải ai không thấy bảng là ghe chìm giữa sông.
Ông bà mình có câu: “Đường dài mới biết ngựa hay, tu lâu mới biết công phu.” Còn Tổ Ấn Quang thì nhắc rất chí lý: chỉ nên thành thật niệm Phật, đừng mãi để ý mình có cảnh giới gì. Cảnh giới càng mong thì càng xa; Phật hiệu càng thật thì Tây Phương càng gần.
Tong Thật Lù xin chốt một câu: “Đừng có ngồi đếm coi hôm nay còn mấy vọng tưởng. Cứ lo niệm A Di Đà Phật cho đàng hoàng. Đến khi vọng tưởng tự nó bỏ đi lúc nào mình cũng hổng hay. Giống như mặt trời lên thì sương tự tan, đâu cần lấy cây chổi ra quét sương!” A Di Đà Phật.
Trời đất ơi bác Học giả Tịnh Độ hỏi câu này làm Hai Lúa mém đánh rớt cái gáo tưới rau luôn!
Nói thiệt nghen, hồi mới đọc lời Hòa thượng Tịnh Không, Hai Lúa cũng gãi đầu gãi tai y như con gà mắc tóc: “Ủa, vậy ai niệm Phật còn vọng tưởng lăng xăng như khỉ chuyền dừa thì coi như… hết vé về Cực Lạc sao?”
Ngẫm kỹ lại mới thấy không phải vậy. Cái chữ “hai thời” đó không phải là sáng hai tiếng chiều hai tiếng đâu nghen. Trong nhà Phật từ xưa tới nay, “hai thời công phu” là hai thời khóa sáng và tối. Chùa này tụng nửa tiếng, chùa kia một tiếng, có đạo tràng tụng hai tiếng, đâu có mẫu số chung. Giống như người miền Tây ăn cơm vậy đó, có người ba chén, có người năm chén, chớ đâu phải ai cũng đúng ba chén rưỡi mới được gọi là ăn cơm!
Ý Hòa thượng muốn nói là trong lúc công phu, câu A Di Đà Phật nối tiếp câu A Di Đà Phật, tâm ít tạp niệm, càng thanh tịnh càng tốt. Đó là cảnh giới đáng mừng.
Nhưng nếu mình hiểu rằng “phải đạt tới không còn một cọng vọng tưởng nào mới được vãng sanh” thì Hai Lúa e là… bà con mình xếp hàng ngoài cổng Cực Lạc đông hơn chợ nổi Cái Răng mỗi bận Tết! Tại sao? Vì các vị Tổ Tịnh Độ đâu có dạy vậy.
Ngẫu Ích Đại sư nói rõ ràng: “Được vãng sanh hay không là do có tín nguyện hay không; phẩm vị cao thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn.”
Nghe xong Hai Lúa khoái quá, vì câu này giống y chuyện qua phà. Muốn qua phà thì phải có vé. Vé là gì? Là tín và nguyện.
Còn lên ngồi ghế nhựa, ghế nệm hay phòng máy lạnh thì đó là phẩm vị. Công phu càng sâu thì chỗ ngồi càng đẹp. Chớ đâu có ai đứng ngay cầu phà la lớn:
“Không được! Anh còn ba mươi bảy vọng tưởng, mời quay về niệm thêm ba năm!”
Nếu vậy chắc bác tài phà cũng cười muốn rớt cái nón lá! Cho nên, lời Hòa thượng Tịnh Không nên hiểu là đang nói đến một cảnh giới công phu rất thuần thục. Người đạt được thì trong lòng tự biết, niềm tin vãng sanh kiên cố, nhiều vị còn biết trước ngày giờ ra đi. Chuyện này trong Tịnh Độ có ghi nhận không ít.
Nhưng không có nghĩa là ai chưa đạt cảnh giới ấy thì khỏi mong vãng sanh. Nếu vậy thì Tổ Ấn Quang còn cực lực khuyên người già, người bệnh, người thất học, người bận rộn niệm Phật để làm chi?
Phật A Di Đà phát đại nguyện là để cứu chúng sanh đầy phiền não, chớ đâu phải chỉ rước mấy vị “không còn vọng tưởng”. Nếu đợi sạch hết vọng tưởng mới được rước thì… e rằng tới giờ Hai Lúa với bác còn đang ngồi đây uống trà đá nhìn nhau chớ chưa thấy bóng sen nào!
Còn bác hỏi Hòa thượng Tịnh Không nói dựa vào kinh nghiệm bản thân hay kinh điển? Hai Lúa nghĩ là cả hai.
Suốt đời Hòa thượng giảng kinh đều nương vào ba kinh Tịnh Độ, một luận cùng trước tác của Thiện Đạo, Liên Trì, Ngẫu Ích, Ấn Quang… Đồng thời ngài cũng chứng kiến rất nhiều người niệm Phật vãng sanh nên khi giảng thường đem kinh nghiệm thực tế ra minh họa.
Nhưng nếu hỏi nguyên văn câu “không có hiện tượng này thì vãng sanh chưa chắc chắn” nằm ở kinh A Di Đà hay kinh Vô Lượng Thọ trang mấy, phẩm mấy thì Hai Lúa thú thiệt là chưa thấy. Đây có lẽ là lời tổng kết của Hòa thượng để khích lệ người tu tiến lên cảnh giới nhất tâm, chứ không phải một câu trích nguyên văn trong kinh.
Nói kiểu nông dân tụi mình cho dễ nhớ nghen. Niệm Phật cũng giống trồng lúa. Ngày nào cũng xách nước tưới, bón phân, nhổ cỏ. Đừng sáng gieo hạt, trưa đào lên coi nó mọc chưa.
Chiều đào lên lần nữa.
Tối đào lên thêm lần nữa.
Làm vậy thì hột lúa chưa kịp nảy mầm đã… “vãng sanh” trước mình!
Cứ thật thà gieo, thật thà chăm. Cũng như mình thật thà tin, thật thà nguyện, thật thà niệm A Di Đà Phật.
Vọng tưởng nổi lên thì mặc nó nổi. Mình cười nhẹ một cái rồi dắt tâm trở về với câu A Di Đà Phật. Lâu ngày, vọng tưởng mệt nó nghỉ trước, còn câu Phật hiệu thì ở lại. Đó mới là điều đáng mừng.
A Di Đà Phật.
Bốn Lúa tui nghe câu hỏi này thì cười hề hề gãi đầu. Trời đất ơi, hỏi kiểu này là hỏi trúng cái ổ kiến lửa luôn nghen! Chỉ cần mình hiểu lộn một chữ là từ niệm Phật cầu vãng sanh, cái rẹt… chạy qua nghiên cứu cảnh giới, rồi ngồi canh coi chừng nào khai ngộ, chừng nào biết giờ chết. Giống như anh Hai Lúa đã nói, gieo lúa mà ngày nào cũng đào hột lên coi nó nảy mầm chưa thì ruộng nào sống nổi!
Theo tui, lời Hòa thượng Tịnh Không không phải tự ngài bịa ra từ kinh nghiệm cá nhân. Cả đời Hòa thượng luôn nhấn mạnh mình chỉ là người học theo kinh điển và lời chư Tổ, đặc biệt là bộ Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh cùng các trước tác của Thiện Đạo Đại sư, Ngẫu Ích Đại sư, Ấn Quang Đại sư… Cho nên khi ngài nói về “khai ngộ trong niệm Phật”, đó là cách tổng kết sự tu học của Tịnh Độ Tông, chứ không phải đang kể một trải nghiệm riêng của mình.
Nhưng cũng phải nói cho công bằng, nguyên văn câu “hai thời không gián đoạn thì đây chính là hiện tượng khai ngộ” không phải là một câu kinh văn mà ai mở kinh ra cũng thấy. Nó là lời giảng của Hòa thượng để diễn đạt một trạng thái công phu.
Còn “hai thời” là gì? Ngày xưa trong chùa, thông thường sáng tụng một thời, chiều hoặc tối tụng một thời. Cho nên “hai thời công phu” nghĩa gốc là hai khóa tu hằng ngày. Về sau nhiều vị giảng rộng hơn, tức là suốt đời sống đều không rời Phật hiệu, ngoài hai khóa chính thì đi đứng nằm ngồi cũng nhớ Phật niệm Phật. Chứ không nên hiểu cứng ngắc là chỉ niệm đúng hai tiếng đồng hồ sáng chiều là đủ khai ngộ. Nếu dễ vậy thì mấy trăm năm nay thiên hạ thành Phật hết trơn rồi!
Điều đáng chú ý hơn là chữ “không có tạp niệm”. Cái này mới là cốt lõi. Không phải cái miệng niệm liên tục, mà là tâm dần dần quy về một câu A Di Đà Phật, vọng tưởng thưa bớt, phiền não nhẹ bớt, gặp nghịch cảnh cũng không nổi sóng lớn. Đó là công phu thành phiến đang hình thành.
Còn gọi đó là “khai ngộ” thì trong Phật giáo cũng có nhiều cách dùng. Thiền tông thường dùng “khai ngộ” để chỉ minh tâm kiến tánh. Tịnh Độ nhiều khi dùng chữ này theo nghĩa tâm khai ý giải, tín nguyện kiên cố, không còn nghi lớn đối với việc vãng sanh. Hai cách dùng không hoàn toàn giống nhau, nên nếu đem tiêu chuẩn Thiền tông áp thẳng vào lời giảng của Hòa thượng thì rất dễ hiểu lầm.
Đến đoạn “biết trước giờ lâm chung, biết Phật đến tiếp dẫn”, điều này trong Tịnh Độ đúng là có rất nhiều trường hợp được ghi chép từ xưa đến nay. Nhưng đây là kết quả của công phu sâu, tuyệt đối không phải tiêu chuẩn duy nhất để xác định vãng sanh.
Ấn Quang Đại sư từng nhiều lần dạy rằng người niệm Phật chỉ cần đầy đủ tín, nguyện, hạnh thì quyết định được Phật tiếp dẫn. Không nên ngày nào cũng ngồi mong thấy hào quang, mong biết ngày giờ, mong có cảnh giới lạ. Càng mong thì vọng tâm càng mạnh. Giống như chèo xuồng qua sông mà cứ quay đầu nhìn bến cũ hoài thì xuồng cứ lạng qua lạng lại, khó tới bờ bên kia.
Nói thiệt, Bốn Lúa nhớ câu ông bà mình hay nói: “Trồng cây thì lo tưới gốc, đừng ngồi đếm lá.” Người niệm Phật cũng vậy. Gốc là tín, nguyện, trì danh. Lá là cảnh giới. Gốc khỏe thì lá tự xanh. Còn ngày nào cũng ngồi đếm lá thì có khi cây… chết khô lúc nào không hay.
Cho nên, nếu hỏi “hai thời là bao lâu?” thì đáp là hai khóa công phu sáng và chiều theo truyền thống. Nếu hỏi “Hòa thượng Tịnh Không căn cứ vào đâu?” thì chủ yếu là trên nền tảng giáo lý Tịnh Độ và sự tổng hợp lời dạy của chư Tổ, chứ không có một đoạn kinh nguyên văn nói đúng từng chữ như lời giảng ấy.
Rốt cuộc, người niệm Phật khéo nhất là đừng bận tâm: “Bao giờ mình khai ngộ?” Mà nên tự hỏi: “Hôm nay mình niệm Phật có chân thật hơn hôm qua chưa? Phiền não có bớt một chút chưa? Gặp chuyện trái ý còn nhớ A Di Đà Phật không?” Nếu ba câu hỏi đó mỗi ngày đều khá hơn, thì khỏi cần ngó đồng hồ coi chừng nào khai ngộ. Đến ngày hoa sen nở, A Di Đà Phật tự biết địa chỉ nhà mình, đâu có cần mình gọi GPS nữa! 😊
Cái chữ hai thời mà Hòa thượng Tịnh Không nói ở đây, hiểu đơn giản nhất theo kiểu bình dân học vụ là ngày với đêm, hay là lúc thức với lúc ngủ đó mà. Người tu ngon lành là người ta giữ được câu niệm Phật suốt cả ngày lẫn đêm. Lúc thức làm lụng, cày cuốc câu Phật hiệu vẫn chạy ro ro trong bụng; tới chừng đi ngủ, nằm chiêm bao thấy chuyện này chuyện kia mà cái miệng, cái tâm vẫn tự động niệm Phật, không bị mê mờ.
Còn nếu nói rộng ra cái bụng, cái tâm của mình, thì hai thời ở đây là lúc vui với lúc buồn, lúc sướng với lúc khổ. Dân mình hay bị cái tật là lúc bình an, ngồi mát ăn bát vàng thì niệm Phật hay lắm, chớ tới chừng đụng chuyện xui rủi, bị người ta mắng chửi một tiếng là đùng đùng nổi giận, quên mất tiêu ông Phật đâu mất tiêu. Thành ra, hai thời không gián đoạn nghĩa là gặp chuyện vui cũng niệm Phật, gặp chuyện buồn bực trắc trở cũng niệm Phật, không có cái chuyện bao đồng nào xen vô phá cái tâm mình được hết trơn.
Ý Hòa thượng tóm lại ngắn gọn là tu làm sao mà bất kể ngày hay đêm, vui hay buồn, thức hay ngủ, cái câu A Di Đà Phật nó cứ dính chặt trong lòng không buông. Làm được y như rứa là coi như ngon lành rồi đó, tới hồi già yếu lâm chung là tự tại đi về với Phật, khỏe re, không có sợ sệt chi hết trơn.