Trong Hội Biên có nêu ra một câu chuyện (câu chuyện này trong Liễu Phàm Tứ Huấn cũng có). Thời Tống triều có một người tên Vệ Trung Đạt, câu chuyện của người này lưu truyền rất rộng, không chỉ có rất nhiều người thời đó biết được, mà người đời sau biết được cũng rất nhiều, do lưu truyền ghi chép ở trên sách.
Năm đó ông nhận chức ở Hàn Lâm Viện, có một hôm bị vua Diêm La bắt đi. Sự việc này người bây giờ nghe qua dường như là thần thoại, rất khó bảo người tin theo, nhưng kỳ thật, sự việc này là thật.
Tôi lúc nhỏ gặp một việc, tôi ghi nhớ rất rõ ràng, quê hương chúng tôi là một thành thị nhỏ. Thành thị này là thành cổ, xây dựng thời nhà Hán đến ngày nay đã có 2000 năm lịch sử. Lúc nhỏ, tôi có một khoảng thời gian ngắn ở dưới thôn quê, cách xa thành phố có đến hai mươi lăm dặm đường. Lúc đó muốn lên thành là phải đi bộ, đại khái phải đi hơn hai giờ, cũng không xem là quá xa. Tôi ở nhà của ông ngoại. Cách nhà ngoại tôi đại khái một hay hai căn, có một người bị bệnh nặng.
Người bệnh nói: “Thành Hoàng muốn kéo ông đi làm người hầu”.
Người ta hỏi: “Thành Hoàng bắt ông làm những việc gì?”
Ông nói: “Đi gánh đồ”.
Hỏi: “Tại vì sao phải gánh đồ?”
Ông nói: “Thành Hoàng lão gia muốn dọn nhà, bắt rất nhiều người đi gánh đồ, và cũng muốn bắt ông đi”.
Người nhà hỏi: “Vậy thì phải làm sao?”
Ông nói: “Các người có thể đốt giấy tiền vàng bạc cho tôi, để tôi đi thuê người khác, vậy thì tôi không cần phải đi”.
Cho nên người trong nhà liền đốt giấy tiền vàng bạc, người giấy, ngựa giấy cho ông rất nhiều. Sau khi ông đi thuê người làm xong, bệnh của ông liền khỏi. Chúng tôi nghe rồi liền cảm thấy rất kỳ lạ, tại sao Thành Hoàng muốn dọn nhà? Sau đó ba ngày, miếu Thành Hoàng bị quân đội chiếm lấy. Quân đội lấy miếu Thành Hoàng làm doanh trại, những thần tượng bên trong đều bị hủy hoại. Lúc này mới vỡ lẽ ra miếu Thành Hoàng bị quân đội chiếm lấy. Thành Hoàng lão gia ba ngày trước đã dọn nhà đi rồi, đây là sự thật mà chúng tôi chính mắt nhìn thấy. Cho nên, “ngẩng đầu ba thước có thần minh”, cho dù ta tin hay không tin, ta tin là có, ta không tin vẫn là có. Người bây giờ không đọc sách thánh hiền, không tin tưởng lời khuyên dạy trung thật.
Những sự việc chính mắt tôi nhìn thấy rất nhiều, cho nên đối với những điển tích ghi chép của người xưa, tôi đều tin sâu, không nghi. Những tiểu thuyết thần thoại như Liêu Trai Chí Dị, Duyệt Vi Thảo Đường bút ký, Tử Bất Ngữ, tuyệt đại đa số là sự thật, không phải là bịa đặt không chứng cứ, không phải là chuyện ngụ ngôn.

Về phần Vệ Trung Đạt, Vệ Trung Đạt bị Diêm Vương bắt đi. Sau khi bắt đi, phán quan liền điều tra việc thiện ác mà cả đời ông đã tạo. Kết quả án kiện, những việc ác mà ông đã tạo chất đầy một đống to như núi, còn việc thiện chỉ có một quyển, nói cách khác, cả đời ông đã tạo chỉ có một việc thiện.
Sau khi nhìn thấy, ông liền nói với phán quan: “Tôi vẫn chưa đến 40 tuổi, làm gì mà tôi đã tạo nhiều việc ác đến như vậy?”.
Phán quan liền nói với ông: “Những việc tạo tác này là khởi tâm động niệm của ông. Ông khởi lên một ác niệm thì trong âm tào địa phủ liền có án kiện lưu giữ ở đó, chẳng phải đợi ông tạo tác. Nếu ông tạo tác thì tội ông càng nặng, càng sâu. Khởi lên một niệm ác liền lưu lại một án kiện”.
Ông liền hỏi: “Vậy một ý niệm thiện của tôi, đó là gì?”.
So sánh việc thiện ác của ông trước đây, xem thấy ác niệm nhiều đến như vậy, vua Diêm La rất tức giận, nói: “Mang cân đến đây để cân thử”.
Khi vừa cân lên, lỗi lầm của ông nhiều đến như vậy thế mà nhẹ; còn một việc thiện này của ông vậy mà nặng. Vua Diêm La liền rất hoan hỷ.
Ông liền hỏi Diêm Vương: “Việc thiện đó của tôi, rốt cuộc là việc thiện gì vậy?”.
Diêm Vương nói: “Lúc đó Hoàng đế muốn xây dựng một công trình, nhưng công trình này có thể không cần phải làm, tốn tiền của của nhân dân. Ông dâng lên một tờ tấu sớ, khuyên Hoàng đế không nên làm. Đây là do ông dụng tâm chân thành, thật tâm dâng lên tấu sớ”.
Ông nói: “Nhưng Hoàng đế không nghe”.
Diêm vương nói: “Nếu như Hoàng đế nghe theo thì phước báu của ông còn lớn hơn. Vua không nghe, nhưng nhờ lòng chân thành của ông, nên ông có được cái ý niệm này. Đây là một việc thiện nên rất nhiều việc ác của ông đều bị đè xuống”.

Công án này rất đáng để chúng ta phản tỉnh. Diêm vương nói với ông, bởi vì cái ác của ông đã tạo quá nhiều, nên tiền đồ của ông sẽ có chướng ngại. Vốn dĩ trong số mệnh ông làm đến tể tướng, nhưng nay thừa tướng ông cũng không có phần. Chức quan của ông chỉ làm đến sử bộ thượng thư (sử bộ thượng thư tương đương với bây giờ là bộ trưởng chủ quản dân chính, thông thường gọi là bộ trưởng bộ nội chánh), làm đến được địa vị này, vậy là bị giáng xuống một cấp.
Cho nên tạo tác thiện ác, chúng ta thường gọi là ba nghiệp. Chúng ta từ sớm đến tối, thân ngữ ý đều đang tạo nghiệp. Động tác của thân thể, lời nói trong miệng, ý niệm trong lòng, nếu tương ưng với mười thiện là thiện, trái nghịch với thiện là ác. Đây là tiêu chuẩn lớn, còn những việc nhỏ thì nhiều không kể xiết.
Trích Thái Thượng Cảm Ứng Thiên – Tập 4
Chủ giảng: HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG





Tôi hay nghe các bài trông Ấn Quang Văn Sao, có những đoạn pháp sư hay nói về bậc Thánh, Hiền. Tôi chỉ hình dung lờ mờ nghĩa của các từ ấy chứ chưa thật sự hiểu rõ. Quý vị nào hoan hỉ chỉ bày cho tôi hiểu bậc hiền và bậc thánh khác nhau chỗ nào.
Chào đạo hữu Trần Thanh Hoà. Hai Lúa tui xin chen vô góp mấy lời nghen, mà tui nói trước, chuyện giáo lý cao sâu thì tui hổng dám múa rìu qua mắt thợ, chỉ xin nói kiểu dân ruộng mình cho dễ hiểu. Hai chữ “Hiền” với “Thánh” nghe qua cứ tưởng như hai ông già hàng xóm, ông Hiền ở đầu kinh, ông Thánh ở cuối xóm, chiều chiều hai ông xách ghế ra trước sân uống trà nói chuyện đạo. Chớ thiệt ra trong Phật pháp, nếu dùng theo nghĩa địa vị tu chứng, thì hai bậc này khác nhau ở một cái mốc rất quan trọng: “chứng”. Bậc Hiền là người đã tu hành rất sâu, giới định huệ cao hơn phàm phu mình xa lắc xa lơ, tâm hạnh thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, đường đi đã đúng mà còn đi xa dữ lắm; nhưng theo cách phân định trong nhiều kinh luận Đại thừa thì vẫn chưa trực tiếp chứng chân lý bằng trí vô lậu. Còn bậc Thánh là đã thật sự chứng nhập, thấy đạo, phát sanh trí vô lậu, bắt đầu đoạn trừ phiền não theo địa vị tu chứng. Nói kiểu Hai Lúa tui là vầy: bậc Hiền giống người đã đi tới sát mé sông, thấy bến, thấy ghe, thấy luôn ông lái đò; còn bậc Thánh là đã bước chân lên ghe qua khỏi bờ bên này rồi. Chớ hổng phải ai hiền hiền, nói nhỏ nhẹ, gặp con muỗi cũng “dạ thưa” là thành bậc Hiền trong kinh đâu nghen. Nếu vậy chắc con bò nhà Hai Lúa tui tu chứng trước tui mất, tại nó hiền khô, ai dắt đâu đi đó, lâu lâu còn ăn chay trường nữa chớ!
Trong Đại thừa mình thường nghe câu “Tam Hiền Thập Thánh”. Tam Hiền thường chỉ ba nhóm địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, cộng lại ba mươi địa vị tu hành. Từ Sơ Địa tới Thập Địa thì gọi là Thập Thánh. Nghe tới đây mình mới thấy chữ “Hiền” trong nhà Phật đâu có nhẹ ký. Mấy vị ấy công phu cao dữ lắm, chớ hổng phải kiểu bà con trong xóm khen: “Cha nội Bảy đó hiền lắm, vợ la từ sáng tới trưa ổng cũng ngồi im.” Cái đó chưa chắc là Hiền, có khi ổng đang giả bộ nhập định để khỏi rửa chén thôi! Cho nên khi đọc kinh luận mà gặp “Hiền vị”, “Thánh vị”, “Tam Hiền”, “Thập Thánh” thì phải hiểu đây là những danh từ nói về tiến trình tu chứng, chớ đừng đem nghĩa đời thường ráp vô rồi nồi nào úp vung nấy, coi chừng lấy cái nắp lu đậy vô nồi cơm là tối đó cả nhà ăn cháo sống.
Nhưng đạo hữu cũng nên để ý thêm một chuyện rất quan trọng: trong Ấn Quang Văn Sao, chữ “Hiền”, “Thánh”, hay “Thánh Hiền” hổng phải chỗ nào cũng mang nghĩa chuyên môn về địa vị tu chứng. Có đoạn Tổ nói đến “cổ thánh tiên hiền”, “thánh hiền”, “vua thánh tôi hiền” thì chữ đó có thể mang nghĩa rộng, chỉ những bậc đạo đức, trí tuệ, người hiền đức, bậc thánh triết đời xưa. Thành ra đọc Văn Sao phải coi nguyên câu, nguyên đoạn đang nói chuyện gì. Nếu đoạn đó đang luận về Bồ Tát địa, tu chứng, đoạn hoặc chứng chân thì hiểu theo địa vị. Còn đang khuyên người giữ luân thường, tận hiếu, làm lành, học theo cổ nhân thì nhiều khi đó là nghĩa thông thường. Đọc sách mà hễ thấy chữ “Thánh” là lập tức đem Sơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa ra xếp hàng thì cũng giống như Hai Lúa nghe ai nói “ông đó lên chức lớn lắm” rồi tưởng ổng chắc làm tới… Ngọc Hoàng. Lộn cái rẹt!
Cái hay nhất, theo Hai Lúa tui, là học tới đây rồi mình quay lại soi mình chớ đừng lo đi đo cảnh giới thiên hạ. Hễ nghe ai nói người này là Thánh, người kia chứng quả, bà nọ đắc định, ông kia khai ngộ, mình nghe cho biết vậy thôi, đừng vội xách thước ra đo. Cảnh giới tu chứng hổng phải trái dưa hấu ngoài chợ mà vỗ cái bộp rồi nghe tiếng đoán ruột đỏ hay ruột trắng được đâu. Nhất là người học Tịnh Độ, Tổ Ấn Quang dạy mình quý nhất ở chỗ thật thà nhận mình là phàm phu nghiệp lực, tự lực yếu kém, rồi chí thành tin sâu nguyện thiết, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương. Người thật sự có đạo nhiều khi càng tu càng thấy mình thiếu, càng học càng thấy mình dở; còn mình mới niệm Phật được ba bữa, ngồi yên được hai thời, bữa thứ tư nghe ai khen “sao nay mặt anh sáng dữ vậy” là trong bụng bắt đầu nghi mình chắc… chứng tới đâu rồi. Trời đất ơi, coi chừng chưa chứng Thánh mà chứng cái bệnh tưởng trước à nghen!
Bởi vậy nếu nói thật gọn cho dễ nhớ thì vầy: theo nghĩa địa vị tu chứng, bậc Hiền là những vị đã tu rất sâu nhưng chưa trực tiếp chứng nhập chân lý bằng trí vô lậu; bậc Thánh là đã chứng nhập, bước vào dòng Thánh. Còn khi đọc Ấn Quang Văn Sao thì phải coi văn cảnh, vì có chỗ “Hiền, Thánh” chỉ đơn giản là bậc hiền đức, bậc thánh triết chớ không phải đang phân chia quả vị tu chứng. Mình hiểu được vậy là đủ xài ngon lành rồi. Còn chuyện mình đang đứng ở đâu trên con đường tu thì Hai Lúa tui xin tự khai trước: tui còn đang lội dưới ruộng, bùn dính tới đầu gối, vừa lội vừa niệm “A Di Đà Phật”, lâu lâu còn bị con ếch nhảy ngang làm hết hồn. Thôi thì Hiền hay Thánh chưa dám mơ, trước mắt ráng làm một phàm phu biết mình là phàm phu, bớt tham một chút, bớt sân một chút, bớt hơn thua một chút, niệm Phật thêm một chút, tới lúc lâm chung được Phật A Di Đà tiếp dẫn thì lúc đó mới thiệt là trúng cái giải lớn nhứt đời, khỏi cần dò vé số chi nữa hết trơn!
Tiểu Vương, người Hồ Bắc làm việc lâu năm trong nhà cư sĩ Tôn Hậu Tại, nhờ ảnh hưởng của gia đình chủ mà chuyên tâm niệm Phật. Một hôm, trong lúc cơ thể vẫn bình thường, ông gọi người con trai mười lăm tuổi từ trường về và báo rằng mình sẽ đi ngay hôm ấy. Khi có người khuyên ông ở lại nuôi con, ông đáp rằng thời điểm đã đến, rồi ngồi thẳng trên giường, cùng con niệm Phật và qua đời. Sách chỉ ghi biệt danh “Tiểu Vương”, không cho biết tên đầy đủ; sự việc được đặt vào năm Dân Quốc thứ mười sáu.
Nguồn: Mấy Điệu Sen Thanh, mục “Tiểu Vương”, trang 45–46; bản trích riêng ghi “Bài 25”.