Trước đây chúng tôi phải nói mọi người cùng nhau cộng tu, cộng tu có nhân duyên của cộng tu, có điều kiện của cộng tu. Vào thời xưa cái nhân duyên đó rất tốt, được. Hiện nay nhân duyên không tốt, hiện nay người cộng tu nhiều, rất thị phi, anh A thế này, anh B thế nọ, đây đâu phải là cộng tu? Nếu như nói đó là cộng tu thì đó là tu lục đạo luân hồi, không phải tu Tây Phương Tịnh Độ. Tây Phương Tịnh Độ là tu tâm thanh tịnh. Nhiều người ở cùng nhau như vậy, cái mà mắt nhìn thấy, tai nghe thấy, miệng nói ra đều là chuyện tạp loạn rỗi hơi, tâm làm sao có thể tịnh lại được?
Nếu như không nói chuyện, các bạn tu Phật thất chỉ tịnh. Bạn không nói chuyện, mắt bạn vẫn có thể nhìn thấy, trong tâm bạn vẫn có thể khởi vọng tưởng, chỉ là không nói mà thôi, bạn vẫn là không thanh tịnh. Cho nên hiện nay tu hành chân chánh, nói lời thành thật, về nhà mà niệm Phật, mà tu một mình. Một người có khi tinh thần không thể đề khởi được thì nương vào chúng, dựa vào chúng. Cổ nhân gọi là sợ bản thân lười biếng giải đãi, cho nên mọi người cùng tu hành với nhau, đôi bên khích lệ lẫn nhau, nhìn thấy người ta niệm Phật, mình không niệm thấy ngại quá, ý nghĩa của cộng tu là ở chỗ này. Hiện nay biến chất rồi, hiện nay cái điểm hay này không còn nữa rồi. Ở chung với nhau trái lại phiền phức. Tinh thần của mình không thể đề khởi được làm thế nào đây? Hiện nay có biện pháp: có máy niệm Phật, có băng ghi âm. Cái này có thể tin được, nó không gây phiền phức cho bạn. Đặc biệt là hiện nay máy ghi âm niệm Phật còn có tai nghe. Bạn đeo tai nghe vào, bạn ở trong nhà suốt ngày niệm Phật. Bạn thấy vừa không cản trở công việc, vừa không cản trở người khác. Người trong nhà người khác không niệm, bạn cũng không cản trở họ.
Nếu như vọng tưởng của bạn nhiều thì bạn mở âm thanh lớn, khi mở lớn thì bên ngoài cái gì cũng không thể nghe được. Tốt hơn niệm Phật đường. Âm thanh lớn đè được vọng tưởng, điều phục được vọng tưởng. Tâm rất thanh tịnh thì có thể mở nhỏ một chút, hoặc giả là khi chú ý việc khác thì âm thanh nhỏ một chút, vẫn có thể nghe được âm thanh ở bên ngoài. Không muốn nghe âm thanh bên ngoài thì mở âm thanh lớn một chút, tốt vô cùng, tốt không gì bằng. Hiện nay lợi dụng những công cụ khoa học này, tự mình dụng công chân chánh thật sự đắc lực. Cái này tốt hơn quá nhiều so với mở Phật thất tinh tấn rồi. Bạn từ sáng đến tối niệm. Là đúng như lời trong “Kinh Kim Cang” nói: “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”. Sinh tâm là tu tất cả thiện pháp. Bạn suốt ngày đang làm việc đều là thiện pháp, đều là giúp đỡ người khác, đều là lợi ích đại chúng, tâm địa của mình thanh tịnh, không nhiễm mảy bụi, ở trong tâm chỉ là một câu A-Di-Đà Phật, bạn nói cái phương pháp này hay biết bao.
Tôi học Phật hơn 40 năm rồi, ở trong hơn 40 năm này, những điều mà tôi nhìn thấy, tiếp xúc, cảm nhận, tôi cảm thấy đạo tràng nhỏ tốt hơn đạo tràng lớn. Người càng nhiều càng phức tạp, sự việc phiền phức càng nhiều, cho nên đạo tràng nên nhỏ, càng nhỏ càng tốt, người càng ít càng tốt. Quý vị thử nghĩ, tổ sư xưa nay của Tịnh Độ tông chúng ta, đại sư Huệ Viễn, ngài là người thời Đông Tấn. Ban đầu cái niệm Phật đường đầu tiên là xây tại Lô Sơn Giang Tây. Vào thời đó đồng tu của ngài tính ra không ít, 123 người, đây gọi là đạo tràng, không phải người nào đến là cũng được. Viễn Công đại sư vào thời đó còn có một người rất nổi tiếng, Tạ Linh Vận. Vị này quý vị đọc thấy ở trong lịch sử, văn chương của ông viết rất hay. Tạ Linh Vận đã từng đến Lô Sơn viếng thăm đại sư Viễn Công, muốn tham gia vào liên xã của ngài, không đồng ý, từ chối ông, không cho ông tham gia.
Bạn thấy niệm Phật đường Viễn Công bước vào không phải dễ dàng như vậy, muốn đến niệm Phật là đến niệm, đâu có dễ dàng như vậy. Phải gìn giữ một cái môi trường thanh tịnh. Tâm bạn có thanh tịnh hay không? Tâm bạn không thanh tịnh, bạn không được đến. Tạ Linh Vận tại sao bị từ chối vậy? Tâm không thanh tịnh, thích viết văn, thích làm thơ, đầu óc mang đầy những thứ này, khởi vọng tưởng. Tập khí của văn nhân quá nặng rồi, sẽ ảnh hưởng tâm thanh tịnh của mọi người. Viễn Công từ chối ông. Đào Uyên Minh, đại sư Huệ Viễn của chúng ta rất hoan nghênh ông, nhưng mà Đào Uyên Minh không có tham gia, không có tham gia liên xã 123 người. Chúng ta xem thấy ở trong “Tây Phương Xác Chỉ”, đạo tràng của Bồ-tát Giác Minh Diệu hạnh có 12 người. Ở trong cái thời đại này hiện nay rất đáng để chúng ta phản tỉnh, rất đáng để chúng ta nghiên cứu. Quý vị tự mình thử suy nghĩ thật kỹ, người ít, tốt.
Đạo tràng nhỏ người nhiêu cố định như vậy, dụng công chân chánh, người ít, đạo tràng nhỏ, tiêu xài ít, dễ duy trì, không cần lôi kéo tín đồ. Lôi kéo tín đồ, nghĩ cách kiếm tiền để nuôi đạo tràng. Quý vị thử nghĩ đó là đạo gì? Nghĩ đủ mọi cách để lôi kéo tín đồ, thậm chí là dùng mọi thủ đoạn. Bạn thử nghĩ xem họ là tâm gì? Tham sân si mạn. Họ là đạo gì vậy? Tam ác đạo. Cái đạo tràng đó là tam ác đạo. Đây không phải Phật đạo, không phải Bồ-tát đạo.
Phật đạo là tâm bình đẳng, Bồ-tát đạo là tâm lục độ. Hiện nay đạo tràng rất nhiều, bạn phải nhìn rõ ràng nó là đạo nào. Mơ mơ hồ hồ bước vào, rất nguy hiểm. Nếu như nó là địa ngục đạo thì cái phiền phức đó lớn rồi, nhất định phải nhận biết rõ ràng. Lời tôi nói với mọi người mỗi câu đều là lời chân thật. Cho nên bạn phải biết, đạo tràng của thế giới Tây Phương Cực Lạc ở trong nhà bạn, không phải ở nơi khác. Mang theo cái tai nghe niệm Phật, đó chính là đạo của thế giới Tây Phương Cực Lạc, phải biết những điều này.
Trích từ bài giảng Kinh Kim Cang (tập 191)
Lão pháp sư Tịnh Không giảng






Cách đây cũng lâu rồi, hồi đó tui có duyên tham dự một khóa tu niệm Phật 10 ngày tại một đạo tràng nọ. Vị sư trụ trì đã lớn tuổi có kể một câu chuyện hồi ngài còn ở ẩn trong núi để tu Tịnh Độ. Ngài kể mỗi lần xong khóa lễ niệm Phật, mở mắt ra nhìn thấy rất nhiều vị hộ pháp Thiên Long Bát Bộ ngồi đầy cả hai bên. Vị sư trụ trì ấy ắt hẳn tâm rất thanh tịnh nên mới nhìn thấy được các chư vị thiện thần. Từ đó tui nghiệm ra rằng nếu một người chân thật niệm Phật như lý như pháp, buông bỏ lợi danh để tâm dần bớt nhiễm ô thì các chư vị thiện thần sẽ đến ủng hộ người ấy. Ma quỷ chẳng dám bén mảng đến gần. Chỉ đôi dòng chia sẻ khuyến tấn các vị đồng tu cùng niệm Phật tinh tấn.
A Di Đà Phật.
Con niệm Phật đã mười sáu năm, chưa từng nghĩ sẽ đổi sang đường tu khác, nhưng có một chỗ mãi chưa thông. Con tin Phật A Di Đà có lòng tiếp dẫn chúng sanh, còn khi nghĩ đến chính mình thì lại không dám tin mình có phần, vì thấy tham sân vẫn nhiều quá. Mỗi lần vừa nổi nóng, con lại nghĩ chắc người như mình khó được vãng sanh, rồi niệm trong tâm lo sợ. Xin hỏi sự thành thật biết mình còn yếu khác với việc không chịu tin vào nguyện lực của Phật ở chỗ nào? Con cần sửa cách nhìn thế nào để không tự cao về công phu, mà cũng không tự đặt mình ra ngoài con đường mình vẫn khuyên người khác nên tin theo?
Minh Tịnh, 58 tuổi.
Dạ kính chào anh Minh Tịnh thân mến,
Tong xin thưa thế này, thấy mình còn tham sân là một sự nhận biết cần thiết để sửa mình, nhưng từ đó kết luận rằng mình không có phần trong nguyện lực của Phật thì anh đã đi thêm một bước mà sự nhận biết ban đầu không buộc mình phải đi. Câu “Tôi còn yếu nên tôi cần nương Phật, cần tu sửa” giúp anh tiếp tục bước tới. Còn câu “Tôi còn yếu nên chắc Phật cũng chẳng tiếp độ tôi” lại làm anh chùn chân. Mười sáu năm anh giữ câu niệm Phật, lòng vẫn muốn đi con đường ấy, nay lại đem điều khó nói trong lòng ra hỏi, Tong nghĩ mình nên cùng tháo gỡ cho sáng, chớ đừng lấy chính nỗi lo ấy làm thêm một điều để trách anh.
Trong Quán Kinh Sớ, phần Tán thiện nghĩa, Đại sư Thiện Đạo giảng về lòng tin sâu bằng hai điều đi liền nhau: nhận rõ mình hiện là phàm phu còn trôi lăn trong sanh tử, và tin sâu rằng bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà nhiếp thọ chúng sanh, nương nguyện lực ấy được vãng sanh. Tong hiểu lời này là nhìn cho thật cả phía mình lẫn phía Phật. Mình còn yếu thì nhận còn yếu; nguyện lực của Phật rộng lớn thì tin nơi nguyện lực ấy. Ngài đặt hai điều cùng nhau, đâu có lấy sự yếu kém của phàm phu để phủ nhận con đường nương Phật.
Cho nên khi anh nhìn thấy cơn sân của mình, điều cần nhận là: “Tôi vừa để sân làm chủ, việc ấy cần sửa.” Nhưng lời phán “Vậy là tôi hết phần vãng sanh” thì anh nên khoan nhận theo. Một bên là thấy việc mình đã làm; một bên là tự quyết định luôn cả khả năng tu sửa và con đường về sau của mình. Tong cũng chưa muốn gọi nỗi lo của anh là “không chịu tin”, vì trong lời anh vẫn có lòng muốn tin, muốn hiểu, muốn đi cho đúng. Có khi anh không cố tình khước từ lời Phật, mà đang quen lấy mức công phu của mình làm thước đo mọi chuyện, thành thử thấy mình thấp xuống một chút là tưởng con đường trước mặt cũng khép lại.
Tong mượn chiếc đò quê mình để nói cho dễ hình dung nghen. Một người đứng bên sông, biết mình bơi yếu, nên tìm chiếc đò để qua bến. Biết sức mình như vậy là phải. Nhưng nếu người ấy vừa thấy đò lại nghĩ: “Tui bơi dở quá, chắc tui không được đi đò”, thì cái lý do khiến mình cần chiếc đò lại bị đem ra làm lý do đứng mãi trên bờ. Miệng thì khuyên bà con lên đò, tới phiên mình lại xắn quần đứng đợi tập bơi cho giỏi, coi bộ qua được con sông hay chưa chưa biết, muỗi đã ăn no trước rồi! Tong nói vui để anh thấy chỗ vướng: nhận mình chưa đủ sức tự vượt qua thì càng cần thực lòng nương theo con đường đã chọn.
Đại sư Ngẫu Ích viết trong A Di Đà Kinh Yếu Giải: “Được vãng sanh hay không hoàn toàn là do có tín, nguyện hay không.” Ngài đồng thời đặt việc trì danh ngay trong tông chỉ tu hành, và giải thích sự sâu cạn của trì danh liên hệ đến phẩm vị. Vì vậy, đọc lời ấy phải giữ đủ cả lòng tin, nguyện cầu sanh và sự niệm Phật. Anh có thể yên lòng nương theo lời dạy ấy mà chăm tu, không cần chờ tới khi thấy mình giỏi mới cho phép mình phát nguyện. Số năm hành trì đáng quý ở sự bền lòng, còn việc tu hôm nay vẫn là thật lòng tin nhận, thật lòng muốn về và tiếp tục thực hành.
Anh cũng có thể đọc lại phần hạ phẩm hạ sanh trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Kinh nói đến người từng tạo nghiệp rất nặng, lúc lâm chung gặp thiện tri thức hướng dẫn, chí tâm xưng danh Phật và được vãng sanh. Người ấy đã có một quá khứ đầy lỗi lầm, nhưng vẫn có sự chuyển hướng khi gặp lời chỉ dạy. Từ đoạn kinh này, Tong thấy mình không thể chỉ dựa vào những lỗi đã mắc để kết luận rằng một người vĩnh viễn không còn đường quay về.
Cũng chính kinh ấy dạy người cầu sanh Cực Lạc tu ba phước, trong đó có hiếu dưỡng cha mẹ, kính thầy, có lòng từ, giữ giới và tin sâu nhân quả. Bởi vậy, nương Phật đi cùng với sự tu sửa ngay trong đời sống. Tong mong anh giữ điều này thật kỹ: mình có lỗi thì nhận, làm ai buồn thì tìm cách sửa, thấy điều bất thiện thì tập dừng. Lòng tin giúp mình đủ sức làm những việc ấy, thay vì cứ ngồi buồn rồi nghĩ mình hết phương cứu chữa.
Thí dụ, vừa nổi nóng với người nhà, anh hãy lo việc gần nhất trước: dừng câu nói đang làm người ta đau. Nếu còn nóng quá thì xin tạm ngưng cuộc nói chuyện, để mình lắng xuống, niệm Phật nhẹ nhàng cho tâm có chỗ trở về. Khi bình tĩnh, anh nói rõ: “Hồi nãy tôi nóng, tôi nói lời đó không phải, cho tôi xin lỗi.” Nếu đã gây thiệt hại gì thì cố gắng khắc phục điều ấy. Có khi một lời xin lỗi chân thành rất khó nói, bởi cái tự ái cứ chặn ngang cổ họng; nhưng chính lúc chịu nói được là mình đang tập sửa cái sân bằng việc cụ thể. Đừng chỉ lo cơn nóng ấy ảnh hưởng đến chuyện vãng sanh của mình ra sao mà quên người trước mặt vừa bị mình làm buồn.
Rồi anh xem kỹ mình thường nổi nóng ở chỗ nào. Có phải cứ bị góp ý là nghĩ người ta coi thường mình? Có phải muốn con cháu làm đúng ý mình nên nói mãi thành gắt? Biết được chỗ hay vấp thì lần sau tập dừng sớm hơn một chút. Tong nói thiệt, ăn đậu hũ mềm quanh năm cũng chưa chắc lời nói tự nhiên mềm theo; cái miệng vẫn cần mình chịu khó coi chừng! Mình sửa từ những chỗ nhỏ như vậy, chớ không chỉ đưa ra một lời hứa lớn rằng từ nay tuyệt đối chẳng bao giờ sân nữa, rồi lỡ sân một lần lại thất vọng đến muốn buông xuôi.
Còn nỗi lo lúc niệm Phật, anh đừng làm nó sinh thêm một vòng lo nữa: “Tôi đang sợ, vậy chắc tôi không có tín tâm; mà không có tín tâm thì tôi lại càng phải sợ.” Cứ xoay như vậy, tội nghiệp mình lắm. Một ý nghĩ sợ hãi vừa khởi lên chưa đủ để anh kết luận rằng toàn bộ lòng tin và chí nguyện của mình đã mất. Anh có thể nhận biết rất thật: “Lúc này tôi đang bất an.” Rồi trở lại câu Phật hiệu, trở lại điều mình đã hiểu, điều chưa rõ thì hỏi một vị thầy có sự tu học vững vàng. Mình đang học cách tin cho sâu hơn, nên lúc còn vướng thì tìm lời giải, không cần vì còn vướng mà tự mắng mình.
Tong đề nghị anh thử phân biệt cảm giác trong một buổi niệm Phật với hướng đi mình đang giữ. Có hôm niệm êm, lòng nhẹ; có hôm chuyện nhà chen vào, niệm hoài vẫn thấy lăng xăng. Những điều ấy giúp anh biết tình trạng hiện tại để điều chỉnh cách hành trì, nhưng đừng vội lấy chúng làm lời phán cuối cùng về mình. Hôm niệm được yên thì cảm ơn nhân duyên thuận lợi và tiếp tục giữ gìn. Hôm tâm chưa yên thì nhẫn nại quay về từng câu. Nếu cứ niệm vài tiếng lại ghé vào lòng hỏi “Đủ tin chưa? Đủ sạch chưa? Được về chưa?”, anh sẽ mệt vì tự xét mình liên tục, khó dành trọn sự chú ý cho câu đang niệm.
Khi ý nghĩ “người như tôi chắc không được đâu” trở lại, anh có thể dùng một lời nguyện ngắn do chính mình thành tâm thưa, chẳng hạn: “Bạch Phật, con biết mình còn nhiều tập khí. Con xin nhận lỗi và tập sửa. Con tin lời Phật dạy, nguyện sanh về Cực Lạc, xin nương nguyện lực của Ngài mà bền lòng niệm Phật.” Đây là lời Tong gợi ý để anh tự nhắc mình, anh cứ dùng lời nào hợp với lòng anh. Thưa xong thì trở lại niệm, đừng đứng mãi ở chỗ kiểm tra xem mình đã cảm thấy hoàn toàn yên tâm hay chưa.
Anh cứ giữ thời khóa vừa sức, đều đặn, khi niệm cố gắng rõ câu, nghe rõ tiếng mình niệm. Ngoài thời khóa, gặp việc thì tập đem điều đã học ra dùng: nhường được một lời, bớt được một câu trách, chịu nhận một lỗi, giúp được ai thì giúp. Nếu muốn nhìn lại sự tu tập, anh có thể nhìn những thay đổi cụ thể ấy. Trước đây giận kéo dài cả ngày, bây giờ biết dừng sớm hơn; trước đây luôn đổ lỗi, bây giờ có lúc nhận ra phần sai của mình. Những chuyển biến như vậy đáng được ghi nhận để mình tiếp tục cố gắng, không phải để khoe rằng mình đã chứng được điều gì.
Riêng chuyện sợ tự cao về công phu, anh có thể giữ một thái độ rất ngay thẳng: làm được chút gì tốt thì trân trọng, nhưng nhớ mình còn nhiều điều phải học, còn nhờ lời kinh, lời thầy và sự nâng đỡ của bao người. Tin mình có thể nương theo lời Phật dạy không đòi anh phải nhận mình là người tu giỏi. Anh vẫn có thể nói: “Tôi còn vụng, còn lỗi, nhưng tôi đang chịu sửa và tôi không muốn bỏ con đường này.” Câu ấy vừa có sự khiêm nhường, vừa có sức đứng dậy.
Với những người anh thường khuyên niệm Phật, anh cũng có thể chia sẻ bằng chính sự chân thật ấy: “Tôi còn tham sân nên tôi hiểu việc tu sửa khó ra sao. Tôi nương lời Phật dạy mà tập từng ngày, thấy con đường này quý nên muốn cùng anh chị đi.” Anh đâu cần đóng vai người đã hết phiền não mới được chia sẻ điều lành. Điều cần giữ là nói đúng chỗ mình hiểu, chỗ chưa biết thì nhận chưa biết, và chịu thực hành điều mình khuyên người khác. Khi ấy, anh cũng đang đặt mình trong hàng những người cùng học, cùng tu, cùng mong được tiếp độ.
Anh Minh Tịnh thân mến, Tong mong sau mỗi lần thấy lỗi, anh có thêm một việc để sửa và thêm một lần quay về câu niệm Phật. Đừng bắt cả mười sáu năm hành trì phải ra đứng chịu phán xét vì một buổi mình làm chưa tốt. Việc sai hôm nay cần được nhận và sửa ngay hôm nay; lòng hướng về Phật cũng có thể được nuôi lại ngay hôm nay. Anh thử giữ lời tự nhắc này trong lòng: “Con biết mình còn yếu nên con chịu sửa; con tin nguyện lực Phật nên con không bỏ cuộc.” Khi khuyên người khác cùng về Cực Lạc, anh nhớ cho chính mình được cùng bước nữa nghen. Nam mô A Di Đà Phật.