Đường Về Cõi Tịnh - Con đường tắt 1 đời thoát ly sanh tử

Công Ơn Cha Mẹ

Công Ơn Cha MẹCó một cô bé vì làm quấy nên bị mẹ quở mắng, cô cãi lại mẹ rồi tức giận bỏ nhà ra đi. Cô đi lang thang từ sáng đến tối mà chẳng biết về đâu, bụng đói meo vì không có gì bỏ vào cả, trong túi của cô cũng chẳng có tiền.

Đến gần tối mà cô bé vẫn còn lang thang trên phố. Nhìn vào nhà ở hai bên vệ đường, thấy mọi người quây quần bên bữa cơm tối, tiếng cười nói vui vẻ khiến cho cô càng buồn bã thêm. Bữa cơm gia đình đủ mặt những người thân thật ấm cúng biết chừng nào. Giá như không bỏ nhà ra đi thì giờ này cô đang ngồi ăn tối ở nhà cùng ba mẹ và anh chị em. Nghĩ đến đây cô bật khóc.

Cô bé đi ngang qua một xe mì gõ, nghe mùi thơm phưng phức, bụng cô càng đói cồn cào, chân đang bước bỗng chùn lại. Bác bán mì thấy cô bé mặt mũi tèm lem đứng trước xe mì trông có vẻ đang thèm thuồng lắm. Bác gọi cô lại và hỏi:

– Cháu muốn ăn mì phải không?

Cô bé e dè đáp:

– Vâng, cháu đang đói lắm. Nhưng cháu không có tiền.

Bác bán mì tỏ ra thông cảm:

– Không sao đâu. Bác đãi cháu, cháu hãy vào ngồi đi.

Bụng đang đói, cô bé bưng tô mì ăn ngấu nghiến một cách ngon lành. Ăn xong, cô đứng lên cúi đầu chào bác bán mì và nói lời cảm ơn. Không kiềm được xúc động, cô bé khóc tức tưởi:

– Cháu cảm ơn bác! Bác thật là một người tốt. Bác với cháu không quen biết mà bác lại đối xử với cháu tốt như thế, chẳng như mẹ cháu là người thân của cháu mà lại không thương cháu.

Bác bán mì xoa đầu cô bé nói:

– Cháu không nên nói như thế. Bác chỉ cho cháu một tô mì thôi mà cháu đã cảm kích đến như vậy, trong khi đó mẹ cháu đã cho cháu cả cuộc đời mà cháu không biết ơn của mẹ. Mẹ đã sinh ra cháu, nuôi dưỡng và dạy dỗ cháu, công lao ấy to lớn biết chừng nào, vậy mà chỉ vì một lúc dỗi hờn cháu đã bỏ mẹ mà đi.

Nghe đến đây cô bé bật khóc nức nở:

– Cháu thật vô tâm! Cháu có lỗi với mẹ nhiều lắm.

Cô bé nghĩ, chắc mẹ đang tìm kiếm cô khắp nơi, không gặp cô chắc mẹ lo lắng lắm. Cô vội chào bác bán mì và chạy mau về nhà để nói với mẹ lời xin lỗi.

Về đến nhà, cô đã thấy mẹ đứng trước cổng chờ cô. Vừa trông thấy con, bà hết sức mừng rỡ chạy đến ôm cô vào lòng và khóc:

– Từ sáng đến giờ con đi đâu để mẹ tìm khắp nơi mà không gặp. Con có biết mẹ lo lắng lắm không?

Cô bé òa lên khóc và nói lời xin lỗi mẹ:

– Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ! Từ nay con sẽ vâng lời mẹ. (Kể theo Cửa sổ tâm hồn)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ:

Cha mẹ là người có công ơn to lớn đối với chúng ta, là người gần gũi, thân thiết và yêu thương chúng ta hơn ai hết. Cha mẹ đã sinh thành, nuôi khôn lớn và dạy dỗ chúng ta nên người, biết bao công lao khó nhọc không thể kể hết. Nếu không có cha mẹ làm sao chúng ta có mặt trên cuộc đời này.

Thế mà vì những giận hờn nông nổi, có người đã phủi ơn cha mẹ một cách mau chóng, hoặc vì chạy theo bóng sắc, tiền tài mà lắm người quên bỏ cha mẹ của mình. Không ít những đứa con chỉ vì không được cha mẹ chìu lòng hoặc bị cha mẹ rầy la quở trách mà tự vẫn hay bỏ nhà đi hoang, ôm niềm oán hận cha mẹ. Không ít những đứa con vô tâm chỉ biết làm cho cha mẹ lo lắng, buồn khổ bằng những hành vi sai trái như lười biếng học hành, tập tành ăn chơi hưởng thụ, sống đua đòi theo chúng bạn… Nhưng dù con ngoan hay hư hỏng thì cha mẹ vẫn dành cho con sự bao dung và thương yêu vô bờ.

Khi có ai đó dành cho ta tình cảm tốt đẹp hoặc giúp đỡ ta điều gì, ta hết sức cảm kích và tỏ lòng biết ơn. Nhưng công ơn cha mẹ đối với ta như trời cao biển rộng thì ta lại không để ý. Mấy ai tự xét lại mình đã làm được những gì để đáp đền công ơn cha mẹ. Mình đã làm gì cho cha mẹ được vui? Mình đã làm gì để cha mẹ tự hào? Mình đã quan tâm chăm sóc cha mẹ chu đáo về đời sống vật chất lẫn tinh thần hay chưa?

Chỉ khi làm cha mẹ, chúng ta mới hiểu hết tình thương yêu và những vất vả nhọc nhằn của cha mẹ. Cho nên Đức Phật dạy, muốn báo hiếu cho cha mẹ đầy đủ và ý nghĩa nhất thì ngoài việc kính yêu, hết lòng chăm lo phụng dưỡng cha mẹ, chúng ta cần phải biết hướng cha mẹ làm điều lành, kính tin Tam bảo, tu tập Chánh pháp để tạo an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, có như thế mới mong đáp đền công ơn cha mẹ.

Phan Minh Đức

Tôi Là Phật Tử

Tôi Là Phật TửQuê hương tôi nằm trên vùng biển xanh cát trắng Nha Trang. Từ nhỏ, mấy chị em tôi đã được mẹ đưa về chùa làm lễ quy y, trở thành Phật tử.

Chúng tôi thường được mẹ dẫn đi chùa, mẹ khuyến khích mấy chị em tôi ai học thuộc kinh Bát Nhã, chú Đại Bi thì sẽ có thưởng. Thằng em thứ ba của tôi rất thông minh, học giỏi nên chỉ trong ba ngày, nó đã thuộc và “trả bài’’ vanh vách. Còn tôi thì ì ạch lắm mới thuộc được kinh Bát Nhã. Với chú Đại Bi thì ôi thôi, chữ nào vô được trong đầu thì ngày sau nó cũng tìm đường chui ra. Tôi chẳng có hứng thú gì với những dòng chữ Phạn khô khan, khó hiểu ấy cả. Thế rồi tôi bỏ luôn không học nữa.

Ba tôi thường dạy cho chúng tôi hát những ca khúc Phật giáo. Tôi còn nhớ một số bài hát mà mấy cha con đã từng hát thật say sưa. Có lẽ đây là quãng thời gian êm đềm, hạnh phúc nhất của cuộc đời tôi.

Sau năm 1975, ba tôi rời thành phố Nha Trang khăn gói lên đường đi kinh tế mới. Thấm thía lẽ vô thường, sự thăng trầm của cuộc đời, cùng với những hiểu biết giáo pháp của Đức Phật, ba phát tâm ăn chay trường, sống thiểu dục tri túc, thực hành hạnh từ bi nhẫn nhục… cho đến tận bây giờ.

Mẹ con chúng tôi ở nhà, giữa cái thời bao cấp đầy khốn khó, tiền lương của mẹ không đủ sống nên một mình mẹ xoay xở đủ cách để nuôi bốn đứa con. Tôi cũng tìm cách đi bỏ kẹo, thắt lá buông phụ giúp gia đình… Chị em chúng tôi cũng dần dần lớn lên dưới đôi tay yếu ớt nhưng tràn đầy tình yêu thương và nghị lực của mẹ.

Học xong 12, tôi thi vào sư phạm. Ra trường, đi dạy xa nhà rồi lập gia đình. Chồng tôi cũng là giáo viên. Hai đứa con lần lượt ra đời. Vâng lời mẹ, tôi có thỉnh tượng Bồ tát Quan Âm về thờ và thắp hương hàng đêm. Nhưng thực ra, trong tôi chỉ có một niềm tin mù mờ, xa vời. Làm giấy tờ hoặc kê khai lý lịch viên chức ở mục tôn giáo, tôi luôn luôn ghi chữ “không’’. Tôi luôn cảm thấy bất an, lo sợ người ta biết nhà tôi thờ Phật, vì bấy giờ tôn giáo tín ngưỡng gần như bị liệt vào “tiêu cực và mê tín dị đoan”. Cùng với những vất vả thiếu thốn, phải hơn thua, giành giựt với đời để mưu sinh làm cho tôi càng ngày càng xa rời mái nhà tâm linh Phật giáo…

Trong vòng xoáy hơn thua của cuộc đời, đôi khi tôi cảm thấy nghẹt thở, mỏi mệt và kiệt sức. Nhiều lần, nhìn tôi vô minh khổ đau tranh chấp với đời, ba tôi đem giáo pháp của Đức Phật ra giáo hóa, mong tôi sớm thức tỉnh để tu hành nhằm chuyển hóa khổ đau. Nhưng vì lưới vô minh và lòng tham lam, đố kỵ bao phủ nên những gì ba nói đều làm tôi khó chịu. Khi ba tôi giảng: “Mọi khổ đau hay hạnh phúc trên thế gian này đều là giả’’, tôi phản ứng liền. Tôi cho rằng ba sống không thực tế, những điều ba nói là viễn vông, không thực trong xã hội đầy bon chen hiện nay.

Nghe tôi nói, ba buồn vì biết tôi còn quá vô mình và nhiều ngộ nhận. Ba dỗ dành: “Nếu con quá bận rộn thì hãy chọn một pháp môn phù hợp với hoàn cảnh bận rộn, đó là pháp môn Tịnh độ. Đây là con đường hay nhất để giúp con giải thoát”. Sau đó, ba đưa cho tôi quyển kinh Vô Lượng Thọ và sách Tây Phương Du Ký. Tôi về xem qua rồi… cất luôn vào tủ, chẳng mảy may ngoái nhìn. Tôi thấy những điều này sao quá hoang đường, vu vơ, không thật, giống như truyện cổ tích. Và tôi vẫn tiếp tục lao theo dòng xoáy vô minh tham đắm với đời .

Thỉnh thoảng, tôi cũng có đi chùa cầu nguyện gia đình bình an, con cái học giỏi, phát lộc phát tài. Dù chưa thật sự có niềm tin vào Phật pháp nhưng vì lòng tham, lo sợ mất phước nên tôi cứ làm cho chắc, biết đâu được Phật linh thiêng độ trì cho gia đình.

Tôi phung phí hơn nửa đời người vào những cuộc ăn chơi, giành giật, bon chen, ích kỷ, thị phi triền miên. Để rồi, hằng đêm, tôi luôn luôn phải thao thức, trăn trở, vật vã vì những cái hơn thua, được mất đầy phù du, ảo vọng. Ngoảnh lại đời mình, một chuỗi dài những nhọc nhằn, khắc khoải, toan tính, lo âu. Lắm lúc tôi tự hỏi: Con người sinh ra để làm gì? Tôi sinh ra để làm gì? Phải chăng là để cùng nhau trải nghiệm, thi thố, thể hiện năng lực đấu tranh sinh tồn? Để rồi mai này, khi sức tàn lực kiệt, con người lại trở về hư vô hay sẽ trôi lăn về đâu? Cuộc đời sao thật là vô nghĩa!

Một “Phật tử’’ như tôi đã sống như vậy đó.

Nhưng rồi, một lần tình cờ tôi đọc được những bài viết trên chuyên mục “Những chuyện kì bí của thế giới tâm linh’’ của tác giả Hoàng Anh Sướng trên báo Thế Giới Mới kể những cuộc tìm mộ liệt sĩ, tìm mộ người thân của các nhà ngoại cảm. À, thì ra đâu phải chỉ có thế giới duy vật là duy nhất hiện hữu quanh ta.

Tôi bắt đầu chịu khó gồng mình đọc quyển sách Sống Chết Bình An của Đại sư Sogyal Tây Tạng do mẹ tôi đưa. Càng đọc tôi càng ngạc nhiên. Tôi đọc lại lần thứ hai rồi lần thứ ba. Tôi tò mò vào mạng kiếm tìm và bắt gặp được trang “Chết và tái sinh’’. Tôi bắt đầu cảm nhận một điều gì đó khác lạ và sự đấu tranh tư tưởng về một thế giới sau cái chết là có thật.

Một lần đi chùa, một cô Phật tử đưa tôi xem tờ báo Tiền Phong nói về trái tim xá lợi của Bồ tát Thích Quảng Đức. Tôi thấy là lạ và ngạc nhiên. Về nhà lên mạng tìm hiểu thêm, tôi khám phá ra những trang web có liên quan, thấy có nhiều điều mà từ trước đến nay tôi chưa hề biết đến. Thế là từ đó, rảnh rỗi giờ nào là tôi lao vào mạng. Tôi say sưa tìm, nghe, đọc trong niềm thích thú đam mê cứ như thể mình tìm được một báu vật linh thiêng giải đáp mọi thắc mắc và hồ nghi trong tâm của mình.

Một hôm, vừa làm việc, vừa mở trang “Thư viện Phật giáo” và nghe cuốn băng “Khuyên người niệm Phật’’ của cư sĩ Diệu Âm. Nghe tới đâu tôi sửng sốt, bàng hoàng tới đó. Tôi bỏ dở mọi công việc, tìm lại cuốn kinh Vô Lượng Thọ và Tây Phương Du Ký đang bị bỏ quên trong tủ. Tôi nghẹn ngào: “Con ngu quá ba ơi’’. Nước mắt tôi chan hòa, ân hận. Hơn nữa đời người thấm đau với đời, giờ tôi mới tỉnh ngộ.

Từ đó, tôi tranh thủ từng giây từng phút nghỉ ngơi hiếm hoi để đắm mình say sưa vào các trang web của chùa Hoằng Pháp, A Di Đà thôn, Pháp âm đạo Phật ngày nay, pháp sư Tịnh Không, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, bác sĩ Quách Huệ Trân, các gương vãng sanh… Tôi đọc nghiến ngấu những cuốn sách Tịnh độ mua từ chùa Long Sơn, các hiệu sách lớn ở Nha Trang như kẻ khát gặp được cơn mưa. Giáo pháp của Đức Phật từ bi, trong sáng, trí tuệ, tích cực, mầu nhiệm biết bao. 48 lời thệ nguyện của Từ Phụ A Di Đà đầy yêu thương, bao la và vĩ đại nhường nào. Lòng tôi nở bừng, lan tỏa một niềm phúc lạc vô bờ. Cái mầm Phật pháp héo hắt trong tôi bắt đầu chuyển mình. Kẻ lạc đường đã tìm được địa chỉ cố hương. Cánh cửa giác ngộ trong tôi đã hé mở.

Tôi bắt đầu “tập’’ niệm Phật, sám hối và cầu nguyện vãng sanh khi bỏ báo thân. Nhưng sao tôi cứ thấy lóng ngóng. Lý thuyết tôi đã tạm thông, nhưng thực hành lại thiếu tự tin, không biết mình hành có đúng không? Hồi giờ đi chùa tôi đâu hề biết đến pháp tu này. Tôi phải tìm thầy thôi. Tôi cố tâm tìm hiểu những ngôi chùa Tịnh độ ở Khánh Hòa và phát hiện được chùa Linh Sơn Pháp Ấn cách nhà tôi 20km. Vào một buổi chiều mưa vần vũ nhưng không có giờ lên lớp, tôi độc hành tìm đến chùa. Mình mẩy ướt nhèm. Tim tôi đập rộn rã khi lần theo dốc đá vào chánh điện. Thật phước duyên và diễm phúc, tôi gặp được thầy trụ trì. Ánh mắt từ ái, nụ cười cởi mở của thầy làm tôi hết sức tự tin. Tôi kể lể, dốc hết nỗi lòng mà tâm sự, mà thắc mắc với thầy. Thầy từ bi điềm đạm khai tâm mở trí, hướng dẫn tôi phương pháp hành trì. Trước khi ra về, thầy tặng cho tôi một số sách và băng đĩa Phật pháp. Tôi run run đón nhận “báu vật’’ thầy ban mà lòng vô cùng sung sướng.

Vài ngày sau, thầy gọi điện cho biết: “Ngày nay là ngày tu, nếu sáng nay bận thì chiều hãy đến chùa tu nửa ngày nghe”. Buổi chiều, tôi hồi hộp đến giảng đường, Phật tử về tu đông quá. Mọi người đang tụng kinh Vô Lượng Thọ. Tôi rón rén tìm chỗ ngồi và cảm xúc lắng nghe. Khi đi kinh hành, bước những bước chân đầu tiên trong tiếng “A Di Đà Phật’’ trầm hùng của đại chúng, tôi đã bật khóc vì sung sướng. Nước mắt tôi rơi lã chã theo từng bước chân. Sau bao năm dãi dầu bước chân trên những con đường vô minh tội lỗi, giờ tôi đã tìm được lối đi đầy ánh sáng. Hai dòng chữ hai bên tôn tượng Phật A Di Đà: “Nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật – Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi” như tiếng chuông cảnh tỉnh dội vào tâm can. Dẫu biết niệm Phật là phải nhất tâm, nhưng tôi không làm chủ được cảm xúc. Đức Từ Phụ ơi! Đứa con lầm đường lạc lối của Ngài nay đã quay về.

Tôi đã phát hiện chân lý và bước chân vào cửa Đạo như vậy đó.

Bây giờ, tôi đã khác trước rất nhiều. Tín – Nguyện – Hạnh tôi gắng giữ và thực hành. Làm theo lời Phật dạy, giữ ngũ giới, hành thập thiện, buông xả những gì cần buông xả, sám hối các lỗi lầm đã mắc phải. Tôi cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vô cùng. Tôi cố gắng từ bỏ ngũ dục đã từng hành hạ, làm khổ tôi và tập sống cuộc sống thiểu dục tri túc như ba tôi đã dùng cả cuộc đời của mình mà thực hành. Tôi cũng đã có một đạo tràng ấm cúng để sinh hoạt và tu tập cùng thầy và các bạn đạo. Tôi đã biết quý từng giây từng phút “sống’’ trong hiện tại, cố gắng sửa đổi thân – khẩu – ý tịnh thanh, tâm luôn hướng về Đức Từ phụ A Di Đà, mong mỏi một ngày nào đó được trở về cố hương.

Giờ đây, mỗi khi làm giấy tờ, kê khai ký lịch, tôi có thể tự hào và hãnh diện viết vào mục tôn giáo: Phật giáo. Mỗi khi mặc bộ đồ lam đi chùa, tôi vô cùng sung sướng, hạnh phúc. Cầm lá cờ Phật giáo ngũ sắc, lá cờ của Bi – Trí – Dũng trong mỗi dịp lễ Phật đản, lòng tôi lâng lâng nhẹ nhàng. Vì một lẽ hết sức giản đơn: Tôi là Phật tử.

Diệu Túy

Người Niệm Phật Không Nên Mong Cầu Thấy Phật

Người Niệm Phật Không Nên Mong Cầu Thấy PhậtKhi nói đến chuyện thấy Phật, có nhiều người đã sơ ý, rất nhiều người đã phạm phải những sơ ý như thế này, là hằng ngày hằng ngày họ nguyện, họ cầu xin A-Di-Đà Phật hiện thân cho họ thấy. Cũng có nhiều người từng đi khoe ra rằng, đã thấy Phật rồi! Thì giờ đây xin nêu ra cái điểm hết sức quan trọng này. Ngài Tịnh Không có nói, nếu mà lòng chúng ta Thành rồi, chúng ta tu hành tốt, cũng có khi A-Di-Đà Phật hiện ra cho ta thấy. Nhưng mà Ngài cũng nói, trong suốt cuộc đời của người đó có thể thấy một lần hay nhiều lắm là hai lần, thì có thể được. Chớ còn, có nhiều người khoe rằng ngày nào cũng thấy A-Di-Đà Phật, tháng tháng đều thấy A-Di-Đà Phật, Ngài nói, có hiện tượng này thì người đó đã bị trở ngại rồi! Xin nhắc nhở cho thật kỹ chỗ này. Tại vì có nhiều người tu không chịu nghiên cứu kỹ! Tu mà cầu cảm ứng nhiều quá, nhiều khi rất dễ sinh ra vấn đề này! Trong đời của Diệu Âm đã từng gặp qua có người bị như vậy…

Ví dụ, có một lần ở tại quê, có một vị kia đã đi tới và khoe với tôi rằng là thường gặp Quán-Thế-Âm Bồ-Tát hiện ra, có gặp luôn cả Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát nữa. Nhưng sau đó… gia đình của vị này đã bị một đại nạn!… Thì xin thưa rằng, đây là điều nhắc nhở chung.

Lời cầu nguyện chính đáng của mình là cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Còn mình nguyện khi lâm chung thấy A-Di-Đà Phật, là để nhắc nhở cho biết, khi mình buông bỏ báo thân này ra đi, tuyệt đối không được đi theo một người nào khác. Chớ đừng nên nghe nói rằng, niệm Phật thì thấy Phật, thành ra ngày ngày cứ nguyện xin A-Di-Đà Phật hiện ra. Đây là điều không tốt! Khi mà nguyện như vậy, thường thường cái vọng tâm của mình nó hiện ra, mà vọng tâm thì cảm ứng với vọng cảnh, và bên cạnh đó cũng xin nhớ cho, chúng ta là hàng phàm phu tục tử, nghiệp chướng sâu nặng, có rất nhiều oan gia trái chủ bám sát theo mình, không bao giờ họ rời mình đâu. Cái món nợ tiền khiên chưa đòi được, họ chưa đành lòng vui vẻ buông bỏ đâu…

Chính vì vậy, nếu những người nào có những cảm ứng tương tự, thì Diệu Âm này xin thành khẩn khuyên rằng, nên Phóng Sanh, Niệm Phật, Tu Hành cho thật nhiều. Làm Thiện, Làm Phước rồi thành tâm ngày ngày hồi hướng công đức cho chư vị oan gia trái chủ và nhận lấy những cái lỗi lầm của mình từ trong nhiều đời nhiều kiếp. Cứ làm như vậy, rất thường xuyên và thành tâm, thì có thể hóa giải những ách nạn này. Chớ đừng nên khi thấy được những cảm ứng đó, lại đi khoe ra rằng mình đã chứng đắc, hay là tu hành giỏi gì đó, thì rất dễ bị chướng ngại mà nhiều khi nặng nề lắm! Và theo như chư Tổ nói, sau cùng nếu cái vọng tâm của mình không kềm chế được, đến một lúc, theo như ngài Ấn Quang nói rằng, chư Phật mười phương xuống đây cứu mình không được! Nhất là ngày nay, những hiện tượng này ta thấy nhan nhản! Thật sự nhan nhản! Tức là có nhiều người đã vỗ ngực tự xưng này, xưng nọ và có người đã khoe ra sự chứng đắc. Chính có người đã tới gặp Diệu Âm và nói như thế này: “Anh Diệu Âm ơi, anh tới thăm sư phụ tôi một chút đi“. Tôi hỏi, Sư Phụ là ai? Thì vị đó tự khoe như vầy: ”Sư Phụ của tôi không phải là người bình thường đâu, mà ở trên cõi trên xuống. Hằng ngày thì Ngài xuống đây thuyết kinh, tối thì Ngài về trên Tây Phương nghỉ“(!)…

Quý vị thấy không! Mà người ta nói rất là chân thành, chớ không phải giả đò đâu à!… Rồi họ nói tiếp: “Tôi xin nói thiệt với anh Diệu Âm nghen… Tôi là người đã vãng sanh rồi nè“(!…). Quý vị nghe đi, “Tôi là người đã Vãng Sanh rồi nè! Hôm nay, nghe anh Diệu Âm về, tôi tới thăm anh… Tôi muốn hỏi thật sự là anh tu hành đã chứng đắc tới đâu rồi, xin nói cho tôi biết”…

Họ nói rất nhiều về chuyện này. Nhiều lắm quý vị ơi! Không thể kể ra hết đâu à! Cách đây cỡ chừng đâu… chắc thời gian cũng rất gần đây, ở trong internet tôi có nhận một cái email viết chữ rất lớn, viết như vầy: “Xin Cứu Nạn!”. Chấm một cái. “Có một đạo tràng đang bị đại nạn, xin anh Diệu Âm cứu nạn!”…

Tôi làm gì có thể đi cứu nạn cho người ta! Đó cũng là một đạo tràng! Mắc cười lắm! Khi tôi đọc đến, tôi không biết làm sao, tôi mới nói: “Vì quá tham chứng đắc thì rất dễ vướng ma sự. Mà tiếc thay, đang gặp ma sự nhưng không hay!”. Tôi viết một câu đại để như vậy rồi gởi lại cho vị đó. Rồi tôi liên lạc về một vị Thầy quen biết để hỏi. Thầy khuyên rằng, hồi giờ anh nói về hộ niệm rất nhiều, nay anh gặp trường hợp này thì tôi khuyên anh nên thông báo vấn nạn này rộng rãi ra, để giúp cho nhiều người ý thức. Nếu người nào lỡ có sơ ý, thì sẽ sửa đổi lại. Nghe khuyên vậy, tôi thấy cũng phải. Tôi mới mở lại email đó, tôi viết thêm một vài chữ nữa, đại khái là: “Tu hành cần phải khiêm nhường, cần phải thành tâm, phải tự thấy mình là hàng hạ căn, hạ cơ. Chớ đừng nên nghĩ rằng mình đã chứng đắc. Người tham chứng đắc thường bị “Ma Sự” (tôi để nguyên như vậy) mà đáng tiếc thay đã bị ma sự mà không biết, thật là tội nghiệp!”. (Hẳn nhiên tôi không nêu danh tánh ai cả). Rồi tôi dùng email đó gởi đi khắp thế giới. Tôi có một cái danh sách, hễ ”Click” một cái thì nó đi khắp thế giới liền, và người kêu tôi để cầu cứu đó thì tôi nói với họ rằng, tôi không có khả năng nào để giải được cái ách nạn này, nhưng mà… Anh… đã kêu tôi cầu cứu thì bây giờ chính Anh là người giải nạn… Mau mau làm như vầy… như vầy… đi. Tôi khuyên Anh về, lấy tình gia tộc gì đó, mau mau điện thoại về hay trực tiếp về để cảnh cáo người nhà, hoặc mời người nhà đi chơi xa để giải quyết tình trạng này đi, chứ ngoài ra không ai có thể cứu được nữa đâu. Thì cũng thật là may mắn, đâu khoảng hơn một tuần sau, vị đó đã điện thoại tới nói rằng, bây giờ đã giải quyết được rồi…

Chư vị biết không? Thật sự mình cần phải biết tự cảnh tỉnh… Có một người dám tự xưng rằng mình là A-Di-Đà Phật… Quán-Âm cũng không chịu đâu ạ! Đại-Thế-Chí cũng không chịu đâu ạ! Và tuyên bố rằng, nếu mà ai theo tôi thì đảm bảo rằng: người này thì 3 tháng, người này thì 2 tháng, người nọ thì 4 tháng, người thì 2 tuần… sẽ được chứng đắc hết! Sẽ được ”Niệm Phật Tam Muội hết!”… Có lẽ đã lóe ra cái gì đó, đến nỗi cả một cái đạo tràng đều ùa theo!…

Cho nên, đây là một chuyện mà chúng ta nhắc nhở cho nhau: Không có cái tình trạng đó đâu! Chúng ta phải biết thành tâm, tin tưởng. Theo như Ngài Tịnh Không nói, khi chúng ta thành tâm thì cảm ứng được với A-Di-Đà Phật và chính cái lòng chí thành, chí kính này mà cảm ứng với A-Di-Đà Phật, đây là lời nói của Tổ Ấn Quang. Ngài Tịnh Không cũng nói rõ rệt là phải thành tâm, chí thành, chí kính niệm Phật cầu vãng sanh, nhờ chính cái lòng thành tâm này mà cảm ứng được với A-Di-Đà Phật. Rồi khi mình ra đi, A-Di-Đà Phật sẽ hóa hiện thân ra để mà cứu mình về Tây Phương Cực Lạc. Khi A-Di-Đà Phật hiện ra thì mình cứ đi theo Ngài, chứ không phải Ngài cứu độ như cách… đi khắp nơi… còn quảng cáo ra nữa, tự xưng mình là A-Di-Đà Phật đã xuống đây, rồi bảo quý vị niệm Phật rồi theo mình đi vãng sanh đâu.

Nếu chúng ta đã sơ ý, lỡ bị vướng vào những nạn này, thì mau mau xin thành tâm làm việc công đức, phóng sanh v.v… để hồi hướng cho oan gia trái chủ, để gỡ ách nạn ra. Trong vấn đề tu hành, đừng nên quá hiếu kỳ mà dễ gặp phải chướng nạn. Thật sự, khi đã lún sâu vào đó rồi, rất khó cứu ra!

Đây là những lời nói hết sức là thành thực và cụ thể, mong cho tất cả chư vị đồng tu hãy chú ý để chúng ta được an lành đi về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Cư sĩ Diệu Âm (Minh Trí)

Hạnh Tu Tịnh Độ: Chánh và Phụ

Hạnh Tu Tịnh Độ Chánh và PhụTrong thời mạt pháp này, người con Phật muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi chỉ có con đường tắt là tu Tịnh độ, nương theo Phật lực ‘đới nghiệp vãng sanh’, chỉ cố gắng niệm một câu A Di Đà Phật sao cho thuần thục. Công đức danh hiệu rất lớn, vi diệu không thể nghĩ bàn :

“Niệm Phật một niệm phước sanh vô lượng
Lễ Phật một lễ tội diệt hà sa”

Là một phật tử học Phật, tìm ra được pháp môn hợp với căn cơ, tin theo và thực hành, lập định khóa công phu tụng kinh, niệm Phật hàng ngày nhằm tránh lười biếng, giải đãi thì con đường giải thoát khỏi luân hồi sinh tử mới được mở rộng.

Ngày nay chứng kiến được rất nhiều quý vị Phật tử làm từ thiện. Mọi người trong xã hội hiện giờ tham gia làm việc thiện rất nhiều như xây nhà tình nghĩa, xây dựng cầu đường, trường học, bệnh viện, nuôi trẻ em cô nhi, tài trợ học bổng, hỗ trợ bệnh nhân nghèo, giúp dân xóa đói giảm nghèo hoặc làm các việc Phật sự như phóng sanh, đi cúng dường các chùa, in kinh sách, ấn tống đĩa …. và dành cả đời để làm việc đó.
Từ thiện là việc làm lành xuất phát từ tâm từ đáng khuyến khích. Tuy nhiên, chúng ta cần xác định rõ là giúp người hay làm từ thiện, làm Phật sự… là những hạnh phụ để trợ duyên thêm cho niệm Phật. Việc thiện hay Phật sự tùy duyên mà làm nếu như không ảnh hưởng đến công phu tu tập thì làm, còn nếu ảnh hưởng đến việc tu tập thì nên tránh vì cần xác định việc tu hành chú trọng nhất là giải thoát. Tất cả những việc thiện khác đều chỉ là phụ, là trợ duyên cho hạnh chính. Nếu như chúng ta tham thiện, đến lúc nào đó chúng ta bị cuốn hút theo, chạy theo cái phụ mà bỏ quên luôn cái chính. Thiện có quả thiện, nhưng đó cũng chỉ là quả báo Trời, người, vẫn phải chịu luân hồi sanh tử. Có phước báo lớn nhưng chính trong môi trường này rất dễ tạo tội nghiệp.

Chúng ta cứ quan sát rõ thấy người giàu trong thế gian đa phần là hưởng thụ rồi tạo thêm nhiều nghiệp chướng mới. Đến khi hưởng hết phước rồi lại phải sa vào tam ác đạo vậy có oan uổng không? Cho nên hễ xác định tu niệm Phật giải thoát là chính, còn tất cả việc lành khác đều là phụ thì người Phật tử chúng ta đã có định hướng chắc chắn. Việc phụ nếu thuận đủ điều kiện, đủ duyên thì làm, không đủ điều kiện tuyệt đối không làm. Không thuận duyên mà cố gắng quá sức để làm gọi là phan duyên. Phan duyên thì tự chuốc lấy phiền não. Cứ lo chạy theo nó mà bỏ tu tập giải thoát thì lệch đường tu mất rồi. Việc thiện làm xong hồi hướng Tây Phương rồi buông bỏ luôn, tâm sẽ không lưu luyến, không bận lòng dính mắc.

Em gái người viết cũng đã từng tụng kinh niệm Phật hàng ngày, bên cạnh đó cũng đi từ thiện cứu giúp đỡ nhiều người khác. Việc làm này cuốn hút đến độ dần dần em bỏ cả việc tụng kinh niệm Phật để theo đoàn từ thiện đi nhiều ngày trong tháng. Em mất thời gian vì công việc này, lúc nào đầu óc cũng trăn trở lo cho việc từ thiện được đủ tài trợ, được chu toàn. Do đó em trở nên lơ là với tu tập giải thoát. Phải mất một thời gian giải thích, khuyên nhủ em mới bắt đầu lập công phu hàng ngày trở lại.
Kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm 47 có ghi:

“Thân người khó được, Phật khó gặp.
Tín huệ nghe pháp khó trong khó”

Có được thân người, lại gặp ngay pháp môn Tịnh độ này, nhất là quyết niệm Phật cầu vãng sanh Cực lạc mà tin được thì những người con Phật chúng ta đã gieo thiện căn phước đức bao đời bao kiếp, cúng dường biết bao vị Phật mới có được niềm tin Tịnh độ và hành trì.

Vì vậy, kính mong quý vị Phật tử chúng ta ai cũng nhận diện kỹ đâu là chánh hạnh, đâu là phụ để một đời quyết giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Phụ chỉ là trợ duyên cho chánh, hễ thuận thì làm, nghịch thì thôi. Chuyên tu chánh hạnh để hưởng được sự an vui cõi Cực lạc sau khi mãn báo thân này hơn là tập trung tu phụ hạnh hưởng quả báo nhân thiên một lúc rồi sau đó mãi trôi lăn theo vòng sanh tử luân hồi cho đến vạn kiếp không thoát ra nổi.

Diệu Âm Lệ Hiếu

Không Chịu Buông Xả Không Thể Vãng Sanh

Không Chịu Buông Xả Không Thể Vãng SanhThường thường khi hộ niệm có cái phần ”Khai-Thị, Dẫn-Giải“. Điểm chính yếu của khai-thị, dẫn-giải chính là nhắc nhở người bệnh buông cho hết tất cả những gì thế trần xuống, gọi là “Buông xả“. Phải buông cho hết đừng có để bị vướng:

Cái tâm mình mà còn thấy khó chịu cái gì, thì còn vướng cái đó.

Cái tâm mình mà còn ghét việc gì, thì vướng việc đó.

Cái tâm mình mà còn ghét một người nào, thì vướng người đó.

Bất cứ cái gì cũng vậy, hễ ghét cái gì thì vướng cái đó! Lạ lắm! Thường thường có nhiều người nói, là để tới lúc đó rồi tôi sẽ bỏ. Không phải dễ vậy đâu!

Ngài Lý Bỉnh Nam nói rằng, trong cuộc đời chúng ta làm cái gì, thì trước những giây phút chúng ta ra đi, tất cả những cái đó nó hiện lại hết, mà nó hiện càng mạnh nữa. Ví dụ, như mình thấy khó chịu một điều gì thì lúc đó ta có muốn quên, quên cũng không được. Mà thật ra lúc đó dù chúng ta có muốn quên đi, thì oan gia trái chủ cũng tạo cơ hội cho chúng ta nhớ cái chuyện đó. Lạ lắm! Mà chỉ người đó bị nạn, chứ người bên cạnh hay người hộ niệm không biết. Chính vì vậy, hộ niệm là giúp cho nhau buông xả. Phải tập buông xả.

Mấy ngày hôm trước chúng ta nói chuyện về “Người Hiền“. Thực sự là tập thành người hiền. Người hiền là người buông xả. Người ta buông xả vì người ta hiền. Ví dụ, có một sự việc như vậy, người hiền thì người ta vui vẻ, không cần để ý đến, còn người cố chấp thì người ta để trong lòng. Mà để những điều khó chịu trong lòng, thì nó sẽ thành cái chủng tử “Khó Chịu“. Rồi cái chủng tử đó càng ngày nó càng phát triển, nó càng lớn lên, đến khi nằm xuống thì cái chủng tử đó, cái nhân đó, nó hiện ra trong đầu của họ. Chủng tử này có lúc có thể giải được, còn hầu hết thì chịu thua, giải không được!

Chính vì vậy mà phải tập buông xả. Tập tối đa. Ví dụ như mình lỡ gặp điều gì rắc rối, thì theo như Chư Tổ dạy, hãy ráng cố gắng phát tâm niệm Phật liền. Nhớ tới câu A-Di-Đà Phật, nhìn tới câu A-Di-Đà Phật, tự nhiên câu A-Di-Đà Phật nó lấn lần, lấn lần… nó liệng những cái chấp ra. Tập được như vậy, thì đến lúc mình nằm xuống, bắt đầu bịnh là mình lo niệm Phật liền, chứ không lo cái gì khác hết.

Tôi xin kể ra đây một câu chuyện có thực, để rút thêm một chút kinh nghiệm cho cả người hộ niệm và cả cho người vãng sanh luôn. Ở tại Việt Nam có anh đó trong ban hộ niệm, hôm trước anh có điện thoại qua hỏi tôi. Cứ mỗi lần có chuyện khó khăn gì về hộ niệm thì anh liền điện thoại qua hỏi. Nhưng thực ra xét về khả năng, thì Diệu Âm này thầm nghĩ rằng, anh đó có khả năng hộ niệm ngon hơn mình, nhưng tại vì đầu tiên mình chỉ dẫn cho anh hộ niệm, nên bây giờ anh mến lắm… Thì anh ta báo cáo rằng từ đầu năm tới bây giờ, anh hộ niệm được 31 người, 31 ca, thành công được 21 ca, còn lại 10 ca là coi như bị thất bại. Anh nói ngon lắm: “Bây giờ tôi biết rồi anh Diệu Âm ơi, tôi biết người nào vãng sanh, người nào không rồi, chứ không phải thấy mềm mềm là tôi nói vãng sanh đâu”.

Anh ta nói với tôi có vẻ vững vàng lắm, và anh kể lại một câu chuyện, làm cho tôi cũng trực nhớ lại… Câu chuyện đó như thế này, vui lắm!…

Có một Ông đó, nói niệm Phật thì chịu niệm Phật. Bảo phát nguyện vãng sanh thì chịu phát nguyện vãng sanh. Nhưng mà Ông đó nghĩ như thế này nè. Ông nói:

“Như mình ở đây muốn qua nước Mỹ thì mình phải có cái hộ chiếu. Mình ở đây muốn đi qua Singapore thì mình phải có cái hộ chiếu. Mà hộ chiếu thì phải có công an, có nhà nước đóng dấu đàng hoàng. Thế thì, bây giờ nếu mình ở tại nước Việt Nam này mà muốn đi về Tây Phương thì mình cũng phải có “Hộ Chiếu” mới đi được… Vậy bây giờ phải làm sao cho tôi có cái “Hộ Chiếu” đi về Tây Phương đi”.

Ban hộ niệm đã giảng giải cho ông ta rằng không phải vậy đâu. A-Di-Đà Phật dạy là mình nguyện vãng sanh cho đàng hoàng, rồi thành tâm niệm Phật thì tự nhiên được đi. Nhưng ông không chịu tin! Nói gì nói ông cũng không chịu tin. Ông nói: “Không bao giờ có cái chuyện đó!” . Tại vì ông ta là nhà quê mà. Ông nói:

“Đi đâu cũng phải có hộ chiếu… thì bây giờ cách gì đi nữa cũng phải đem ra công an ký giấy cho tôi, để tôi đi…”.

Sau khi hộ niệm cho ông đã ba-bốn tuần rồi mà sao vẫn còn vướng! Lúc nào ông cũng đòi cho được cái hộ chiếu để đi về Tây Phương. Đối với ông hình như chỉ còn vướng một chút này nữa thôi. Người ta hỏi ông:

– Có đem con theo không?

– Không! Tôi không đem con theo.

– Có đem vợ theo không?

– Không! Không đem vợ theo.

– Cái gia tài này có đem theo không?

– Không! Không đem theo cái gì hết.

Ấy thế mà nhất định phải đem cái hộ chiếu theo!…

Ông đòi giấy hộ chiếu đó phải có công an ký vào và A-Di-Đà Phật cũng phải ký vào nữa… Trời ơi! Người ta khuyên gì khuyên, nhưng ông ta cũng không nghe!…

………..

Chấp như vậy đó!… Anh đó mới điện thoại qua hỏi, ”Anh Diệu Âm ơi, làm sao giải quyết giùm tôi” .

Thì lúc đó tôi nói:

“Thôi được rồi, bây giờ anh về nói với ông đó, viết lời nguyện vãng sanh ra: Tôi tên là gì đó, pháp danh là gì đó, ở tại thôn này, bao nhiêu tuổi, hôm nay Tôi phát nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, nhờ A-Di-Đà Phật ấn ký”.

Viết đàng hoàng như vậy, rồi anh bắt ông đó quỳ trước bàn Phật, kêu cả gia đình cùng quỳ sau ông, rồi ban hộ niệm cũng quỳ theo luôn. Bảo ông ta tự khấn nguyện, cầu xin Phật ấn chứng cho con. Rồi mình bảo ông ta để tờ phát nguyện trên bàn thờ. Giảng nghĩa cho ông biết rằng, A-Di-Đà Phật có cách ấn chứng khác, Ngài không ký tên, mà mình để trên bàn thờ rồi khấn nguyện, Ngài sẽ phóng quang ấn chứng vô đó. Như vậy tức là ông đã được ấn chứng. Nhờ như vậy thôi!…

Rồi ông còn hỏi:

– Có chắc không?

– Chắc chứ. Sao mà không chắc được.

Ổng viết đàng hoàng, viết tên… tuổi… họ hàng… ở tại xã nào, thôn nào… như vậy đó để lên, rồi mới nguyện. Ông ta nguyện như vầy:

– Nam Mô Di Đà Phật, hôm nay con xin để “Giấy Hộ Chiếu vãng sanh” nơi đây, con nguyện cầu Phật ấn chứng cho con…

Rồi để trên đó đàng hoàng há, bắt ông đó để lên bàn thờ bảy ngày để cầu xin… (Mình phải làm cho có vẻ quan trọng và kiểu cách một chút…). Có như vậy mà sau đó ông ta mới yên lòng. Bây giờ ông phải giữ cho cẩn thận tờ giấy này nghen, đây tờ hộ chiếu có Phật ấn chứng rồi đó. Nhờ cái tờ giấy đó… mà ông an lòng không hỏi nữa. Và sau đó, nghe nói ông cũng được vãng sanh, vãng sanh cũng ngon lành lắm…

Câu chuyện này kể ra giống như một chuyện tiếu lâm, nhưng có thật như vậy. Cả cái ban hộ niệm đó không biết cách nào mà giải quyết, khuyên gì khuyên ông vẫn nói nhất định là đi đâu cũng phải có tờ giấy, phải chứng nhận đàng hoàng, ấn chứng đàng hoàng mới được. Đây cũng là một câu chuyện vừa vui mà vừa có thực…

Chuyện này thật ra chỉ vì thói quen. Cái thói quen trong cái tâm, nó nhập sâu vào tâm hồi nào không hay, đến nỗi khi đi về Tây Phương cũng nghĩ rằng phải có như vậy mới đúng… Tất cả chính là cái chấp của người đó!

Nếu một người tu hành muốn về Tây Phương, mà giả sử như chúng ta còn mắc kẹt cái chỗ nào, ví dụ như ghét một người nào đó, xin thưa thực, Diệu Âm thường đi nói chuyện về hộ niệm, có nói: Ví dụ như, quý vị mà ghét cái màu đen: “Đời tôi ghét nhất là màu đen“… cũng không được nữa, đừng nói chi là ghét người! Tại vì khi mình ghét màu đen, thì nhiều khi lúc lâm chung, người ta mở đèn sáng trưng à, người ta còn sơn cái nhà trắng hết à, mà oan gia trái chủ tới họ phù phép hay sao đó không biết làm cho đen thui à! Nhìn thấy màu đen, mình ghét vô cùng ghét! Mình bị vướng liền. Chính vì cái vướng này mà làm cho tâm hồn của họ điên đảo, không cách nào niệm Phật được. Cũng giống như ông Cụ đó muốn về Tây Phương, vợ không đem theo, nhà cũng không đem theo, con cái cũng không đem theo, tiền bạc không đem theo, mà quyết định là phải đem miếng giấy theo. Tại vì miếng giấy đó là giấy có ấn chứng đàng hoàng có ký đàng hoàng!

Thấy không? Nếu mình cứ nói: “Bác buông xả đi, bác buông xả đi”. Nói hoài không bao giờ ông cụ đó buông xả. Nhưng làm một cái trò giống như trò xiệc vậy, trò gạt vậy thì ông ta lại chịu nghe. Đây gọi là “Thiện xảo phương tiện”.

Cho nên đây cũng là một cái kinh nghiệm rất hay để khi đi hộ niệm, muốn khuyên người ta buông xả, nhiều lúc mình cũng bày cái phương tiện nào đó thì người ta mới buông xả. Và nói như vậy thì bây giờ chúng ta hãy biết tập buông xả trước, buông xả cho trụi lủi. Hòa Thượng nói, phải buông xả trụi lủi trụi lui thì quý vị mới dễ dàng an nhiên tự tại vãng sanh. Nếu mà buông xả nhiều thật nhiều, còn lại chút chút nào đó thì những vị hộ niệm mới khuyên mình bỏ được, chứ nếu mình buông xả ít quá, tức là chấp nhiều quá, sau cùng nó vướng… nó vướng tới… tới… tới kỳ cùng luôn!

Mình nhớ là trong cái lá thư của ngài Ấn Quang, có một người niệm Phật 25 năm trường, ngày nào cũng công khóa đàng hoàng, nhưng mà sau cùng rồi…. thì Ngài nói, “Không vãng sanh “. Nhìn hiện tượng xảy ra, Ngài nói, ”Không Vãng Sanh!”… Hỏi Ngài, ông này được vãng sanh về Tây Phương chứ? Ngài nói, không! Như vậy, niệm Phật lâu năm rồi, chắc có lẽ cũng được về tam thiện đạo chứ? Ngài nói, “Không!” luôn! Dễ sợ như vậy! Đây là do tình chấp mà bị kéo lại. Bên cạnh đó, mình phải hiểu rằng oan gia trái chủ sẽ lợi dụng cơ hội đó mà phá mất cơ hội vãng sanh của mình.

Đây là kinh nghiệm! Chúng ta hãy cố gắng quyết lòng. Tất cả chúng ta ai ai cũng sẵn sàng chuẩn bị đi về Tây Phương. Đi về Tây Phương sướng quá, chấp ở đây làm gì mà chúng ta bị nạn. Thật sự oan uổng!

Cho nên tu hành là biết buông xả. Chúng ta phải thực hiện những bước này cho được thì sau cùng sẽ rất dễ dàng vãng vanh về Tây Phương để thành đạo.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Cư sĩ Diệu Âm (Minh Trị)

Cảnh Giới Của Người Bệnh Gần Sắp Lâm Chung

Cảnh Giới Của Người Bệnh Gần Sắp Lâm ChungTrong đời chúng ta làm gì thì sau cùng đến giờ phút trước khi xả bỏ báo thân, những hành nghiệp đó lần lượt hiện lại trong tâm chúng ta hết. Những ngày giờ trước khi xả bỏ báo thân, nghiệp ác hiện ra, nghiệp lành hiện ra. Có lúc tâm ta giống như một vị Thánh, tại vì có lúc chúng ta hiền như một vị Phật, cũng hiện ra. Có lúc chúng ta dữ, người ta nói dữ như quỷ, cũng hiện ra luôn. Chư Tổ nói, lúc đó giống như một cuộn phim, nó quay những hành nghiệp. Nghiệp của chúng ta đều có thể hiện lại hết. Vì một đời tạo tác rất nhiều, mà nó dồn lại chỉ trong những ngày tháng cuối cùng, làm cho cái tâm của người ra đi thường bị loạn, bị mê, bị rối lên, người ta không còn tỉnh táo được nữa. Cho nên, một người trước những giờ phút lâm chung mà ở những chỗ hẻo lánh, hoặc những nơi không có người biết đạo ở bên cạnh để nhắc nhở, thì thật sự là tội nghiệp cho họ! Nghiệp chướng tiếp tục hiện ra: lúc hiền, lúc dữ, lúc ma, lúc Phật, lúc ác, lúc thánh thiện… nó quần cái tâm đến điên đảo! Sau cùng họ đành phải xuôi tay đi theo nghiệp nào lớn nhất.

Trong thời mạt pháp này nghiệp ác, nghiệp tam đồ của chúng sanh lớn nhất, nên thường thường khi họ ra đi nếu không bị địa ngục thì cũng vướng nạn ngạ quỷ, không vướng nạn ngạ quỷ thì cũng vướng phải cái hàng bàng sanh. Thật sự là tội nghiệp cho chúng sanh trong thời này! Nếu trong trường hợp đó mà có người biết hộ niệm đến, thì thường thường họ hóa giải được rất nhiều những ách nạn cho người bệnh, vì người biết hộ niệm họ đã biết trước những hiện tượng này. Thường khi khoảng 2-3 tháng trước khi xả bỏ báo thân, hầu hết những người lâm chung đã có những hiện tượng này mà hầu như gia đình không hay.

Ngày hôm qua đang đứng nói chuyện với chư vị, có nhắc tới một người ở Long Khánh. Hôm nay Diệu Âm nhớ lại chuyện này, xin kể cho quý vị nghe.

Bà Cụ đó nằm trên giường bệnh đã hơn một năm rưỡi, không đi được. Con cái thì chỉ biết tu chút chút, kiến thức về hộ niệm rất là yếu. Ở đó cũng có một ban hộ niệm, nhưng họ rất yếu, chưa vững. Khoảng thời gian năm 2003-2004 sự hộ niệm còn rất yếu. Người ta cứ nghe đến hộ niệm thì tới hộ niệm, nhưng không biết làm sao để khai thị, cũng không biết làm sao hóa gỡ những điều khó khăn. Người con của bà Cụ cũng có mời ban hộ niệm. Người hộ niệm tới khuyên bà Cụ niệm Phật, nhưng bà Cụ không nghe. Không những thế, cứ mỗi lần tới niệm Phật thì bà Cụ lại la làng la xóm lên. Bà chửi!…

– Mấy người muốn tôi chết… nên tới niệm Phật cho tôi chết…

Người con để bà Cụ nằm một mình trong một căn nhà rất nhỏ, heo hút. Thường thường đến khoảng nửa đêm thì bà hét la vang làng vang xóm!… Bà la thất kinh hồn vía!… Những người con tưởng bà Cụ là người khó chịu, thường trách bà Cụ rằng, nghiệp chướng đã sâu nặng, tuổi đã già rồi… mà còn khó chịu, không chịu nằm im! Vì rõ ràng, mỗi lần tới hộ niệm bà đều la, người hộ niệm về rồi bà cũng la, để bà ngủ trong nhà một mình cho yên lặng bà cũng la… Con cái không biết, nên cứ nghĩ rằng bà Cụ quá khó chịu!

Có một dịp Diệu Âm ghé ngang tới đó, thì cô con gái tới nói với tôi, ”Anh Năm ơi! Làm sao tới cứu mẹ em“.

Khi nghe diễn tả cảnh ngộ như vậy… Nghe người con gái nói chuyện, tôi cũng đã hiểu được chút chút, thấy được phần nào rồi. Sau bữa đó Diệu Âm đi tới thăm bà Cụ. Trước khi thăm bà Cụ, Tôi tới nói chuyện với người con gái trước. Tôi nói chuyện với người con gái hơn 2 tiếng đồng hồ và dặn dò người con gái phải làm gì… làm gì… để cho bà Cụ có thể khỏi bị ách nạn đó.

Tôi giảng giải rằng coi chừng nữa đêm bà Cụ la như vậy chưa chắc gì là Cụ khó chịu đâu, mà coi chừng bà Cụ bị khủng hoảng, bị sợ hải! Tại vì thường thường những người trước những năm tháng sắp chết, thì những cái nghiệp, gọi là hành nghiệp, nó hiện về: lúc ác, lúc thiện, lúc đen, lúc trắng, lúc vui, lúc buồn… đủ thứ hết. Bên cạnh đó thì oan gia trái chủ họ thường tùng theo đó mà hù dọa nữa, làm cho bà Cụ hoảng kinh hồn vía, thất đởm kinh hồn!

Những người không có kiến thức về hộ niệm thường thường bị vướng nạn này: nạn hãi kinh, hoảng sợ!… Hoảng sợ đến nỗi khi tắt hơi rồi thì tay chân thường co rút lại, và khoảng chừng một tiếng đồng hồ sau thì tái xanh liền, trông người đó thấy dễ sợ lắm! Khuôn mặt của họ trông vào không thể nào an lành được! Dù có vuốt có xoa gì đi nữa cũng không có thể tự nhiên được và thân xác sẽ cứng đơ liền!

Còn trong trường hợp đó nếu gặp được những người biết hộ niệm tới khai giải, giúp đỡ, gỡ rối những chuyện đó, thì tự nhiên họ an lòng.

Ví dụ như ngày thứ bảy này mình đi hộ niệm cho ông Cụ. Thật ra ông Cụ này đâu có gì đâu mà phải hộ niệm? Ông Cụ còn tỉnh queo mà… còn ngồi nói chuyện được mà… Nhưng thực ra những buổi hộ niệm này mới đúng thực sự là hộ niệm. Phải dẫn giải cho họ, giải quyết cho họ, giải lần giải lần, mỗi bữa giải một chút. Sau 2-3 bữa thì bắt đầu nói những chuyện này ra, để cho người ta chuẩn bị. Chuẩn bị cái gì? Ví dụ như nửa đêm mà thấy có những hiện tượng giống như là ác mộng xảy ra, thì nói với người con tới cầm tay người Cha, an ủi người Cha và nói:

“Cha yên lòng đi, con đang hộ niệm cho Cha đây, con niệm Phật cho Cha đây”.

Và nhắc nhở cho người đó biết là:

“Nếu mà Cha, nếu mà Mẹ quyết lòng thành tâm niệm Phật thì thường có 25 vị Bồ-Tát bảo vệ cho Mẹ, thường có chư Thiên-Long Hộ-Pháp bảo vệ cho Mẹ…”.

Khi người đó vững lòng tin như vậy, khi đã phát tâm chân thành niệm Phật, thì dù người ta ở một mình đi nữa, họ cứ nghĩ rằng bên cạnh họ đang có quang minh của Phật che chở, đang có chư vị Bồ-Tát phóng quang gia trì, đang có chư Thiên-Long Hộ-Pháp bảo vệ, họ thấy rằng không bao giờ bị đơn lẻ một mình, thì tự nhiên họ yên tâm, vững dạ…

Chính người niệm Phật cũng vậy, khi ta quyết lòng niệm Phật, ví dụ nếu nghe người ta nói: Trời ơi!… Tại chỗ đó có “Ma” nhiều lắm! Có ách nạn gì đó ghê lắm! Hiện tượng gì đó ghê lắm! Đối với một người thực sự biết niệm Phật, họ vẫn vững lòng đi qua chỗ đó tỉnh bơ, không sao hết. Nhưng một người không tin vào câu A-Di-Đà Phật, lòng tin chưa vững, tự nhiên họ cảm thấy lo sợ, tâm hồn chập chờn! Đi ngang có con chim, con gì đó… vừa mới rục rịch trong bụi thì hồn vía họ lên mây!… Giật mình ù té bỏ chạy! Tâm hồn hải kinh!… Chính vì vậy, nếu người biết được sự hộ niệm thì cái phước phần này không dễ gì tìm được đâu?

Ở trong bệnh viện tâm thần, khi họ thấy người đó hét la hay là trợn mắt, giật mình, nửa đêm la hét là họ tới chích một mũi thuốc là xong, đơn giản. chích mũi thuốc gì? Mũi thuốc an thần cho ngủ ngon. Cái thân thì ngủ ngon thật đó… Nhưng cái tâm của họ đang chới với trong những cảnh giới hãi hùng mà không ai hay biết!…

Có nhiều người không biết về hộ niệm, cứ tưởng hộ niệm là sự thăm lom! Những người thế gian đến thăm người bệnh, thì:

– Càng thăm người bệnh càng sợ!

– Càng thăm người bệnh càng lo!

– Càng thăm người bệnh càng hãi kinh!

Tại vì sao?… Vì người bệnh đó đang sợ mà người ta còn nói những chuyện sợ cho họ nghe nữa! Người bệnh đó đang buồn không biết lúc chết rồi mình sẽ sao đây!… Người thăm lại buồn, lại khóc, lại gợi lên cảnh não nề sanh tử biệt ly nữa! Tất cả những hiện tượng bất tường đó đổ dồn cho người bệnh, làm cho người bệnh hứng chịu những cảnh đau khổ vô cùng!

Nhìn xem, những người hộ niệm đến thường thường họ làm gì? Ví dụ, như chúng ta đây, là người thân, là người bệnh… nếu đêm đêm hay thấy cái này cái nọ… xin chư vị đừng lo, hãy nhiếp tâm lại niệm Phật, đừng nên sợ hãi gì cả.

Trong cuốn “Khuyên Người Niệm Phật” Diệu Âm nói với “Ông Già” như vầy, nếu nửa đêm Cha gặp cơn ác mộng, Cha gặp ma, gặp quỷ hay cái gì đó… Cha cứ niệm Phật đi, thành tâm chắp tay lại niệm một câu: “Nam Mô A-Di-Đà Phật”, thì tự nhiên những hiện tượng đó sẽ chao đảo. Nếu nó không chao đảo, Cha niệm một tiếng nữa đi: “A… Di… Đà… Phật”… thì nó cũng phải lui, nếu không lui thì 3 tiếng bắt buộc chúng cũng phải lui, vì Cha đã được quang minh của Phật che chở, có chư vị Thiên-Long Hộ-Pháp che chở, có chư vị Bồ-Tát bảo vệ. Vì thế, không sao hết, cứ vững lòng đi.

Thế thì, hộ niệm là gì? Hộ niệm không phải chỉ tới an ủi người bệnh, mà hộ niệm là dạy cho người bệnh biết cách thoát ra những cảnh đó. Rõ ràng chắc chắn như vậy.

Khi chúng ta biết được những vấn đề này rồi, mình cảm thấy sung sướng lắm! Khi ta nằm xuống, dù bệnh chưa có gì là nặng, mới bệnh sơ sơ thôi, thì người hộ niệm đã tới thăm hỏi, người hộ niệm đã tới chỉ dẫn cho chúng ta rồi. Khi nằm mơ màng thấy gì đó… À! Thấy Ông Nội mình về, Cha mình về, hay những người thân đã quá cố… họ cứ về an ủi, chỉ vẽ!… Ta biết liền!… Nếu là người không biết đạo, họ thích hiện tượng này lắm! Thích Cha Mẹ mình về bảo vệ!… Còn người đã niệm Phật, rõ đạo lý, thì hầu như đã biết rồi… Hãy chắp tay lại, niệm:

“Nam Mô A-Di-Đà Phật,
Xin chư vị hãy phát tâm niệm Phật cầu về Tây Phương. Tôi không biết giữa tôi và chư vị có duyên như thế nào? Nếu là duyên lành, thì xin chư vị hãy hộ pháp cho tôi, để chúng ta cùng nhau về Tây Phương thành đạo. Nếu là duyên ác, tôi xin thành tâm sám hối với tất cả chư vị. Tại những lúc mê muội, tôi đã lỡ lầm rồi. Bây giờ tôi quyết lòng niệm Phật cầu về Tây Phương. Tôi về Tây phương rồi tôi quyết sẽ trở về đây cứu độ chư vị. Xin chư vị hãy phát lòng niệm Phật, đừng nên báo hại tôi nữa”.

Mình thành tâm nói như vậy. Còn gì nữa? Người hộ niệm cũng thành tâm giảng cho chư vị biết những điều này. Thường thường nếu mình lo trước, thì những chuyện này chỉ cần một lần, hai lần khấn cầu như vậy là có thể giải tỏa hết. Hay lắm! Và sau đó người bệnh được an nhiên tự tại.

Cho nên khi đã biết rõ được phương pháp hộ niệm này, xin thưa rằng, chúng ta đang ở trên con đường vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chắc rằng sẽ hoàn toàn khác với những người có tu nhưng mà không biết sự hộ niệm!…

Nên nhớ cho, vì tu trong một đời này cái công phu tu hành yếu quá, công đức ít quá so với nghiệp nhân và tội ác mà chúng ta đã gây ra cho chúng sanh trong vô lượng kiếp. Công đức yếu nên không bù đắp được cho họ. Còn tệ hơn nữa, chúng ta tu hành mà nhiều khi quên hồi hướng cho họ. Chính vì lẽ này, mà sau cùng những oán thân trái chủ họ tràn tới bao vây đòi nợ, nghiệp báo bủa vây chung quanh và bắt đầu nó quần… nó quần riết… rồi những cái nghiệp nào lớn nhất, (thường thường là cái nghiệp tam đồ), nó hiển hiện ra… Bên cạnh đó oan gia trái chủ thì tạo cho ta duyên với những cái nhân chủng trong tam đồ, họ kéo chúng ta xuống trong những cảnh giới xấu đó để trả thù.

Biết được những điều này, khi tu hành ta cố gắng tập buông xả cho nhiều để cho tâm của chúng ta đừng vướng tới cái nghiệp của tam đồ, và niệm Phật phải thành tâm, cố gắng lập công khóa niệm Phật nhiều hơn nữa để cho nghiệp chúng ta càng tiêu đi, đem công đức hồi hướng cho pháp giới chúng sanh để cho sau cùng chúng ta được các Ngài thông cảm hộ trì.

Có ban hộ niệm thì chắc rằng chúng ta vững tâm hơn để được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Cư sĩ Diệu Âm (Minh Trị)