Vãng Sinh Quan Yếu

Vãng Sinh Quan YếuTịnh độ là pháp môn rất đặc biệt trong giáo lý Phật Đà. Vì sao? Vì Tịnh độ có ba điều thù thắng mà các pháp môn khác không có:

1- Đúng thời cơ

2- Phổ độ muôn căn (mọi căn cơ)

3- Dễ tu hành, nhưng lợi ích lại không thể nghĩ bàn.

Thật là con đường lý tưởng để ra khỏi sanh, tử. Nhất là cho hàng Phật tử tại gia. Tác phẩm nhỏ này hy vọng rằng sẽ giúp cho người tu niệm Phật nhận ra được chân diện mục của Tịnh độ, từ đó phát khởi tín tâm, hoan hỷ trì niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà và phát nguyện sanh về thế giới Tây phương Tịnh độ của Ngài.

PHẦN 1: VẤN ĐỀ NGƯỜI NIỆM PHẬT LÚC LÂM CHUNG ĐƯỢC VÃNG SINH HAY KHÔNG?

1. Hỏi: Nếu bảo rằng người niệm Phật đều được vãng sinh Tây phương, tại sao tôi thấy có nhiều người xuất gia cũng như tại gia, bình thường cũng hay niệm Phật và nói rằng mong được vãng sinh. Nhưng đến lúc lâm chung, thì chết một cách mơ mơ hồ hồ. Không thấy mấy ai được thực sự vãng sinh là tại sao?

Đáp: Đó là người niệm Phật đến lúc lâm chung không đủ nhân duyên. Nếu nhân duyên đầy đủ thì chắc chắn được vãng sinh.

2. Hỏi: Nhân duyên là sao?

Đáp: Người tu bình sinh chân tín, thiết nguyện, niệm Phật cầu sinh Tây phương mà đến lúc lâm chung vẫn có được tâm niệm này, thì đó gọi là nhân tự lực. Nếu bình sinh chưa biết về tín, nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương, đến lúc lâm chung may mắn được gặp thiện hữu tri thức hướng dẫn mà sinh tín, phát nguyện, cầu sinh Tây phương, thì đó cũng là nhân tự lực.

Giáo chủ Tây phương Cực lạc Thế giới là đức Phật A Di Đà cùng vạn đức hồng danh của Ngài có thể khiến cho chúng sinh được sang cõi Tây phương Cực lạc, thì đó gọi là duyên tha lực. Lúc lâm chung mà được thiện hữu trợ niệm, cũng là duyên tha lực.

3. Hỏi: Người tu hành đến lúc lâm chung mà đầy đủ nhân duyên thì chắc chắn được vãng sanh, xin giải rõ lý do.

Đáp: Người tu đến lúc lâm chung mà chân tín, thiết nguyện, niệm Phật, thì đức Phật A Di Đà là duyên tha lực, còn cái tâm năng niệm là nhân tự lực. Ngay lúc đó dùng tâm năng niệm , lại nhờ sự hiển hiện của đức Phật A Di Đà mà được thanh tịnh. Ngay phút giây đó chính là tự lực và tha lực cảm ứng đạo giao, nhân duyên hòa hợp, do đó mà được sanh Tây phương Cực lạc.

4. Hỏi: Người niệm Phật đến lúc lâm chung mà không đủ nhân duyên thì không được vãng sanh, xin giải rõ lý do này?

Đáp: Người tu bình sinh tín, nguyện niệm Phật mà công phu chưa được thuần thục, thì đến lúc lâm chung tuy có tín nguyện cầu sanh Tây phương (có nhân), nhưng bị bệnh khổ và đủ thứ phiền não bức bách nên cái tâm niệm Phật khởi nên không nổi. Nếu không có thiện hữu hướng dẫn, trợ niệm (không duyên), lại gặp thân thuộc không hiểu đạo lý, cứ khóc lóc, cứ hỏi han, thì tâm người ta khởi nên đủ thứ tạp niệm không được vãng sanh. Trường hợp này gọi là có nhân, mà không có duyên nên không thể vãng sanh.

Lại cũng có người bình thường tín, nguyện niệm Phật cho có lệ. Đến lúc lâm chung may mắn được thiện hữu tri thức trợ niệm (có duyên), thân thuộc cũng không khóc lóc làm chướng ngại. Khổ nỗi người tu tự tâm mình sinh điên đảo, tham luyến thế gian, không khởi tâm cầu sanh Tây phương (không nhân), bởi vậy theo ái dục mà đầu thai các nẻo thiện ác. Đây gọi là có duyên, mà không có nhân, nên không thể vãng sanh.

Lại cũng có người bình thường niệm Phật chỉ để cầu gia đạo bình an, mạnh khỏe sống lâu..v.v..Do đó đến lúc lâm chung thì chỉ có sợ chết. Khi bệnh chưa nặng lắm thì cũng niệm Phật nhưng để cầu lành bệnh chứ không hề có tâm nguyện vãng sanh (không nhân). Đến khi bệnh trở nên nguy kịch, thì bị khổ bức bách do đó không thể niệm Phật. Thân thuộc cứ theo thế tình mà làm động tâm thêm, lại không được thiện hữu trợ niệm (không duyên). Đây gọi là không nhân lẫn không duyên, nên không thể vãng sanh.

5. Hỏi. Vậy thì người niệm Phật đến lúc lâm chung, thế nào là nhân duyên đầy đủ để được vãng sanh?

Đáp: Như có hạng người đại căn cơ lúc bình sinh chân tín, thiết nguyện, niệm Phật. Tín- nguyện đã rất chân thành, công phu niệm Phật lại rất thuần thục. Đến lúc lâm chung, không cần phải người khác trợ niệm mà vẫn cứ một mực tín, nguyện niệm Phật, tâm niệm an trụ nơi hồng danh của đức Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà chép: “Nhất tâm bất loạn ắt được vãng sanh”, là chỗ này. Đây gọi là nhân duyên đầy đủ của hàng thượng căn.

Cũng có hạng người tu bình thường chân tín, thiết nguyện nhưng công phu niệm Phật chưa được thuần thục. Đến lúc lâm chung thì lòng tín nguyện cầu sanh Tây phương so với lúc bình thường lại càng tha thiết, không bị bệnh khổ hay các chướng duyên làm dao động. Lại có được thiện hữu trợ niệm, nhờ vậy tâm của người này niệm niệm an trụ nơi hồng danh của Đức Phật A Di Đà mà được vãng sanh. Đây là nhân duyên đầy đủ của hàng trung căn.

Cũng có hạng người tu bình thường không biết gì về tín nguyện cầu sanh Tây phương. đến lúc lâm chung may mắn gặp được thiện hữu khai thị. Hoặc nói về y báo, chánh báo thanh tịnh trang nghiêm của thế giới Cực lạc khiến tâm người này hoan hỷ hân cầu. lại nói về bổn nguyện tiếp dẫn chúng sinh của Đức Phật A Di Đà khiến tâm người này sanh chánh tín và quyết định niệm Phật cầu sanh Tây phương. Quyến thuộc lại chịu nghe theo sự hướng dẫn của thiện hữu không làm điều gì khiến cho tâm người bệnh dao động. Nhờ vậy ngay phút lâm chung, người này niệm Phật với sự tha thiết như đứa bé thơ bị lạc mẹ. Do đó được từ lực của Phật tiếp dẫn mà vãng sanh. Đây là nhân duyên đầy đủ của hàng hạ căn.

6. Hỏi: Người lúc bình thường không biết tín, nguyện niệm Phật. Đến lúc lâm chung gặp được thiện hữu khai thị, sau khi nghe xong, tâm sinh hoan hỷ, tín thọ, phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương. Quyến thuộc cũng không gây ra các chướng ngại. lại được trợ niệm mà vãng sanh Tây phương. Sao mà dễ dàng như thế được?

Đáp: Xin giải rõ thêm: Người này lúc bình thường chưa hề có tín, nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương là vì không biết. Đến lúc lâm chung gặp được thiện hữu khai thị mà sinh tâm quyết định tín, nguyện niệm Phật. Điều này chứng tỏ rằng đời trước đã có căn duyên niệm Phật. Đây là nhân thù thắng, được thiện hữu khai thị, trợ niệm là duyên thù thắng. Trường hợp này hy hữu rất hiếm có.

7.-Hỏi: Chúng tôi là hàng Phật tử tại gia. Nếu đến phút lâm chung của người thân mà không mời được thiện hữu trợ niệm thì phải làm sao đây để giúp thân nhân được vãng sanh?

Đáp: Quý vị có lòng như thế rất đáng quý. Xin hãy đọc kỹ những điều hướng dẫn sau đây:

PHẦN 2: NHỮNG ĐIỀU MÀ QUYẾN THUỘC CỦA NGƯỜI LÂM CHUNG CẦN CHÚ Ý

1. Theo Phật pháp, phút lâm chung là thời điểm rất quan trọng của một kiếp người. Vì sao vậy? vì đây là lúc đột biến để thăng hay giáng theo sáu đường. Những điều xảy ra ở phút lâm chung(cận tử nghiệp) ảnh hưởng rất lớn đến sự thăng giáng này. Đối với người tu theo Pháp môn Tịnh độ thì lại càng cực kỳ trọng yếu.

2. Khi có người thân sắp lâm chung, nếu có hội trợ niệm cần phải mời họ đến. Khi họ đã đến thì tất cả mọi người trong nhà phải tuyệt đối tuân theo sự hướng dẫn của họ, không được xen ý riêng của mình vào.

Nếu không có hội trợ niệm, thì người nhà lo trợ niệm cũng được, cần yếu là đúng Phật pháp (sẽ được trình bày ở phần sau). Điều quan trọng cần tuân thủ là hãy làm ma chay, đừng sát sanh và cả nhà cùng ăn chay trong thời điểm này.

3. Phải biết rằng khi người thân lâm chung, họ phải theo một trong bảy đường sau:

– Ba đường dữ: Địa ngục, ngã quỷ, súc sanh.

– Ba đường lành: Trời, Người, Atula.

– Thánh đạo Tây phương Cực lạc, mình trợ niệm để họ được vãng sanh Tây phương, vĩnh viễn thoát khỏi 6 nẻo luân hồi. Trái lại nếu mình khóc lóc kêu réo, thở than thì chỉ khiến cho họ động tâm mà đọa vào ba đường dữ. Hãy suy nghĩ cặn kẽ điều này.

4. Trong kinh điển Phật đã dạy tường tận rằng: Nếu đọa vào ba đường dữ thì chịu muôn vàn thống khổ, nhất là Địa ngục thời gian rất là dài lâu. Những điều này là thật sự chứ không phải truyện ngụ ngôn mà Đức Phật đặt ra để răn đời.Trái lại nếu được vãng sinh Tây Phương thì vĩnh viễn thóat khỏi 3 đường giữ, được ở địa vị bất thối chuyển,thân cận Đức A Di Đà,và thánh chúng an vui tu tập.

5.-Nếu người bệnh bình thường mà có tâm nguyện niệm Phật cầu sinh Tây Phương thì rất tốt.Nếu không có tín tâm hoặc không thông hiểu về chuyện niệm Phật cầu sinh Tây Phương thì người thân sẽ giải thích cho họ hiểu rằng: Làm người không phải vĩnh viễn cứ làm người.Có 6 đường sinh tử luân hồi,trong đó có 3 đường dữ rất thống khổ mà lại dễ đọa vào. Ngược lại thế giới của A Di Đà thì lại rất là an lạc. Được sinh sang đó thì vĩnh viễn không bị đọa vào 3 đường dữ. Phước lạc của người được sinh sang đó thật không thể nghĩ bàn.

Điều kiện để được vãng sinh thì do bổn nguyện của đức A Di Đà nên rất dễ dàng. Hễ có tín nguyện mà niệm danh hiệu của ngài (NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT) thì lúc lâm chung chắc chắn được Ngài đến rước về cõi Tây Phương Cực Lạc.

6.-Tâm niệm của người sắp lâm chung ảnh hưởng rất lớn đến kiếp lai sinh của họ (Cận tử nghiệp) do đó người thân để họ không bị phiền não. Khi họ tỉnh táo hãy hỏi họ cần căn dặn. Làm sao để họ yên tâm mà ra đi.Tuyệt đối đừng đem những vấn đề nhiêu khê của kiếp người mà làm họ bận tâm trong thời điểm này. Phải biết rằng làm vậy thì không những người chết bị đọa lạc, mà người sống cũng bị chướng duyên nặng nề trong tương lai.

7.-Nếu có thân hữu hoặc bà con đến thăm người bệnh thì trước khi họ gặp người bệnh hãy yêu cầu họ đừng nói hay làm gì có thể gây chướng duyên cho vấn đề vãng sinh.

8.-Vấn đề trợ niệm cũng phải hết sức tế nhị. Khi người bệnh còn tỉnh táo, hãy hỏi kỹ về ý muốn của họ.
Ví dụ : muốn được lớn tiếng trợ niệm hay niệm vừa đủ nghe là được. Dùng khánh mõ hay chuông…..Tùy theo hòan cảnh mà thiết trí tượng Đức A Di Đà chứ không phải nhứt thiết là ở hướng Tây. Đừng chấp chặt theo hình thức mà làm người bệnh phiền não.

9.-Cũng có người bệnh do nghiệp chướng của họ mà không muốn người khác thế họ niệm Phật, không muốn nghe người khác niệm Phật, hoặc nghe niệm Phật thì bực bội. Gặp trường hợp này quyến thuộc hãy đến trước bàn thờ Phật, thành khẩn vì họ mà cầu xin sám hối.

Xin kể hai chuyện mới xảy ra gần đây. Năm ngóai có một vị cư sĩ. Khi mẹ ông bị bệnh sắp mất, ông liền mời Hội Trợ Niệm đến nhà để hộ niệm cho mẹ. Mẹ ông khi nghe niệm Phật, trong lòng bức rức chịu không nổi nên yêu cầu đừng niệm.Thầy Quy Y của vị Cư Sĩ thấy vậy,biết rằng đây là nghiệp chướng phát hiện.liền tụng cho bà mấy bộ Kinh Địa Tạng.Vị cư sĩ cũng hết sức thành khẩn đối trước Phật ăn năn sám hối cho mẹ. Sau đó, bà đột nhiên hoan hỷ muốn nghe niệm Phật mà an nhiên vãng sinh.

Lại có một cư sĩ khác, cha ông bị bệnh khi sắp mất, thấy một người đàn bà và một con chó đến đòi mạng. Cư sĩ liền niệm Phật sám hối cho cha thì ông không còn thấy nữa. Sau đó cha ông lại thấy hai nhà Sư hiện đến nói rằng: Ông đời trước ngăn cản chúng tôi vãng sinh, nay chúngtôi đến để cản ông đây. Cư sĩ lại vì cha đối trứơc Phật sám hối và cầu siêu cho hai vị tăng. Cha ông không còn thấy họ nữa. Sau cùng cha ông thấy một lão tăng hiện đến mà bảo rằng:“Oan nghiệp của ông đã được tiêu trừ, ba lần bảy nữa ông được vãng sinh. Cứ nói ba lần bảy“ là ông sẽ hiểu. Cả nhà cho rằng ba lần bảy là 21 ngày. Trợ niệm bấy lâu đã mệt, nay lại thêm 21 ngày nữa qủa thật là khó khăn. Không ngờ 21 giờ sau người cha được vãng sinh. Hai câu chuyện có thật trên đây cho thấy sự trọng yếu của vấn đề trợ niệm lúc lâm chung.

10.-Khi người bệnh sắp tắt thở thì nếu đã có người trợ niệm, thân nhân hãy đối trước bàn thờ Phật A Di Đà, khẩn thiết cầu xin Ngài tiếp dẫn, thần thức người chết vãng sinh Tây Phương. Nếu người trợ niệm ít hoặc không có,thân nhân hãy bước đến người gần sắp chết mà trợ niệm, Nhớ là đừng đứng ngay trước mặt vì ở thời điểm này người chết rất dễ động tâm, trở ngại chánh niệm. Do đó không nên để cho thấy mặt. Giọng niệm Phật nhớ đừng bi lụy vì sẽ khơi dậy tình cảm cho người chết, khó mà vãng sinh.Thân nhân cần phải ghi nhớ điều này.

11.-Sau khi người chết đã tắt thở nhưng thi thể chưa lạnh hẳn (Nghĩa là thần thức còn đó chưa đi), thân nhân cần để ý các điều sau:

-Vẫn tiếp tục lớn tiếng niệm Phật trợ niệm.

-Hãy coi chừng đừng để ruồi muỗi đậu lên thi thể người chết vì họ vẫn còn cảm giác!

-Đừng khám xét thi thể để đóan xem đi về đâu vì làm vậy rất có hại cho người mất.

-Nếu có Ban Trợ Niệm thì tuyệt đối tuân theo sự hướng dẫn của họ.

Tuyệt đối đừng tin theo các thủ tục phổ thông của nhân gian như: Cho rằng khi thi thể còn nóng, các khớp xương còn mềm mại, phải thay quần áo cho họ lúc này. Cho rằng khi người thân tắt thở cần phải khóc lóc lớn tiếng để đẩy lui hung tinh. Cho rằng tắt thở là phải lo liệm ngay, nếu không sẽ mắc nợ “miên sàng”……

PHẦN 3: TRỢ NIỆM VẤN ĐÁP

1.-Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của 2 chữ Trợ Niệm.

Đáp “Trợ“ là phụ giúp.“Niệm“ là chánh niệm. Nghĩa là phụ giúp người lâm chung chánh niệm hiện tiền để được vãng sinh.

2.Hỏi: Chánh Niệm, ở đây nghĩa là sao?

Đáp: Chánh Niệm ở đây là một lòng nhớ tưởng đến Đức A Di Đà, không bị cảnh duyên làm điên đảo.

3.-Hỏi.-Người lâm chung vì sao cần người khác trợ niệm?

Đáp : Con người đến lúc lâm chung lúc tứ đại phân ly, đủ thứ khổ bức bách nên người xưa ví như con cua rơi vào chảo nước sôi: Nếu người tu mà bình sinh công phu Niệm Phật đã thuần thục thì miễn bàn. Nhưng nếu công phu niệm Phật chưa được vậy thì sự trợ niệm rất là cần thiết.

4.-Hỏi : Khi người bệnh đã thắt thở, mà người trợ niệm vẫn tiếp tục niệm Phật là vì sao ?

Đáp: Người bệnh tuy đã tắt thở, nghĩa là đã chết nhưng theo trí huệ của các vị có đức thì thần thức họ chưa hòan tòan lìa khỏi thân thể. Chỗ tái sinh của họ chưa được quyết định.Vào lúc này mà niệm Phật trợ niệm cho họ thì rất lợi cho họ.

Xin hãy nhớ rằng con người vào lúc lâm chung là lúc họ đứng trước ngã 3 đường, bị đủ mọi thứ nghiệp chi phối (Túc nghiệp,hiện nghiệp,cận tử nghiệp). Hễ nghiệp mạnh thì họ phải theo.

Sự trợ niệm vào thời điểm này có 2 tác dụng trọng yếu: Một là giúp thần thức họ được chánh niệm. Hai là khẩn cầu Đức Phật A Di Đà đến rước họ về Tây Phương Cực lạc theo bổn nguyện của Ngài.

5.-Hỏi : Có người cho rằng phải niệm Phật đến chỗ nhất tâm bấn lọan thì khi lâm chung Phật mới đến rước về Tây Phương. Xin giải rõ điều này.

Đáp : Vấn đề này phải hiểu theo Tịnh Độ chứ không phải theo Thiền. Nói vậy nghĩa là sao ? Nếu hiểu theo Thiền thì phân ra “Lý Nhất Tâm“ và „ Sự Nhất Tâm“. Cả hai đều khó, ngòai khả năng của một người cư sĩ bình thường. Đúng ra theo Tịnh Độ, thì „nhất tâm bất lọan“Nghĩa là một lòng nhớ tưởng Đức A Di Đà, tin theo bổn nguyện và trì danh hiệu Ngài (tức là Nam Mô A Di Đà Phật) để cầu xin khi lâm chung được Ngài rước về cõi Tây Phương Cực Lạc.

6.Hỏi : Có người cho rằng lúc lâm chung cần phải chánh niệm Phật mới đến rước. Điều này qủa thật không phải dễ. Xin giải thích mối nghi này.

Đáp : Người tu niệm Phật đến lúc lâm chung được Phật Di Đà đến rước vì đó là Bổn nguyện của Ngài. Phật đến rước là để cho tâm người đó được chánh nịệm, không bị điên đảo theo các cảnh duyên khác, chứ không phải cần có chánh niệm Phật mới đến rước. Cũng chính vì vậy mà sự trợ niệm rất là cần yếu.

PHẦN 4: VẤN ĐỀ NHẤT NIỆM VÃNG SINH TÂY PHƯƠNG

1.-Hỏi : Thế Giới Tây Phương Cực Lạc xa đến mười vạn ức cõi Phật, làm sao một niệm sau chót của người niệm Phật lúc lâm chung có thể sanh được ?

Đáp : Vì do ba sức mạnh không thể nghĩ bàn dung họp lại. Một là Phật lực: Đại nguyện của Đức Phật A Di Đà là tiếp dẫn chúng sanh tin nguyện niệm vãng sinh về cõi Cực Lạc. Hai là tâm lực của người niệm Phật: Một lòng tin nguyện muốn sinh về Thế Giới của Đức A Di Đà. Ba là Pháp Lực: Sự cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn.

Lời khai thị của Ngẫu Ích Đại Sư :

“Tâm người niệm Phật cảm động đến tâm Phật.Tâm Phật ứng hợp với tâm người. Hai đường giao chập với nhau thành một vẽ, giống như lấy bàn in, in thành nét đẹp rồi thì bỏ bàn đi. Như thế Phật A Di Đà và các Thánh Chúng, tuy tâm các Ngài chẳng ở đâu lại, mà chính thân các Ngài có đến thực, cúi xuống tiếp dẫn mình. Người tu Tịnh Nghiệp, tâm mình cũng chẳng đi đâu, mà chính thân mình có đi thực, mang thể chất mình gửi trong hoa sen báu.” (Trích trong A Di Đà Kinh Yếu giải).

PHẦN 5.-NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI TRỢ NIỆM CẨN PHẢI AM TƯỜNG

1.-Phát tâm trợ niệm giúp người khác được vãng sinh Tây Phương là khiến họ thóat khỏi sinh tử luân hồi. Công đức này không thể nghĩ bàn. Cũng chính vì vậy mà trách nhiệm của người niệm Phật thật là lớn lao. Hễ sai một ly là đi một dặm. Xin hãy cẩn thận. Xin hãy cẩn thận.

2.-Khi đến nhà người lâm chung, trước hết hãy mời thân quyến đến để nói cho họ hiểu rằng đây là thời điểm cực kỳ trọng yếu của người lâm chung vì đang ở ngưỡng cửa của siêu thăng hay đọa lạc. Do đó thân quyến cần triệt để tuân thủ những gì mà Ban Trợ Niệm căn dặn.Tất cả những điều này là để người lâm chung được vãng sinh Cực Lạc.

3.-Khi vào trong phòng người bệnh, Ban Trợ Niệm phải cẩn thận về thái độ, cử chỉ và lời nói của mình để người bệnh khỏi sinh phiền não hay hòai nghi. Nếu có khả năng hãy khéo léo phát khởi hoặc củng cố tín tâm của họ. Hãy xem như người sắp mất là thân nhân của chính mình.

4.-Ngòai những hướng dẫn cần thiết đối với người bệnh, Ban Trợ Niệm không nên hỏi han hay nói chuyện với họ. Một điều cần ghi nhớ là tuyệt đối đừng nói chuyện phiếm vì sẽ làm người bệnh động tâm, mất đi chánh niệm. Ở thời điểm này nếu có ai đến thăm bệnh nhân, hãy yêu cầu thân nhân tiếp đãi họ, không nên cho gặp người bệnh, nên dặn trước người trong nhà điều này.

5.-Trợ niệm dùng 6 chữ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT hay dùng 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT, niệm liên tục, niệm lớn hay niệm nhỏ, niệm nhanh hay niệm chậm, những vấn đề này nếu được thì nên hỏi trước bệnh nhân là tốt hơn cả. Nếu không hỏi được thì sau đây là những nguyên tắt chung: Không nên niệm nhanh quá vì sẽ nghe không rõ. Nếu chậm qúa thì bị dễ bị hôn trầm. Nếu niệm lớn quá thì khó mà niệm lâu. Nếu niệm nhỏ qúa thì bệnh nhân không nghe được.Vấn đề dùng Khánh hay Mõ cũng vậy. Lý tưởng nhất là niệm Phật vừa phải, rõ ràng mà êm tai, tóat ra lòng thành khẩn. Được vậy thì không những phát khởi, củng cố chánh niệm nơi người lâm chung mà còn chiêu cảm sự lai nghinh của Đức Phật A DI ĐÀ.

6.-Khi có trợ niệm một thời gian lâu, bỗng nhiên bệnh nhân có vẻ tỉnh táo, hoặc có thể nói chuyện hay than thở. Đây là dấu hiệu cho biết trong vòng 2 giờ nữa họ sẽ tắt thở. Như ngọn đèn dầu bùng lên trước khi tắt. Xin đừng thấy vậy mà ngưng trợ niệm!

7.-Khi Ban Trợ Niệm đến nơi mà bệnh nhân vừa mới tắt thở, hoặc vài ba tiếng đồng hồ trở lại thì xin nhớ đây là thời điểm rất quan trọng. Phải lập tức lớn tiếng hướng dẫn họ như sau:“Hỡi ông (bà) X ! mọi chuyện lành dữ trong qúa khứ xin đừng nghĩ đến nữa. Hãy buông bỏ tất cả mà một lòng niệm “ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT“ Được vãng sanh sang cõi Cực Lạc.Tất cả chúng tôi sẽ niệm Phật, trợ niệm cho Ông, tâm ông sẽ nghe câu niệm “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT“ Hãy an trụ vào đó mà vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Hướng dẫn xong là trợ niệm ngay. Nhớ phải niệm lớn tiếng NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT hoặc A DI ĐÀ PHẬT. Lúc lâm chung mà nghe được Phật hiệu thì công đức không thể nghĩ bàn. Kinh Địa Tạng chép: Người mà lúc lâm chung được nghe danh hiệu của một vị Phật thì tiêu diệt được 5 tội vô gián tại Địa Ngục.

PHẦN 6: NHÂN QỦA THÙ THẮNG CỦA NGƯỜI TRỢ NIỆM

Nhân qủa bao trùm tất cả,Pháp hữu vi lẫn pháp vô vi. Hễ gieo nhân nào thì gặt qủa đó. Chúng ta có thể phát tâm giúp đỡ người khác niệm Phật vãng sanh Tây Phương, thì tương lai đến lúc lâm chung của mình, nhất địng sẽ có người khác phát tâm trợ niệm giúp chúng ta vãng sinh Tây Phương. Hơn nữa người nhờ chúng ta trợ niệm mà được vãng sinh thì vào lúc đó cũng sẽ theo Đức Phật A DI ĐÀ đến rước mình về cõi cực lạc. Lý đương nhiên là vậy. Chúng ta cần hiểu rằng lý do mà Chư Phật ra đời là muốn độ thóat hết thảy chúng sinh. Đức Thích Ca thuyết pháp 49 năm cũng vì vậy, mà Đức A DI ĐÀ phát 48 lời nguyện, trang nghiêm Tây Phương Cực Lạc Thế Giới là cũng vì vậy.

Tất cả những Pháp Môn khác trong Phật Giáo đều nương vào tự lực mà tu hành. Người tu cần phải hòan tòan dứt hết phiền não mới có thể ra khỏi sinh tử. Bởi mới gọi là Pháp Môn khó tu (nan hành). Pháp môn Tịnh Độ là nương theo đại nguyện tiếp dẫn của Đức A DI ĐÀ mà vãng sinh về cõi Cực Lạc bất thối chuyển. Nên gọi là pháp môn dễ tu (dị hành).

PHẦN 7.- VẤN ĐỀ SẠCH SẼ TRONG PHÒNG NGƯỜI BỆNH:

Trong phòng người bệnh nên quét dọn sạch sẽ. Nếu được nên dẹp đi tất cả những gì không cần thiết, càng rộng rãi càng tốt. Một là khỏi làm người bệnh động tâm. Hai là có chỗ cho Ban Trợ Niệm ra vào thỏai mái.

Nếu bệnh nhân tỉnh táo, hãy khuyên họ nên hướng về phía Tây. Nằm thì bảo họ nghiêng bên hông phải và tâm niệm đến vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nếu bệnh nhân bị đau đớn bức bách thì mọi chuyện phải thuận theo họ, chớ nên miễn cưỡng.

Trước giường người bệnh phải thiết trí Tôn Tượng Phật A DI ĐÀ PHẬT hoặc Tây Phương Tam Thánh đối diện với họ. Trước Tôn Tượng cần phải cúng dường hương hoa qủa phẩm.

Nếu bệnh nhân bị đại tiểu tiện dơ dáy phải lập tức báo thân nhân lau rửa sạch sẽ.

Người trợ niệm xin lưu ý: Khi bệnh nhân sắp tắt thở mà trên người họ bị đại tiểu tiện dơ dáy thì chớ nên lau rửa. Hãy lo trợ niệm Phật mà thôi. Dù bị hôi hám khó chịu, người trợ niệm nên nhớ rằng mình đang gánh vác một trách nhiệm nặng nề là giúp họ vãng sinh về cõi Tây Phương bất thối chuyển. Phàm đã làm người thì khi đến lúc lâm chung ai cũng bị cảnh này. Chờ khi nào người bệnh tắt thở và hòan tòan thân lạnh hẳn mới nên lau rửa.

PHẦN 8 . PHÁ TRỪ NGHI CHƯỚNG

Nếu bện tình nặng nề,hãy hỏi bệnh nhân xem họ còn vướng mắc chuyện gì không. Nếu có phải giải quyết ngay nếu không sẽ trở ngại vấn đề vãng sinh. Nhớ là chỉ nói một lần mà thôi.

1. Nếu bệnh nhân nghi ngờ mà hỏi rằng “Tôi phát tâm niệm Phật thời gian chưa được bao lâu lại thêm nghiệp chương nặng nề, không hiểu có vãng sinh được hay không?”

Hãy trả lời với họ rằng Phát tâm niệm Phật sớm hay muộn không thành vấn đề, điều quan trọng nhất là từ khi phát tâm cho đến phút lâm chung không thối chuyển. Nay ông có túc duyên, đến lúc lâm chung gặp được thiện hữu hướng dẫn mà phát tâm niệm Phật, lại được trợ niệm thì quyết định vãng sinh.Vấn đè nghiệp chướng sâu dày thì trong kinh VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT. Phật dạy rằng niệm một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT có thể tiêu trừ 80 ức đại kiếp trọng tội “Ông đã nghe rõ chưa?”

2.-Nếu người bệnh có tâm lưu luyến thân nhân hoặc thương tiếc tài sản, hãy giải thích với họ rằng“Chúng ta làm người trong cõi Ta Bà này phải chịu quá nhiều khổ não, nếu kể ra thì thật vô cùng vô tận. Được vãng sinh sang cõi cực lạc thì thóat khổ mà an vui vĩnh viễn. Ông (hay bà)hãy buông ngay cái tâm niệm tham luyến cõi này vì nó rất trở ngại cho vấn đề vãng sinh. Hãy một lòng cầu sinh về Tây Phương chúng tôi trợ niệm giúp ông.

3.-Nếu bệnh nhân nghi ngờ mà hỏi rằng“Tôi niệm Phật mà sao không thấy Phật“,hoặc „Khi tôi lâm chung không biết Phật có đến rước không. Hãy giải thích với họ rằng „Hiện nay đã được thấy Phật hay chưa thấy Phật đều không quan hệ. Nếu hiện tại chưa thấy, lúc lâm chung sẽ thấy. Điều quan trọng nhất là 6 chữ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT luôn luôn hiển hiện trong tâm Ông thì lúc lâm chung chắc chắn Phật A DI ĐÀ sẽ lai nghinh.Xin đừng nghi ngờ,sẽ trở ngại cho vấn đề vãng sinh.Phải biết rằng người tu Tịnh Độ cầu sinh Tây Phương, đến lúc lâm chung thấy Phật hịện tiền tiếp dẫn,thời gian có sớm có trễ.Sớm thì thấy trước một hai ngày,hoặc vài tiếng đồng hồ,hay vài chục phút.Trễ thì ngay phút giây tắc thở Phật mới hiện tiền.Phật A Di Đà có đại nguyện tiếp dẫn chúng ta có lòng tin và cầu xin về cõi Cực lạc .Vậy là đầy đủ,xin chớ lo.

4.-Nếu trong khi trợ niệm mà bẹnh nhân cho biết họ thấy hoặc nghe những cảnh giới hoặc âm thanh ghê rợn khiến họ sợ hãi không một lòng niệm Phật được.Hãy giải thích cho họ rằng „Những cảnh giới đáng sợ này là oan gia nhiều đời trước của ông.Họ thấy ông niệm Phật quyết định vãng sinh Tây Phương nên đến phá rối gây trở ngại cho ông đây.Xin cứ một lòng niệm Phật,chúng tôi sẽ thay ông sám hối cầu siêu cho họ.

5.-Nếu sắp đến lúc lâm chung mà bệnh nhân mộng thấy thân nhân đã qúa vãng đến đón thị phải biết rằng họ thuộc về lục đạo luân hồi,thường là các cảnh giới thấp.Do đó tuyệt đối đừng đi theo họ mà hãy lo một lòng niệm Phật thì họ sẽ tự nhiên biến mất.Khó khă hơn nữa là mộng thấy Chư Thiên đến rước.Xin đừng động tâm ! cứ tiếp tục một lòng niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà chờ Phật đến rước.

PHẦN 9.-KHAI THỊ CHO NGƯỜI LÂM CHUNG

Ông (hay Bà) hãy hiểu rằng đã sinh ra trong cõi ta bà này thì không ai tránh khỏi bệnh khổ và tử vong. Ô (hay Bà) nếu bệnh khổ xin hãy an nhẫn mà niệm Phật cầu sinh Tây Phương thì Phật sẽ gia hộ cho đỡ đau khổ trên thân xác và được vvãng sinh về cõi Cực Lạc.

Xin hãy nhớ rằng Đức Phật A Di Đà có đại nguyện tiếp dẫn tất cả những ai niệm danh hiệu của Ngài và cầu sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc.Nếu Ông một lòng tin tưởng niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thì phút lâm chung Phật sẽ đến đón:Sỡ dĩ Phật đến đón là để tâm ông khỏi bị điên đảo bỡi các cảnh giới thiện ác của lục đạo luân hồi ,chứ không phải ở phút này tâm ông không điên đảo Phật mới lai nghinh.Xin đừng lo.

PHẦN 10.-QUYẾT NGHI VỀ BỆNH KHỔ LÚC LÂM CHUNG.

Người tu niệm đến lúc lâm chung nếu bị bệnh khỏ nặng nề xin chớ nghi ngờ hoặc sợ hãi.Ngay như Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trangcũng phải chịu vậy,huống chi hạng phàm phu ngiệp lực sâu dày như chúng ta ! phải hiểu rằng bệnh khổ này là do ác nghệp nhiều đời.Nhờ công đức niệm Phật mà trọng báo trở thành khinh báo.Hãy an nhẫn niệm Phật để được vãng sinh.Tuyệt đối đừng khởi tâm nghi ngờ rằng tại sao mình niệm Phật mà còn phải như thế này.Chỗ an trú duy nhất là 6 chữ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.Mọi chuyện khác đã có Đức Phật A DI ĐÀ lo cho.

PHẦN 11.- THỜI GIAN TẮM RỬA THAY ÁO QUÀN CHO NGƯỜI QUÁ VÃNG.

Sau khi bệnh nhân đã tắt thở mà bệnh nhân chưa lạnh hẳn,người trực Ban Trợ Niệm cần lưu ý như sau Tuỵệt đối không cho thăm dò trên thi thể.Thân nhân nếu khóc lóc thì yêu cầu họ đi chỗ khác .Hãy tiếp tục lớn tiếng trợ niệm 24 giờ nữa mới đình chỉ. Đối trước bàn thờ Phật hồi hướng cho người qúa vãng được vãng sinh.Từ đây những thủ tục về tẩm liệm có thể bắt đầu.Nếu các khớp xương bi cứng hãy dùng khăn vải nhúng nước nóng đắp lên chỗ đó,vài phút sau sẽ mềm ra,mắt nếu không nhắm được cũng làm như vậy,quần áo bình thường đừng bày vẽ rườm rà.Trường họp đặc biệt nếu sau 24 giờ mà thi thể vẫn chưa lạnh hẳn thì xin vẫn tiếp tục trợ niệm cho đến khi lạnh hẳn. Hãy ghi nhớ.

PHẦN 12.- PHƯƠNG PHÁP SIÊU ĐỘ HAY NHẤT:

Sau khi vong nhân đã vãng sinh thì phương pháp siêu độ hay nhất là trai giớpi mà niệm Phật.Nên mời vài vị Tăng Ni (Tu Tịnh Độ) đến để niệm Phật và cả nhà tham gia vào.Thời gian lâu mau mà tùy theo hòan cảnh mà định liệu.Công đức siêu độ cũng rất lớn lao.Nếu vong nhân đã được vãng sinh thì tăng cao phẩm vị ở liên đài.Nhược bằng chưa được vãng sinh thì cũng nhờ công đức Niệm Phật này mà vãng sinh.Không những vậy thân nhân còn sống cũng sẽ được kết duyên lành với Đức Phật A DI ĐÀ,
Phần đông khi cúng siêu độ,người ta cho rằng niệm Phật là tầm thường,và chọn những cách khác như:Tụng kinh,Lễ bái,Diệm khẩu (Trì Chú)Sở dĩ như vậy là họ không hiểu Phật lý.Kinh Phật THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT chép rằng „ Niệm một câu A DI ĐÀ PHẬT có thể tiêu trừ trọng tội của 800 vạn Đại kiếp sinh tử“Ai dám bảo niệm Phật là bình thưuờng.Lại chép rằng“Nghe nhan đề của 12 Bộ Kinh thì tiêu trừ 1000 kiếp ác nghiệp nặng nề.Niệm một câu danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT thì tiêu trừ 500 Đại kiếp sinh tử.Lại chép rằng nếu nghe được danh hiệu của Đức Phật A Di Đà thì tiêu trừ của Vô Lượng đại kiếp sinh tử.Trên đay là dẫn chứng những lời do Đức Phật Thích Ca dạy để làm chỗ y cứ. Đại Sư Ấn Quang có dạy “Các nhà sư hiện nay là phần đông bày vẽ,chẳng được như Pháp. Chỉ cốt thể diện mà thôi.Nếu mà chuyên môn niệm Phật thì ai cũng biết niệm,công đức lại quảng đại và thiết thực. Nếu đem công đức niệm Phật mà hồi hương cho Pháp giới chúng sinh dể đồng sinh Tây Phương thì công đức lại còn lớn lao hơn nhiều. Sự lợi ích đối với vong nhân cũng rộng lớn hơn nhiều.”

Sau khi vong nhân đã vãng sinh Tây Phương thì trong vòng 49 ngày,thân quyến nên ăn chay niệm Phật, giữ gìn Ngũ Giới thì cả người sống lẫn kẻ qúa vãng đều được lợi ích.

PHẦN 13.- VẤN ĐÁP VỀ THÂN TRUNG ẤM

1.-Hỏi :Trong Đạo Phật sau người đã chết trong vòng 49 ngày gia quyến còn ăn chay niệm Phật,làm phước mà hồi hướng cho vong nhân có ý nghĩa như thế nào?

Đáp : Nếu vong nhân quả thật đã dược vãng sinh mà trong vòng 49 ngày gia quyến còn ăn chay niệm Phật,làm phước hồi hướng chio họ thì một mặt người qúa vãng được tăng cao phẩm vị trên liên đài.mặt khác bản thân gia quyên cũng được phước vô lượng.

Nếu vong nhân chua biết có được vãng sinh hay không thì vậy có nghĩa là thần thức của họ đang ở trong giai đọan Trung Ấm.Do đó, ở thời điểm này nếu gia quyến vì họ mà ăn chay niệm Phật,làm phước thì họ nhờ đó mà được vãng sinh Tây Phương.

2.Hỏi: Trung Ấm nghĩa là sao ?

Đáp.-Sau khi người chết thần thức ra khỏi thân này mà chưa thụ sinh,giống như ra khỏi phòng này mà chưa vào phòng khác,còn ở trung gian nên gọi là Trung Ấm.Có những trường hợp đặc biệt thì thần thức không phải qua giai đọan Trung Ấm : Một là cực thịên được về ngay cõi trời,Hai là kẻ cực ác phải sa vào Địa ngục.Ba là người đủ tín, hạnh,nguyện được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc.Còn ngòai ra còn phải qua giai đọan Trung Ấm,thời gian lâu hay chậm tùy theo nghiệp lực của mỗi cá nhân,nhưng chậm nhất là 49 ngày.

3.-Hỏi.-Người ta sau khi chết cớ sao không đi thụ sinh ngay mà phải vào giai đọan Trung Ấm?

Đáp : Vì các nghiệp thiện ác từ nhiều đời cho đến nay chưa quyết định dứt khóat.Các niệm thiện ác cứ thi nhau mà sinh diệt , chưa có lực lượng nào thắng thế hẳn.Trong thời điểm này mà có sự tác động bên ngòai thì cán cân sẽ lệch hẳn và thần thức sẽ đi thụ sinh ở cảnh giới tương ứng.Cần hiểu rõ điều này để thấy rằng vấn đề trợ niệm thật là quan trọng ở giai đọan này.

4.-Hỏi : Nếu gặp gia đình hòan tòan nghèo khổ mà phải ăn chay niệm Phật làm phước trong vòng 49 ngày thì qủa là khó khăn.Phải giải quyết sao đây.

Đáp: Nếu hòan cảnh gia đình khó khăn thì khỏi mời các vị Tăng Ni,chỉ cần cả nhà ăn chay niệm Phật là đủ.Mỗi ngày sáng tối 2 lần,sau khi niệm Phật thì hồi hướng cho vong nhân. Điều cần ghi nhớ là phải hết dạ chí thành thì lợi lạc cho người qúa vãng và thân nhân thật không nghĩ bàn.

DẪN CHỨNG KINH ĐỊA TẠNG

„Lợi ích tồn vong“ trong Kinh Địa Tạng chép rằng :Trưởng Giả Đại Biện chấp tay cung kính thưa hỏi Bồ Tát Địa Tạng“Thưa Đại Sĩ chúng sinh ở cõi Nam diêm phù để sau khi mạng chung,nếu thân nhân quyến thuộc mà vì họ mà làm phước,tạo những nhân lành như Bố thí ,Trai Tăng…Thì vong nhân có được lợi ích lớn lao và giải thóat không ? Bồ tát Địa Tạng đáp: Này Ông Trưởng Gỉa ! Các chúng sinh đời hiện tại cũng như vị lai, đến lúc mệnh chung mà được nghe danh hiệi của một Đức Phật,Bồ Tác hoặc Bích Chi Phật thì chẳng kể là có tội hay vô tội, đều được giải thóat“ Lại dạy rằng“Qủi vô thường không hẹn mà đến,thần thức u mê chưa rõ tội phước nên trong vòng 49 ngày như ngây như dại.Hoặc ở các ty mà luận định nghiệp quả.Sau khi thẩm định thì căn cứ theo nghiệp mà thụ sinh,Trong thời gian chưa quyết định thì phải chịu biết bao nhiêu khổ sở huống gì đọa vào các nẻo ác.Vong nhân khi chưa được thụ sinh,trong vòng 49 ngày quả là rất mong sự cứu giúp của thân quyến.Qua 49 ngày thì tùy nghiệp mà thụ sinh.Nếu tội nhẹ thì đọa vào ngạ qủy súc sinh.Nếu tội ngỗ nghịch thì đọa vào Địa ngục mà chịu khổ lâu dài“.Lại dạy rằng „Nếu trong vòng 49 ngày mà quyến thuộc vì vong nhân mà làm mọi phước đức thì có thể khiến cho họ được xa lìa các nẻo Địa ngục,ngạ qủy súc sinh mà sinh về cõi Trời.Người mà thân nhân còn sống sẽ được lợi ích vô lượng“.

PHẦN CUỐI QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ TRỌNG YẾU TRONG PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ.

1.-Hỏi : Theo chỗ tôi hiểu thì niệm Phật có 4 phương pháp là : Trì Danh,Qúan Tưởng Quán Tượng,và Quán Thật Tướng.Trong đó Trì Danh là phương tiện thấp nhất dành cho hạng hạ căn không đủ sức tu những phương pháp kia.Do đó tôi vẫn hận mình là nghiệp nặng,không tu dược các Pháp Môn cao siêu trên! Xin giải quyết mối nghi này.

Đáp : Đây là ngộ nhận lớn nhất của người tu theo Tịnh Độ.Vì sao ? Vì Trì danh là pháp môn chánh tông của Tịnh Độ,các phương pháp kia chỉ là phương tiện bày thêm để thu nhiếp mọi căn cơ mà thôi Tông Tịnh Độ đặt nền tảng trên ba bộ Kinh : 1. PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG THỌ KINH 2.-PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ KINH .3.-PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH: xin dẫn chứng kinh văn để làm chỗ y cứ :
Kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ dạy về nhân địa tu hành và 48 Đại Nguyện của Đức Phật A DI ĐÀ.Trong 48 Đại nguyện thì nguyện thứ 18 được gọi là Bổn Nguyện Vương vì là nền tảng của 47 Đại Nguyện kia : Kinh Văn :“Khi tôi thành Phật nếu có Chúng sinh trong 10 phương,hết lòng tin tưởng muốn sinh sang nước tôi thì dù chỉ mười niệm mà không được vãng sinh thì tôi không ở ngôi Chánh Giác.Ngọai trừ kẻ Ngũ nghịch ,bài báng Chánh Pháp…“(Nguyện thứ 18 lời của Đức A DI ĐÀ).Và „Tất cả Chúng sinh nghe danh hiệu Ngài (Đức Phật A DI ĐÀ) mà tín tâm hoan hỷ thì dù chỉ một niệm và chí tâm hồi hướng,nguyện sinh sang cõi kia thì được vãng sinh không còn bị thối chuyển.Ngọai trừ kẻ Ngũ nghịch,bài báng chánh pháp“(Thành tựu văn : Lời của Đức Thích Ca -PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG THỌ KINH).

Dẫn chứng Kinh Văn trên cho thấy Bổn nguyện của Đức A Di Đà là dùng danh hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sinh.Do đó trì danh là chánh nhân để được hưởng quả vãng sinh thì Trì Danh là đệ nhất“.
Kinh PHẬT THUYẾT QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT nói rộng về cách vãng sinh khác nhưng cuối cùng ở phẩm „Phó chúc“ :Phật dạy Ông A Nan rằng : Ông nên giữ gìn lời nói này.Giữ gìn lời nói này tức là Trì Danh Hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ.“

Kinh PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ Dạy về chuyện xưng danh hiệu Đức A Di ĐÀ để được vãng sinh .Kinh chép :“Này Xá Lợi Phất !Nếu có thiện Nam Tử,Thiện Nữ Nhân nghe nói về Đức Phật A Di Đà rồi chấp trì danh hiệu Ngài hoặc một ngày,hoặc hai ngày,hoặc bốn ngày,hoặc năm ngày ,hoặc sáu ngày,hoặc bảy ngày một lòng không lọan.Người ấy đến lúc mệnh chung thì Đức Phật A Di Đà và các Thánh Chúng hiện ra trước mặt người ấy phút lâm chung tâm không điên đảo,liền được vãng sinh Quốc độ Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà „.

2.-Hỏi :Có thuyết cho rằng phải niệm Danh Hiệu Đức A Di Đà đến chỗ nhất tâm bất lọan mới được vãng sinh,rồi phân ra nào là sự nhất tâm,nào là lý nhất tâm,vậy thì qúa khó cho một căn cơ bình thường,làm sao mà phổ độ muôn căn được?

Đáp: Vấn đề nhứt tâm bất lọan có đề cập trong Kinh Phật Thuyết A Di Đà.Khi chú giải đọan này,người ta đã pha lẫn lý thuyết của Thiền hoặc của Tông Thiên Thai mà cho rằng nhất tâm bất lọan là tâm hòan tòan thanh tịnh không còn bị các vọng niệm chi phối hoặc khởi lên các vọng niệm.Mà vậy mấy ai làm nổi kể cả những bậc tinh tu ! Bỡi thế căn cứ theo chân nghĩa của Tịnh Độ.Tổ Pháp Nhiên dạy rằng : „ Nhất tâm bất lọan nghĩa là ,khi niệm Phật tâm không tóan lọan,dùng tín tâm chí thành mà chuyên niệm Phật Danh „.Ngài lại dạy thêm rằng „Đã sinh ra làm người trong cõi tán địa này,tâm làm sao khỏi tán lọan được.Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh là chỗ đáng qúy của Bổn Nguyện vậy „..
3.-Hỏi : Có thuyết cho rằng khi lâm chung cần phải chánh niệm,tâm không điên đảo thì Phật mới đến rước về Tây Phương.Nhưng mà ngay cả khi bình thường còn khó thay,huống gì vào lúc lâm chung,tứ đại phân ly,làm sao mà chánh niệm được?

Đáp : Kinh Phật thuyết A Di Đà chép „ Người tu đến lúc mệnh chung,Phật A Di Đà và các Thánh Chúng hiện ra trước mặt,người đó qua đời tâm không điên đảo,liền được vãng sinh Cực Lạc“.Rõ ràng là vào thời điểm ấy Phật hiện ra để tâm người tu không bị điên đảo bởi các cảnh giới khác mà vãng sinh Tây Phương.Tổ Pháp Nhiên chú giải đọan này rằng „ Phật đến rước là để người tu niệm Phật lúc lâm chung được chánh niệm chứ không phải lúc lâm chung cần phải chánh niệm Phật mới lai nghinh.Cho rằng lúc lâm chung cần phải chánh niệm Phật mới lai nghinh là không tin vào Phật Nguyện và không hiểu kinh văn“

4.-Hỏi . Người ta thường cho rằng lúc lâm chung cần phải chánh niệm mới được vãng sinh.Vậy những người tu Tịnh Độ mà do duyên nghiệp nhiều đời của họ nên chết bất đắc kỳ tử (Như tai nạn trúng gió…) có được vãng sinh không ?

Đáp: Thắc mắc rất quan trọng cần phải giải đáp thỏa đáng.Trước hết xin trả lời dứt khóat rằng chắc chắn họ được vãng sinh nếu lúc bình sinh họ có đầy đủ Tín,Nguyện và Hạnh.Xin lấy một ví dụ cho một vấn đề dễ hiểu hơn.Nếu người ta mua bảo hiểm thì khi gặp chuyện,bảo hiểm sẽ lo.(Thí dụ bảo hiểm chỉ là tạm mượn vì không thể ví với Phật Lực nhiệm mầu).Người tu có đủ Tín Nguyện và Hạnh thì mọi chuyện còn lại do Đức A Di Đà lo liệu vì đó là Bổn Nguyện của Ngài.Dù phải chết bất kỳ dưới hình thức nào,ngay sát phút lúc lâm chung Đức A Di Đà cũng đến rước thần thức người tu niệm Phật về Tây Phương.Tuyệt đối phải tin điều này.

5.-Hỏi.-Vấn đề trợ niệm cho người tu lúc lâm chung nên hiểu thế nào cho chính xác?

Đáp: Theo sách vở lưu truyền lại thì thuở xưa cổ nhân ít đề cập đến vấn đề trợ niệm và nó trở nên cấp thiết trong vấn đề trọng đại cho đến nay mà thôi. Đây cũng là dấu hiệu chỉ sự đi xuống của thời Mạt Pháp.Người tu Tịnh Độ hiểu rõ giá trị của vấn đề trợ niệm,nhưng họ biết rằng yếu tố chính để được vãng sinh là tín,Nguyện và Hạnh.Trợ niệm chỉ là trợ duyên thù thắng mà thôi.

Tuyệt đối không thể mong chờ ở sự trợ niệm mà lơ là Tín,Nguyện và Hạnh lúc còn sinh tiền.Một người không có Tín Hạnh và Nguyện thì khó nhờ vào trợ niệm để được vãng sinh.Tin vào Phật Lực nhiệm mầu.Người tu Tịnh Độ sẵn sàn trợ niệm để kết duyên lành nhưng luôn luôn sách tấn rằng các đạo hữu vấn đề là tu ngay bây giờ chứ không phải chờ để được trợ niệm vào lúc lâm chung.

Hỏi: Nghe rằng có hai lọai niệm Phật :Tự lực niệm Phật và tha lực niệm Phật.Sự phân biệt này có cần thiết hay không chỉ là vẽ rắn thêm chân?

Đáp: Sự phân biệt này rất chính đáng vì sẽ giúp người tu hiểu chính xác Pháp Môn Tịnh Độ.

-Trước hết cần giản biệt Ngọai Đạo niệm Phật,họ đã mượn 6 chữ Hồng Danh muôn đức NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà luyện điển mở luân xa,lại giải thích Kinh A Di Đà theo lối đó.Quả là Tà Ma Ngọai Đạo ! Không cần phải bàn thêm, đã gieo nhân nào thì sẽ có quả đó.

Bây giờ nói đến chuyện trong nhà Phật,và xin đi từ thô đến tế:

Không thiếu người niệm Phật để cầu phước báo nhân thiên,nghĩa là mong hiện đời mình ấm no hạnh phúc,sau khi chết được tái sinh về các nẻo Trời,Người. Đây là vì cầu phước mới niệm Phật-Lệch với bản hòai của Đức Thích Ca, Đức A Di Đà .Kế đến là những người tu dùng 6 chữ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT là để diệt trừ vọng niệm cho bản thân mình hoặc khai ngộ bổn tâm.Vậy là không họp với tôn chỉ của Tông Tịnh Độ do Đức Thích Ca dạy, đó là tự tu niệm Phật.Dĩ nhiên những người này không thể vãng sinh.
-Sau cùng xin bàn đến những người tu niệm Phật chân chánh nghĩa là họ có đủ Tín Nguyện và Hạnh,và Nguyện căn cứ theo lời Phật dạy trong ba Bộ Kinh : Phật Thuyết Vô Lượng Thọ,Phật Thuyết Qúan Vô Lượng Thọ Phật,và Phật Thuyết A Di Đà.

Trong ba Bộ Kinh trên,trọng yếu nhất là Phật Thuyết Vô Lượng Thọ .Trong bộ Kinh này, Đức Phật Thích Ca dạy cho chúng ta về nhân địa bản Hạnh và Đại Nguyyện của Đức Phật A Di Đà.Nếu không có Đại Nguyện của Đức A Di Đà thì không thể có cõi Tây Phương Cực Lạc và không ai có thể vãng sinh về đó được dù tu cao đến đâu ! Do không thấu triệt được điều này,nhiều người niệm Phật mà trong tâm tính tóan đủ điều .Nào là cần phải niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất lọan mới được vãng sinh,nào là không biết khi chết Phật A Di Đà có đến rước không đây,nào là những người giới hạnh thanh tịnh mà niệm Phật mới được vãng sinh..v..v…Đây gọi là Tự lực niệm Phật.Nghĩa là cứ trông cậy vào công hạnh của mình để được vãng sinh , dùng phàm trí mà suy lường Phật trí.Do đó tu rất nhọc nhằn mà không chắc là có được vãng sinh hay không.

Tha lực là những người tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của Đức Phật Thích Ca trong 3 Bộ Kinh trên. Nghĩa là tuyệt đối tin tưởng vào Bổn Nguyện của Đức A Di Đà là dùng Danh hiệu Ngài để cứu độ tất cả chúng sinh.Cõi Tây Phương Cực Lạc có là do Đức Phật A Di Đà tạo ra cho những người được nghe Danh hiệu Ngài,tin tưởng Ngài.Vì vậy khi có đại phước duyên là hiểu rõ và tin sâu điều trên , họ Trì Danh hiệu Phật với niềm hoan hỷ vô tư,trong tâm không thể tính tóan lo nghĩ gì cả.Họ biết rằng họ chỉ cần tin tưởng,siêng năng niệm Phật là đủ.Mọi chuyện còn lại là do Đức Phật A Di Đà lo.Vấn đề vãng sinh là chuyện đương nhiên.

Dịch Giả:Viên Thông
Đánh Máy: PT Nguyên Trí

An Lập Tịnh Độ

An Lập Tịnh Độ Không phải chỉ có Phật A Di Ðà có Tịnh Ðộ mà chư Phật Bồ Tát ở mười phương đều có tịnh độ. Như thế, tịnh độ là điểm cứu cánh của chư Phật. Vì cớ nào mà các Ngài an lập tịnh độ? Ðức Phật Thích Ca đã căn cứ vào căn cơ nào để nói pháp môn Tịnh Ðộ? Ðây là vấn đề người tu tịnh độ cần biết.

Ở đời có người nhơn ác bị ác báo hiện tiền nên kinh hoàng sợ sệt và cầu sanh tịnh độ; có người nhơn bị bức bách vì sinh hoạt, cơ hàn khốn khổ mà cầu sanh tịnh độ; có người nhơn bức não bởi các khổ già bịnh mà cầu sanh tịnh độ; tất cả đều do tâm lý lánh khổ tìm vui làm động cơ cầu sanh tịnh độ.

Nhưng xét cho kỹ chư Phật an lập tịnh độ, đức Thế Tôn nói tịnh độ pháp môn, tuy có ý phụ là làm cho chúng sanh chán khổ thích vui, nhưng không phải là bản ý chính sáng lập và nói ra pháp môn tịnh độ. Bản ý chính của Ðức Phật là muốn an lập pháp môn chơn chánh phát tâm Ðại Thừa của Bồ Tát mà nói ra.

Chúng sanh phàm phu có tâm chán khổ tìm vui, lòng chỉ thích khoái lạc không muốn dứt trừ sinh tử, như nhàm chán khổ ở ba đường ác, muốn gìn giữ để được làm người không mất thân này, nhàm chán khổ ở cõi người muốn cầu sanh về cõi trời, nhàm chán khổ ở Dục giới cầu sanh về Sắc giới, nhàm chán Sắc giới cầu sanh về Vô sắc giới, chỉ dùng các pháp nhơn thiên thừa như Ngũ giới, Thập thiện, Bát định.

Người giữ được năm giới có thể được sanh làm người không mất; tu thập thiện bát định được sanh về cõi trời, chư Phật cần gì an lập tịnh độ? Ðức Phật Thích Ca nói ra pháp môn Tịnh Ðộ này vì Ngài thấy ba cõi như lao ngục, hàng nhị thừa như oan gia, sanh tử ở gần, muốn ra khỏi ba cõi dứt hẳn sanh tử, cần phải biết tam giới là khổ, chúng sanh bất tịnh, vô thường, vô ngã.

Nếu y theo Tứ Niệm Xứ, khởi tu Tứ Chánh Cần, Bát Chánh Ðạo, Ba Mươi Bảy Pháp Bồ Ðề, tinh tấn cần tu, ở trong một đời tuy chưa được quả A la hán cũng có thể được quả Tu Ðà Hoàn, nhờ được quả Tu Ðà Hoàn vĩnh viễn không thối chuyển tuy vẫn còn chịu các khổ sanh tử phiền não; cũng không cần y theo pháp môn tịnh độ cầu sanh về tịnh độ, như các nước Tiểu Thừa Phật giáo Miến Ðiện Tích Lan chỉ cần cầu được quả A la hán, liễu sanh thoát tử, do đó các xứ Tích Lan, Miến Ðiện không có pháp môn tịnh độ này.

Từ đó suy ra, chư Phật an lập tịnh độ và đức Bổn Sư tuyên nói tịnh độ không phải vì phàm phu, nhị thừa, thực vì chúng sanh có căn tánh Ðại Thừa, người nghe Phật pháp không cầu có phước báu an lạc đời sau, không có ý muốn tự ra khỏi ba cõi khổ não sanh tử, mà vì người phát tâm Ðại Thừa độ thoát tất cả chúng sanh mà Ngài nói pháp môn này.

Phát tâm Ðại Thừa là người hiểu biết lý các pháp do nhân duyên sanh, biết tất cả pháp đều do nhân duyên sanh, vì pháp do các duyên sanh nên tất cả là tất cả pháp; chúng sanh do các duyên mà sanh nên một chúng sanh tức là tất cả chúng sanh, lìa tất cả chúng sanh ra không có cái ta nào khác. Nếu không làm cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo, tức là không có ông Phật riêng ta có thể thành.

Do đó mà phát đại nguyện rộng độ hết tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo, quyết không lìa tất cả chúng sanh mà tự mình thoát khỏi sanh tử, vì chúng sanh tức là chính mình và chính mình tức là chúng sanh, không có chúng sanh và ta khác nhau (sóng & nước) nên gọi: “Không ngã tướng, không chúng sanh tướng, không nhơn tướng, không thọ giả tướng”, không thể lìa ngoài chúng sanh mà mình được độ thoát.

Bồ Tát dùng đồng thể không khác không hai với tất cả chúng sanh mà phát từ nguyện phổ độ tất cả chúng sanh. Nhưng muốn thành mãn nguyện này nếu là người không chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác thì không làm được. Tuy người có nguyện này thực sự không có ngày thành tựu.

Dù có đại bi tâm muốn độ hết thảy chúng sanh trong pháp giới, muốn độ vô số chúng sanh cần phải đoạn vô biên phiền não, tu học vô lượng pháp môn, thành tựu vô lượng phước đức trí huệ trang nghiêm viên mãn Phật quả cần phải qua ba a tăng tỳ kiếp, vào vô lượng thế giới, độ vô số chúng sanh, thực không phải khả năng của một chúng sanh có thể làm được. Trong Khởi Tín Luận nói: “Tín tâm đã thành tựu, vào chánh định tụ, cần trải qua mười ngàn Ðại Kiếp”. Ðại Thừa Tín Tâm thành tựu còn khó như thế huống chi muốn chứng thành Phật Quả.

Thành Phật không phải là khả năng một đời, người đã phát tâm Ðại Thừa cần tu Lục Ðộ. Khi tu Lục Ðộ sẽ có nhiều nghịch duyên, nhiều thứ liên tục phá hoại tâm Ðại Thừa, vây quanh toàn là những hiểm ách phá hoại tâm Ðại Thừa mà mạng người thì ngắn ngủi, một khi vô thường đến, hoặc sanh lên cõi vui, hoặc đọa vào cõi khổ lại thêm bị ách nạn to lớn làm mê mất tâm Ðại Thừa, tâm bồ đề.

Do nhiều thứ ác duyên như thế, Bồ Tát tuy đã phát tâm Ðại Thừa mà muốn gìn giữ cho không bị lui sụt thực không phải là chuyện dễ. Trong kinh dạy: “Chư Phật lúc nào cũng có trách nhiệm bảo vệ cho Bồ Tát”.

Kinh Kim Cang nói: “Như Lai khéo hộ niệm các Bồ Tát.” Bồ Tát đã phát tâm Ðại Thừa nhưng chưa có khả năng chẳng lui sụt, chư Phật đã dùng pháp từ bi nào để hộ niệm cho các Bồ Tát phát tâm Ðại Thừa thoát khỏi hiểm nạn lui sụt tan mất? Ðể hộ niệm Bồ Tát đã phát tâm Ðại Thừa khỏi bị lui sụt, chư Phật đã an lập quốc độ thanh tịnh trang nghiêm. Chư Bồ Tát có duyên với tịnh độ nào liền phát tâm sanh về tịnh độ ấy.

Tùy theo chỗ phát nguyện, khởi lòng tin quyết định, tâm chuyên nhất thì khi lâm chung tùy theo nguyện mình mà vãng sanh về tịnh độ, nghe pháp được Bất thối, rồi trở lại khắp độ tất cả chúng sanh. Nếu chư Phật không an lập tịnh độ để các Bồ Tát mới phát tâm nương về, một khi tâm bị lui sụt thì những công đức tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ sẽ tiêu tan vô ích. Vì thế, Bồ Tát phải lấy tịnh độ làm chỗ an trụ mới không bị bất thối thất tâm Ðại Thừa bồ đề và khỏi uổng mất công trước.

Ðó là bản ý của Phật A Di Ðà và chư Phật trong mười phương thành lập tịnh độ và cũng là chơn nghĩa để Phật Thích Ca Mâu Ni nói pháp môn tịnh độ. Người tu tịnh độ cần phải hiểu rõ yếu nghĩa này.

Trích Vãng Sanh Tịnh Độ Luận Giảng Yếu

So Sánh Công Đức Niệm Phật Của Tuân Thức Đại Sư

So Sánh Công Đức Niệm Phật Của Tuân Thức Đại SưTrong Kinh Đại Bát Niết Bàn thuyết minh rằng: Giả sử có thiện nam tín nữ nào phát nguyện trong thời gian một tháng, thường đem y phục và các thức ăn uống cúng dường cho tất cả chúng sanh (tất cả chúng sanh không phải riêng chỉ cho nhân loại mà toàn thể chúng sanh trong lục đạo đều gồm trong ấy, vả lại không phải riêng chỉ cho chúng sanh trong một quốc độ nào, lại riêng nói một đạo trong sáu đạo là bàng sanh tức là súc sanh, súc sanh do người nuôi mà mệnh danh như thế, bàng sanh thì đúng hơn vì hình nó đi ngang đội trời mà đi, súc sanh chỉ số ít mà thôi. Như trong Kinh Lâu Thán, Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ thì bàng sanh chủng loại sai khác không đồng nhau gồm có 40 ức, lại còn có các vi tế côn trùng bò bay cựa động số ấy nhiều không thể nói được, đều thuộc trong bàng sanh, lớn nhất là chim đại bàng, kim sí điểu và cá ma kiệt, cho đến nhỏ nhất như con kiến riện, con mạt cũng nhiếp trong bàng sanh. Lại còn những thứ nhục nhãn không thấy như vi trùng trong không khí, vi trùng trong nước, thiên nhãn mới thấy? Tại sao chỉ nói đến bàng sanh đạo? Vì chúng sanh các đạo khác chư Thiên, quỷ, thần v.v… nhục nhãn nhân loại không thấy được) công đức này rất lớn, nhưng không bằng có thiện nam tín nữ nào, phát tâm chí thành niệm Phật trong một niệm. Chúng ta đem công đức bố thí rất lớn nói trên mà so sánh với công đức niệm Phật trong một niệm, thì công đức bố thí chỉ bằng một phần trong 16 phần mà thôi.

Giả sử có thiện nam tín nữ nào dùng vàng đúc hình người rồi dùng xe ngựa vận tải đem đi bố thí, cho đến dùng các vật quý báu khác mỗi thứ đủ số 100, cũng đem toàn bộ đi bố thí, công đức này rất lớn, nhưng không bằng công đức của thiện nam tín nữ nào phát tâm dở chân đi một bước đến chỗ Phật.

Giả sử có thiện nam tín nữ đem xe voi lớn vận tải hết tất cả trân bảo trong nước Đại Tần, và dùng chuỗi anh lạc đủ số 100 đem đi bố thí, cũng không bằng có thiện nam tín nữ phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật.

Nếu có thiện nam tín nữ dùng tứ sự (tứ sự: 1- Thức ăn; 2- Y phục; 3- Đồ nằm; 4- Thuốc thang) cúng dường cho tất cả chúng sanh trong tam Thiên đại Thiên thế giới, công đức này rất nhiều, nhưng vẫn không bằng có thiện nam tín nữ phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật, công đức của các tiện nam tín nữ đó vô lượng vô biên không thể dùng toán số ví dụ mà xác định được.

Như trên là thuộc về Kinh Văn. Sau đây là lời phổ khuyến của Đại Sư. Tôi (lời của Đại Sư) thành kính khắp khuyên tất cả thiện nam tín nữ Phật tử tại gia có tín tâm đối với Tam Bảo (trong đây Đại Sư chỉ khuyên nhắc hàng Phật tử tại gia vì hàng Phật tử xuất gia với việc đi đến Phật đường là việc hằng ngày) mỗi ngày trong lúc sớm mai mặc y phục chỉnh tề, giữ tâm thanh tịnh, đi đến Phật đường (tức là chỗ thờ Phật), một lòng thành kính chiêm ngưỡng lễ bái Phật như thấy tôn dung của Phật sống không khác. (Liên tông Thập Tam Tổ thường dạy, khi lễ Phật phải một lòng thành kính xem Phật Bồ Tát mình đang đảnh lễ như Phật Bồ Tát thật, đừng nghĩ là tượng vàng, đồng, giấy v.v… tức là tương tự với lời dạy của Tuân Thức Đại Sư) đừng cho một ngày nào thiếu sót. Nếu vì quá bận rộn về việc công hay việc tư cũng cần phải lưu tâm tạm vào Phật đường, đốt hương cúng dường, hai tay chấp lại chí thành cung kính xá Phật ba xá, đoạn lui ra đi làm việc. Nếu những vị có thời giờ rãnh rỗi, thì không hạn định trong lúc sớm mai, mà mai chiều hay tất cả thời đều có thể đến Phật đường làm các Phật sự như lạy Phật, tụng Kinh, sám hối cho đến cúng dường hoa hương, hay lau chùi bàn Phật, tượng Phật v.v… Quý vị nên nhận chân thân người khó được, Phật Pháp khó gặp, cơ hội thuận tiện lại còn khó hơn, vì sự vô thường không nhất định, giờ trước còn khỏe mạnh, giờ sau chẳng biết thế nào…

Xin quý vị xem kỹ đoạn Kinh Văn trên nói về công đức niệm Phật trong một niệm, và dở chân đi một bước đến Phật đường còn thù thắng đến dường ấy, huống chi mỗi niệm mỗi niệm đều niệm Phật, mỗi bước mỗi bước đi đến chỗ Phật, hay là nhiễu Phật niệm Phật, thì tội chướng được tiêu diệt, công đức được tăng trưởng thật không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời luận bàn cho cùng được.

Lời phụ: Nguyên đề bài văn này là so sánh công đức niệm Phật của Tuân Thức Đại Sư.

Đại phàm nói so sánh thì phải đem việc này so sánh với việc khác, như thế tại sao chỉ nói so sánh công đức niệm Phật không thấy nói đem công đức gì để so sánh? Sự việc này chúng ta không nên thắc mắc, cứ đọc Kinh Văn của Đại Sư đã trích dẫn thì biết. Nghĩa là, Kinh Văn có nói rõ là đem công đức bố thí để so sánh với công đức niệm Phật, và đem công đức bố thí để so sánh với công đức phát tâm dở chân đi một bước đến Phật.

Trong đây có điều nên lưu ý là, phát lòng thành kính niệm Phật trong một niệm, và phát tâm cất một bước đi đến Phật, là để thấy rõ niệm Phật quá ít, cũng như cất chân đi đến Phật chỉ một bước, mà công đức dường ấy. Thì mỗi niệm đều niệm Phật, và mỗi bước đều để tâm đi đến Phật, thì công đức ấy làm sao diễn tả cho cùng. Sự việc này trong lời khuyến tấn Đại Sư có nói rõ, ở đây Thuật giả chỉ nhắc lại cho quý vị lưu ý mà dụng tâm niệm Phật trong mỗi niệm, và dù gần hay xa cũng gắng đi cho tới chỗ Phật, đừng sợ nhọc tâm nhọc sức mà sanh lười nhác chỉ niệm vài ba trăm câu rồi nghỉ, hay đi vài trăm bước sợ mỏi chân. Như thế thì với công đức vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn kia không gặt hái được phần nào, và trong đây nói đi đến chỗ Phật không nhất định như thờ Phật trong nhà, đi vài chục bước thì tới, nếu từ nhà đến Chùa thì không nhất định là bao nhiêu bước. Công đức phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật, cũng gồm nhiếp trong công đức niệm Phật. Nên ở đề mục chỉ nói so sánh công đức niệm Phật là đủ và có điều chúng ta nên ý thức là trong bài văn nói sự so sánh công đức niệm Phật này, nói việc phát tâm đi đến Phật là thuộc về việc sau khi Đức Thế Tôn đã nhập diệt. Thế nên lời khuyến tấn của Tuân thức Đại Sư có nhấn mạnh những vị bận rộn việc công tư cũng nên lưu tâm vào Phật đường v.v…

Tiện đây soạn giả xin y trong Kinh Hiền Ngu kính dẫn một đoạn nói về việc Trưởng giả Cấp Cô Độc phát tâm đi chiêm bái đức Bổn Sư Thích Tôn khi còn tại thế cũng tương tự như trong Kinh Niết Bàn đã nói trên. Sau đây là Kinh Văn:

Tu Đạt nghe nói một việc (việc ấy thuộc Kinh Văn ở trên) quý hóa, vui mừng bủn rủn chân tay một lòng tin kính, mong cho chóng sáng, để đến yết kiến Phật. Vì lòng thành kính thiết tha có thần cảm ứng, đương nửa đêm tối trời mà ông tự thấy ánh sáng tỏ soi khắp mặt đất như ban ngày, lòng hoan hỉ khôn xiết! Đứng dậy đi sang nước La Duyệt Kỳ để yết kiến Đức Thế Tôn, vừa ra khỏi thành gặp ngôi miếu thờ thiên thần, ông bước vào làm lễ, tự nhiên quên mất tâm khát vọng Phật, lại thấy tối om, sợ mãnh thú ác qủy, ông định trở về thành chờ đợi sáng sẽ đi.

Cũng may ông có người bạn thân, chết được sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, thấy ông hối hận trở về, liền xuống bảo rằng: “Cư sĩ! Ông chớ e ngại nữa! Đi yết kiến Phật được phúc đức vô biên, ví nay được một trăm cỗ xe chở châu báu, không bằng cất chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn, còn được lợi gấp muôn ngàn.

Cư sĩ! Ông đi yết kiến Phật, chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này được một trăm con voi chở châu báu, cũng không bằng rời chân một bước để đi yết kiến đức Thế Tôn còn được lợi ích khôn kể.

Cư sĩ! Ông nên đi chớ ngần ngại nữa, chính như ông có được vàng bạc châu báu, đầy cõi Diêm Phù chăng nữa, cũng không bằng dời chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn, còn được lợi trăm muôn ngàn triệu.

Cư sĩ! Ông nên đi chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này ông được vàng bạc châu báu đầy bốn thiên hạ, cũng không bằng cất chân một bước đi viếng đức Thế Tôn, còn được lợi ích gấp trăm muôn ngàn triệu kể trên.

Thích Trí Minh

12 Phương Pháp Niệm Phật

Phương Pháp Niệm PhậtPháp môn niệm Phật vốn xuất phát từ chữ Phạn “Phật Đà Na Tức Lặc Đế”, ý nghĩa là nhờ niệm đức Phật, chuyển dần thành phương pháp tu trì quán tướng hảo Phật, xướng danh hiệu Phật v.v… Tại các tông phái đại thừa Phật giáo Trung Quốc, ngoài các thiền sĩ phái Tam Luận (Trung Quán) cho đến bộ phận tông Lâm Tế ra, không một phái nào không tu học pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ Cực lạc phương Tây.

1.- Niệm Phật là pháp tu cộng đồng đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc

Phật giáo đại thừa dù là hiển hay mật gần như đều xiển dương pháp môn Tịnh độ của Phật A Di Đà. Mật giáo có nghi quỹ tu trì của họ. Hiển giáo chủ yếu ý các vào kinh điển như ba bộ kinh nói về Tịnh độ là:

– Phật thuyết a Di Đà kinh.

– Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ kinh, cũng gọi là Thập Lục Quán Kinh.

– Phật thuyết Vô Lượng Thọ kinh, lại còn gọi là Đại A Di Đà kinh. Kinh này từ đời Hán đến đời Tống trước sau cộng có 12 bản dich, từ Tống Nguyên về sau chỉ còn năm bản Cư sĩ Vương Nhật Hưu triều Tống, y cứ vào bốn bản dịch trong số đó, tổng hợp thành “Phật thuyết Đại A Di Đà kinh”. Năm Dân quốc thứ 35 (1946) có cư sĩ Hạ Liên Cư tập hợp năm bản dịch đời Hán, Ngụy, Ngô, Đường, Tống thành Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác kinh, tổng cộng 48 chương. Kinh này giới thiệu rất tường tận y chính trang nghiêm, nhân quả sự lý đối với pháp môn Tịnh độ của Phật A Di Đà.

Lại có học giả Tịnh độ khác như đại sư Ấn Quang cho rằng, chương Đại Thế Chí Bồ tát niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm, cho đến phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện trong kinh Hoa Nghiêm cũng thuộc kinh điển trọng yếu hoằng dương pháp môn Tịnh độ của Phật A Di Đà. Do đó cùng với ba kinh trên hợp lại gọi là năm kinh Tịnh độ.

Tại Trung Quốc các tông phái đại thừa Phật giáo, ngoài các thiền sĩ phái Tam Luận (Trung Quán) cho đến bộ phận tông Lâm Tế ra, không dùng pháp môn niệm Phật, còn những nhà khác gần như không một phái nào không học pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ Cực lạc phương Tây. Do đó đủ biết niệm Phật là pháp tu cộng đồng đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc.

2.- Phương pháp niệm Phật trong kinh A Hàm

Pháp môn niệm Phật vốn xuất phát từ Phạn ngữ Phật Đà Na Tức Lặc Đế (Buddhanusireti), ý là nhờ chuyển niệm đức Phật, chuyển dần thành phương pháp tu trì quán tướng hảo Phật, xướng niệm danh hiệu Phật v.v… Trong kinh Tạp A Hàm thứ 33, niệm Phật thuộc về pháp môn lục niệm, trong kinh Tăng Nhất A Hàm thứ 2 thuộc về pháp môn thập niệm, phương pháp niệm Phật ấy là: “Thân ngay ý chính, ngồi thế kiết già, buộc niệm phía trước, không nghĩ gì khác, chuyên tinh niệm Phật, quán hình tướng Phật, chưa từng rời mắt. Đã không rời mắt, lại còn nhớ công đức của Như Lai. Thể của Như Lai, do kim cương tạo thành, đầy đủ thập lực, tứ vô sở úy, dũng kiện trong chúng. Diện mạo Như Lai, đoan chính vô song, nhìn không biết chán, thành tựu giới đức, cũng như kim cang, không thể hoại được. Thanh tịnh không tỳ vết, cũng như lưu ly. Tam muội Như Lai, chưa từng có giảm, đã thường tịch tịnh, không một niệm khác, kiêu mạn hung tàn, các thứ lo sợ, ý muốn oán giận, tâm ngu mê hoặc, đều được trừ hết. Huệ thân Như Lai, trí không ngằn mé, chẳng còn chướng ngại. Thân của Như Lai, thành tựu giải thoát, dứt bặt các đường, không sanh trở lại, vì nguyện độ sanh, mới sanh trở lại. Thân của Như Lai, vượt thành tri kiến, biết căn cơ người, nên độ hay không, chết đây sanh kia, xoay vần qua lại, trong khoảng sanh tử, có người giải thoát, đều biết rõ hết. Cho nên tu hành niệm Phật, sẽ được khen ngợi, thành quả báo lớn, điều lành đều đến, được cam lộ vị, đến chỗ vô vi, thành tựu thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả sa môn, đến nơi Niết bàn”.

Phương pháp niệm Phật này buộc tâm nhớ niệm, chuyên tâm quán tưởng công đức vô lượng của Phật, bao quát quán tưởng thân thể, nhan sắc của Phật và năm phần pháp thân Phật như: giới đức, tam muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Nếu có thể theo đó mà tu hành pháp môn niệm Phật thì được thành tựu quả báo lớn, cho đến tự đến Niết bàn, tự được giải thoát. Đây là pháp môn niệm Phật của Tiểu Thừa.

3.- Phương pháp niệm Phật trong kinh Ban Chu Tam Muội

Nếu y theo Hành phẩm trong kinh Ban Chu Tam Muội đã nêu thì “Trì pháp nào được vãng sanh Cực lạc quốc?” Phật A Di Đà nói rằng: “Muốn sanh về nước kia, nên niệm danh hiệu ta, không lúc nào dừng nghỉ, thì sẽ được vãng sanh”. Phật lại nói rằng: “Chuyên niệm thì sẽ được vãng sanh. Thương nhớ thân Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, quang minh chiếu suốt, đoan chính không thể sánh, ở trong Bồ tát Tăng mà nói pháp… Muốn thấy được mười phương chư Phật hiện tại nên nhất tâm niệm cõi Phật kia, không được nghĩ khác, như thế sẽ thấy được”.

Qua kinh Ban Chu Tam Muội ta thấy, phương pháp tu hành là niệm danh hiệu Phật, niệm thân Phật tướng hảo quang minh, niệm tưởng cõi Phật. Nếu thành tựu được tam muội, thì sẽ thể nghiệm được “Điều ta hằng tâm niệm là thấy tâm thành Phật. Nếu tâm tự thấy biết chính nó thì tâm ấy chính là Phật, tâm Phật ở ngay nơi thân của ta. Nếu tâm còn thấy Phật (bên ngoài) thì tâm ấy không tự biết không tự thấy chính mình, tâm mà có tưởng đó là tâm si. Tâm không có tưởng chính là Niết bàn”. Đó là pháp môn Đại thừa từ niệm Phật mà thật chứng chân như thật tướng.

4.- Phương pháp niệm Phật trong kinh Vô Lượng Thọ

Căn cứ vào quyển hạ kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ có nói rằng “Có chúng sanh nào, nghe danh hiệu Phật A Di Đà, tín tâm hoan hỷ, cho đến một niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về nước kia, liền được vãng sanh, trụ nơi bất thối chuyển, chỉ trừ kẻ ngũ nghịch hủy báng chánh pháp”. Theo kinh này thì điều kiện vãng sanh cõi nước Cực lạc rất đơn giản, không giống như kinh Ban Chu Tam Muội cần phải niệm danh hiệu Phật không được dừng nghĩ mới được vãng sanh Phật quốc. Chỉ cần nguyện sanh cõi nước kia, ngoại trừ người phạm tội ngũ nghịch (giết ca, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng) và người hủy báng chánh pháp đại thừa, thậm chí chỉ cần một niệm tín nguyện đều có thể vãng sanh về cõi kia”.

Chẳng qua kinh này dạy vãng sanh Cực Lạc có ba hạng người thượng, trung, hạ; hai hạng thượng và trung điều kiện niệm Phật vãng sanh là “chuyên niệm một hướng đức Phật Vô Lượng Thọ”, điều kiện niệm Phật vãng sanh của bậc hạ là “chuyên một ý hướng, cho đến mười niệm, niệm đức Phật Vô Lượng Thọ… Thậm chí chỉ một niệm niệm đức Phật kia,dùng tâm chí thành, nguyện sanh về nước Phật A Di Đà, người này lúc lâm chung, mộng thấy đức Phật A Di Đà cũng được vãng sanh”. Từ “chuyên niệm một hướng” đến “thậm chí một niệm”, đều có thể vãng sanh nước Phật. Vậy phải niệm Phật như thế nào? Phải chí thành tưởng nhờ Phật, buộc tâm vào danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ (Phật A Di Đà).

Nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của kinh này tại quyển thượng có nói “Khi ta được thành Phật, chúng sanh trong mười phương, chí tâm tín nguyện, muốn sanh về nước ta, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, ta không thành chánh giác”. Lúc đức Phật A Di Đà phát nguyện này vẫn còn ở giai đoạn hành đạo Bồ tát. Nay đã thành Phật, nguyện lực của ngài đương nhiên biến thành sự thật, cho nên khuyến khích chúng sanh, chỉ cần mười niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nhất định vãng sanh về cõi Phật, nhưng kinh này cũng hai lần nêu thêm “thậm chí một niệm” cũng được vãng sanh nước Phật.

5.- Phương pháp niệm Phật trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và các kinh khác

Căn cứ theo yêu cầu trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đàu tiên là “Cột niệm quán kỹ tịnh nghiệp của cõi Cực Lạc”, kế đến dạy “Cột niệm một chỗ, tưởng cõi Tây phương”. Rồi tưởng mặt trời, tưởng nước, tưởng đất, tưởng bảy hàng cây, tưởng ao nước bát công đức, tổng quán cây báu, ao báu cõi nước kia, quán y báo trang nghiêm của Phật Vô Lượng Thọ và hai vị Bồ Tát, quán thân pháp giới của chư Phật Như Lai nhập trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh (quán tưởng thành tựu, ngay trong đời hiện tại được niệm Phật Tam muội, tức là thân chứng thật tướng), quán ánh sáng thân Phật Vô Lượng, quán Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí, quán ngồi trong hoa sen và tưởng hoa sen khép nở, quán thân tương Phật Vô Lượng Thọ một trượng sáu đang đứng trên ao nước.

Phần trên là tiêu chuẩn niệm Phật quán tưởng, niệm Phật quán tượng, niệm Phật thật tướng, kế đến kinh này lại nói pháp môn niệm Phật vãng sanh chín phẩm, trong đó đề cập chỗ niệm Phật có:

a.- Thượng phẩm thượng sanh, tu hành lục niệm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thiên, niệm giới, niệm thí), hồi hướng phát nguyện một ngày cho đến bảy ngày liền được vãng sanh.

b.- Hạ phẩm thượng sanh, nghe được đầu đề của 12 bộ kinh đại thừa, trừ được ngàn kiếp ác nghiệp cực năng, lại dạy “Hai tay chắp lại xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, xưng danh Phật rồi”. Phật A Di Đà dùng hóa Phật, hóa Quán Thế Âm, hóa Đại Thế Chí, đến trước người ấy nghênh tiếp vãng sanh về cõi Phật.

c.- Hạ phẩm hạ sanh “Hoặc có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện, ngũ nghịch thập ác, đủ các điều bất thiện”, đến lúc lâm chung, gặp được thiện trí thức vì người ấy nói diệu pháp, chỉ dạy niệm Phật, nếu chúng sanh này bị khổ bức bách “không thể niệm đức Phật kia, nên xưng danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, chí tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật, niệm liên tục không dứt, đầy đủ mười niệm, xưng danh hiệu Phật rồi, ở trong mỗi niệm trừ được tội nặng trong đường sanh tử 80 ức kiếp… ở trong khoảng một niệm liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc, ở trong hoa sen mãn 12 đại kiếp hoa sen mới nở ra”. Thấy được hai vị đại Bồ Tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí vì người ấy mà nói pháp.

Theo kinh văn đã nêu, trừ ba loại niệm Phật quán tưởng, quán tượng và thật tướng, đối với chúng sanh phàm phu nói chung vẫn có thể dùng pháp môn lục niệm, xưng danh niệm Phật, đặc biệt đối với chúng sanh vãng sanh hạ phẩm nên dùng xưng danh niệm Phật là thích hợp nhất.

Phương pháp xưng danh niệm Phật, như phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa có nói “Chỉ xưng Nam Mô Phật, đều đã thành Phật đạo”, lại nói “Tiếng vi diệu rất tinh, xưng Nam Mô chư Phật”.

Trong kinh Phật thuyết A Di Đà thì nói “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, nghe nói Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu ngài” một ngày cho đến bảy ngày đạt đến trình độ “nhất tâm bất loạn” thì lúc lâm chung liền được Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng đến trước người ấy tiếp dẫn vãng sanh về cõi Phật, xưng danh hiệu Phật, trì danh niệm Phật đều gọi là pháp môn niệm Phật.

6.- Phương pháp niệm Phật từ một niệm đến mười niệm

Trong nhiều đời các vị đại sư ở Trung Quốc, người tuyên duyên pháp môn niệm Phật tương đối nhiều, vả lại mỗi vị từ đề xuất phương pháp cụ thể niệm Phật sinh Tịnh độ.

Đại sư Đàm Loan thời Bắc Ngụy, chú giải “Vãng Luận” của ngài Thế Thân giải thích mười niệm vãng sanh như sau “Tâm không nghĩ gì khác, nhất tâm tương tục, niệm Phật A Di Dà đủ mười số gọi là mười niệm”. Lại nói ” Niệm mười niệm này, dùng ghi nhớ niệm làm nghĩa, duyên theo tướng hảo của Phật, xưng danh hiệu Phật, dùng tâm mười niệm tương tục, chuyên tâm vào Phật A Di Đà, rất là quan trọng”.

Trong An Lạc Tập quyển thượng của đại sư Đạo Xước triều Đường có nó “Chỉ nhớ niệm Phật A Di Đà, hoặc tổng tướng hoặc biệt tướng, tùy duyên mà quán, thẳng tắt mười niệm, không xen tạp niệm khác gọi là mười niệm”.

Tập “Vãng Sanh Lễ Tán Thích Bổn Nguyện Văn” do đại sư Thiện Đạo triều Đường có viết “Mười phương chúng sanh xưng danh hiệu ta, cho đến mười tiếng, nếu không được vãng sanh, ta không thành chánh giác”. Tức là dùng miệng niệm mười tiếng Phật để giải thích phép tu mười niệm.
Trong “Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu” của đại sư Tân La Nguyễn Hiền, giải thích mười niệm tức là xưng niệm danh hiệu không chút gián đoạn, niệm đủ mười số. Thuyết này với thuyết của ngài Đàm Loan giống nhau.

Học giả Nhật Bản cận đại là Vọng Nguyệt Tín Hạnh khảo sát chữ niệm dùng trong niệm Phật bằng chũ Phạn ý là tâm niệm (chữ Phạn là Citta) ở trong kinh Vô Lượng Thọ nói rõ chỗ ba hạng niệm Phật vãng sanh, chữ niệm trong Vô Lượng Thọ Phật ý là tùy niệm (chữ Phạn là Anusmrti) hoặc có ý là tư duy (chữ Phạn là Mansikr).

Đủ chứng tỏ chữ niệm trong mười niệm cho đến một niệm vốn là tâm ghi nhớ, tư duy thêm vào xưng danh niệm hoặc trì danh niệm, tức là trong miệng xưng danh hiệu Phật A Di Đà, đồng thời ở trong tâm cũng biết rõ là đang tuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà, trong tâm rõ ràng không có vọng tưởng tạp niệm, chỉ biết lấy từ trong miệng mình đang tuyên xưng danh hiệu Phật, một tiếng Phật hiệu này cũng là một thời niệm niệm Phật, trong miệng niệm liên tục không gián đoạn cho đủ mười tiếng, trong tâm không có xuất hiện tạp niệm nào khác, đó là mười niệm tương tục cũng là niệm Phật mười niệm.

7.- Ngũ niệm môn

Đại sư Đàm Loan thời Bắc Ngụy được tôn là thủy tổ tu pháp Tịnh độ tại Trung Quốc có chú thích “Vãng sanh luận” của Bồ tát Thế Thân, giải thích Ngũ niệm môn của Bồ tát Thế Thân chủ trương như sau:

a.- Lễ bái môn: Trong tâm nguyện sanh về cõi nước an lạc, cần phải lễ bái Phật A Di Đà.
b.- Tán thán môn: Xưng niệm danh hiệu Tận Thập Phương Vô Ngại Quang Như Lai (tên khác của Phật A Di Đà).
c.- Tác nguyện môn: Như thật tu hành Xa Ma Tha (tu chỉ).
d.- Quán sát môn: Như thật tu hành Tỳ Bà Xá Na (tu quán).
e.- Hồi hướng môn: Đem tất cả công đức căn lành có được, vì muốn bạt trừ tất cả khổ của chúng sanh, mà nguyện nhiếp thủ họ đồng sinh về cõi nước an lạc.

Phương pháp niệm Phật ngũ niệm môn này thật là Lễ Bái Đức Di Đà tin nguyện được vãng sanh, xưng danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, phát tâm Bồ đề quảng độ chúng sanh.

8.- Ngũ phương tiện niệm Phật môn

Ngũ phương tiện niệm Phật môn của đại sư Trí Khải tông Thiên Thai triều Tùy giới thiệu tu pháp niệm Phật môn như sau:

a.- Xưng danh vãng sanh niệm Phật tam muội môn: Hành giả lúc miệng xưng Nam Mô A Di Đà Phật, tâm phát nguyện sanh về Tịnh độ nước Phật. Môn này là vì chúng sanh thích xưng danh hiệu Phật nói nói.

b.- Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Hành giả tưởng hình tượng Phật chuyên chú không thôi, bèn được thấy Phật, các tội chướng đều được tiêu trừ. Môn này là vì người ưa thích thấy thân Phật, lo sợ tội chướng mà nói.

c.- Chư cảnh duy tâm niệm Phật môn: Hành giả quán tưởng thân Phật là tự tâm sanh khỏi, không có cảnh giới nào khác. Môn này là vì người tâm mê chấp cảnh mà nói.

d.- Tâm cảnh câu ly niệm Phật môn: Hành giả quán tưởng tâm này, cũng không phải tự mình có thể được. Môn này là vì người hay suy tín tự tâm thật có mà nói.

e.- Tánh khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả lúc này vào sâu định vắng lặng, sắp nhập Niết bàn, nương nhờ vào sự gia bị hộ niệm của chư Phật mười phương, hưng khởi công năng trí tuệ, trong khoảng một niệm thanh tịnh cõi nước của Phật, thành tựu chúng sanh. Môn này là vì người ưa thích định vắng lặng nhập cảnh giới Niết bàn mà nói.

Ngũ phương tiện niệm Phật môn đã nêu trên, thứ nhất là xưng danh niệm Phật, thứ hai là quán tướng niệm Phật, thứ ba và thứ tư là nhân hành và quả cảnh của thật tướng niệm Phật, thứ năm là phát đại Bồ đề tâm.

Đại sư Trí Giả từ trong văn này, đặc biệt cường điệu “Nếu dùng một lời nói mà đầy đủ các môn, thì không gì qua niệm Phật”. Lại nói “Nếu lúc niệm Phật, nên biết người này cùng với đức Văn Thù Sư Lợi không có khác biệt”.

9.- Pháp tu trì niệm Phật tam muội

Trong kinh Địa Tạng, giới thiệu kinh luận về niệm Phật tam muội và các trứ thuật của lịch đại Tổ sư tương đối nhiều, chẳng hạn như: Ban Chu tam muội trong kinh Ban Chu Tam Muội, Kinh Đại A Di Đà quyển hạ, phẩm nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm dịch đời Tấn, Nhất Hạnh Tam muội trong kinh Văn Thù Sư Lợi sở thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, Đại Trí Độ Luận quyển 21, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận quyển 12, Tư Duy Lược Yếu Pháp, Nhiếp Đại Thừa Luận quyển hạ, Ngũ Phượng Tiện niệm Phật môn của Trí Khải tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm kinh Hạnh nguyện phẩm Biệt Hành sớ sao quyển 4 của Ngũ Tổ Tông Mật tông Hoa Nghiêm, An Lạc Tập quyển hạ của Đạo Xước, Thích Tịnh Độ Quần Nghi luận quyển 7 của Hoài Cảm.

Y cứ theo các tư liệu trên thì tu pháp niệm Phật tam muội phải đầy đủ:

a.- Phải có chỗ nhất định, kỳ hạn nhất định.
b.- Phải có tín nguyện vãng sanh cõi Phật.
c.- Phải dùng tâm chí thành thường niệm Phật không dứt.
d.- Niệm Phật phải có thứ lớp tiến dần, có thể chia làm bốn cấp:

– Xưng danh niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, mỗi tiếng một câu, niệm niệm tương tục, miệng niệm danh hiệu Phật, tâm buộc vào tiếng niệm Phật.
– Quán tượng niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, niệm niệm quán sát 32 tướng, 80 vẻ đẹp của thân hình đức Phật, phóng ra ánh sáng lớn ở trong chúng nói pháp.
– Quán tưởng niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, niệm niệm hướng tâm về cõi nước Phật, quán tưởng y chính trang nghiệm của Tịnh độ quốc, cùng tất cả công đức pháp thân, tu trí giải thoát của Phật, Bồ tát và La hán.
– Thật tướng niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, không giữ tướng mạo trong ngoài, niệm niệm tương tục, quán tưởng thể nghiệm, tâm Phật chúng sanh, tất cả các pháp, thật tướng vô tướng, chân tâm vô tâm, chẳng không chẳng có, tức không tức có, chân tục không hai, vạn pháp bình đẳng.

Bốn thứ lớp nêu trên, hàng phàm phu tốt nhất nên từ xưng danh hiệu niệm Phật khởi tu, nếu được thân tâm an ổn tiến tu tầng cấp thứ hai, thứ ba, cho đến thật tướng niệm Phật thì tương đương với minh tâm kiến tánh của Thiền tông. Cần phải tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm an ổn, không sanh phiền não nhân ngã mới có thể tu trì được, trái lại chỉ luống công nhọc mệt, lại còn tự dối mình dối người. Làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng? Xưng danh niệm Phật, lễ bái, sám hối, phát tâm Bồ đề là phương pháp tốt nhất.

Tuy nhiên đại sư Ấn Quang thời gần đây cho rằng người hạ căn ở thời đại mạt pháp này, trong bốn loại niệm Phật nói trên, thật tướng niệm Phật là pháp môn khó trong khó. Thế nhưng đời Minh Thanh, vẫn có không ít tăng tục đại đức, chuyên tu niệm Phật tam muội như đại sư Liên Trì (Vân Thê Châu Hoằng) cuối đời Minh, ngài Tỉnh Am (Thật Hiền) triều Thanh đều từng khắc kỳ tu trì niệm Phật tam muội, lấy một trăm ngày làm kỳ hạn. Đại sư Liên Trì từng nói: “Một câu A Di Đà Phật, gồm đủ tám giáo, viên nhiếp năm tông, nên biết niệm Phật tam muội tức là căn nguyên một đời giáo hóa của Phật”. Lại đem trì danh niệm Phật chia làm:

– Minh trì, niệm ra tiếng.
– Mặc trì, niệm không ra tiếng.
– Bán minh bán mặc trì (giống như Kim cang trì của Mật tông), niệm hơi khẻ động môi, Hoặc ký số niệm, hoặc không ký số niệm đều được.

Đại sư Liên Trì lại chủ trương chấp trì danh hiệu trong kinh A Di Đà. Chấp là nghe danh hiệu, trì là nhận và giữ lấy danh hiệu Phật, không lúc nào quên, mà chấp trì này có thể chia ra:

– Sự trì, nhớ niệm không gián đoạn.
– Lý trì, thể cứu không gián đoạn.

Cùng cực của chấp trì là được nhất tâm, cũng có thể chia làm:

– Sự nhất tâm, tức là nghe danh hiệu Phật, thường nhớ niệm Phật, chữ chữ phân minh, tương tục không dứt, chỉ có một niệm này.

– Lý nhất tâm, nghe danh hiệu Phật, không chỉ nhớ niệm, mà còn nên phản quan, xem xét tỉ mỉ, nguồn gốc sâu sa, nơi bản tâm mình, hốt nhiên được khế hợp.

Còn đại sư Ngẫu Ích thì giải thích chấp trì danh hiệu là chấp trì danh hiệu Phật A Di Đà đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn. Nếu có thể niệm niệm hằng nhớ danh hiệu Phật tam muội không lúc nào quên gọi là chấp trì. Cũng có thể chia làm hai giai đoạn:

– Sự trì, chưa đạt được lý tâm này là Phật, tâm này làm Phật như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ đã nêu.

– Lý trì, tin đức Phật A Di Đà ở phương Tây trong tâm ta vốn đủ, là do tâm ta tạo, đem danh hiệu vốn đầy đủ trong tâm mình mà làm cảnh để buộc tâm. khiến cho tạm không quên. Nếu từ chỗ hàng phục được phiền não cho đến kiến hoặc tư hoặc trừ hết, đều gọi là sự nhất tâm, nếu niệm đến chỗ tâm khai, thấy được bản tánh Phật, đều gọi là lý nhất tâm. Ngài không đồng ý cái lý thể cứu của đại sư Liên Trì, vì cho rằng lý nhất tâm đem làm phương pháp thể cứu niệm Phật hoặc tham cứu niệm Phật, chẳng qua là một loại phương tiện nhiếp Thiền tông về Tịnh độ mà thôi. Trên sự thật đại sư Liên Trì dựa vào kinh nghiệm tu thiền mà đem lý nhất tâm và lý trì, giải thích cho là minh tâm kiến tánh của Thiền. Đại sư Ngẫu Ích thì từ trên lý luận phận biệt thuyết minh Thiền là Thiền, Tịnh độ là Tịnh độ, không nên lẫn lộn. Lời pháp của đại sư Liên Trì là từ sự kết hợp thể nghiệm tu chứng và luận điểm Thiền Tịnh, mà đưa ra pháp môn tu niệm Phật như thế nào để không trái với pháp môn tu Thiền.

Lại do đại sư Trí Giả tông Thiên Thai từng nói: “Có bốn loại tam muội (thường đi, thường ngồi, nửa đi nửa ngồi, chẳng đi chẳng ngồi), đồng gọi là niệm Phật tam muội, niệm Phật tam muội là vua trong tam muội”. Vì thế đại sư Ngẫu Ích cuối đời Minh cũng nói: “Niệm Phật tam muội gọi là Bảo Vương Tam Muội, là vua trong tam muội”, còn cho rằng niệm Phật Tịnh độ của phái Lô Sơn là niệm tha Phật (Phật ngoài), còn Đạt Ma truyền lại là niệm tự Phật (Phật chính mình), phái của Vĩnh Minh Diên Thọ là niệm tự tha Phật lý sự song tu, Thiền Tịnh đều đủ. Chẳng qua bản thân của đại sư Ngẫu Ích chưa điều lý được phương pháp thật tiễn của niệm Phật tam muội, ngài từ chỗ tổng hợp quan điểm của các nhà Thiền Tịnh mà thôi.

Tóm lại, niệm Phật tam muội là Bảo Vương tam muội, vua trong tam muội. Chúng ta nên khuyến khích hành giả tịnh nghiệp nên tu hành theo pháp niệm Phật này. Hành pháp chín mươi ngày theo Ban Chu tam muội thì phải thường đi, thường nằm, không ngồi, không được nghỉ, đối với người bình thường mà nói rất khó mà hành trì được. Nhưng ở vào thời đại của đại sư Liên Trì từng khích lệ không ít cư sĩ tu hành niệm Phật tam muội đạt được kết quả, cũng lấy chín mươi ngày làm kỳ hạn.

Do đó, nên đem bốn cấp tu pháp niệm Phật tam muội như đã nêu trên, phối hợp với kỳ hạn chín mươi ngày để tu tập rất thích hợp.

10.- Niệm Phật lớn tiếng (cao thanh niệm Phật)

Xưng danh niệm Phật lại còn gọi là trì danh niệm Phật, xưng danh cần dùng miệng niệm ra tiếng, trì danh hoặc có thể ra tiếng cũng có thể niệm thầm, hoặc có thể khẻ động môi. Xưng danh niệm Phật tại Trung Quốc thực hành đã lâu. Đại sư Phi Tích đời Đường có soạn quyển Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận. Trong quyển Trung của luận này đặc biệt đề xướng phương pháp “niệm Phật lớn tiếng”. Tiếng vang của âm thanh niệm Phật được hình dung là “tiếng vang dội thôn xóm, chấn động cả núi rừng”. Xét về lý thì phương pháp niệm Phật lớn tiếng có năm đặc điểm sau:

“Điều cốt yếu của sự nhiếp tâm hay tán loạn chính là ở âm thanh. Sự phát tâm mà không cố gắng dụng công thì tâm thức sẽ nông nổi, hời hợt, phiêu dạt khó có thể kiên định được. Nếu khi phát thanh mà cố gắng dụng công âm thanh dìu dặt, đôn đốc nhau, sau đó đạt đến chỗ dốc cạn hết bình sinh, buông xả bao phiền muộn. Đó là đặc điểm thứ nhất, nếu nói một cách đơn giản trước mắt thì khi âm hưởng của câu niệm Phật rền trong tâm khảm, muôn ngàn tai họa thảy đều tiêu trừ, công đức tu hành vòi vọi như đỉnh tùng trên Thiên lãnh. Đó là đặc điểm thứ hai. Nếu nói xa hơn nữa, niệm Phật lớn tiếng có thể chiêu cảm từ quang rạng ngời chiếu diệu, tầng không hoa báu như mưa, tất cả đều nhờ âm thanh mà cảm được như thế. Đó là đặc điểm thứ ba. Lại nữa, giống như người lăn đá, hòn đá quá nặng không dễ gì nhích tới được. Nếu họ hét to lên một tiếng thì có thể nhấc lên dễ dàng. Đó là đặc điểm thứ tư. Khi cùng chiến đấu với ma quân, cờ xí phất phới, tiếng chiêng vang vọng, dùng thanh thế hiên ngang để phá tan cường địch. Đó là đặc điểm thứ năm”.

Đầy đủ năm nghĩa này thì còn sợ gì nữa? Nếu không thể song toàn ở hai trạng thái tĩnh và động thì song tu chỉ quán, hiệp với Phật ý há chẳng được sao? Khi định huệ quân bình thì đó chính là Phật tâm bặt hết năng sở?

Ngài Phi Tích cường điệu niệm Phật lớn tiếng có năm nghĩa, chứng minh công năng kỳ diệu của tiếng có thể định được tâm, trừ lo âu, tiêu tai họa, nhấc vật nặng, hàng phục ma, thạm chí đạt được trình độ thật tướng niệm Phật, chỉ quán song vận, định tuệ ngang nhau, tâm Phật đều quên v.v…

11.- Niệm Phật ngũ hội

Đại sư Pháp Chiếu triều Đường y cứ vào kinh Vô Lượng Thọ quyển thượng, có soạn một quyển “Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp dự nghi tán”, đề xướng niệm Phật ngũ hội:

“Hoặc có cây báu, xa cừ làm gốc, vàng tía làm lá, san hô làm hoa, mã não làm quả. Hàng cây trồng đều nhau, lá cùng hướng, hoa trổ có thứ lớp, quả ra đều đặn, sắc tươi tỏa sáng, nhìn không thể xiết, gió thường nổi lên, phát ra năm thứ tiếng, cung thương vi diệu… hòa hợp tự nhiên”.

Lại kinh A Di Đà cũng miêu tả các thứ động thực vật trong nước Cực Lạc giống như kinh Vô Lượng Thọ như “Gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra tiếng vi diệu ví như trăm ngàn thứ nhạc phát ra cùng lúc, người nghe âm thanh này đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. Đại sư Pháp Chiếu dựa theo đây mà đề xướng pháp minh phương pháp niệm Phật ngũ hội.

Kỳ thực trong kinh chỉ nói “Phát ra năm thứ tiếng”, chỉ cho “cung, thương, giốc, chủy, vũ” loại âm nhạc xưa dùng để phổ nhạc, chứ không có ý là ngũ hội.

Ý của ngài Pháp Chiếu sử dụng ngũ hội có nghĩa là “Ngũ là số, hội là tập hợp. Năm loại âm thanh ấy từ hưỡn đến gấp, chỉ niệm Phật pháp Tăng, không có tạp niệm, niệm tức không niệm, Phật không có hai môn, tiếng thì vô thường là đệ nhất nghĩa”. Ngài lại nói “Người nghe âm thanh ấy được vào sâu pháp nhẫn, trụ nơi bất thối chuyển, cho đến thành Phật đạo”.

Đủ biết niệm Phật ngũ hội chính là dùng năm thứ âm phổ nhạc niệm Phật, trầm bổng, ngừng ngắt, hưỡn gấp, khiến cho người không đến nỗi rơi vào hôn trầm toán loạn, mà còn tùy theo tiết tấu âm nhạc, sản sinh cảm giác thú vị khiến cho tâm thần an định và vui vẻ. Nếu có thể chuyen tinh trì danh niệm Phật liên tục cũng có thể hoàn thành niệm Phật tam muội Ngũ hội là theo thứ tự từng giai đoạn niệm Phật, tiến hành theo phương pháp sau:

– Hội thứ nhất, niệm chậm tiếng bình Nam Mô A Di Đà Phật.
– Hội thứ hai, niệm chậm tiếng cao Nam Mô A Di Đà Phật.
– Hội thứ ba, niệm không chậm không nhanh Nam Mô A Di Dà Phật.
– Hội thứ tư, niệm nhanh dần Nam Mô A Di Đà Phật.
– Hội thứ năm, chuyển niệm nhanh bốn chữ A Di Đà Phật.

Thật ra, phương pháp niệm Phật của các tự viện tại Trung Quốc hiện nay, trên đại thể đều áp dụng giống như niệm Phật ngũ hội này, chẳng qua có đôi chút khác biệt mà thôi. Có một số nơi tổ chức tương đối khá, khiến người ta đến tham sự cộng tu niệm Phật, cảm hóa được trạng thái an lạc và mát mẻ. Thế nhưng hiện nay tại Đài Loan cũng có phổ thành nhạc khúc, do niệm Phật ngũ hội đệm nhạc cụ vào, khiến cho người nghe có cảm giác thư thái nhẹ nhàng, hưng phấn đầy đạo vị, nhưng dường như lại đánh mất đi phong cách Phạm ca, khiến cho người ta rất khó thành tựu dược niệm Phật tam muội.

12.- Niệm Phật ký số mười niệm

Đại sư Ấn Quang năm đầu Dân Quốc, là vị Tổ sư vĩ đại sau cùng hoằng dương Tịnh độ Di Đà tại Trung Quốc cho đến nay, trong “Ấn Quang đại sư văn sao” có một chương “Chỉ bày phương pháp tu trì” rất thực dụng đối với người tu tịnh nghiệp, mà ngài đã đặc biệt khai thị về phương pháp niệm Phật. Độc giả nêm tìm đọc để hiểu thêm. Hiện tại chỉ rút ra hai loại phương pháp niệm Phật mà người niệm Phật hiện nay đều có thể ứng dụng được:

a.- Pháp môn mười niệm: Nếu vì công việc đa đoan, không có cách gì sinh hoạt theo thời khóa công phu sớm tối như tự viện được, nên vào lúc sáng sớm thức dậy súc miệng xong, lễ Phật ba lễ, ngồi ngay thẳng chắp tay, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, dứt một hơi là một niệm, niệm đến mười hơi, rồi niệm văn Tịnh độ ngắn, hoặc chỉ niệm bốn câu kệ “Nguyện sanh Tây phương Tịnh đô trung, cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, bất thối Bồ tát vi bạn lữ”. Niệm xong lễ Phật ba lạy là hoàn thành công khóa pháp môn mười niệm buổi sáng. Nếu không có tượng Phật thì xoay mặt về hướng Tây xá ba xá. Pháp này do ngài Tuân Tức triều Tống sáng lập, vì đương thời vua quan quá bận rộn với triều đình nên ngài mới soạn ra phương pháp này. Pháp này có thể giúp cho tâm gom về một chỗ, nhất tâm niệm Phật, quyết định được vãng sanh.

b.- Pháp môn niệm Phật ký số mười niệm: Nhiều người niệm Phật thích dùng chuỗi hạt dài hoặc ngắn để ký số, thế nhưng đại sư Ấn Quang dạy hành giả tịnh nghiệp ký số mười niệm là không nên lần hạt, chỉ dùng tâm ghi nhớ.

Đại sư Ấn Quang nói: “Ký số mười niệm là dùng sức toàn tâm để vào một tiếng niệm Phật… đây là diệu pháp cứu cánh nhiếp tâm niệm Phật, các vị hoằng dương pháp môn Tịnh độ xưa kia chưa từng nói đến”. Ngài lại nói: “Bậc lợi căn thì không phải nói, như đối với hàng độn căn chúng ta, bỏ qua pháp ký số mười niệm này, muốn nhiếp được sáu căn, tịnh niệm nối luôn, thật là khó lắm”. Ngài lại nói: “Cái mầu nhiệm của pháp này là thực hành nhiều thì hiệu nghiệm nhiều”. Thế nào là ký số mười niệm? Tức là đang lúc niệm Phật, từ khi xưng niệm câu thứ nhất Nam Mô A Di Đà Phật đến câu thứ mười Nam Mô A Di Đà Phật, mỗi lần xưng niệm một câu phải niệm cho được rõ ràng, ghi nhớ cho rõ ràng, niệm cho đến mười câu là hoàn tất, rồi lại ký số niệm Phật từ câu thứ nhất đến câu thứ mười, cứ như thế dứt mười câu rồi lại niệm từ một đến mười.

Nếu suốt mười câu thấy khó nhọc thì có thể chia làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười. Nếu lại tổn sức thì chia làm ba hơi, từ một đến ba, từ bốn đến sáu, từ bảy đến mười. Xưng niệm danh hiệu Phật như thế, niệm được cho rõ ràng, nghe cho được rõ ràng, vọng niệm sẽ không còn chỗ đứng, lâu dần sẽ tự nhiên đạt được nhất tâm bất loạn.

Phương pháp ký số niệm Phật này, lúc tôi hướng dẫn tu thiền và phương phháp niệm Phật cũng thường giới thiệu cho những học giả mới, những người tu thiền nếu tu pháp sổ tức thấy khó thì nên dùng ký số mười niệm này rất là thuận lợi. Cho nên bản thân tôi cũng rất cảm ân đại sư Ấn Quang đã phát minh ra diệu pháp niệm Phật ký số mười niệm này.

Trích Niệm Phật Sinh Tịnh Độ
Tác giả: Thích Thánh Nghiêm
Việt dịch: Thích Chân Tín