Phiền phức lớn nhất, khó khăn lớn nhất, chính là chỉ thấy lỗi người không thấy lỗi mình. Đây là nguyên nhân chủ yếu trong đời này chúng ta tu hành không thể thành tựu. Người tu hành phải đổi ngược cách nhìn này, thấy người khác đang làm điều sai lầm, chúng ta nghĩ như thế nào? Đó là Bồ Tát làm cho chúng ta thấy, mình có lỗi này hay không? Có thì sửa đổi, không có cần cố gắng hơn.
Thế nên Kinh Vô Lượng Thọ giảng được càng rõ ràng. Bởi vì kinh văn dài, trong phẩm thứ tám nói “khéo giữ ba nghiệp”, chúng ta xem thấy thí dụ này không giống với kinh đại thừa thông thường. Trong kinh giáo đại thừa, Phật nói ba nghiệp đều là nói thân, khẩu, ý, nhưng ở bổn kinh này Phật lại nói là khẩu, thân, ý. Đem khẩu nghiệp để thứ nhất, đây là có ý nghĩa đặc biệt. Vì sao? Vì khẩu nghiệp rất dễ dàng phạm. Cho nên khẩu nghiệp có tới bốn điều, còn thân nghiệp chỉ có ba điều, ý nghiệp cũng là ba điều, nhưng khẩu là bốn điều. Chính vì khẩu nghiệp rất dễ dàng phạm nên người học Phật, người niệm Phật, công đức đã niệm đều từ trong miệng lưu xuất ra, nhưng nếu vẫn không thể bao dung, không thể dung nhẫn, ưa thích phê bình, thì niệm Phật cả đời vẫn không thể vãng sanh.
Lão Hòa Thượng Hải Hiền, cả đời ngài 92 năm niệm Phật, ngài là tích lũy mà không hề bị tiêu mất, cái công đức này thật lớn biết bao? Chúng ta là một mặt niệm Phật, nhưng một mặt lại tiêu mất vì tạo khẩu nghiệp. Cho nên Phật đem khẩu nghiệp xếp hàng thứ nhất, để đặc biệt răn dạy người niệm Phật, bởi vì đây là thông đạo mau chóng đặc biệt, thông đạo mau chóng thành Phật. Trong mười nghiệp thiện, thứ này quan trọng hơn bất cứ thứ gì. “Khéo giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi người” cũng chính là không vọng ngữ, không nói hai chiều, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, phải giữ lấy. Tại sao có thể tạo nghiệp? Đương nhiên ý nghiệp là chủ, bạn khởi tâm động niệm bất thiện, ý nghiệp là tham-sân-si, tự tư, tự lợi. Tham-sân-si-mạn-nghi năm độc đầy đủ, khởi tâm động niệm rất dễ dàng, rất tự nhiên đều là nghĩ đến tổn người lợi mình, vậy thì hỏng rồi, vậy thì tạo nghiệp ba đường ác. Chính mình không hề biết, nên hữu ý hay vô ý ngày ngày đang tạo, không tích lũy được công đức, thời gian niệm Phật ít, thời gian tạo nghiệp dài, sức niệm Phật mỏng yếu, sức mạnh tạo ác hùng hậu, vậy thử hỏi bạn làm sao có thể rời khỏi ba đường ác? Nói ra lời nói hơi khó nghe, bạn làm sao có thể rời khỏi địa ngục? Toàn là tạo nghiệp địa ngục. Kinh nghe có hiểu hay không? Không hề hiểu, vì sao? Biến số nghe chưa đủ. Tại vì sao không đủ? Là vì dùng tâm tán loạn để nghe, dùng tâm tán loạn để niệm Phật, cho nên nghe kinh, niệm Phật không có được hiệu quả.
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú
Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 2014
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ
Như Hòa giảo duyệt






Hôm nay ngồi ngẫm nghĩ lại chuyện xưa. Ngày xưa khi tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc truyền đạo, trong cuộc đàm đạo cùng vua Lương Võ Đế, nếu như một trong hai người chỉ cần đổi một chữ thôi thì Phật giáo ngày nay sẽ ra sao nhỉ?
Với thân phận là một quốc vương, vua Lương Võ Đế dùng quyền lực của mình để ủng hộ đạo pháp. Dưới thời của ông, ông đã giúp kiến tạo 480 ngôi chùa, hộ pháp cho 10 vạn người xuất gia. Ông rất tự hào về việc làm của mình khiến cho Phật giáo ngày thêm hưng thịnh. Chính vì vậy nên khi gặp tổ Đạt Ma, ông kiêu hãnh hỏi rằng: “Trẫm làm nhiều việc cho Phật pháp như thế công đức có lớn không?” Tổ thật thà đáp lại: “Không có công đức gì cả”. Câu nói của tổ như một gáo nước lạnh tạt vào mặt vua Lương Võ Đế khiến cho ông cảm thấy tối sầm mặt mày nên lập tức tiễn khách. Vì không được vua hộ pháp nên tổ phải lên núi Thiếu Lâm ngồi quay mặt vào vách suốt 9 năm để chờ người truyền pháp.
Ôi giá như ngày ấy vua Lương Võ Đế chỉ cần đổi chữ “công đức” thành “phước đức” và hỏi tổ: “Phước đức của trẫm có nhiều không?” thì mọi chuyện đã khác hơn. Hay thay vì lắc đầu nói “không có công đức gì cả”, tổ chỉ cần gật đầu “phước đức vô lượng” thì Phật giáo Trung Hoa ngày ấy sẽ ra sao nhỉ? Như thế tổ đã không phải lặn lội lên múi cao suốt “cửu niên diện bích”, và ngài Huệ Khả vẫn còn nguyên vẹn hai cánh tay. Phải chi ngày ấy một trong hai người chỉ cần thay đổi chỉ một chữ thôi nhỉ!
Trời đất quỷ thần ơi, đọc tới đoạn “chỉ cần đổi một chữ” là Hai Lúa mém sặc ly nước đậu nành luôn à nghen! Mà nói thiệt, ý tưởng của anh Hai nghe cũng vui vui, giống như ngồi dưới gốc dừa tưởng tượng: “Hồi đó nếu trái dừa rớt lệch qua một tấc chắc tui giàu rồi!” Nghe thì khoái lỗ tai, nhưng chuyện lịch sử với chuyện hoằng pháp đâu có đơn giản như đổi cái bảng hiệu tiệm hớt tóc.
Thiệt ra, vua Lương Võ Đế đâu có lầm vì không biết chữ “phước”. Cái gốc nằm ở cái tâm. Nhà vua nghĩ mình xây chùa, độ tăng, in kinh, hộ trì Tam bảo thì đó là cái vốn để kể công. Còn Tổ Bồ Đề Đạt Ma thì thấy ngay cái tâm chấp công ấy nên mới đánh thẳng vô chỗ đau. Ngài không phủ nhận việc xây chùa hay cúng dường là có phước. Phước thì dĩ nhiên có, còn nhiều là đằng khác. Nhưng phước hữu lậu vẫn còn trong vòng sanh tử, chưa phải công đức giải thoát do trí huệ và tánh đức hiển lộ. Cho nên Tổ trả lời “không có công đức” là nói đúng cái điều vua đang hỏi, chớ đâu phải nói xây chùa là vô ích.
Nếu hôm đó vua đổi thành “phước đức”, chắc Tổ cũng cười rồi nói: “Phước thì có, nhưng bệ hạ còn chấp trước thì vẫn chưa ra khỏi luân hồi.” Mà nếu Tổ vì chiều lòng vua, nói đại “công đức vô lượng” cho vui cửa vui nhà, thì e rằng cả đời vua sẽ ôm cái hiểu lầm đó tới chết. Bác sĩ thấy bệnh nhân ung thư mà khen: “Anh khỏe dữ ha!” thì bệnh nhân cười, còn cái bệnh thì cười lớn hơn.
Nhiều người thương Tổ quá nên tiếc chín năm diện bích. Riêng Hai Lúa thì lại thấy chín năm đó đâu có uổng. Hạt lúa muốn thành bông phải chôn dưới bùn. Hòn ngọc muốn sáng phải mài. Chánh pháp muốn truyền lâu dài cũng phải có người dám nói lời người khác không thích nghe. Chính nhờ cuộc đối đáp đó mà bao đời sau mới hiểu được sự khác nhau giữa phước đức và công đức. Còn ngài Huệ Khả chặt tay cầu pháp, đó là câu chuyện biểu thị lòng cầu đạo tha thiết, chớ không phải lỗi vì Tổ lỡ nói cứng hay vua lỡ giận.
Hai Lúa nhớ câu của cổ nhân: “Lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh, trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành.” Thuốc đắng thì khó uống nhưng trị được bệnh; lời ngay thường chói tai nhưng giúp người sửa mình. Tổ Đạt Ma hôm ấy chẳng phải làm mất mặt vua, mà muốn cứu cái tâm chấp công của vua. Tiếc rằng thuốc hay gặp người chưa chịu uống nên đành để lại cho hậu thế.
Người học Phật tụi mình cũng nên rút kinh nghiệm. Làm được chút việc thiện đừng vội mở sổ ghi nợ với Phật. Xây một ngôi chùa, in một bộ kinh, cúng một bữa cơm chay… đều là phước báu đáng quý. Nhưng vừa làm xong mà trong bụng nghĩ: “Phen này chắc Phật ghi điểm cho mình rồi!”, thì giống như cái bao lúa mới đổ đầy đã chọc một lỗ dưới đáy, phước cứ rỉ từ từ.
Thôi thì Hai Lúa xin mượn sáu chữ trong pháp môn Tịnh Độ mà kết chuyện: “Nam Mô A Di Đà Phật.” Chuyên niệm một câu Phật hiệu, làm lành mà không chấp lành, tích phước mà không kể phước, khiêm nhường mà cầu sanh Cực Lạc. Được vậy thì khỏi cần đổi một chữ của người xưa, chỉ cần đổi một chút cái tâm của mình hôm nay là đã lời to hơn trúng mùa lúa, khỏi cần ngồi tiếc chuyện cách đây cả ngàn năm nữa.
Nam Mô A Di Đà Phật.