Niệm Phật Và Bái Lạy Bồ Tát Quán Âm Được Vãng Sanh [Video]

Niệm Phật Và Bái Lạy Bồ Tát Quán Âm Được Vãng Sanh [Video]

Đời Thanh có một lão bà tên là Lý Hiển Trinh, hàng ngày bà chuyên thích niệm Phật và đến bái lạy thánh tượng Quán Thế Âm bồ tát trong làng. Một ngày nọ bà chợt hướng lên không trung mà bái lạy. Bà cũng vội gọi con trai bà đến cùng lạy bồ tát Quán Thế Âm đang hiện diện trước nhà. Bà còn cho biết bồ tát đã bảo rằng đã đến lúc bà vãng sanh. Nghe thế chàng trai vội vã lên đường vào làng để sắm lễ vật về cúng dường bồ tát. Nhưng khi về đến nhà chàng đã nhận ra mẹ mình đang ngồi trang nghiêm trong nhà và đã được Phật tiếp dẫn lên liên đài.

7 Phúc đáp

  1. Liễu

    KIÊN TRÌ ĐỌC CHÚ ĐẠI BI, NIỆM THÁNH HIỆU BỒ TÁT QUAN ÂM MÀ THOÁT CHẾT TRONG MƯA BOM.

    Tôi là Mao Lăng Vân, cùng với anh Mao Cẩm Đường( mọi người thường gọi là Tề Gia) là anh em chú bác, đều ở trên đường Bắc Môn – huyện Thông Thành – tỉnh Hồ Bắc.

    Anh Đường mở tiệm bán dụng cụ học tập và văn phòng phẩm, anh buôn bán rất thành thật, với mọi người đều ân cần, niềm nở.
    Khi về già anh bắt đầu học ngồi thiền, phát nguyện trì giới không sát sinh, thường trì tụng“ Bạch Y Thần Chú” và niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, anh luôn vui vẻ thực hành bố thí, tuy lớn tuổi nhưng rất nhiệt thành…

    Tháng 10/1938, ngày quân đội Nhật tấn công Vũ Hán, phi cơ Nhật oanh tạc dữ dội đường Việt Hán Thiết và đường Tương Ngạc Công, huyện Thông Thành trở thành tiêu điểm tấn công của Nhật, vì chiếm được Thông Thành có nghĩa là chiếm được Hồ Bắc, nên quân Nhật không tiếc bom đạn khi thả vào đây. Họ Càng ra sức càn quét, càng muốn chiếm Thông Thành thì quân Trung Quốc càng quyết tâm bảo vệ chừng ấy. Và như thế người dân vô tội phải chịu cảnh tang thương, vì thế chính phủ Trung Quốc lập tức sơ tán dân tức tốc để tránh thương vong…

    Anh Đường liền hối hả dọn nhà đến nhà họ Vương ở Nam Khu để lánh nạn.

    Một ngày nọ, anh dẫn người con trai đầu vào thành có việc, đúng lúc ấy phi cơ Nhật kéo đến oanh tạc, phần lớn nhà trong thành đều bị bom đạn phá hủy, xác người nằm la liệt như rạ…

    Anh vội dẫn đứa con vào trong một cái nhà gần đó trú ẩn, trong nhà chỉ còn một lão bộc đang bị thương nằm co ro dưới bàn. Anh liền gật đầu với ý xin phép lão bộc cho anh trú ẩn, lão cũng gật đầu đáp trả. Anh và con cùng ngồi xếp bằng sát vách tường thành tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Bất ngờ, một quả bom bi rơi trúng mái nhà anh đang trú ẩn, mái nhà bị sức công phá của trái bom phá tung lên, vách tường cha con anh đang dựa liền đổ xuống. Thật may, nó không đổ về phía anh và con anh, mà nó đổ ra hướng ngược lại, và nó cũng chỉ sụp đổ một nửa.
    Ngay sau đó, cột, kèo, đòn rong, ruôi mè …đổ ụp xuống. Nhưng nhờ còn một nửa vách tường chống đỡ, nên chúng không đổ lên đầu cha con anh Đường mà chỉ chạm đến vách tường rồi dừng lại, thế là cha con anh thoát đại nạn, lại có một chỗ trú an toàn để nương náu.

    Đây là phước báu của việc giữ giới không sát sinh, cộng với việc thường trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát nên trong mưa bom đạn nổ mà hai cha con không xây xát gì cả.

    Qua đây xin mọi người hãy phát tâm giữ giới không sát sinh và niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chắc chắn sẽ được phước báo rất lớn.

    NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

    Trích: Nhân Quả Báo Ứng – Những Điều Mắt Thấy Tai Nghe
    Cư Sĩ Tịnh Tùng

  2. Tâm Thanh

    Nhờ câu Phật hiệu cứu mẹ thoát cảnh địa ngục

    Sau khi đức Phật chứng quả vô thượng, rất nhiều người xuất gia học đạo với Ngài và chứng quả A La Hán, thoát khổ sinh tử, tự do, tự tại dạo chơi qua lại khắp nơi chẳng chút chướng ngại.

    Trong số A La Hán này, có một vị phát nguyện cứu độ những ai có nhân duyên cùng Ngài, đời quá khứ hoặc hiện tại, bất kể đang sinh làm người hay là vật; Ngài nguyện sẽ dốc sức giúp đỡ, giải khổ cho. Mới vài tháng, Ngài đã hóa độ rất nhiều người. Đa số đều quy y theo Phật, trở thành tín đồ của Phật giáo.

    Duy chỉ có người mẹ hiện đời của Ngài vẫn còn đọa trong địa ngục mà Ngài vẫn chưa tìm được cách cứu. Bởi mẫu thân Ngài lúc sinh tiền chẳng tôn kính đạo, hủy Phật báng tăng… cho nên chết rồi bà rơi vào địa ngục, thọ khổ triền miên, do tội nghiệp quá sâu; tuy bà có con là A La Hán cũng không theo cứu được.

    Song, người con hiếu hết lòng muốn cứu mẫu thân. Ông quan sát thấy vị quốc vương của một nước nhỏ, tuổi còn trẻ; nhưng tính hung ác, đã giết chết cha của mình để chiếm đoạt vương vị. Tội giết cha, soán ngôi nhất định quả báo khổ vô cùng. Vị La hán vận dụng thần thông,biết rõ tên hôn quân vô đạo này chẳng còn sống quá bảy ngày, sau khi chết hắn sẽ rơi vào địa ngục chịu khổ chung một chỗ với mẫu thân mình.
    Vì muốn cứu mẫu thân, vị quốc vương nọ và tất cả chúng sinh khổ đau trong địa ngục, vị La hán liền bay vào vương cung, hiện nửa thân mình treo tòn ten ngay trước mặt vị vua ác. Vua nhìn thấy Ngài thì hoảng kinh, liền rút dao ra chém Ngài, song không sao chém được, hễ vung dao lên là nó cứ vuột khỏi tay, rơi xuống đất. Nhà vua vừa sợ vừa ngạc nhiên, định mở miệng hỏi thì nửa thân treo lủng lẳng kia đã lên tiếng quở trách:
    – Vương vị này của ngươi há chẳng phải do cướp đoạt mà có? Giết phụ thân, đoạt ngôi, ngươi có biết là tội đó nặng như núi không? Ngươi chỉ còn sống được có bảy ngày nữa thôi, nếu chẳng mau hối lỗi thì khi chết đi sẽ đọa ngay vào địa ngục! Vì thương xót nên ta đến đây nói cho ngươi rõ, mong ngươi sớm hối cải để khỏi thọ khổ.
    Nhà vua nghe nói vừa thẹn vừa sợ, biết vị thánh tăng này không lường gạt mình, được cảnh báo cái chết sắp đến, ông tỉnh ngộ, ăn năn. Biết mình sẽ phải đọa địa ngục, nhà vua mặt buồn rười rượi, khóc lóc cầu vị La hán cứu giúp.

    Vị La hán bảo:
    – Thọ mạng của ông chỉ còn bảy ngày, dù có muốn tạo công đức gì cũng chẳng kịp nữa. Giờ chỉ còn cách là bảy ngày này ông phải từ bỏ tất cả, thành khẩn niệm thánh hiệu: “Nam Mô A Di Đà Phật !” cho thật miên mật, khi tâm sạch hết tạp niệm, thì sức gia hộ đại từ đại bi của Phật A-Di-Đà mới hiển hiện, giúp ông thoát khỏi địa ngục.
    Nhà vua răm rắp làm theo lời chỉ dạy của vị La hán, không còn dám nghĩ gì ngoài việc niệm thánh hiệu A-Di-Đà, nhờ vậy ông biết trước giờ chết của mình, lâm chung với thần trí tỉnh táo, điềm nhiên đi thẳng một mạch vào địa ngục, song câu niệm Phật không hề rời khỏi ông.
    Nhờ niệm Phật chuyên nhất, lúc đến cửa ngục, lòng ông chẳng mảy may sợ hãi, vẫn mải miết niệm Phật. Tiếng niệm Phật nối tiếp nhau phát ra từ tâm tư chí thành khẩn thiết của ông khiến cho địa ngục biến thành chốn mát mẻ, thanh lương, những khí cụ hình phạt cũng không cánh mà bay.
    Lúc này các tội nhân trong địa ngục, gồm cả mẫu thân của vị A La Hán thấy cảnh tượng kì diệu này, liền phát thiện tâm, cùng niệm Phật vang rền theo quốc vương, lòng thành khẩn của mọi người và nguyện lực của Phật A Di Đà cùng tiếp sức, tương trợ, giao cảm… Nhà vua và mẫu thân vị La hán cùng tất cả tội nhân trong địa ngục, nội trong ngày ấy đều được giải thoát, siêu thăng.

    Chưa rõ tác giả

  3. Tâm Từ

    Bồ tát Kim Tú Bối biết trước ngày giờ (dự tri thời chí) tự tại vãng sanh

    Đây là Bồ Tát Kim Tú Bối của Niệm Phật Đường. Dưỡng lão nghĩa công (người làm công quả) niệm Phật giỏi nhất, năm nay 74 tuổi, niệm Phật đã được 16 năm rồi, mỗi ngày niệm Phật 5 vạn câu. Hôm nay, Bồ tát ở nhà mặc áo hải thanh ngồi mà vãng sanh. Lâm mạng chung thời, thân vô bệnh khổ, được Phật tiếp dẫn vãng sang Tây Phương Tịnh Độ.

    Bồ Tát Kim Tú Bối lai tác chứng minh
    Niệm Phật thành Phật nhất định thành
    Nhìn thấu buông xả tâm vô ngại
    Niệm Phật thanh tịnh thoát trần ai

    Quy y Tam Bảo phát Bồ đề
    Tín nguyện niệm Phật sanh Cực Lạc
    Thế sự vô thường không như hẹn
    Duy hữu niệm Phật hữu chân đế

    Niệm Phật pháp môn phương tiện nhanh chóng, tuỳ duyên tự tại liên hoa khai.

  4. Nguyễn Đăng kiêm

    Thầy Cô ơi con lỡ miệng chửi bậy chỗ đông người có cả ông chú con ở đấy, các thầy các cô bảo con phải làm gì? Con sợ bị khẩu nghiệp lắm, nam mô quán âm bồ tát

  5. Tâm Thanh

    Chú ngỗng theo sư đi khất thực. Cúng dường chư tăng hành khất – nét đẹp của Phật giáo Nam tông tại Thái Lan.

  6. Đức Trịnh

    Có một số người băn khoăn: Tôi mà in những điều này lên báo, người ta đem tờ báo xé nát rồi ném vào thùng rác, đây không phải là có tội rồi sao?

    Tôi khuyên bảo đồng tu, chúng ta không cần phải lo ngại gì, không nên sợ tạo tội nghiệp, tôi thì thấy không có tội nghiệp, các vị in hình tượng Phật đăng lên các loại báo chí, đăng tải danh hiệu của Phật, danh hiệu của Bồ Tát, chữ càng to thì càng tốt, càng rõ càng tốt. Vì sao vậy? Khiến cho người xem vừa nhìn thấy thì mãi mãi thành hạt giống đạo. Có một số người băn khoăn: “Tôi mà in những điều này lên báo, người ta đem tờ báo xé nát rồi ném vào thùng rác, đây không phải là có tội rồi sao?”. Phải học “Địa Tượng Bồ Tát”, “ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục? Ta mà vào địa ngục thì biết bao nhiêu chúng sanh đã thành Phật”, rất đáng mà, cho nên không có do dự.

    Tịnh Tông chúng ta có tổ thứ sáu là Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ. Trước khi chưa xuất gia, Ngài là một tài vụ cho Cục thuế quốc gia, là một viên chức nhỏ. Ngài trộm lấy tiền ở trong ngân khố nhà nước, đó thật sự là trộm cắp. Trộm cắp để làm gì? Để phóng sanh, thường xuyên trộm cắp, thường xuyên phóng sanh. Về sau bị người ta mật báo tố giác, bị xử tội tử hình. Khi tra xét hỏi có phải đã trộm tiền không, Ngài thừa nhận rất là thành thật: “Tôi đã trộm và trộm rất nhiều lần”. “Để làm gì vậy?”. “Phóng sanh”. Thế là viên quan thẩm phán đem vụ án này gửi đến chỗ của hoàng đế. Hoàng đế xem qua cũng cảm thấy rất buồn cười, bèn dặn dò cứ chiếu theo pháp luật mà làm, phán quyết chém đầu tử hình, nhưng mà hoàng đế căn dặn quan giám trảm, nếu như ông bị trói ở ngoài pháp trường đến lúc phải chém đầu mà ông không hoảng sợ thì hãy đưa về để Ngài gặp mặt, còn nếu như ông sợ hãi hoảng hốt thì cứ việc giết đi là xong. Đại Sư Vĩnh Minh bị trói lại đem đến pháp trường, sắc mặt không thay đổi, một chút hoảng sợ cũng không có. Quan giám trảm hỏi ông: “Vì sao mà ông không sợ?”. Ngài nói với quan giám trảm: “Tôi lấy một mạng này mà cứu được muôn ngàn mạng khác, xứng đáng mà”. Cho nên Ngài rất hoan hỷ, một chút hoảng sợ cũng không có. Hoàng đế triệu kiến, tha tội cho Ngài, hỏi Ngài muốn làm việc gì? Ngài muốn xuất gia, hoàng đế làm hộ pháp cho Ngài, về sau trở thành vị tổ thứ sáu trong Tịnh Độ Tông chúng ta. Vậy chúng ta ngày nay đăng một bức hình lớn của Phật A Di Đà ở trên báo, hay danh hiệu của Phật A Di Đà, có biết bao nhiêu là người đều xem thấy. Cho dù họ đem quăng vào đống rác hay bỏ xuống hầm xí, ta cũng không để ý. Bạn đã trồng thiện căn cho biết bao nhiêu người, bạn độ biết bao nhiêu người, bao gồm cả những người không tin vào Phật, những người hủy báng Phật, những người chống đối Phật, tất cả đều đã được trồng thiện căn, bạn đều đã độ tất cả họ.

    Học Phật nhất định là phải khai trí tuệ, không nên chết cứng với những giới điều. Trong các giới điều là nói như vậy, không sai, tại vì sao? Đó là bạn có tâm ác ý, khinh thường, hủy báng hình tượng Phật, đây là có tội, còn chúng ta hiện nay dùng cái tâm không như vậy, chúng ta muốn lợi ích chúng sanh, là muốn giúp đỡ chúng sanh trồng hạt giống Phật vào trong A Lại Da Thức. Giới điều, thực tế nếu dùng lời hiện nay mà nói là vô cùng dân chủ, vô cùng mở cửa, vô cùng tự do, cho nên Ngài chế định ra giới điều, mỗi một giới cấm đều có khai duyên. Khai duyên chính là có thể khai mở ra, khai giới chứ không phải phá giới, không phải phạm giới. Chúng ta ngày nay đăng tải hình Phật ở trên báo chí tạp chí, đăng tải danh hiệu Phật Bồ Tát, đây là khai giới, không phải phạm giới, không phải phá giới. Nhất định phải hiểu cái đạo lý này. Tâm của chúng ta thuần túy là lợi ích cho chúng sanh, thuần túy là giúp đỡ tất cả chúng sanh, trồng hạt giống Phật Bồ Tát vào trong A Lại Da Thức. Họ trong đời này không thể thành tựu, đời sau kiếp sau họ có duyên với Phật, rộng kết thiện duyên.

    PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH giảng giải (tập 253)
    Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
    Thời gian: Khởi giảng năm 1998
    Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

  7. Như Thùy

    NIỆM PHẬT CHUYỂN HÓA ĐƯỢC CON HƯ

    Có lẽ đối với bậc làm cha mẹ, ai cũng mong ước con mình trưởng thành, ngoan ngoãn vâng theo lời cha mẹ, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, nếu không may, cha mẹ nào có đứa con ngỗ nghịch, hung dữ thì cũng đành ngậm đắng nuốt cay, chứ mọi lời khuyên bảo dường như nước đổ lá khoai. Nhưng thông qua câu chuyện dưới đây, hi vọng quý vị sẽ tìm được hướng giải quyết cho bài toán nan giải này.
    Bác Nguyễn Định Kế sinh năm 1940, sống tại Lâm Hà, Lâm Đồng. Con trai bác, pháp danh Diệu Âm Quảng Hiền, sinh năm 1971, là tài xế chạy xe tuyến đường từ Bắc vào Nam, nhưng anh rất ngỗ nghịch, thích nhậu nhẹt và đánh nhau. Trong cốp xe anh luôn có thủ sẵn kiếm, dao, gậy v.v. bản tính anh dữ tợn, lúc nào cũng nóng nảy, sẵn sàng đâm chém, đánh người và tự hủy hoại mình.
    Cha mẹ anh rất khổ tâm vì có người con ngổ ngáo như anh, trong xóm ai cũng gọi anh là “Tí điên”. Mỗi khi nghe nói đến anh, ai cũng lắc đầu ngán ngẩm và tránh xa.
    Mặc dù, anh nhậu nhẹt nhiều, nhưng chủ các quán nhậu rất sợ anh đến quán, bởi vì khi anh đến là họ mất khách, hoặc đánh khách hàng của họ. Anh còn lôi kéo cả đàn em nhậu để đi đánh người và không hề xem việc tù tội là việc đáng sợ.

    Vợ chồng bác Kế vô cùng khổ tâm về đứa con hung bạo như thế. Bản thân bác tu học theo Phật pháp rất lâu, cũng hướng cả gia đình quy y Tam bảo với Hòa thượng Thích Thanh Từ. Bác đã từng tu học qua các pháp môn Thiền tông, Mật tông v.v. nhưng cuối cùng bác tu theo pháp môn niệm Phật.
    Một hôm, bác xem đĩa giảng pháp của thầy Giác Nhàn. Bác cảm nhận được sự vi diệu câu Thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật !” , nên về sau thường tham gia những ngày chuyên tu tại tịnh thất. Bác tâm sự với Thầy về hoàn cảnh người con trai hư hỏng của mình, nên rất buồn khổ vì con.
    Thầy hướng dẫn bác cách tu tập tụng kinh, niệm Phật, lạy sám hối…đem công đức này hồi hướng cho con quay đầu, sửa đổi tâm tính. Bác tinh tấn tu theo được hai tháng vẫn không thấy chuyển biến gì, nên lên trình với Thầy. Thầy dạy bác phải kiên nhẫn tiếp tục tu tập. Khi bác tu chưa hết tháng thứ ba thì bác đã chuyển hóa thành công được tâm đứa con trai tưởng như bất trị.
    Ngày hôm đó, bác hết sức bất ngờ thấy anh con trai tự nhiên xung phong chở bác lên chùa để gặp Thầy, cho anh tu học, niệm Phật, lạy Phật. Kế đến, anh tập ăn chay, niệm Phật thường xuyên; dần dần về sau, anh theo cha nhập thất chuyên tu một tuần. Không những bản thân anh tu học mà còn về nhà khuyên vợ tu theo.
    Hiện nay, chẳng những anh tìm được sự an lạc bằng cách thực hành theo Phật pháp, mà còn ăn chay trường. Nếu có bạn bè xấu ngày xưa rủ rê, anh đều từ chối, lánh hết duyên xấu, chỉ theo cha lên Tịnh thất Quan Âm tu tập.
    Khi kể lại chuyện này, bác Kế cảm động nước mắt tuôn trào nói: “Phật pháp thật nhiệm mầu, câu Thánh hiệu ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ thật không thể nghĩ bàn!” Nhờ công đức tu tập mà bác chuyển hóa con trai hư hỏng trở thành Phật tử, biết ăn chay, tinh tấn tu học.
    Đời này, chúng ta phải phát nguyện nương theo Phật lực để thoát khỏi sinh tử luân hồi, không còn con đường nào hay hơn. Một câu Thánh hiệu “ Nam Mô A Di Đà Phật !” có diệu dụng chứa vô lượng công đức. Chúng ta tu tập xưng danh hiệu Ngài, hồi hướng công đức này làm nhân vãng sinh về Cực Lạc thì không gì bằng!

    Bác Nguyễn Định Kế và con trai

    (Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ đĩa “Sự nhiệm mầu của pháp môn Tịnh Độ” – Tịnh Thất Quan Âm, Lâm Đồng)

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *