Hiện Tiền Tu Học Thế Nào Mới Tự Tại Vãng Sanh? [Audio]

Hiện Tiền Tu Học Thế Nào Mới Tự Tại Vãng Sanh? [Audio]

Hôm nay tôi có duyên ở nơi đây, nhìn qua nhiều bạn đồng tu tôi cảm thấy vô cùng an ổn. Người học Phật ở Đài Loan ngày càng nhiều, đây là điều rất đáng mừng. Trong hai năm trở lại đây, tôi nhận thấy việc tu tập của nhiều bạn có tiến bộ rất lớn, đây là một nỗ lực đáng khen trong việc hoằng dương Phật pháp của các hội viên Tịnh Tông Học Hội. Tôi mới hỏi hội trưởng: “Ngày nay ông mời tôi đến đây giảng, mà tôi nên giảng đề tài gì?”. Ông nói: “Xin pháp sư giảng cho chúng con đề tài: “Hiện tiền tu học như thế nào mới được tự tại vãng sinh”. Đây là vấn đề không chỉ quan trọng cho người sơ cơ học đạo mà ngay cả những người học Phật lâu năm nữa. Và đó cũng chính là tiêu điểm chúng ta cần nhận thức cho rõ, có như thế tín tâm và nguyện lực mới có thể phát khởi được.

Đối với người sơ học Phật mà nói, chúng ta cần phải khái quát giới thiệu qua Phật pháp cho họ. Phần lớn mọi người trong xã hội ngày nay đều nhận thức sai lầm về Phật pháp, đây là một hiện tượng rất phổ biến. Là người học Phật, chúng ta cần phải phân biệt cho rõ ràng. Nói đến sự thành tựu viên mãn nhất và thù thắng nhất của Phật pháp, chính là nói đến sự lựa chọn thế giới Cực lạc, và được tự tại vãng sinh, đây là việc thù thắng không gì sánh bằng.

Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với Phật pháp, Đông Phương Mỹ tiên sinh dạy cho tôi, học Phật là sự hưởng thụ tối cao của đời người. Đạt đến trình độ tự tại vãng sinh, đó chính là sự hưởng thụ chân chính thù thắng, viên mãn nhất. Vậy thử hỏi, chúng ta có thể làm được việc này hay không? Đáp án khẳng định là được. Vấn đề đặt ra ở đây, là chúng ta có mong muốn hay không mong muốn. Nếu đã có lòng mong muốn rồi, thì giống như cổ đức nói: “Vạn người tu vạn người được”. Lời nói này rất đơn giản, rất dễ dàng, song vẫn có những điều kiện của nó.

Chúng ta đã từng đọc qua kinh Quán Vô Lượng Thọ. Phu nhân Vi Đề Hy do gặp phải biến cố của quốc gia, nói theo cách hiện đại là “chinh biến”. Bà hướng về đức Phật Thích Ca Mâu Ni cầu nguyện. Sự liên quan giữa bà và đức Phật rất rõ ràng. Bà có tâm niệm cầu Thế Tôn dạy đạo, đức Thế Tôn mới hiện thân trước mặt bà. Từ đó bà mới bạch lên đức Phật rằng thế gian sao quá nhiều đau khổ. Do đó, bà thưa hỏi đức Thế Tôn có thế giới nào an vui hay không? Nếu có, bà thật sự muốn sinh về đó. Sau đó, đức Phật dùng thần lực đem thế giới của mười phương chư Phật hiện ra trước mặt cho bà chọn. Cuối cùng, bà hướng về đức Thế Tôn mà thưa, trong các quốc độ chư Phật, thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà rất tốt, cho nên bà chọn thế giới này. Bà hỏi đức Phật làm sao có thể vãng sinh về nơi ấy. Đức Phật vô cùng hoan hỷ đối với sự chọn lựa đúng đắn của bà, vì trong thế giới chư Phật mười phương, không có thế giới nào thù thắng và sánh bằng thế giới Cực lạc.

Lý do thù thắng chúng ta có thể suy tư được, thế giới của tất cả chư Phật giống như trái đất hiện tại chúng ta đang sống vậy, đều là thuộc quốc gia cổ kính. Đã là quốc gia cổ kính thì tất nhiên, có tồn tại những vấn đề xưa cũ rất khó giải quyết. Trong khi đó, thế giới Cực lạc là đất nước mới thành lập, nơi đây có rất nhiều phương tiện. Đức Phật A Di Đà thành lập nên thế giới Tây phương, theo trong kinh nói cho đến ngày nay chỉ mới có mười kiếp thôi. Cho nên, đem so sánh với thế giới của chư Phật thì nó rất còn mới mẻ. Trong một đất nước mới thành lập thì không có dân thường trú mà phần lớn đều là dân di cư đến cư trú, chỉ có những quốc gia cổ kính mới có dân thường trú, có người lãnh đạo mà thôi. Những tập quán của họ không dễ dàng gì mà sửa đổi, đã sửa đổi không được nhất định sẽ có nhiều phiền não. Giống như thế giới Ta bà của chúng ta, do là thế giới cổ kính cho nên tập khí phiền não của chúng sinh rất nhiều. Phật khuyên răn dạy bảo hết lời mà họ vẫn không chịu nghe, không chịu học, cho nên muốn hóa độ cho họ là việc rất khó làm.

Thế giới Tây phương tuy là thế giới mới thành lập, song điều kiện để được sinh về nơi đó rất nghiêm khắc, và theo những tập khí phiền não cũ là điều không phải dễ, đó là việc rất hay. Vì thế mà phu nhân Vi Đề Hi một khi xem qua, bà xác nhận không có thế giới nào sánh bằng. Điều này trong kinh Vô Lượng Thọ đã có tán thán: “Ánh sáng tôn quý trong các ánh sáng, là vua trong các Phật’’ đây chính là lời ca ngợi về sự thù thắng của Phật Thích Ca đối với đức Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc. Đây là cơ sở mà chúng ta có thể đặt lấy niềm tin vậy. Vừa là quốc độ mới thành lập, lại có đầy đủ mười phương chư Phật, nếu người chân thật tu hành muốn sinh về nơi đó nhất định sẽ thành tựu.

Phật A Di Đà phát đại nguyện, kiến tạo nên đạo tràng Cực lạc để trợ giúp cho người tu hành. Như vậy, chúng ta phải làm gì để được sinh về nơi đó? Phật dạy cho bà Vi Đề Hi tức là dạy cho chúng ta, điều này chúng ta cần phải nhận thức cho rõ ràng. Trước tiên, Phật chưa dạy cho bà về phương pháp tu, mà Ngài chỉ nói người muốn sinh về nơi ấy phải thực hành ba phước tịnh nghiệp, còn được gọi là ba điều kiện. Phật dạy ba điều kiện này cũng chính là chánh nhân tịnh nghiệp của ba đời chư Phật. Câu nói này quan trọng và thiết yếu. Ba đời là chỉ cho đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai. Chúng sinh tu tập để thành Phật, pháp môn có vô lượng vô biên, thế nhưng dù cho người tu học phương pháp nào đều không thể xa lìa cơ sở này.

Ngày nay, người niệm Phật rất nhiều, song người được vãng sinh chẳng được bao nhiêu. Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu? Do chúng ta lơ là sơ suất, xem thường, không chú ý đến nền tảng ba phước tịnh nghiệp này. Phật từ bi vô hạn, chỉ rõ ràng minh bạch, bản thân chúng ta thì hồ đồ, không tin tưởng, không tiếp thọ. Nếu chúng ta dựa trên nền tảng này, lại y chiếu theo phương pháp Phật dạy mà tu, nhất định chúng ta sẽ thành tựu việc vãng sinh Tịnh độ.

Ba điều kiện bao gồm những gì? Điều thứ nhất là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ bi không sát sinh, tu mười nghiệp thiện. Những điều này chúng ta có làm được hay không? Có nhiều người cho rằng những điều này rất khó làm. Chúng ta làm không được, hay có làm mà lại không tới nơi tới chốn, hay không vui lòng để làm. Vì sao chúng ta không hoan hỷ thực hiện? Vì một khi chúng ta thực hiện thì trước mắt tổn thất và có rất nhiều sự mất mát. Xã hội hiện tại không còn như ngày xưa nữa. Chúng ta lúc nào cũng đối xử với người bằng lời nói và việc làm chân thật, trong khi mọi người lúc nào cũng lừa dối chúng ta. Liệu chúng ta còn có thể giữ lập trường chân thật của mình mà đối xử tốt với người hay không? Hay là người lừa dối ta, ta cũng lừa dối lại họ, rồi chúng ta cũng bắt chước học theo tính dối trá của người. Chỉ cần triển khai một sự lợi ích bé nhỏ như vậy thôi, song đó có thể là cũng là một chướng ngại lớn làm cho chúng ta đánh mất đi đại lợi ích vãng sinh Cực lạc. Ngày nay, tôi tận tâm tận lực đối xử hết lòng với người mà người lại lừa bịp tôi, đó là chuyện nhỏ. Người ta lừa đảo tôi nhiều lắm chỉ là một số tiền tài. Tính ra, nếu lừa gạt lấy hết của tôi, mà ngày mai tôi được vãng sinh là điều tốt, không thành vấn đề. Do đó có thể biết, vì sao chúng ta niệm Phật mà không nhiếp tâm được? Chính là ý niệm cầu vãng sinh của chúng ta không mạnh mẽ. Đối với thế gian, ta vẫn còn lưu luyến, vọng tưởng, phân biệt và chấp trước mà không chịu phóng hạ, đã không phóng hạ thì không thể đi được.

Nói đến đới nghiệp vãng sinh, là chúng ta mang theo nghiệp cũ chứ không mang theo những hành nghiệp mới, đây là đạo lý nhất định chúng ta cần phải hiểu. Vì thế, nền tảng của Phật pháp là bắt đầu từ việc hiếu thân tôn sư, viên mãn chung quy vẫn là hiếu thân và tôn sư. Cho nên, Phật pháp là đạo hiếu, là đạo tôn sư, mà muốn có được việc tôn kính sư trưởng, muốn làm thầy mọi người, tất cả đều phải được kiến tạo trên nền tảng là hiếu thuận. Một người bình thường đối với cha mẹ của mình mà không có hiếu thuận thì việc tôn trọng sư trưởng không thể thành tựu được. Như vậy, chúng ta thử quán xét lại xem hai việc này, hàng ngày chúng ta có làm trọn vẹn hay không? Nói một cách khác, ngay cả bổn phận con người mà thực hiện không tốt thì làm sao chúng ta có thể nói đến chuyện thành Phật. Bạn được vãng sinh về bất kỳ phẩm vị nào ở thế giới Cực lạc, đã đến thế giới Tây phương rồi tức là bạn đã làm Phật. Song muốn làm Phật, trước tiên bổn phận con người chúng ta phải làm cho tốt. Nếu có một chút sai lầm nào nhất định phải sửa đổi, không có gì phải lo lắng và sợ hãi, chỉ cần đem tâm ích kỷ, hẹp hòi mà phóng hạ đi.

Trên thực tế, đối với đạo lý nhân quả mà chúng ta không hiểu rõ sự thật và chân tướng của nó thì đó là một sai lầm rất lớn. Vì thế, những năm đầu Dân Quốc, Ấn Quang đại sư khuyên tất cả những người học Phật nên bắt đầu từ Liễu Phàm Tứ Huấn, là rất có đạo lý. Nội dung của Liễu Phàm Tứ Huấn là khuyên người tin sâu nhân quả. Một khi bạn đã thâm tín nhân quả rồi, thì mỗi một miếng ăn, thức uống bạn hiểu ra rằng không phải do tiền định và ngẫu nhiên mà có. Một khi bạn đã tin sâu nhân duyên quả báo, bạn nhất định không còn lo sợ nữa, tâm đã không có lo sợ đó chính là định lực. Mạng của tôi có phước báo và tài lộc, dù muốn vứt bỏ nó đi cũng không được. Bạn cứ bo bo cất giữ lấy nó, quan trọng là ở chỗ bạn có dám đem nó bố thí hay không? Làm thế nào bạn có thể biết được ngày mai mình sẽ không có gì để ăn uống? Nếu thực sự biết được chuyện ngày mai thì có lẽ bạn là siêu nhân, không phải là người bình thường rồi. Cho nên, là người học Phật, chúng ta phải tin sâu nhân quả, có tin sâu nhân quả thì chúng ta mới tin lời Phật dạy, mới y giáo phụng hành, thân tâm sẽ tự tại, một mảy trần không nhiễm. Tâm thanh tịnh thì Phật độ thanh tịnh.

TÍN (Lòng tin)

Điều kiện để được vãng sinh thế giới Cực lạc chính là tâm thanh tịnh. Tuy nhiên, Phật pháp nói có vô lượng, vô biên pháp môn, song rốt ráo vẫn quy về ba môn. Theo kinh Hoa Nghiêm nói, đó là tín giải, hành và chứng. Đối với người tu Tịnh độ, một khi đạt đến nhất tâm bất loạn thì cũng chỉ còn ba môn, đó là chánh, giác và tịnh. Ngày nay, chúng ta phát tâm quy y Tam bảo, mà Tam bảo là đại biểu cho chánh, giác, tịnh. Phật là đại biểu cho giác, Pháp là chánh tri, chánh kiến, Tăng là đại biểu cho thanh tịnh. Lục căn thanh tịnh mảy trần không đắm nhiễm, điều đó chúng ta có thực hiện được hay không? Hiện tại làm người xuất gia rất khó xử, những người cư sĩ tại gia cúng dường tiền tài cho bạn rất nhiều. Bạn mà không thanh tịnh lại cất giữ hoặc gởi ngân hàng thì rất nhiều phiền não. Nếu như đem những thứ đó mà xả sạch đi thì mới có thể chân chính đạt được tâm thanh tịnh. Nếu chúng ta muốn cho quốc độ của Phật thanh tịnh, thì chúng ta phải chân chính hiếu thuận với cha mẹ và tôn trọng sư trưởng đó là tất nhiên.

Cha mẹ đối với con cái đặt hết niềm tin và hy vọng, như người xưa thường nói: “Hy vọng con trai thành rồng, mong mỏi con gái thành phượng”, như vậy, câu nói này có ý nghĩa gì? Rồng và phượng là đại biểu Phật, Bồ tát. Mà bạn thành Phật, Bồ tát thì cha mẹ bạn rất hoan hỷ, thầy của bạn cũng rất vui. Vì thế mà mười phương, ba đời tất cả chư Phật đều mong muốn cho tất cả chúng sinh sớm thành Phật đạo. Phật là vị thầy rất tốt của chúng ta, chúng ta cần phải có nguyện vọng, có quyết tâm, thì mới xứng đáng là người học trò giỏi, người con chí hiếu. Trong ba phước tịnh nghiệp, thấp nhất là mười nghiệp thiện, mười nghiệp thiện này chúng ta phải thực hiện đầy đủ, thì trong kinh nói mới xứng đáng với tên gọi là thiện nam tử, thiện nữ nhơn. Bình thường, lúc chúng ta mở kinh đều có thấy đọc đến câu thiện nam tử, thiện nữ nhơn. Thiện là có điều kiện của nó. Nếu mười nghiệp thiện mà bạn không làm được thì không được gọi là thiện nam tử hay thiện nữ nhơn, đây là nói đến tiêu chuẩn thấp nhất. Từ tiêu chuẩn này thăng tiến thêm một bước nữa là thọ trì Tam quy, đầy đủ chúng giới, không phạm oai nghi. Phước thứ hai này so với phước thứ nhất cao hơn một tầng, tầng thứ nhất là thuộc về Nhân, Thiên thừa, là hai trong năm thừa của Phật giáo. Từ Nhân, Thiên thừa thăng tiến lên bậc nữa là Thanh Văn và Duyên Giác thừa, tức là tầng thứ hai. Phước thứ hai trong tam phước chính là đại biểu cho Thanh Văn và Duyên Giác thừa. Rồi từ tầng thứ hai này, lại phải tiến thêm một bước nữa đó là phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn hành giả, đây là điều kiện của Bồ tát. Tin sâu nhân quả của Bồ tát không phải là loại nhân quả bình thường như phàm phu. Ví như ngày nay, chúng ta đang nói đến đề tài nhân quả của việc được tự tại vãng sinh, thì niệm Phật là nhân, thành Phật chính là quả, đó là chúng ta nói theo nhân quả của Bồ tát.

Hai chữ niệm Phật chúng ta phải nhận thức cho rõ. Niệm Phật không phải là miệng niệm. Nói như cổ nhân: “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, dù niệm đến khan cổ họng cũng uổng công”. Như vậy, chúng ta phải niệm như thế nào? Chúng ta thử xét qua chữ niệm có ý nghĩa gì? Văn tự Trung Quốc rất khác xa với văn tự của các nước trên toàn thế giới. Văn tự Trung Quốc là ký hiệu cho trí tuệ, bạn xem qua có thể khai ngộ. Ví dụ như chữ niệm (念), đó là chữ Hội ý, trên là chữ kim (今), dưới là bộ tâm (心), nghĩa là trong tâm bạn lúc nào cũng nhớ Phật, tưởng Phật thì gọi là niệm Phật. Vì thế mới nói: “Một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”. Như vậy, hiện tại trong tâm bạn có Phật thì tâm bạn là Phật, mà trong tâm bạn có Phật thì bạn không phải Phật vậy là ai? Vì thế, nói không phải dùng miệng niệm chính là thế. Trong tâm có Phật thì tương ưng, như vậy cứu cánh Phật ở nơi đâu? Điều này chúng ta cần phải hiểu cho rõ. Phật là chỉ cho tự chân tâm, bản tính của chính mình. Chúng ta hiện tại nhất niệm tương ưng với tự tánh đây gọi là niệm Phật, niệm mà không tương ưng với tự tánh không phải là niệm Phật. Dẫu cho ngày ngày gọi A Di Đà đều không được tính là niệm Phật, đây là đạo lý rất khó hiểu. Cho nên, chúng tôi đem toàn bộ kinh luận Phật dạy quy nạp thành những chữ như sau: Chân thành là tự tánh, thanh tịnh là tự tánh, bình đẳng là tự tánh, chánh giác là tự tánh, từ bi là tự tánh.

Tâm của bạn phải tương ưng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi thì lúc đó gọi là tâm Phật, như vậy mới gọi là niệm Phật. Niệm Phật cũng chẳng phải là kêu Phật Thích Ca Mâu Ni, kêu gọi Ngài có tác dụng gì? Nếu niệm Phật Thích Ca Mâu Ni trên mặt sự tướng có tương ưng hay không? Có thể nói là tương ưng. Thích Ca có nghĩa là nhân từ, Mâu Ni là thanh tịnh, bình đẳng. Bạn xem có tương ưng không? Chúng ta niệm Thích Ca Mâu Ni, Thích Ca là từ tự tâm chúng ta lưu xuất ra thanh tịnh và bình đẳng, Mâu Ni là từ tâm lưu xuất ra từ bi, đây mới là niệm. “Một niệm là tương ưng với một niệm Phật”, không phải là niệm một con người nào, niệm một người nào là không có thành tựu. Như vậy, chúng ta phải hiểu ý nghĩa chân chính danh hiệu của Ngài là gì? Tự tâm chúng ta phải tương ưng với danh hiệu mới có thể phát tâm niệm được. Hiện tại chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà, danh hiệu này so với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni viên mãn hơn nhiều. Thích Ca trên thực tế chỉ có hai ý nghĩa chính: một là chân thành, từ bi; hai là thanh tịnh, bình đẳng. Mà A Di Đà Phật tự tính tánh đức viên mãn, không thiếu một điều gì, bao quát tất cả, trong kinh thường nói là đại viên mãn, đây chính là ý nghĩa của nó.

Ý nghĩa A Di Đà Phật, nói theo ngôn ngữ Trung Quốc có nghĩa là vô lượng giác, vô lượng trí tuệ, vô lượng giác ngộ, nó bao quát tất cả không thiếu một ý nghĩa. Đối với tất cả danh hiệu của chư Phật khác ý nghĩa còn có giới hạn, còn có cục bộ, song đối với danh hiệu Phật A Di Đà lại đặc biệt được nhấn mạnh. Vì sao Phật lại đản sinh vào thế giới Ta bà này để thành Phật? Chúng ta có cần xưng niệm danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni hay không? Tất cả đều là tùy bệnh mà cho thuốc. Chúng sinh sống trong thế giới Ta bà phần lớn tâm thiếu từ bi, chỉ biết tự tư tự lợi, tâm thiếu thanh tịnh, một ngày từ sớm đến tối chỉ có nghĩ bậy nghĩ bạ. Cho nên, đức Phật dùng danh hiệu để độ chúng sinh, đó cũng chính tôn chỉ của công tác dạy học thời hiện đại. Vậy chúng ta phải niệm như thế nào? Tuyệt đối bạn không được niệm đức Phật đã thành Phật tại Ấn Độ cách đây 3000 năm trước. Nếu bạn niệm vị Phật này thì bạn đã hoàn toàn sai lầm. Người là biểu pháp, danh hiệu chỉ là danh tự, bạn phải thông đạt được ý nghĩa của nó thì mới phát tâm chân chính niệm Phật được. Tâm của bạn quả nhiên đã chân thành, từ bi, thanh tịnh, bình đẳng rồi thì một ngày bạn không cần phải niệm một câu danh hiệu cũng được, đến lúc bạn muốn vãng sinh thì Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn bạn. Vì sao thế? Vì bạn thật sự thực hành đúng với ý nghĩa niệm Phật. Hiện tại, người niệm Phật hiểu được đạo lý sâu mầu này rất ít. Họ chỉ biết ngày ngày niệm, mà tâm ý lại buông lung phóng túng, dù niệm cho đến khan cổ họng, hết hơi cũng chẳng được vãng sinh. Bạn xem có oan uổng hay không? Đây là đạo lý chúng ta cần phải nhận thức cho minh bạch. Đã nhận thức rõ ràng rồi, như thế chúng ta có cần phải niệm A Di Đà Phật nữa hay không? Vẫn phải niệm. Niệm mà không niệm, không niệm mà niệm. Vì sao trên hình thức phải thường niệm Phật A Di Đà? Vì chúng ta muốn giúp đỡ, ủng hộ tha nhân. Tôi niệm A Di Đà Phật, người khác nghe được, nhất định sẽ hỏi: “Anh niệm Phật có những điều tốt gì? Đây chính là cơ hội mà bạn mới có lý do để đem những lợi ích của niệm Phật mà giới thiệu cho người. Người ta nghe xong, hiểu rõ minh bạch, quyết tâm thực hiện và họ ra sức niệm Phật, đây chính là bạn đã độ cho một người rồi. Vì thế, chúng ta niệm danh hiệu Phật phát ra tiếng chủ yếu là làm việc lợi tha, mới đúng là tâm Phật, mới đúng với ý nghĩa chân chính của việc niệm Phật. Sau khi đã chân chính liễu giải và giác ngộ, chúng ta ở tại thế gian, vậy phải cư xử với đại chúng xã hội như thế nào? Chúng ta phải lấy tâm Phật mà cư xử với đời, đây là điều cần phải ghi nhớ. Tôi giảng pháp có thể hiểu, cổ nhân nói chắc khó hiểu. Cổ nhân gọi là phát Bồ đề tâm, danh từ này chúng ta rất khó hiểu. Song, phát Bồ đề tâm là gì? Tôi nói là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, mọi người nghe qua có thể hiểu được một chút. Bồ đề tâm đã phát, nhưng đã đủ tư lương được vãng sinh hay không? Phải nhất hướng chuyên niệm. Chúng ta xem qua kinh Vô Lượng Thọ ba bậc vãng sinh, quan trọng nhất là quy nạp ở tám chữ: phát Bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệm. Một là một phương hướng, một mục tiêu. Như vậy, làm sao có thể nhất hướng chuyên niệm? Chúng ta cũng quy nạp thành mười chữ: nhìn thấu, phóng hạ, tự tại, tùy duyên, niệm Phật. Nhìn thấu là nhận thức đúng bản chất của vũ trụ và nhân sinh, tất cả sự lý nhân quả bạn phải thông đạt rõ ràng, như vậy mới gọi là nhìn thấu. Sau khi rõ biết được chân tướng mọi vật rồi, bạn cần phải phóng hạ, phóng hạ cái gì đây? Đó là những tư tưởng tự tư tự lợi, phóng hạ đi những cái gì chẳng phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta; phóng hạ đi tham lam, sân hận, si mê và kiêu mạn. Điều này trong kinh Phật gọi là đoạn phiền não kiến, tư hoặc, phiền não trần sa hoặc và vô minh phiền não. Đây là những danh từ đòi hỏi có rất nhiều thời gian giải thích mới hiểu được. Có người nghe qua chắc không hiểu, vì chúng ta không có thời gian nhiều. Cho nên, tôi đem những danh từ này dùng ngôn ngữ hiện đại nói qua. Kiến tư phiền não là gì? Là chấp trước. Cái gì gọi là trần sa phiền não? Là phân biệt. Cái gì gọi là vô minh phiền não? Chính là vọng tưởng. Nói theo phương pháp này có lẽ mọi người có thể hiểu được. Như vậy, phóng hạ là phóng hạ tất cả vọng tưởng, phân biệt và chấp trước. Phật dạy chúng ta phóng hạ không phải nói là phóng hạ đi công ăn việc làm, điều này có rất nhiều người nhận thức sai lầm. Nếu quả như đức Phật Thích Ca dạy chúng ta phóng hạ đi công tác thì hà tất gì suốt 49 năm trời Ngài phải khổ nhọc xuôi ngược khắp nước Ấn Độ để giảng kinh thuyết pháp? Bản thân của tôi ngày ngày cũng phải đến các nơi để thuyết pháp, vì sao tôi không phóng hạ đi? Như vậy, phóng hạ ở đây chính là vứt bỏ vọng tưởng, phân biệt và chấp trước. Đây là đạo lý chúng ta cần phải hiểu.

Trong công việc, chúng ta phải nỗ lực hơn và làm một cách viên mãn hơn. Tuy làm mà tâm được tự tại an lạc. Trước đây, làm việc có nhiều phiền não, thế nhưng ngày nay làm việc rất an lạc. Vì sao thế? Vì trước đây làm là để phục vụ cho tự kỷ, phục vụ cho chính mình. Đã có tự kỷ thì có phiền não, đánh mất đi nhân tâm; còn vì người khác mà làm việc thì không phiền não. Cho nên, sau khi giác ngộ rồi, chúng ta buông xả tất cả, ngày ngày sống trên thế gian làm những việc nghĩa cho chúng sinh, cho xã hội. Vì thế, tuy làm mà rất an lạc, làm việc lại được viên mãn, chúng sinh lại có phước. Ngược lại, bạn làm việc không hết mình, người khác không được an vui, bạn lại đánh mất đi nhân tâm, thiếu phước báo, như thế làm sao mà không an lạc? Vì thế, dù là hiện tại hay vị lai, bạn đang công tác ở đâu hay làm bất kỳ công việc gì, trong đời sống sinh hoạt, tất cả bạn điều phải biết tùy duyên mà không được phan duyên, như thế bạn sẽ được tự tại. Tuyệt đối không có suy tưởng là tôi làm cái này, tôi làm cái kia, như vậy bạn sẽ có phiền não. Chư Phật, Bồ tát bận rộn hơn chúng ta rất nhiều. Bạn nghĩ xem, chúng ta thường niệm Quán Thế Âm Bồ tát, Ngài đối với chúng ta rất quen thuộc. Đặc điểm của Ngài là nghìn xứ cầu nghìn xứ cảm ứng. Có rất nhiều người trong hư không pháp giới cầu sự giúp đỡ của Ngài. Ngài bận rộn đến tíu tít, chúng ta không bận rộn bằng Ngài. Chúng sinh cần thân gì để độ Ngài liền hiện ra thân đó, ai cần sự trợ giúp ra sao Ngài cũng tùy thuận theo mà giúp đỡ. Từ trước đến nay, Ngài chưa từng làm cho một người thất vọng, thế mà lúc nào Ngài cũng được tự tại, quả thật Ngài đã hoàn toàn buông xả và phóng hạ, không còn vướng mắc vào bất kỳ sự việc gì. Vì thế, trong kinh Kim Cang có dạy cho chúng ta hai câu: “Lìa tất cả tướng, tu tất cả điều thiện”. Xa lìa tất cả tướng đó là chính phóng hạ, buông xả. Ly khai tất cả tướng gì? Là lìa tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh và tướng thọ giả. Tướng ngã là chấp trước, tướng nhân, tướng chúng sinh là phân biệt, tướng thọ giả là vọng tưởng. Danh từ tuy không giống nhau nhưng chỉ là một. Phóng hạ thì có tự tại, sau đó là tu tất cả điều thiện, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Phàm làm việc gì có lợi ích cho chúng sinh, cho đại chúng và xã hội thì có tự tại. Trái lại, phàm làm việc gì mà có lợi ích cho tự kỷ bản thân đều là việc ác, đây là đạo lý nhất định bạn cần phải hiểu.

Vì sao phàm làm những việc có lợi ích cho riêng mình đều gọi là việc ác? Vì làm lợi ích cho chính mình là tăng trưởng trí tuệ yêu ma quỷ quái. Phật dạy bạn phóng hạ đi cái ta, cái ta bạn buông xả không được thì mọi hành động suy tư của bạn đều có cái ta trong đó. Đã có cái ta thì có luân hồi và không thể thoát ly khỏi luân hồi. Khi nào bạn mới có thể vượt thoát luân hồi? Khi cái ta không còn thì bạn ra khỏi luân hồi.

Gần đây, tôi biết được một bà tu nữ ở Singapore, chúng tôi có chụp hình bà đem về đây. Bà sinh năm 1900 mà đến nay là năm 2000. Trong Kinh Kim Cang có nói về bốn tướng, thế mà lúc nhìn qua bà tôi không thấy có một tướng nào, thật sự là bà không có tướng ngã, tướng nhân, không có tướng chúng sinh và tướng thọ giả. Bà năm nay 101 tuổi, song tôi nhìn qua cứ ngỡ bà không ngoài 50 tuổi hoặc chỉ có 40 mấy tuổi. Răng chỉ rụng có một cái. Lúc xem báo, bà không cần phải đeo kính, tai vẫn nghe bình thường, phản ứng rất linh hoạt. Một người ở độ tuổi 40 bình thường không thể sánh bằng, bà còn biểu diễn nhào lộn cho chúng tôi xem nữa. Như vậy, bà ta nhờ vào điều gì mà được như thế? Chính là phóng hạ và buông xả. Bà cho biết cả một đời bà tận tậm tận lực trông nom và chăm sóc cho người già ở mười mấy viện dưỡng lão. Theo nhà Phật nói bố thí có ba loại: tài thí, pháp thí và vô úy bố thí, tất cả bà đều làm trọn, tiền đồ của bà quả thật là tươi sáng và siêu việt tam giới. Bà xem kinh Phật và nghe băng giảng của tôi đại khái chỉ có hai năm nay mà thôi. Sự việc này cùng với cư sĩ Lý Lâm Nguyên có liên hệ mật thiết với nhau, cư sĩ Lý Lâm Nguyên đã cho tôi biết. Thật ra có được một người như vậy hay không? Tôi đi xem và tận mắt chứng kiến quả thật không sai lầm. Chúng tôi giảng tất cả phương pháp tu hành, bà đều làm được hết. Tôi giảng ba phước tịnh nghiệp bà cũng làm tròn. Bà là một tu nữ Thiên Chúa giáo mà cả một đời tu hành, điều này chứng tỏ thiện căn đời trước của bà thật sâu dày. Bà quả là một đại lực sĩ. Hỏi đến thân phận, bà cho biết một ngày bà ăn chỉ có một bữa mà tinh thần lại đầy đặn. Mỗi ngày vẫn làm việc bình thường, bà giúp đỡ những người khổ nạn và bệnh nhân. Hiện nay, tại Singapore quả thật có được một người tu hành như thế, nếu bạn không tin có thể sang đó mà xem. Vì thế chúng ta phải cố gắng buông xả và phóng hạ tất cả, vì chúng sinh mà phục vụ, nhất định sẽ được nhiều tự tại.

NGUYỆN (Ước muốn)

Chúng ta cần phải học tấm gương của chư Phật, Bồ tát. Chư Phật, Bồ tát là những người bị động, không phải là chủ động. Bạn không đi cầu các Ngài thì những vị ấy cũng không đến tìm bạn. Bạn cầu họ, họ nhất định sẽ đến giúp đỡ cho bạn. Phật, Bồ tát là những người bị động, không phải là chủ động, mà bị động thì lại có tự tại. Chủ động là bạn lại suy xét, tính toán phải làm cái gì, đi đâu?… Như vậy là bạn bị phan duyên, không phải là tùy duyên. Bạn đã phan duyên thì lao tâm và nhọc lòng, như thế sẽ có phiền não. Bạn tùy duyên thì không có phiền não, không có gì phải lo lắng. Tôi cả đời đều y theo lời giáo huấn của đại sư Chương Gia, tất cả đều tùy duyên, từ trước đến nay không có phan duyên, tự mình không tìm kiếm phiền não. Suốt đời không có một đạo tràng, cũng không có đệ tử. Bạn xem có nhiều người quy y với tôi, sau khi quy y rồi, tôi chưa bao giờ hỏi anh, chị tên gì, nhà ở đâu… như thế là có phiền não? Việc quy y Tam bảo của bạn đối với tôi đâu có quan hệ gì? Tôi chứng minh và truyền thọ Tam quy cho bạn là tốt. Bạn quy y là quy y với giác, quy y chánh, quy y tịnh. Nếu bạn cho rằng mình quy y với pháp sư Tịnh Không là đã sai lầm rồi. Thế nhưng, bạn nên nhớ đến hai chữ này, tâm địa thanh tịnh, không còn mảy may việc gì thì bạn mới chân chính là quy y với Tịnh Không. Nếu cho rằng quy y là quy y với mọi người thì như thế đã sai lầm. Vấn đề này rất quan trọng, cho nên ý nghĩa chân chính của việc quy y là không phải quy với một người nào. Bản thân tôi cả đời cũng học Tịnh học Không, có như thế mới phù hợp với tên gọi của chính bản thân mình vậy.

Niệm Phật là niệm cái gì đây? Hiện tiền luôn luôn phải nhớ đến mười tám chữ, niệm niệm phải tương ưng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác và từ bi; niệm niệm phải tương ưng với khán phá, phóng hạ, tự tại, tùy duyên, như thế lại thêm phần phát nguyện cầu sinh thế giới Cực lạc. Chẳng những quyết định vãng sinh mà còn được tự tại vãng sinh nữa, điều này ai ai cũng có thể làm được. Nhưng vấn đề được đặt ra là bạn có dám phóng hạ, buông xả hay không? Mọi người thường thường tặng tiền cho tôi, hiện tại tôi lại nhớ đến nó không thôi, như thế chẳng khác nào tôi tự mình đi tìm phiền não. Bà cụ tu nữ 101 tuổi, bà ta phát tâm quy y, tôi chứng minh truyền thọ Tam quy ngũ giới cho bà. Bà ta đều buông xả được tất cả, trong khi tôi vẫn còn có sổ tiết kiệm ở ngân hàng, trái ngược với lời mình dạy. Cho nên, từ trước đến nay, tôi đem toàn bộ tài sản tiền bạc liên quan đến ngân hàng giao cho cư sĩ Lâm làm quỹ giáo dục, quỹ phúc lợi, tôi không làm những việc đó mà ông ta thay thế tôi làm. Bạn cho rằng tôi có nhiều nhàn nhã, tất cả mọi thứ người ta cúng dường cho tôi ở bên này, nó được lưu tại Tịnh Tông Học Hội cho các bạn đồng tu làm công tác hoằng pháp lợi sinh, một phần tiền tôi cũng không mang theo. Mọi người muốn gửi tiền cho tôi cũng được, bằng không có thể gửi đến tài khoản của cư sĩ Lâm, hoặc gửi đến Tịnh Tông Học Hội tại Singapore, không nhất thiết phải đến được tận tay tôi, như thế rất phiền hà. Bản thân của tôi cũng muốn được thanh tịnh, tự nhiên và tôi cũng cầu tự tại vãng sinh. Cũng như bà cụ tu nữ đã nêu trên, sinh thời bà được tự tại, muốn đi khi nào thì có thể ra đi lúc đó, xét ra bà muốn ở lại trần gian này bao lâu cũng chẳng thành vấn đề. Sinh thời tự tại thì vãng sinh tự tại, bà ta có thể làm được, điều đó có thể chứng minh rằng người người đều làm được. Tôi nhìn qua tình trạng thân thể của bà hoàn toàn tương ưng với những lời trong Hoàng Đế Nội Kinh, Linh Xu Kinh mà y học cổ xưa của Trung Quốc đã từng nói. Thọ mạng bình thường của một người sống được 200 tuổi. Tại sao bạn sống không đến 200 tuổi? Vì bạn bình thường không biết cách bảo dưỡng, mà chỉ biết làm cho thân thể suy yếu đi. Điều gì làm cho thân thể tráng kiện? Đại tự nhiên thì thân thể tráng kiện. Cho nên, người người cần phải khôi phục lại đại tự nhiên thì tự nhiên thân thể được trường thọ. Bằng ngược lại, phá hoại tự nhiên sinh thái thì tuổi thọ con người sẽ giảm dần. Ngày nay, chúng ta đang đề cập đến tự nhiên sinh thái của thân thể. Như vậy, điều gì phá hoại tự nhiên sinh thái của con người? Chính là vọng tưởng, là phân biệt và chấp trước. Cổ nhân thường gọi là thất tình và ngũ dục, đó là những thứ đã phá hoại đi hoàn cảnh tự nhiên của chúng ta. Hoàn cảnh tự nhiên đã bị tổn thương thì cái bị phá hoại trầm trọng nhất trong mỗi chúng ta chính là tính tình, mà theo nhà Phật đó là tham, sân và si. Trong đó, sân là nguy hại nhất. Bà cụ tu nữ nói với chúng tôi, mỗi lần sân hận nổi lên chỉ trong một phút, phải cần đến ba ngày mới khôi phục lại được bình thường, đó là một lẽ thật không phải hư dối. Vì thế, ban đầu gặp bà tôi mới hỏi, bà có bao giờ trải qua sân hận không? Bà cho biết là cả đời chưa bao giờ có. Người khác đối xử bất đồng ý kiến với bà, bà chỉ biết tự trách mình tu dưỡng chưa tới đâu, trí tuệ chưa đầy đủ và làm chưa hết mình, từ đó bà không dám ôm lòng giận hờn bất kỳ một người nào. Điều này, trong Lục Tổ Đàn Kinh cũng có viết: “Nếu người thực sự là tu hành, không thấy lỗi của thế gian”. Những lời dạy này bà đều làm được. Bà là người Thiên Chúa giáo, trên thực tế bà thật siêu việt. Những năm gần đây, bà nhận thức được những lời dạy trong các kinh điển của tôn giáo, tất cả đều là những lời chỉ dạy rất có giá trị cho sự tu tập của bà. Tôi hỏi bà: “Có bao giờ bà nhìn thấy cảnh giới của loài ngạ quỷ hay chưa?”. Bà đáp rất hay, tôi xem thấy tất cả tôn giáo trên thế gian này đều là một vầng hào quang chiếu sáng. Điều này cho thấy bà thật siêu việt, đã chứng nhập được cảnh giới bình đẳng. Như hiện tại bà xem kinh Phật, nghe băng giảng của tôi, vô cùng hoan hỷ. Bà mới hỏi tôi bà có đủ tư cách để làm đệ tử Phật hay không? Tôi đáp bà rất xứng đáng. Bà thọ Tam quy, ngũ giới, tôi chỉ có việc đem chứng điệp Tam quy chứng thư cho bà không cần giảng giải. Bà làm được hoàn toàn thì bà được xem là đệ tử chân chính của Tam bảo. Trong tương lai, quý vị có cơ hội đi đến Singapore thì có thể tận mắt thấy được bà và chứng kiến được đời sống sinh hoạt của mọi người ở đó. Nếu chúng ta muốn thân thể được tráng kiện trường thọ, mai sau được tự tại vãng sinh thì bà là một tấm gương rất đáng cho chúng ta noi theo, học hỏi.

Đối với mọi thứ hệ lụy, hiềm ác, phiền não thế gian, bạn cần phải buông xả, vì bản chất của chúng vốn là hư giả. Trong kinh Phật dạy rất hay: “Phàm những vật có hình tướng đều là hư vọng” hay “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn ảo ảnh”, đây là những điều kiện giúp cho bạn quán chiếu mà buông xả. Sau khi buông xả được, bạn sẽ không còn bị nhiễm trước, ngay đó được tự tại. Hiện tại, bạn muốn có được nhiều yếu tố trợ giúp. Bà tu nữ 101 tuổi mà chưa từng bị bệnh, điều này chúng ta có thể tin tưởng được. Nay tôi cũng đã hơn 70 tuổi, cũng chưa từng sinh bệnh. Bệnh tật sinh ra từ đâu? Từ vọng tưởng mà ra. Do đó, Phật giảng tham, sân, si là ba độc, là độc dược của bệnh tật. Trong tâm bạn có tham, sân, si, cộng thêm bên ngoài có ngũ dục, lục tình, làm sao mà không tránh được bệnh tật! Tâm thanh tịnh là điều kiện quan trọng để tráng kiện. Tâm từ bi có thể giải cứu được độc dược. Bất kỳ loại độc nào thì tâm từ bi cũng có thể hóa giải được. Bạn thường nuôi dưỡng, vun bồi tâm từ bi và thanh tịnh thì trăm thứ bệnh đều không phát sinh.

Thọ mạng và giàu sang là hai thứ trên đời này ai cũng mong cầu. Giàu sang ở đây không phải là nói đến bạn phải có nhiều tiền tài, mà giàu sang về cái gì? Đời sống vật chất sinh hoạt của bạn không thiếu thốn, không cần phải dư thừa đó chính là giàu sang. Phú quý về cái gì? Ở đây cũng không đề cập đến bạn phải làm quan to chức lớn, có địa vị cao mới gọi là quý, mà phú quý chính ở chỗ bất kể bạn làm gì, nếu mọi người nhìn thấy bạn mà ai nấy tâm đều hoan hỷ, đều tôn kính mới gọi là quý. Chúng ta cần phải hiểu được ý nghĩa chân chính này, cần phải phát tâm chân chính mà làm.

Hai năm trở lại đây, tôi rất biết ơn cư sĩ Cao Quý Minh. Sau khi Hàn Quản Trương vãng sinh, trong quá khứ, mọi công việc hoằng pháp tại đạo tràng của chúng ta đều do ông ta làm. Tôi từ trước đến nay chưa từng trải qua công việc này. Sau khi ông ta đi, chúng ta lại có đạo tràng ở Đài Loan, nơi đất Mỹ này cũng có một đạo tràng, ở Úc cũng có đạo tràng, tôi không biết phải làm sao, nhất định cần phải có người quản lý. Vì thế, mỗi năm tôi phân phối thời gian, ở Mỹ ba tháng, Đài Loan ba tháng, Úc châu ba tháng, Singapore ba tháng, đây chỉ là mới dự định. Cư sĩ Cao Quý Minh thu hồi lại thư viện, sau khi rời khỏi thư viện tôi cảm ơn ông ta. Ông bảo tôi hãy ở tại Singapore mà chuyên tâm hoằng pháp, không cần đến các xứ khác nữa. Cho nên, tôi đã không trở lại hai nước Đài Loan và Mỹ như trước đây, tâm định rồi thì tại nơi này tôi mới có thể bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm. Giảng kinh Hoa Nghiêm là ước nguyện sau khi qua đời của Hàn Quản Trương, đồng thời đó cũng là cách để bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp.

Chúng ta chẳng những giảng giải kinh Hoa Nghiêm mà còn phải thực hành, đơn giản chỉ nói mà không thực hành thì không có ý nghĩa. Cho nên, chúng ta cần phải đem Kinh Hoa Nghiêm mà thực hiện. Kinh Hoa Nghiêm nói gì? Dùng ngôn ngữ ngày nay mà nói chính là thế giới hòa bình. Thế giới của Hoa Nghiêm so với thế giới của chúng ta lớn hơn vô cùng, không chỉ trong phạm vi trái đất mà nó bao trùm đến tận hư không pháp giới. Tất cả mười phương vô lượng vô biên quốc độ chư Phật đều không phân biệt quốc độ này hay quốc độ kia, không phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, trong đó mọi người có thể sống hòa thuận, đối xử bình đẳng với nhau. Đây cũng là việc chúng ta cần phải thực hành.

Như vậy, chúng ta phải bắt đầu thực thi từ đâu? Trước tiên là từ tôn giáo. Vì thế, tôi đã thực hiện sự đoàn kết giữa chín tôn giáo tại Singapore. Hiện tại nơi đây, chín tôn giáo này đều là người trong một nhà rất hòa thuận, thật sự tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương ái, phụ trợ hợp tác. Xã hội và chính phủ Singapore rất lấy làm vui mừng về điều này. Chúng tôi có chụp hình đem về đây, sau này quý vị có thể xem qua.

Vào năm âm lịch năm nay, khắp nơi thỉnh tôi đi ăn tết. Điều này có nên đi hay không? Tôi đến đây làm gì? Tôi đến Úc châu đắp đất, không thể nói là không có việc làm. Tôi đi đoàn kết sự bất đồng chủng tộc ở Úc châu, việc làm này tôi cũng dựa trên nền tảng của kinh Hoa Nghiêm đã dạy. Quý vị đọc kinh Hoa Nghiêm cần phải hiểu cho rõ. Khẩu hiệu hòa bình được kêu gọi trên toàn thế giới đã mấy nghìn năm qua rồi, song, hòa bình vẫn không được thực hiện toàn diện, nguyên nhân bắt nguồn từ đâu? Do không tìm được nền tảng của hòa bình, không có cơ sở lý luận, cho nên hòa bình không thực hiện được. Hô hào khẩu hiệu là không có tác dụng. Vì thế, tất cả chúng sinh tận hư không pháp từ đâu mà ra? Là xuất phát từ tự tâm chúng ta biến hiện. Cho nên, nhà Phật giảng là tự tánh, giảng là Như Lai. Như Lai cũng chính là tự tánh, như trong kinh Kim Cang có khi nói đến Như Lai, đôi khi lại nói đến chư Phật. Như Lai là giảng trên góc độ tánh, còn chư Phật là nói trên góc độ tướng, tánh và tướng là một chứ không phải hai. Cho nên, đầu tiên cần phải tìm ra cơ sở lý luận, đây là lý luận chân thật, không phải là hư vọng, kiên cố vĩnh hằng không thay đổi, là chân lý của thế gian. Danh từ chân lý, theo nhà Phật gọi là thật tướng, là bản tánh. Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo thường đề cập đến thượng đế. Ỷ Tư Lan giáo nói đến Allah, tên gọi tuy khác nhau nhưng chỉ là một chớ không có hai. Cho nên, khi tiếp xúc với các tôn giáo khác, giải thích cho họ, họ nói vì sao các anh lại học Phật? Các anh có thể lạy thượng đế của chúng tôi được không? Chúng tôi lạy thượng đế so với các bạn thì thành kính hơn nhiều. Bạn xem trong Phật giáo ngày mồng một tết, chúng ta thường cúng thiên, cúng thiên đó là lạy thượng đế, chúng tôi lạy so với bạn tha thiết và thành khẩn hơn nhiều. Vì sao? Vì thượng đế của các bạn, thần của các bạn, các bạn gọi là A Ná thì trong nhà Phật giảng là Như Lai, là hóa thân của Như Lai không phải là ai khác. Tôi nói như thế bạn suy ngẫm lại, bạn là tín đồ của Thiên chúa. Vạn vật trên thế gian này là do thượng đế tạo nên, Phật, Bồ tát cũng là hóa thân của thượng đế. Có như thế mới không có bất bình và mất bình đẳng, chúng ta muốn có hòa bình thì phải kiến lập trên cơ sở đó. Do vậy, tôi nói Phật là số một, Cơ Đốc giáo cũng số một, Thiên Chúa giáo cũng là đệ nhất, Y Kỳ Lan giáo cũng là số một, tất cả đều là số một không có số hai. Vì sao thế? Vì trong kinh Hoa Nghiêm giảng cho chúng ta, pháp giới vốn bình đẳng, nhất chân không hai không khác, có thứ hai là sinh ra bất bình. Kinh Phật là đệ nhất, kinh Cựu Ước, Tân Ước cũng là đệ nhất, kinh Cổ Lan cũng là đệ nhất. Phải thường tôn trọng lẫn nhau, thương yêu lẫn nhau mới có thể giúp đỡ, hợp tác, trở thành người trong một nhà. Cho nên, chúng ta phải hợp tác tôn giáo, đối xử hòa thuận lẫn nhau, như vậy trên thế giới này sẽ không còn chiến tranh giữa các tôn giáo, không còn xung đột chủng tộc. Nói một cách khác, con người sẽ không có tai họa, thậm chí ngay cả thiên tai cũng không có. Thiên tai từ đâu mà ra? Từ tai họa của con người mà ra. Vì thế, trong nhà Phật nói y báo phụ thuộc vào chánh báo mà chuyển đổi, trong đó, thiên nhiên thuộc về y báo. Y báo có liên quan mật thiết với việc khởi tâm động niệm của con người. Tâm con người không thiện thì tai họa sẽ không dừng, thiên tai dồn dập chính là như thế. Cho nên, khi tôi tiếp xúc với họ, họ vô cùng vui vẻ đón tiếp tôi, rất tôn trọng tôi. Hiện nay, tại Singapore này, không chỉ có Phật giáo, mà chín tôn giáo họp lại thỉnh tôi làm cố vấn. Tôi làm cố vấn của chín tôn giáo, tôi khuyên bảo họ chẳng những chú trọng trên mặt công tác mà còn quan tâm đến việc giáo dục.

Hiện nay, vì sao xã hội lại xem Phật giáo là mê tín? Bạn không có giáo lý, lại chú trọng trên mặt tín ngưỡng cảm tình như thế sẽ không thể giải quyết được vấn đề gì? Cho nên, cần chú trọng chỗ trí tuệ cao độ, giác ngộ viên mãn mới chân chính giải quyết được mọi vấn đề. Trong kinh điển của mỗi tôn giáo đều có cái hay của nó. Vì thế, tôi khuyến khích mọi người cần phải giảng kinh thuyết pháp, mỗi tôn giáo đều nên giảng kinh và thuyết pháp. Chúng ta phải cùng nhau làm, thường tiếp xúc, thường trao đổi ý kiến, như thế công tác giảng kinh thuyết pháp của chúng ta mới không có xung đột, không có ác ý phê bình.

Tôi đến đây ngày 18 thì trước đó hai ngày là ngày 16, tôi có tham dự một lễ hội được mùa của Hồi giáo, cũng là mùa tết của họ. Hồi giáo tại Singapore có hai giáo phái, một phái là Ấn Độ Hồi giáo, phái còn lại thuộc Mã Lai Hồi giáo. Phái Mã Lai Hồi giáo họ ăn tết vào ngày 12, tôi cũng có đi tham dự. Thật ra, vì nhiều năm qua tôi đã đối xử tốt với họ, cho nên mỗi khi ăn tết, các tôn giáo đều có thỉnh tôi. Mỗi một chư thần ăn tết cũng mời tôi. Vào ngày 12 là phái Hồi giáo Mã Lai ăn tết, họ mời cả tổng thống, tôi và tổng thống đều là khách quý của họ. Vào ngày 16 là phái Ấn Độ Hồi giáo ăn tết, khách mời của họ đại khái cũng hơn mười mấy bàn, tôi cũng là khách quý của họ. Con gái của tổng thống là Na Đan cũng có tham dự. Trưởng lão của phái Hồi giáo cùng tôi tâm sự. Ông ta nói Phật, Bồ tát của chúng tôi thật tốt, chúng tôi có nhiều tiền, vì chúng tôi thường giúp đỡ cho họ.

HẠNH (Thực hành)

Hiện tại, tín đồ của các tôn giáo đến cư sĩ Lâm ăn cơm, vì ăn cơm của cư sĩ Lâm là miễn phí. Mỗi ngày cúng dường 24 giờ, ngoài ba bữa điểm tâm sáng, trưa, vào buổi chiều có điểm tâm bánh mì, bánh bao, cà phê, nước trà cúng dường không gián đoạn. Vì bên cạnh niệm Phật đường là 24 giờ niệm Phật và trong nhiều năm qua không gián đoạn. Cho nên, lúc nào mà bạn đến cũng đều được chiêu đãi rất ngon. Mỗi ngày, nơi đây có hơn một nghìn người đến ăn uống. Nếu vào ngày chủ nhật hoặc những ngày pháp hội thì đại khái có đến ba, bốn nghìn người ăn. Vì thế, ông ta mới nói chúng tôi có rất nhiều tiền. Cách đây hai tháng, một phái đoàn Thiên Chúa giáo có hơn 50 nữ tu, từ 40 quốc gia trên thế giới đến thăm và tham quan. Chúng tôi đã tiếp đãi và cùng ăn cơm với họ, chúng tôi đã đem tình hình báo cáo cho họ nghe, họ rất lấy làm ngạc nhiên. Họ hỏi các anh chi tiêu tiền không ngừng, như vậy các anh lấy tiền từ đâu ra? Chúng tôi nói với họ, tiền mà chúng tôi chi tiêu là tiền của Thích Ca Mâu Ni giao cho chúng tôi. Phật giáo dạy bố thí nhiều thì càng được nhiều, những việc làm mà chúng tôi làm, các bạn có thể nhìn thấy được. Phản tỉnh lại họ, thu nhập của tôn giáo họ rất hữu hạn, một nửa nhân lực, tài lực và vật lực đều là do chúng ta cúng dường. Cho nên, họ đối với chúng tôi rất hoan hỷ, rất cung kính, rất tán thán. Họ nói Phật, Bồ tát của chúng tôi rất tốt, tôi mới nói lại với họ là A Ná của các bạn cũng tốt vậy, nhưng không thể sánh bằng về việc dấn thân hiện thực như Phật, Bồ tát chúng tôi. Vì sao các vị ấy không quan tâm đến các bạn? Vì các bạn không y theo lời dạy của các vị ấy mà thực hiện, mà tiến hành làm. Tôi đã nói cho họ, đạo tràng của cư sĩ Lâm là một thí dụ điển hình. Ở đây, tôi phải dốc hết toàn tâm toàn lực, xây dựng đạo tràng nơi đây để trở thành một đạo tràng gương mẫu trên toàn thế giới. Do đó, mỗi tuần chúng tôi đều hội họp kiểm thảo những khuyết điểm, nhanh chóng sửa đổi thì mới có được tiến bộ. Bạn xây dựng nên đạo tràng mô phạm thế giới, mọi người trên toàn thế giới sẽ đến tham học, họ đến học tập ngày càng nhiều thì nơi đây thịnh vượng, thì tiền đến. Nói chung, tiền của chúng tôi không phải chỉ có ở Singapore mà nó đến từ nhiều nơi trên toàn thế giới. Họ nghe tôi nói liền gật đầu. Đồng một đạo lý như thế, các bạn phải nghe lời dạy của A Ná, bạn phải đem đạo tràng Hồi giáo nỗ lực mà làm, biến nó trở thành một đạo tràng Hồi giáo mô phạm của thế giới. Từ đó giáo đồ Hồi giáo trên toàn thế giới sẽ về đây học tập, hành hương về đây, như thế, bạn có khác gì cư sĩ Lâm! Tôi dạy cho bạn một phương pháp là bạn phải chân thành nỗ lực mà làm, thực hiện đến trình độ đứng nhất thế giới, là một tấm gương sáng, như thế mọi người đều đến xếp hàng. Ngược lại, bạn không vui lòng nỗ lực mà thực hiện thì có Phật, Bồ tát nào mà hoan hỷ với bạn! Trong khi đó, trên thế giới có rất nhiều đạo tràng, như thế, Phật, Bồ tát có thiên vị hay không? Tuyệt đối là không có. Quan trọng là ở chỗ phải thường đem lời Phật dạy cho chúng ta để “thọ trì đọc tụng, vì người diễn thuyết”. Chúng ta cần phải hiểu chữ diễn là biểu diễn, nêu cao tấm gương cho người thấy. Mỗi ngày, đạo tràng có hai tiếng giảng kinh, một năm không gián đoạn. Mỗi ngày 24 giờ niệm Phật, một năm không gián đoạn, thời thời như thế. Ngoài hai tiếng giảng kinh, chúng ta mở băng đĩa giảng kinh 24 giờ không gián đoạn. Cho nên, bạn đến nơi đây, muốn nghe kinh gì ở bất kỳ thời gian nào, bạn đều có thể nghe được, muốn niệm Phật lúc nào cũng có thể. Bạn xây dựng đạo tràng sao cho thích hợp với không gian và thời gian là được. Sự thịnh vượng của cư sĩ Lâm cũng như sự giàu sang của ông cũng nhờ những yếu tố nêu trên. Do đó, ba loại bố thí chúng ta phải nỗ lực hết mình mà làm, quyết định sẽ có thành tựu. Đối với việc cúng dường mà nói, cư sĩ Lâm không có mua bất kỳ rau, trà, dầu v.v… Như thế, những thứ hàng ngày cúng dường cho mọi người từ đâu mà có? Vì người ta biết nơi đây cúng dường cho người khác đến ăn mà không lấy tiền, nên mọi người ra sức mang mọi thứ về đây cho chúng ta. Chúng ta dùng không hết, dùng không hết thì phải làm sao? Chúng ta mang cúng dường lại cho viện dưỡng lão, viện cô nhi của các tôn giáo khác. Chúng ta thường cúng dường cho họ, mỗi một tháng đều cho họ vật thực, cùng họ kết duyên. Cho nên, có thể biết được nguồn gốc thịnh vượng và nguồn vốn tăng trưởng của cư sĩ Lâm từ đâu mà có. Bạn có thể xem phong thái của nền kinh tế ở Đông Nam Á. Mỗi một tổ chức, ngành nghề và đạo tràng, sự thu nhập chẳng được bao nhiêu, thế mà cư sĩ Lâm thu nhập chẳng những không bị suy giảm mà còn tăng trưởng nữa.

Năm ngoái, tôi ăn tết lần đầu tiên tại Singapore. Tôi liền nghĩ đến những đứa trẻ mồ côi trong các cô nhi viện, những người nhà neo đơn trong những viện dưỡng lão. Những người này không có ai chăm sóc, rất đáng thương. Chúng tôi mời họ đến ăn tết một bữa, thỉnh đến 3800 người. Không phải chúng tôi mời theo tập thể mà mỗi một người già, trẻ em mồ côi đều chính thức nhận được một thiệp mời, tất cả chỉ là an ủi tinh thần cho họ. Họ ở trong viện dưỡng lão, cả đời không được ai mời làm khách, cho nên những thiệp mời đưa cho họ rất đúng lúc. Sau đó, họ giữ lại chúng làm kỷ niệm, họ còn cảm nhận được rằng xã hội ngày nay đã không quên họ. Tinh thần an ủi này so với vật chất thì vượt gấp nhiều lần. Năm ngoái thỉnh 3800 người, trong đó, người của chín tôn giáo cũng được mời. Âm lịch năm ngoái tôi làm chủ. Năm nay ăn tết thế nào? Chúng ta ăn tết dương lịch, chọn năm dương lịch chúng ta xuất tiền xuất lực, chúng ta thỉnh lãnh tụ của chín tôn giáo làm chủ nhân, lại có khách mời kết hợp thỉnh họ. Họ rất cảm động, họ nói tâm lượng của các anh quả thật rộng lớn. Năm nay, tham dự tiệc có hơn 8000 người, chúng ta có thỉnh tổng thống và phu nhân làm khách quý, thỉnh đại sứ quán của các quốc gia đóng tại Singapore, với hy vọng cho họ thấy được sự đoàn kết giữa các chủng tộc và tôn giáo ở Singapore, đồng thời đem tin tức này mà thông tin trên toàn thế giới biết. Trước một ngày chiêu đãi, chúng ta tiến hành một pháp hội cầu cho thế giới hòa bình. Mỗi ngày, ước lượng có khoảng 2000 người tham dự. Chúng ta bắt đầu cầu nguyện từ 8 giờ ngày 31 tháng 12 đến 8 giờ ngày mồng một tết. 20 giờ đồng hồ không gián đoạn cầu nguyện cho thế giới hòa bình. Số người tham gia đã vượt ra ngoài sự dự đoán của tôi. Đã có đến 6000 người tham gia, thật là thù thắng vô cùng. Sau việc làm đó, chúng tôi kiểm nghiệm lại thì nhận thấy được rằng lãnh đạo của chín tôn giáo đều có tham dự, họ rất hoan hỷ. Họ nói năm tới phải làm thật sự. Thế nào là làm thật sự? Họ phải xuất tiền ra. Năm nay họ không có xuất tiền, mà mọi chi phí đều do chúng ta xuất ra. Họ nói năm tới mỗi một tôn giáo đều phải xuất tài khoản, nếu thật sự họ làm như thế thì quá tốt. Cho nên cư sĩ Lý Lâm Nguyên tâm sự với tôi. Thầy bảo với lãnh tụ các tôn giáo, họ chân thành muốn bỏ tiền ra, chắc chắn số tiền sẽ không đủ. Chúng ta sẽ hoàn toàn đảm nhiệm để cho họ yên tâm, không phải lo ngại về việc phải xuất ra bao nhiêu tiền, mà chúng ta xin chịu trách nhiệm toàn bộ. Năm tới, dự đoán sẽ có hơn một vạn năm nghìn người tham dự, vì tất cả các tôn giáo đều đến. Cho nên, sức mạnh ảnh hưởng rất lớn. Đó là lời nhắc nhở của một số bạn đồng tu cho tôi, quả thật, tôi không có nghĩ đến điều này. Việc kiến nghị này rất tốt. Họ nói pháp hội của các anh quả thật có tính chất lịch sử, từ trước đến nay chưa bao giờ có chuyện các tôn giáo lại liên lạc tại một chỗ như thế. Trên thực tế, để đặt nền móng cho nền hòa bình của thế giới, chúng ta cần môi giới và cho mời các tòa báo trứ danh, cũng như các kênh truyền hình nổi tiếng đến. Đây là điểm mà trước đó chúng ta chưa từng nghĩ ra, chỉ có nghĩ về việc mời các đại sứ quán, đây chính là việc chúng ta cần phải sửa đổi kịp thời. Năm tới, chúng ta nhất định mời các đoàn thể truyền bá thông tin như tạp chí, báo chí… đến đưa tin. Mời họ đến Singapore tham dự đại hội nghìn năm hạnh phúc. Vì năm tới mới là chân chính nghìn năm hạnh phúc. Bạn tính toán như thế nào? Tính đến một nghìn mới là nghìn năm hạnh phúc. Một nghìn năm, không tính là 999 rồi, vẫn còn thiếu một năm nữa. Cho nên, năm 2000 tới mới thực sự là năm của thế kỷ, thế kỷ 21. Bắt đầu năm 2001, chúng ta chuẩn bị làm công tác viên mãn, làm cho tốt. Năm tới thật sự là năm thế giới giao hòa, chín tôn giáo đều phát tâm chân thành làm việc. Tôi cho rằng đây là việc làm rất khó thành tựu. Tôi làm việc hai năm nay tại Singapore, đoàn kết tất cả các tôn giáo, công việc đoàn kết là do tôi chủ động đi kết nghĩa với họ. Làm thế nào để thăm viếng họ? Như trên tôi đã nói, đó là chúng ta mở rộng phòng ăn phục vụ cho nhiều người. Rau, dầu, muối… thường xuyên cung cấp cho họ, cùng với họ kết tình bạn bè giao hảo. Đã có tình bạn bè với họ rồi, dựa trên nền tảng đó chúng ta tiến thêm một bước nữa, là chủ động thăm viếng họ. Họ có cô nhi viện, có viện dưỡng lão, có một số văn phòng từ thiện, giống như Hồi giáo có sở tiếp đãi và giúp đỡ người. Mỗi một tôn giáo, chúng ta đem cho họ mười vạn đồng bạc. Cho nên, có một số người trách tôi. Họ nói vì xem tôi là tín đồ Phật giáo nên cúng dường tiền cho tôi, sao tôi lại đem nó cho các tôn giáo khác. Tôi đã giải thích với họ, cũng chính là giải thích cho các bạn đồng tu, hy vọng mọi người không nên hiểu lầm. Trong kinh, Phật há chẳng dạy cho chúng ta là “chúng sinh vô biên thệ nguyện độ” đó sao? Tín đồ của các tôn giáo khác không phải là chúng sinh hay sao? Đã là chúng sinh đều phải độ bình đẳng, Phật không có nói chúng sinh vô biên thệ nguyện độ là chỉ độ cho những người tin theo Phật, mà Ngài bảo chúng ta phải độ cho bình đẳng. Tâm lượng của bạn cần phải mở rộng như thế mới được. Đồng một đạo lý như thế, tôi nói với Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo, là thượng đế thương yêu nhân thế, không chỉ riêng cho tín đồ của thượng đế. Nhân thế ở đây, không nhất định là tín đồ của mình mà Ngài dạy bình đẳng, bác ái với mọi người sống trên thế giới này. Vì thế, chúng ta phải lấy tâm thanh tịnh và bình đẳng rộng độ tất cả chúng sinh, cúng dường rộng lớn. Nhà Phật dạy tâm bao quát thái hư, lượng châu sa giới, đó là chân tính, là bản tính vậy. Cho nên, Phật pháp là pháp bình đẳng, chúng ta không chỉ nỗ lực làm việc trong giáo hội, mà ngay cả những việc không thuộc phàm trù Phật giáo, hễ thế gian mong cầu thì chúng ta cũng cần phải làm. Họ lập viện dưỡng lão, lập cô nhi viện, chúng ta có cần giúp đỡ họ hay không? Chúng ta cần phải giúp đỡ cho họ xây dựng vì hiếm có ai làm được việc này. Tôi đầu tư vào mười vạn lạng bạc thì tôi có một phần, đây là một việc làm có ý nghĩa không phải là việc xấu. Tôi bỏ tiền ra cho họ xây dựng là việc tốt. Cho nên, chúng ta làm việc mà có tâm lượng quá nhỏ bé thì không có phước báo. Cổ nhân có nói: “Tâm lượng lớn thì phước báo lớn”. Vì thế, tâm lượng nhất định phải lớn, nhất định không được có giới hạn. Phải bao dung, sở hữu của tôn giáo đều xem thành người một nhà. Thần minh mà họ tôn thờ trong mắt của tôi đều là chư Phật, là Như Lai. Tôi ở chính giữa giáo đường của họ, tôi lễ bái không khác gì với họ. Họ rất lấy làm cảm động. Trái lại, nếu quán sát một cách tinh tế thì một người có phải là chư Phật hóa thân hay không? Tất cả đều duy tâm sở hiện và duy thức sở biến. Vì thế, mười pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm đều là do chư Phật biến hiện. Cho nên, trong kinh Đại thừa mới nói, Bồ tát thành Phật nhìn đến đại địa tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo, là đạo lý đó vậy. Cho nên tâm lượng lớn thì phước báo lớn, phước báo lớn rồi thì mới được tùy duyên tự tại vãng sinh.

Thời gian ngày nay đến đây đã hết, tôi có một vài điểm cúng dường các vị đồng tu, để mọi người thấy được những công tác chúng ta đã làm trong những năm vừa qua và phản tỉnh lại những gì mình đã làm được cho tha nhân.

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Hòa thượng Tịnh Không
Việt dịch: thích Tâm An

Năm Tháng Không Đợi Đừng Hẹn Ngày Mai

Năm Tháng Không Đợi Đừng Hẹn Ngày Mai

Trên con đường tu hành, việc niệm Phật là một việc vừa cần thiết, vừa cấp bách. Hễ gặp dịp tu là tu liền, gặp dịp niệm được là niệm ngay, chớ nên chần chờ để cho thời gian luống trôi qua một cách vô ích.

Phật dạy mạng người ở trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào nữa là đời tàn! Bất luận lúc nào, giờ phút nào, con người cũng có thể chết được, không một ai có đủ tài năng bảo đảm đời sống vững chắc lâu dài. Thế gian có câu ca rằng: “Đời người khác thể bóng câu, sớm còn tối mất biết đâu mà lường”.

Sự thật đơn giản và phũ phàng ấy, từ Thánh nhân cho đến thế tục, không ai là không xác nhận. Sinh hữu hạn, tử vô kỳ, cho nên muốn kịp thời đối phó với cái chết bất thần, ta không nên để lỡ một thời gian nào trôi qua mà không tu niệm. Bất cứ lúc nào tu được, niệm được thì phải gấp rút và tinh tấn hành trì; có thế lúc lâm chung mới tránh khỏi cảnh hoang mang tay quàng chân rối, lúng túng chẳng biết về đâu!

Có một số thường nghĩ sai lầm rằng tay chân còn tráng kiện, đời sống còn dài, việc tu niệm xin để gác lại, đợi khi nào già yếu sẽ bắt đầu hạ thủ công phu cũng không muộn gì. Trong sự tu niệm bằng cách sắp đặt tính toán như trên thường hay đưa đến hỏng việc.

Ngày xưa, có người đến nhà bạn là Trương tổ Lưu khuyên niệm Phật. Trương nghe theo, nhưng xin khất lại một ngày khác vì có ba việc chưa làm xong: một là cha mẹ đang còn cần phải lo phụng dưỡng, hai là con cái chưa dựng gả xong, ba là việc nhà chưa thu xếp gọn. Trương hẹn khi nào làm xong ba việc ấy, sẽ hạ thủ công phu, nhất tâm niệm Phật. Sau khi cáo ra về được vài ba tháng, người kia trở lui thăm với chủ ý khiến ông bạn đừng nên chần chờ nữa, nhưng than ôi! Khi đến mới biết rằng bạn đã là người thiên cổ! Bèn ngậm ngùi than thở và làm một bài thơ điếu rằng:

“Ngô hữu danh vi Trương tổ Lưu,
Khuyến y niệm Phật thuyết tam điều,
Khước hận Diêm công vô phân hiểu,
Tam điều vị liễu tiện lai câu.”

Tạm dịch là:

“Ông bạn tôi tên Trương tổ Lưu,
Tôi khuyên niệm Phật hẹn ba điều,
Diêm vương ác hại không thèm hiểu,
Ba việc chưa xong vội bắt liều.”

Người đời dù quyền cao chức trọng đến đâu, vẫn không thể bảo đảm cho tương lai đời mình một cách chắc chắn được. Trường hợp như Trương tổ Lưu trên đây không phải là hiếm, vì thế nếu đã có chí tu hành thì tâm phải cho quyết và phải biết lợi dụng thời gian mới khỏi để ân hận về sau. Vậy, lúc nào tu được là nên tu liền, phút nào niệm được là phải niệm ngay.

Trích PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ
Hòa Thượng Thích Trí Thủ biên tập

Niệm Phật Tâm Ghi Chắc Chữ “A” Lâu Dần Sẽ Thành Khối

Niệm Phật Tâm Ghi Chắc Chữ “A” Lâu Dần Sẽ Thành Khối

Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, hoặc trụ nơi câu niệm Phật, gọi là Định Tâm Niệm Phật. Miệng niệm Phật, tâm không nhớ Phật mà suy nghĩ mông lung việc khác, đó là Tán Tâm Niệm Phật. Tán tâm mà niệm, hiệu lực so với định tâm yếu kém rất nhiều. Vì lẽ ấy, từ xưa đến nay các bậc thiện tri thức đều khuyên người cố gắng định tâm trì niệm, đừng để tán tâm. Cho nên tán tâm niệm Phật không đủ làm gương mẫu.

Tuy nhiên, mỗi tác động bên ngoài đều liên quan đến tiềm thức, tức là thức thứ tám ở bên trong.

Kim Chỉ Nam Trên Con Đường Tu Tịnh Độ

Kim Chỉ Nam Trên Con Đường Tu Tịnh Độ

1. NIỆM NIỆM tương tục (không gián đoạn) là như thế này:

Thí dụ như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp cầm gươm rượt theo muốn giết (dụ cho sanh tử, vô thường, không tha mạng sống).

Người đó sợ hải quá, cắm đầu chạy riết, đến chỗ gặp một con sông chắn ngang qua (con sông sanh tử. Bờ bên này là sanh tử ngạn, bờ bên kia là giải thoát ngạn).

Người ấy vừa chạy trốn vừa thoáng nghĩ trong đầu rằng:

Nếu ta lội qua khỏi được con sông này, đến BỜ BÊN KIA thì mới mong bảo toàn thân mạng. Nhưng để y phục mà lội hay là cởi bỏ ?

Nếu để y phục mà lội sợ e vướng mắc, lúng túng tay chân khó bơi. Còn cởi bỏ thì không kịp nữa rồi, vì giặc cướp đã rượt tới sau lưng (đây là dụ cho cái chết đã gần kề không còn xa nữa).

Bấy giờ người ấy chỉ còn có một NIỆM DUY NHẤT là làm sao cho qua sông được thì thôi chớ không còn có ý nghĩa chi khác…

Thì người NIỆM PHẬT chúng ta đây cũng y như vậy, nghĩa là:

Chỉ chuyên tâm tha thiết niệm,

Ðừng nghĩ ngợi điều chi khác cả (tức là dứt hết mọi tạp tưởng).

Câu NIỆM PHẬT này vừa DỨT thì câu NIỆM PHẬT khác TIẾP NỐI theo liền (đừng có để phí thời giờ).

NIỆM NIỆM nối nhau liên tục như vậy cho đến MƯỜI NIỆM.

Ðây gọi là “THẬP NIỆM tương tục” (Tức là 10 niệm nối nhau không dứt).

(ÐÀM LOAN PHÁP SƯ dạy).

2. Ðức PHẬT (Thích Ca và A DI ÐÀ) xót thương, khuyên TA nên chuyên xưng danh hiệu A DI ÐÀ Phật.

Bởi vì phép niệm “Xưng danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT” này rất dễ, nếu có thể giữ mãi mỗi niệm nối nhau như thế, lấy suốt cả đời mình để làm hạn định, thì:

Mười người tu, mười người vãng sanh.
Trăm (ngàn) người tu, trăm (ngàn) người vãng sanh.

Tại sao vậy?
Bởi vì:
Không có duyên tạp (Không có suy nghĩ điều chi khác hết) nên được CHÁNH NIỆM.

Hạp với bản nguyện của Phật A DI ÐÀ (Ðại nguyện thứ 18, 19, 20).

Vì không trái với lời kinh (kinh vô lượng Thọ, kinh Thập lục Quán, kinh Phật thuyết A DI ÐÀ v.v…).

Vì thuận theo lời PHẬT dạy, cho nên dễ vãng sanh.

(Liên Tông nhị Tổ – Thiên Ðạo Ðại Sư dạy).

3. Chí tâm niệm PHẬT nghĩa là: Ý nghiệp làm lành.

Xưng danh hiệu PHẬT nghĩa là: KHẨU nghiệp làm lành.

Chấp tay, cúi mình lạy PHẬT nghĩa là: THÂN nghiệp làm lành.

Nếu giữ ba nghiệp THÂN, KHẨU, Ý làm lành như vậy trọn đời, thì một câu niệm PHẬT có thể diệt được tội nặng trong 80 ức kiếp sanh tử.

(HOÀI CẢM ÐẠI SƯ dạy).

4. Lúc lễ bái, niệm PHẬT và phát nguyện phải:

– Khẩn thiết, chí thành.

– Không xen lẫn tạp tưởng.

– Như người sắp sửa bị giết mà cầu được tha.

– Như người bị giặc cướp rượt đuổi .. mà muốn được thoát.

– Như bị nước trôi, lửa cháy, một lòng mong được cứu nạn.

Niệm Phật phải khẩn cấp và chí thành như thế thì mới thành tựu được công phu.

Tóm lại nếu:
Nói một đường, làm một nẻo (Tức là miệng thì nói niệm PHẬT mà lòng không chịu niệm).

– Lời nói và hành động chẳng giống nhau.

– Lòng TIN (nơi Tịnh Ðộ pháp môn) không vững chắc.

– Nay thì niệm, mai mốt lại bỏ bê, biếng trễ vv…

– Niệm như thế ắt khó được vãng sanh.

(Liên Tông Lục Tỗ Vĩnh Minh đại sư dạy).

5. Người tu pháp NIỆM PHẬT, dù cho đang khi làm công việc nặng nhọc chi, song TRONG TÂM LÚC NÀO CŨNG KHÔNG QUÊN CÂU NIỆM PHẬT… Giả sử như lỡ có quên thì phải cảnh tỉnh ngay lập tức và nhiếp tâm niệm trở lại… Tập như thế lâu ngày thành quen…Ðến khi gần lâm chung thì dù cho thân có bị bịnh khổ dày vò, đau đớn, nhưng tâm vẫn KHÔNG QUÊN câu niệm PHẬT…

Khi vừa tắt thở thì thần thức liền nương theo câu niệm PHẬT ấy mà đi, quyết định sẽ được vãng sanh về nơi CỰC LẠC…

(Tuân Thức đại sư dạy).

6. a. Người tu Tịnh độ muốn được vãng sanh thì việc CHÁNH YẾU là phải CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT… còn phần phụ thì phải dứt trừ điều ác, làm những hạnh lành …

Ðem các công đức ấy mà hồi hướng và nguyện sanh về chốn Tây Phương, ắt sẽ được mau thành tựu, như thuyền đi xuôi gió, lại còn thêm được thuận dòng (nước) vậy.

b. Sớm tối chuyên tâm lễ PHẬT như người (làm quan) đi chầu vua không dám sơ sót. Còn như người niệm PHẬT thì phải:

– Miệng niệm PHẬT, tâm phải tưởng PHẬT.

– Tâm và miệng đều hợp nhau,

– Phát lòng chí thành, trân trọng.

– Tin chắc (nơi lời Phật dạy về pháp môn Tịnh độ) đừng có nghi ngờ.

– Mỗi ngày đều phải siêng năng chớ đừng nên biếng trễ.

Thì chắc chắn là sẽ thành tựu được môn NIỆM PHẬT Tam muội. Chừng đó lo gì không được vãng sanh.

(Từ Chiếu đại sư dạy).

7. a. Người niệm PHẬT phải nên:

Giữ một câu Nam mô A DI ÐÀ PHẬT như dựa vào núi Tu di, lay chuyển chẳng động (Tức là dù cho có ai bài bác, phá hoại thế mấy đi nữa quyết cũng chẳng nghe). Thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm…

Tâm niệm PHẬT chẳng bỏ qua, câu niệm PHẬT chẳng rời lòng.

Mỗi giờ, mỗi khác, cũng nhớ niệm, niệm hoài không bỏ lỡ, giống như gà ấp trứng phải thường cho hơi ấm tiếp tục thì trứng mới nở con. Còn niệm Phật hoài mà không bỏ qua thời giờ gọi là “Tịnh niệm tương tục” ắt bông sen của mình sẽ mau nở vậy.

b. Chuyên lòng xưng danh hiệu PHẬT, nhứt tâm, nhứt ý nắm giữ một câu A DI ÐÀ PHẬT.

Bởi vì:
– Chỉ một NIỆM này tức là PHẬT A DI ÐÀ.

– Chỉ một NIỆM này là viên mãnh tướng (tướng mạnh) phá địa ngục.

– Chỉ một NIỆM này là thanh gươm báu chém bầy ma, tà.

– Chỉ một NIỆM này là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm (Vô minh).

– Chỉ một NIỆM này là con thuyền to vượt qua biển khổ.

– Chỉ một NIỆM này là thuốc hay trị dứt bệnh sanh tử.

– Chỉ một NIỆM này là đường tắt mau ra khỏi tam giới.

– Chỉ một NIỆM này là tự tánh DI ÐÀ.

– Chỉ một NIỆM này là duy tâm Tịnh độ.

Giữ chắc một câu NIỆM: Nam mô A DI ÐÀ PHẬT này đừng cho quên mất…

– Có việc cũng niệm như vậy.

– Không việc cũng niệm như vậy.

– Có bệnh cũng niệm như vậy.

– Không bệnh cũng niệm như vậy.

– An vui cũng niệm như vậy.

– Buồn khổ cũng niệm như vậy.

– Sống cũng niệm như vậy.

– Chết cũng niệm như vậy.

cứ NIỆM NHƯ VẬY mãi thì cần chi phải hỏi ở nơi người khác để tìm ra đúng đường về ư ?

(Ưu Ðàm đại sư dạy).

8. Kinh “Ðại Tập Nguyệt Tạng” dạy:

Niệm Phật lớn tiếng có 10 công đức là:

1. Ðánh tan cái tâm hôn trầm, mê ngủ.
2. Thiên ma kinh sợ.
3. Tiếng vang xa khắp 10 phương.
4. Ba đường ác được nhờ vào đó mà dứt khổ.
5. Tiếng động chung quanh không xâm nhập vào làm loạn thâm mình được.
6. Niệm tâm không tán loạn.
7. Mạnh mẽ tinh tấn.
8. Chư PHẬT vui mừng.
9. Tam muội hiện tiền.
10. Ðược vãng sanh Cực lạc.

9. Nên biết pháp môn TỊNH ÐỘ này chẳng cần lựa chọn kẻ trí, ngu, sang, hèn, nghèo, giàu.

Cũng chẳng cần phân biệt kẻ nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục.

Chẳng luận kẻ mới tu hay tu lâu.

Tất cả đều có thể niệm PHẬT được.

Hoặc niệm lớn, hoặc niệm nhỏ, niệm ra tiếng, niệm thầm, vừa lạy vừa niệm, nghiên cứu mà niệm, nhiếp tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm, vv…

Giữ câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT liên tục không dứt như dòng nước chảy mà niệm, cho đến đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, ngàn muôn niệm (đời lộn xộn) đều gom về nơi một câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT như thế…

Niệm theo cách nào cũng được, điều cốt yếu là giữ cho lâu bền đừng lui sụt (đây tức là HẠNH đó), phát lòng TIN quyết định đừng cho bị lay chuyển (đây tức là TÍN đó).

Nếu quả thật hành trì câu niệm PHẬT được đúng như thế, thì cần chi tìm bậc tri thức để hỏi đường (nào về Cực lạc) ư!

(Tông Bổn đại sư dạy).

10. a. Niệm Phật có:

+ Niệm thầm (tiếng nhỏ).

+ Niệm ra tiếng (lớn).

+ Niệm không ra tiếng (mặc niệm).

+ Niệm Kim cang trì (se sẽ động môi, lưỡi mà niệm).

Niệm thầm thì dễ bị hôn trầm.

Niệm lớn tiếng thì bị mau mệt. (hao hơi)

Duy chỉ có cách niệm “KIM CANG TRÌ” là có thể bền lâu.

Tuy nhiên cũng không nhứt định, nếu như thấy cần thiết thì có thể thay qua, đổi lại cũng không sao.

b. Tâm hôn trầm, tán loạn đã có lâu kiếp nhiều đời rồi, ắt nhiên không thể nào trong một lúc mà an định được. Cho nên người niệm PHẬT nếu thấy tâm không được thanh tịnh cũng đừng có lo ngại chi. Chỉ cần khi niệm PHẬT, mỗi chữ, mỗi câu, đều do từ nơi TÂM mà phát ra, dụng công phu như vậy lâu ngày, sẽ có hiệu quả.

c. Tạp niệm là bịnh, niệm PHẬT là thuốc.

Niệm PHẬT chính là hành môn để trị tạp niệm đó.

Nếu niệm PHẬT mà không thấy hiệu quả, đó là tại mình dụng công chưa được chơn thành và tha thiết.

Cho nên mỗi khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên tâm, cố gắng trì niệm, mỗi chữ, mỗi câu phải rành rẽ, rõ ràng. Thì tạp niệm tự nhiên được dứt trừ.

d. Người học PHẬT, niệm PHẬT đừng quá nên chạy theo hình thức bên ngoài, chỉ quý là ở nơi CHÂN THẬT TU HÀNH.

Hàng cư sĩ Phật tử tại gia không cần phải cạo tóc, mặc áo đà làm chi. Tự có thể để tóc, mặc áo trang (lam) mà niệm Phật cũng được.

Người thích thanh vắng, không cần phải đánh chông mõ. Tự có thể yên lặng mà niệm PHẬT cũng được.

Người sợ công việc phiền phức, không cần phải kết bè, lập hội làm chi. Tự mình có thể đóng cửa mà niệm PHẬT.

Người biết chữ, nếu có thật tâm quyết tu, không nhứt định và bắt buộc phải vào chùa nghe kinh. Tự có thể xem kinh, y theo lời dạy trong ấy mà niệm PHẬT.

Trải qua ngàn dặm xa xôi hành hương không bằng hiếu thuận với cha mẹ mà niệm PHẬT.

Giao du với bạn bè kém đạo đức, không bằng kẻ dốt nát mà chuyên tâm niệm PHẬT.

Hạnh thấp mà vọng nói đạo lý cao siêu, không bằng kẻ thiệt thà, chất phát mà niệm PHẬT.

Tánh ưa thích sự háo kỳ, ham cầu sự lịnh thiêng của thần thánh, ma quỷ, không bằng chánh tâm tin nơi lý nhơn quả mà niệm PHẬT.

Tóm lại:
a. Người niệm PHẬT:

+ Giữ lòng ngay.

+ Dứt hạnh ác.
Ðây gọi là THIỆN NHƠN.

b. Người niệm PHẬT.

+ Nhiếp tâm trừ tán loạn.

Ðây gọi là HIỀN NHƠN.
c. Người niệm PHẬT.

+ Tỏ rõ tâm tánh.

+ Dứt được hoặc nghiệp.
Ðây gọi là THÁNH NHƠN.

(Liên Tông Bát tổ LIÊN TRÌ đại sư dạy).

11. a. Pháp môn niệm PHẬT không có chi là kỳ lạ cả.

Chỉ cần: TIN SÂU, NGUYỆN THIẾT và CỐ GẮNG THẬT HÀNH mà thôi.

Ðiều cần yếu là phải:

+ TIN cho thấu đáo.
+ GIỮ cho bền lâu.

+ MỘT LÒNG chuyên niệm.

Mỗi một ngày đêm niệm hoặc là 30 ngàn câu, 50 ngàn câu, 100 ngàn câu niệm PHẬT, nhứt định không để cho thiếu.

Nếu giữ được như thế trọn đời mà không được vãng sanh thì chư Phật ba đời thành ra vọng ngữ.

(Nhứt định là không có lẽ đó).

b. Người chơn thật niệm PHẬT:

– Buông bỏ cả thân, tâm, ấy là ÐẠI BỐ THÍ.

– Không khởi tâm Tham, Sân, Si, ấy là ÐẠI TRÌ GIỚI.

– Không cải cọ, phải quấy, hơn thua, ấy là ÐẠI NHẪN NHỤC.’

– Không gián đoạn, xen tạp, ấy là ÐẠI TINH TẤN.

– Không để cho vọng tưởng buông lung, ấy là ÐẠI THIỀN ÐỊNH.

– Không bị các đường lối tu khác làm cho mê hoặc, ấy là ÐẠI TRÍ HUỆ.

Trái lại, nếu chẳng như thế thì không được gọi là CHƠN THẬT NIỆM PHẬT.

c. Niệm PHẬT có SỰ TRÌ và LÝ TRÌ:

1. SỰ TRÌ là TIN có Phật A DI ÐÀ ở phương Tây, có thế giới Cực lạc, có 9 phẩm sen vàng… quyết chí niệm PHẬT, cầu được sanh về nên niệm PHẬT hoài, thiết tha như con nhớ mẹ không lúc nào quên.

2. LÝ TRÌ là tin Phật A DI ÐÀ, cõi Tây Phương, 9 phẩm sen vàng… trong tâm mình đều có đủ hết, do tâm mình tạo ra hết cả.

Rồi đem câu Nam mô A DI ÐÀ PHẬT ấy, tạo thành ra cái CẢNH để buộc chặc Tâm mình vào đó, khiến cho không lúc nào quên.

(Liên Tông Cửu Tổ NGẪU ÍCH đại sư dạy).

12. a. Một chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH.

TÍN là tin nơi TỰ, THA, NHÂN, QUẢ, SỰ và LÝ.

Tin TỰ là tin tất cả đều do tâm mình tạo, nên nếu mình niệm PHẬT ắt sẽ được PHẬT tiếp dẫn.

Tin THA là tin Phật THÍCH CA không nói dối, Phật A DI ÐÀ chẳng bao giờ nguyện suông.

Tin NHÂN là tin niệm PHẬT đó chính là gieo nhân vãng sanh, giải thoát.

Tin QUẢ là tin sự vãng sanh, thành Phật là kết quả.

Tin SỰ là tin cõi Tây Phương và tất cả sự tướng nơi nước Cực Lạc mà Phật thuyết ra trong kinh thảy đều có thật (cũng như cõi Ta bà này có thật vậy).

Tin LÝ là tin “lý tánh duy tâm”, tức là TÂM của mình bao trùm hết tất cả các thế giới khắp 10 phương.

b. HẠNH là thực hành, là chuyên trì danh hiệu (A DI ÐÀ PHẬT) không xen tạp và không tán loạn (suốt cả đời mình).

c. NGUYỆN là mỗi tâm của mình (khởi ra) đều có lòng ưa thích (cõi Cực Lạc), mỗi niệm của mình (khởi ra) đều có ý mong cầu (được sanh về).

Trong 3 điều TÍN, HẠNH, NGUYỆN này, người tu Tịnh độ cần phải hội đủ, quyết định không thể thiếu được một điều nào cả.

NGUYỆN là điều cần yếu nhất.

Có thể có TÍN, HẠNH mà không có NGUYỆN.

Chớ chưa từng thấy có việc: có NGUYỆN mà không có TÍN, HẠNH bao giờ cả. (Cho nên nói chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH chính là như vậy).

d. Niệm PHẬT mà không phát tâm “BỒ ÐỀ” thì không tương ưng (không hợp) với bổn nguyện của Phật A DI ÐÀ, sẽ không được vãng sanh.

(Tâm Bồ Ðề là tâm: Lợi mình, lợi người, trên cầu thành Phật quả, dưới nguyện độ chúng sanh).

Còn nếu như vẫn có phát tâm Bồ Ðề mà không chịu niệm PHẬT (thì) cũng không được vãng sanh nữa.

Vì vậy nên phải:
Lấy sự phát tâm Bồ đề làm CHÁNH nhơn.

Niệm PHẬT làm TRỢ (duyên) nhơn.

Sau đó rồi mới phát nguyện cầu sanh Cực lạc.

Người Phật tử tu Tịnh độ cần phải biết rõ các điều này.

(Liên Tông thập nhứt Tổ – TĨNH AM đại sư dạy).

13. Ðại sư dạy:
a. Thiệt vì sanh tử,

Phát lòng Bồ đề.
Lấy TÍN, NGUYỆN sâu,
Trì danh niệm PHẬT.
16 chữ này là tông yếu (Quan trọng bực nhất) của pháp môn Tịnh độ…

(Bởi tất cả sự khổ trong đời này không gì hơn việc sống, chết. Cho nên nếu tu hành, niệm Phật, mà không cầu để thoát vòng sanh tử là một điều sai lầm rất lớn).

Nhưng đã phát ÐẠI TÂM (Bồ đề tâm) rồi thì phải tu ÐẠI HẠNH. Mà trong các hành môn tu, thì phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn (đầy đủ) thì không có môn tu nào bằng.

DÙNG TÍN, NGUYỆN SÂU,
TRÌ DANH NIỆM PHẬT.

Nói TRÌ DANH đây là chấp giữ một câu A DI ÐÀ PHẬT trong lòng KHÔNG PHÚT NÀO QUÊN. Nếu quên hoặc là có một niệm nào khác xen vào thì không được gọ là CHẤP GIỮ (chấp trì).

Như thế mà hành trì cho đến trọn đời, ắt sẽ được vào cảnh “Nhứt tâm bất loạn” mà thành tựu được sự nghiệp Tịnh độ vậy.

b. Tâm tạo nghiệp được,

Thì:
– Tâm cũng chuyển nghiệp được.

Và:
– NGHIỆP đã do TÂM tạo,

Thì:
– Cũng tùy theo TÂM mà chuyển được.

Nếu:
– TÂM mình không chuyển được NGHIỆP

Thì:
– Bị NGHIỆP trói buộc.

Còn như:
– NGHIỆP mà không chuyển được theo TÂM,

Thì:
– Có thể buộc TÂM.

NHƯNG:
– DÙNG TÂM THẾ NÀO mới chuyển được NGHIỆP?

ẤY LÀ:
– Giữ TÂM hợp với điều kiện ÐẠO ÐỨC, hợp với PHẬT.

VÀ:
– NGHIỆP làm sao buộc được TÂM?

ẤY LÀ:
– Cứ để TÂM y theo “đường xưa lối cũ”, buông lung theo cảnh lục trần.

(Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vậy.

(Liên Tông thập nhị Tổ, TRIỆT NGỘ đại sư dạy).

TRÊN ÐÂY:
Người giải thích đã vì chư vị PHẬT TỬ và quý LIÊN HỮU mà lược thuật lại đôi lời dạy bảo về phương cách niệm PHẬT của chư Tổ sư, để làm “Kim chỉ nam” trên con đường tu Tịnh độ.

Những mong sao cho quý chư hiền học PHẬT, niệm PHẬT, nguyện cầu được sanh về cõi CỰC LẠC xem xong rồi nên phát lòng trân trọng, ít nhiều chi cũng nên y theo đó mà cố gắng thực hành…

Và như thế mới mong thành tựu bước đường “Tây quy” mà lòng ta vẫn hằng luôn ước ao, mong mỏi. Lành vậy thay!

Trích: TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm soạn thuật

Ngũ Khoa Tịnh Độ

Ngũ Khoa Tịnh Độ

PHẦN MỤC LỤC

1. Tam Phước.

Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, lòng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.

Thọ trì tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.

Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

2. Lục Hòa Kính.

Kiến hòa đồng giải, giới hòa đồng tu, thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tranh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân.

3. Tam Học.

Giới, Định, Huệ.

4. Lục Độ.

Lục độ là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ.

5. Thập Đại Nguyện Vương của Phổ Hiền Bồ Tát.

Lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công đức, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, thường tùy Phật học, hằng thuận chúng sanh, phổ giai hồi hướng.

PHẦN GIẢI THÍCH

1. Tam Phước.

Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, lòng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
Thọ trì tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.

Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

Trong kinh Quán Vô Lượng thọ Phật gọi là Tịnh Nghiệp Tam Phước, ba thứ tịnh nghiệp này là Tam Thế Chư Phật Tịnh Nghiệp Chánh Nhân, câu này vô cùng quan trọng, khiến cho chúng ta hiểu rõ ba đời tất cả chư Phật tu hành chứng quả, đều phải y theo Tam Phước làm nền tảng, thì cũng như chúng ta xây cất nhà lầu vậy, bất luận là xây cao bao nhiêu tầng, đều phải đắp nền móng. Tịnh Nghiệp Tam Phước là nền móng, là nền tảng cộng đồng của Phật pháp, nhất định là phải từ trên nền tảng này xây dựng, mới có thể thành tựu tất cả Phật pháp, điều này vô cùng vô cùng quan trọng.

Phước báo nhân thiên. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, lòng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.

Phước báo nhị thừa. Thọ trì tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.

Phước báo đại thừa. Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

A. Phước báo nhân thiên: Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, lòng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.

Hiếu dưỡng cha mẹ, chữ hiếu này thuộc về hội ý, chúng ta phải thể hội ý nghĩa của chữ này, trên là chữ Lão, dưới là chữ Tử, tức là bảo với chúng ta rằng, đời trước và đời sau là một thể, là một chẳng phải hai… Hay nói cách khác, toàn cả vũ trụ là một chữ Hiếu, tận hư không biến pháp giới là một chữ Hiếu… Chẳng những chúng ta nuôi dưỡng cái thân của cha mẹ, còn phải nuôi dưỡng cái tâm của cha mẹ, nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ. Trong Giới Kinh nói: tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta. Đem cái tâm hiếu thuận cha mẹ phát dương quang đại, tận hư không biến pháp giới, tức là Hiếu Đạo.

Phụng thờ sư trưởng. Phật pháp là sư đạo, lấy hiếu đạo làm nền tảng, không có hiếu đạo thì không có sư đạo… Cho nên phải hiếu thuận cha mẹ cũng phải tôn kính thầy… Hiếu kính là tánh đức, chỉ có tánh đức mới có thể khai phát tự tánh… Đây là căn cơ của căn bản, vô cùng quan trọng… Người biết hiếu thuận cha mẹ thì biết tôn kính sư trưởng… Phật là vị thầy sớm nhất của chúng ta, Ngài chỉ dạy chúng ta phải tôn kính sư trưởng… Chúng ta tôn thờ tượng Phật Bồ Tát, và thờ Tổ Tiên, khi nhìn thấy hình tượng của Phật Bồ Tát, thì chúng ta nghĩ đến hiếu kính, hiếu thân tôn sư.

Lòng từ bi không giết hại, từ bi là tánh đức, là một khoa mục vô cùng quan trọng, lòng hiếu kính mở rộng tức là từ bi, có lòng từ bi thì không sát sanh, cái dụng ý này rất sâu… Trong tất cả ác nghiệp, sát nghiệp là nặng nhất. Tại vì sao? vì tất cả chúng sanh có mạng sống, không một ai mà không trân quí cái mạng sống của mình, không có một ai mà không tham sống sợ chết… Cho nên chúng ta không thể sát sanh, sát sanh là bất kính với Phật, là bất hiếu với cha mẹ, bởi vì Phật dạy chúng ta phải giữ giới căn bản, giới thứ nhất là không sát sanh, nếu chúng ta còn sát sanh, thì làm trái nghịch lời dạy của Phật, tức là không tôn kính sư trưởng cũng không hiếu thuận cha mẹ… Sát hại chúng sanh, chẳng những mất đi lòng từ bi cũng mất đi lòng hiếu kính.

Tu thập thiện nghiệp, thập thiện nghiệp là tiêu chuẩn thiện pháp của thế gian… Phật bảo với chúng ta rằng, phát tâm tu thập thiện nghiệp, thì tuyệt đối không đọa tam ác đạo, thượng phẩm thập thiện có thể sanh lên cõi trời, nếu có tu thêm thiền định, và tứ vô lượng tâm, tức là Từ Bi Hỷ Xả, thì có thể sanh lên cõi trời sắc giới và cõi vô sắc giới. Phật quy nạp thập thiện nghiệp thành ba đại loại, tức là Thân, Khẩu, Ý.

Thân nghiệp có ba, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, đây là đối với các bạn đồng tu tại gia mà nói, nếu là người xuất gia thì không dâm dục, phải đem lòng tham ái đoạn cho được sạch sẽ rốt ráo. Trộm cắp tức không cho mà lấy, lậu thuế cũng là trộm cắp, trộm cắp của nhà nước, tạo cái nghiệp này rất nặng… Cho nên người chân chánh học Phật, nhất định phải tuân thủ pháp luật của nhà nước… Không phạm giới sát, không phạm giới dâm, không phạm giới trộm cắp, thì gọi là thân nghiệp thanh tịnh.

Khẩu nghiệp có bốn, một là vọng ngữ, tức là nói láo, nói lời lừa gạt người khác, nói không thành thật. Hai là lưỡng thiệt, tức là hai lưỡi, khiêu khích thị phi, nói lời thêm bớt, khiến cho hai người bất hòa với nhau, tạo cái nghiệp cũng rất nặng.

Ba là ác khẩu, tức là nói lời không có lễ phép, nói lời thô lỗ, khiến cho người nghe cảm thấy khó chịu. Bốn là ỷ ngữ, là hoa ngôn xão ngữ, nói lời thêu dệt, nói được rất hay, khiến cho người nghe bị quyến rũ, nhưng dụng ý bất thiện, như hiện nay trên xã hội, nào là điện ảnh, ca vũ, âm nhạc, thấy chẳng có gì là ác, nghĩ lại những thứ này là loại giáo dục gì cho mọi người? Đều là dạy người sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, đây thuộc về ỷ ngữ, nếu lìa khỏi bốn loại khẩu ác nghiệp, thì khẩu nghiệp thanh tịnh.

Ý nghiệp có ba, tức là Tham, Sân, Si. Tham là tham ái, bao gồm keo bẩn, thường nói là sân tham, dục vọng không có thỏa mãn, thí mạng đi tìm cầu, hy vọng đạt được thỏa mãn, đây là lòng tham, một khi đã đạt được, thì không chịu buông xả, không chịu bố thí giúp đỡ cho người khác, thì gọi là keo bẩn, đối với sự tu học là một chướng ngại rất lớn. Phật chỉ dạy cho chúng ta phương pháp bố thí để đối trị lòng tham. Kế đến là sân, tức là sân hận, tham không được thì sanh lòng sân hận, lòng sân hận là phiền não rất lớn, cho nên Tham Sân Si là tam độc phiền não. Lòng tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ. Lòng sân hận là nghiệp nhân của địa ngục. Ngu si là nghiệp nhân của súc sanh. Cái gì gọi là ngu si? tức là chẳng có trí huệ, pháp thế gian và Phật pháp có chân có giả, có chánh có tà, có phải có quấy, có thiện có ác, họ không thể phân biệt, nhận thức không rõ ràng, đem giả cho là chân, đem tà cho là chánh, đây là ngu si, bất luận họ có ý hay vô ý. Tam độc phiền não là chướng ngại minh tâm kiến tánh rất nghiêm trọng, chúng ta tu học Phật pháp phải tu từ căn bản, căn bản là tâm, phải đoạn trừ Tham Sân Si, thì chân tánh mới hiện ra.

B. Phước báo nhị thừa: Thọ trì tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.

Thọ trì tam quy, trước tiên nhập Phật môn thì phải bái Lão Sư (lạy Thầy), cầu truyền thọ tam quy, là một việc rất long trọng, cũng là chánh thức lạy Thích Ca Mâu Ni Phật làm Thầy, tự nguyện một đời y theo lời dạy bảo của Thầy mà tu học, thật sự tu hành, được Thầy truyền thọ tổng cương lĩnh và nguyên tắc phương pháp tu học, gọi là truyền thọ Tam Quy Y. Tam Quy là Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng… Nếu từ trên ý nghĩa mà nói, tức là Quy Y Giác, Quy Y Chánh, Quy Y Tịnh. Phật là Giác, Phật là ý nghĩa Giác Ngộ. Pháp là Chánh, Pháp là Chánh Tri Chánh Kiến. Tăng là Tịnh, sáu căn thanh tịnh, một hạt bụi không nhiễm. Cho nên cái y cứ chủ yếu tu hành của chúng ta, là y theo tự tánh Giác, tự tánh Chánh, tự tánh Tịnh, gọi là tự tánh Tam Bảo.

Quy Y Phật, cái gì gọi là Quy Y? Quy là hồi đầu, Y là nương tựa, Phật chỉ dạy cho chúng ta, phải từ mê hoặc điên đảo hồi đầu, nương tựa tự tánh Giác, tự tánh vốn là Giác, Quy Y Phật không phải Phật bên ngoài, là Quy Y tự tánh Phật,

Đây là tự tánh Phật Bảo. Trong Tịnh Tông nói, tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, cho nên Quy Y tự tánh Phật, tức là Quy Y tự tánh Giác, Giác mà không mê, mới là chân chánh Quy Y Phật.

Quy Y Pháp, tức là cách nghĩ cách nhìn cách làm của chúng ta đối với vũ trụ nhân sanh hoàn toàn cùng với chân tượng sự thật phù hợp, tư tưởng chính xác, kiến giải chính xác, tại trong kinh Phật gọi là Chánh Tri Chánh Kiến, hoặc là Phật Tri Phật Kiến, đây là tự tánh Pháp Bảo, không phải bên ngoài đến, Phật dạy chúng ta từ cách nghĩ cách nhìn cách làm sai lầm hồi đầu trở lại, nương theo Chánh Tri Chánh Kiến của tự tánh, gọi là Quy Y Pháp.

Quy Y Tăng, Tăng là ý nghĩa thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý, tiếp xúc cảnh giới bên ngoài sáu trần, sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Người phàm phu khi sáu căn tiếp xúc sáu trần thì bị ô nhiễm, khởi lên lòng tham, lòng tham là ô nhiễm, chúng ta phải từ tất cả ô nhiễm hồi đầu trở lại, nương theo tâm thanh tịnh của mình, đây là tự tánh Tăng Bảo, tức là Quy Y Tăng.Tam Quy Y, tổng kết mà nói, Quy Y Phật tức là Giác mà không mê. Quy Y Pháp tức là Chánh mà không tà. Quy Y Tăng tức là Tịnh mà không nhiễm.Ngoài ra, còn có trụ trì Tam Bảo, trụ trì Tam Bảo tức là tượng Phật, kinh điển, người xuất gia. Ba thứ này tuy không phải là chổ Quy y chân chánh của chúng ta, nhưng tác dụng của nó tượng trưng cho Tam Bảo trụ thế, có thể đánh thức chúng ta hồi đầu nương tựa… Trụ trì Tam Bảo đối với chúng ta có sự lợi ích công đức rất lớn. Nên biết, Quy y không phải Quy y một vị pháp sư nào, pháp sư chỉ là đại biểu cho tăng đoàn, họ đem ý nghĩa của Tam Quy và cương yếu tu học truyền thọ cho chúng ta… Chúng ta từ trong tâm hồi đầu, nương tựa tự tánh Giác, Chánh, Tịnh, đây mới là chân chánh Quy Y Tam Bảo.Giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi, các giới tức là có rất nhiều giới điều, quan trọng nhất là ngũ giới, ngũ giới là căn bản đại giới của nhà Phật. Xuất gia Sa Di và Sa Di Ni phải giữ 10 giới, Tỳ Kheo phải giữ 250 giới, Tỳ kheo Ni phải giữ 348 giới. Thật ra giới điều chỉ có phía trước 17 điều, tức là 4 giới trọng và 13 giới tăng tàn, đây thuộc về giới, những giới điều khác thì thuộc về oai nghi. Oai nghi là gì? Oai nghi là lễ phép, lễ tiết, tức là trong cuộc sống hằng ngày xử thế, đối người, tiếp vật, phải tuân thủ quy củ… Trong ngũ giới điều thứ nhất không sát sanh, điều thứ hai không trộm cắp, điều thứ ba không tà dâm, điều tứ tư không vọng ngữ, điều thứ năm không uống rượu, bốn điều phía trước là tánh tội, bất luận có thọ giới hay không thọ giới, hể phạm đều là có tội… Những người có thọ giới đã phạm thì gọi là phá giới, chỉ có điều thứ năm không uống rượu, người không thọ thì không phạm tội… Chúng ta phải hiểu rõ giới điều, thì mới có thể trì giới… Mỗi một giới điều cũng có Khai, Giá, Trì, Phạm. Ở dưới trường hợp nào là Khai giới, không phải Phạm giới, ở dưới trường hợp nào Trì giới, không thể Giá giới… Giới luật là hành trì của Phật, không có giới luật thì không có Phật pháp.

C. Phước báo đại thừa: Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

Đại thừa là xây dựng trên nền tảng của tiểu thừa, phước báo đại thừa có 4 câu.

Một. Phát bồ đề tâm, cái gì gọi là Bồ đề tâm? Bồ đề là tiếng phạn, dịch là giác ngộ, Bồ đề tâm tức là cái tâm thật sự giác ngộ, cái tâm chân thật không mê, đã giác ngộ cái gì? Giác ngộ đời người quá khổ, thường nói là tam khổ bát khổ… Sau khi giác ngộ, nhất định phải y theo phương pháp của Phật dạy tu hành, thì tự nhiên lìa khổ được vui, ra khỏi tam giới, vãng sanh tịnh độ, mới thật sự là phát Bồ đề tâm.

Hai. Tin sâu nhân Quả, cái phước báo thứ ba này là Bồ Tát sở tu, cái nhân quả này không phải nhân quả thông thường, chúng ta cũng hiểu, thiện có thiện báo, ác có ác báo, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả. Phật khuyên Bồ Tát tin sâu nhân quả, là Phật tại trong Kinh Hoa Nghiêm có nói: Thập Địa Bồ Tát thủy chung không rời niệm Phật, từ Sơ Địa cho đến Đẳng Giác, 11 ngôi vị thứ. Họ tu cái gì? Họ tu pháp môn niệm Phật, thì ra chổ này nói nhân quả là chỉ cho, niệm Phật là nhân, thành Phật là quả. Cho nên Phật ở chổ này khuyên Bồ Tát tin sâu nhân quả, tức là niệm Phật là nhân, thành Phật là quả.

Ba. Đọc tụng kinh đại thừa, đây là Bồ Tát thiện, Bồ Tát học Phật, không thể một ngày không thấy Phật, không thể một ngày không đọc tụng kinh đại thừa, nên biết, đọc kinh không phải là đọc cho Phật nghe. Kinh là do Phật nói, Phật đâu có cần chúng ta đọc cho Ngài nghe, chúng ta đọc kinh là tiếp nhận lời dạy bảo của Phật, để đánh thức chính mình, dạy cho chúng ta khi khởi tâm động niệm, xử thế, đối người, tiếp vật, không làm trái nghịch lời của Phật dạy… khi hiểu rõ phương pháp và mục đích của việc đọc tụng kinh điển, thì phải y theo cương lĩnh mà tu học, mới có thể đạt được công đức lợi ích của Phật pháp thù thắng.

Bốn. Khuyến tấn người tu hành, tức là phải khuyên mọi người nên học Phật, giúp đỡ mọi người tu hành tinh tấn, khuyên mọi người niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, đây là hạnh Bồ Tát.

2. Lục Hòa Kính.

Kiến hòa đồng giải, giới hòa đồng tu, thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tranh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân.

1. Kiến hòa đồng giải, tức là xây dựng cùng ý thức chung, ở trong một đoàn thể, chúng ta đối với phương pháp và lý luận của sự tu học, nhất định phải có cùng chung một kiến giải, đây là nền tảng cộng tu của đại chúng.

2. Giới hòa đồng tu, mọi người khi đã cùng ở chung với nhau tu học, thì phải lập ra một quy củ, nếu không có quy củ thì là sẽ loạn, không có trật tự, dĩ nhiên là có một quy ước cùng ở chung với nhau, nhất định bao gồm giới căn bản của Phật đã chế định, mọi người nhất định phải tuân thủ.

3. Thân hòa đồng trụ, tức là mọi người cùng ở chung một nơi tu hành, xây dựng đạo tràng là thành tựu cho mỗi một phần tử, mục đích là ở chổ này, tuyệt đối không phải trốn tránh trách nhiệm xã hội, mà vào trong Phật môn tìm đường sống. nếu có cái quan niệm này, thì là hoàn toàn sai lầm, mọi người sinh hoạt trong đạo tràng đều bình đẳng như nhau.

4. Khẩu hòa vô tranh, đây là nói mọi người cùng ở chung với nhau không có tranh luận, thật sự có thể dụng công tâm hướng theo đạo, mọi người ở chung với nhau, rất dể dàng tạo khẩu nghiệp, cho nên người xưa thường nói: bịnh từ miệng vào, họa từ miệng ra. Cổ đức dạy cho chúng ta: nói ít một câu, niệm thêm Phật hiệu.

5. Ý hòa đồng duyệt, đây tức thường hay nói Pháp Hỷ Sung Mãn,chúng ta học Phật, bất luận tu học pháp môn nào, sự thành tựu kém cõi nhất, tức là được hoan hỷ, giả như học Phật, mà không đạt được khoái lạc, nhất định là có vấn đề, tức là phương pháp đã dùng sai, phải tự mình kiểm thảo tìm ra khuyết điểm, mọi người cùng nhau tu hành, người đều được pháp hỷ, người người đều được thành tựu.

6. Lợi hòa đồng quân, đây là nói mọi người cùng ở chung một nơi tu hành, cuộc sống vật chất là bình đẳng, tài nguyên của đạo tràng, vào thời xưa, một phần là do nhà vua hộ trì, tức là do nhà nước xây dựng thập phương đạo tràng, kế đến là những vị đại phú trưởng giả quyên gốp ủng hộ, đạo tràng xây cất xong, thì thỉnh những vị cao tăng đại đức đến làm trụ trì, tu hành, giáo hóa chúng sanh, cho nên bất luận là nhà nước cúng dường, hoặc là đại chúng ở địa phương cúng dường vật chất, phàm là ở trong ngôi đạo tràng này, đều được hưởng thụ nhất loạt bình đẳng.

3. Tam Học.

Giới, Định, Huệ.

Cái gì gọi là Giới Định Huệ Tam Học? những chúng sanh tạo thập ác nghiệp, thì Phật dùng Giới học để đối trị, Giới học là thuốc để đối trị ác nghiệp.

Tâm của chúng sanh tán loạn, không được định, không được thanh tịnh, thì Phật dùng Định học để đối trị, Định học là đối trị tâm tán loạn.

Chúng sanh ngu si, không biết tà chánh, thiện ác, phải quấy, đúng sai, lợi hại, thì Phật dùng Huệ học để đối trị.

Nói tóm lại, chúng sanh tạo ác, tán loạn, ngu si, thì Phật dùng Giới Định Huệ để đối trị.

4. Lục Độ.

Lục độ là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ.

1. Bố Thí: Bố thí có ba loại, tức là Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí. Tài thí thì được giàu có. Pháp thí thì được thông minh trí huệ. Vô úy thí thì được khoẻ mạnh sống lâu. Cho nên muốn được giàu có, thông minh trí huệ, khỏe mạnh sống lâu, nhất định phải phát tâm tu tài thí, pháp thí và vô úy thí.

2. Trì Giới: Trì giới tức là thủ pháp, tất cả vạn sự vạn vật thế gian và xuất thế gian, bất luận lớn nhỏ, cũng có phép tắc của nó, nhất định phải thuận theo phép tắc, thì mới có thể làm được cứu cánh viên mãn. Trong Lục Độ, Trì giới là bảo chúng ta lúc bình thường phải giữ phép tắc, không chỉ là thọ trì ngũ giới hoặc thập giới, đây là giới căn bản, mà là bảo chúng ta ở trong gia đình phải có quy củ, cha con, vợ chồng, anh em, đây là luân thường, phải có thứ tự lớn nhỏ, không được đảo lộn. Tại trong Phật cũng vậy, phải theo thứ tự tu học, trước tiên phải phát đại tâm, đại tâm tức là tâm nguyện phải độ tất cả chúng sanh, sau đó đoạn phiền não, đoạn tập khí, kế đến học pháp môn, sau cùng viên thành Phật đạo.

3. Nhẫn Nhục: Nhẫn nhục tức là nhẫn nại, bất luận làm sự việc gì, cũng phải có tâm nhẫn nại, nếu không có tâm nhẫn nại, làm bất cứ việc gì cũng không thể thành tựu, tâm nhẫn nại là một điều kiện vô cùng quan trọng. Đức Thế Tôn tại trong Kinh Kim Cang nói về Bồ Tát tu lục độ, đặc biệt nhấn mạnh Bố thí và Nhẫn nhục, hai điều này là then chốt của sự tu hành thành công hay thất bại.

4. Tinh Tấn: Tinh là chuyên tinh, chuyên nhất, Tấn là tiến bộ, do đây có thể biết, Phật pháp không phải bảo thủ, cũng không phải rớt lại phía sau, Phật pháp là ngày ngày đều cầu tiến bộ… trong vô lượng pháp môn, nhất định phải nhất môn thâm nhập, mới có thể thành tựu, nếu môn nào cũng muốn học, thì tuyệt đối không thể thành tựu, học một môn khi đã thành tựu rồi, thì hiểu hết tất cả những môn khác. Cho nên nói một thông tất cả đều thông, như pháp môn niệm Phật phải chuyên tu… Bất luận là pháp thế gian hoặc xuất thế gian, nếu muốn trong đời này được thành tựu, nhất định phải biết tinh tấn, bất luận là niệm Phật, tham thiền, trì chú, hoặc là nghiên cứu giáo lý, cũng phải biết tuân thủ cái nguyên tắc này. Nếu như tự mình phát tâm tu học, và cũng muốn giúp đỡ cho người khác, tốt nhất trong một đời chỉ học 1 bộ kinh, chuyên giảng 1 bộ kinh, đây mới là chuyên tinh. Phật Bồ Tát dạy cho chúng ta tu học phải nhất môn thâm nhập, thì gọi là tinh tấn, công đức lợi ích của tinh tấn vô lượng vô biên.

5. Thiền Định: Thiền định là bao gồm cả thiền định của thế gian và xuất thế gian, thiền định thế gian là nói Tứ thiền Bát định, nếu như tu thành, thì tương lai sanh lên cõi sắc giới, vô sắc giới. Thiền định xuất thế gian có Đại thừa và Tiểu thừa, chư Phật Như Lai tu thiền định, chúng ta gọi là Thượng Thượng Thiền Định xuất thế gian, cái then chốt tu học toàn cả Phật pháp là ở nơi Định, không phải chỉ có Thiền tông mới tu Thiền định, còn những tông phái khác không tu Thiền định. Như niệm Phật mà nói, mục đích niệm Phật là phải đạt đến nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn tức là thiền định, Giáo hạ tu chỉ quán, chỉ quán cũng là Thiền định, trong Mật tông tu tam mật tương ứng, tương ứng tức là Thiền định, do đây có thể biết, mỗi một tông phái, pháp môn, tuy dùng danh từ khác nhau, thật ra cũng là tu Định.

6. Trí Huệ: Tiếng Phạn gọi là Bát nhã, Trí huệ Bát nhã là ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày… đối với tất cả pháp đã hiểu rõ, thông đạt, mà không chấp trước tất cả pháp, tận tâm tận lực đi giúp đỡ người khác. Vì sao phải đi giúp đỡ cho người khác? Vì chư Phật Bồ Tát hiểu được tận hư không biến pháp giới, tất cả chúng sanh đều cùng với mình đồng một thể, đã là đồng một thể, cho nên giúp đỡ tất cả chúng sanh không cần nói điều kiện, gọi là Đồng Thể Đại Bi, Vô Duyên Đại Từ.

Nói tóm lại, làm tất cả việc đều có phương pháp, đều có thứ tự, thì gọi là Trì Giới. Có tâm nhẫn nại, có nghị lực, gọi là Nhẫn Nhục. Chuyên tinh không giải đãi nhất môn thâm nhập, gọi là Tinh Tấn. Trong tâm có thể làm chủ được, không bị ngoại cảnh lay động, gọi là Thiền Định. Đới với tất cả vạn sự vạn vật đều thấu triệt, rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch, gọi là Trí Huệ Bát Nhã.

5. Thập Đại Nguyện Vương của Phổ Hiền Bồ Tát.

Lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công đức, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, thường tùy Phật học, hằng thuận chúng sanh, phổ giai hồi hướng.

Thập Đại Nguyện Vương của Phổ Hiền Bồ Tát là ở trong Kinh Hoa Nghiêm, đây là pháp môn thành Phật, là pháp môn lý nhất tâm bất loạn, là cảnh giới của pháp thân đại sĩ, đặc sắc của hạnh Phổ Hiền, tức là tâm lượng quảng đại như hư không pháp giới vậy. Cho nên thập nguyện của Phổ Hiền, nguyện nguyện đều cứu cánh viên mãn.

Một. Lễ kính Chư Phật, hai chữ Chư Phật này, Phật tại trong Kinh Hoa Nghiêm bảo với chúng ta rằng: Tình và Vô Tình, đồng viên chủng trí. Đây tức là Chư Phật, Tình là chỉ cho tất cả hữu tình chúng sanh, tức là tất cả động vật. Vô Tình là thực vật và khoáng vật. Cho nên Chư Phật là bao gồm sở hữu tất cả, đem cái tâm cung kính của chúng ta đối với Phật, chuyển qua đối với tất cả chúng sanh, đây tức là tâm Phổ Hiền… Tâm cung kính của Phổ Hiền là chân thật, chúng ta cung kính Chư Phật như thế nào, thì cung kính tất cả chúng sanh như thế đó, sự cung kính hoàn toàn như nhau. Tại vì sao? vì tất cả chúng sanh vốn tự thành Phật, nếu đắc tội với một chúng sanh nào thì đắc tội với Phật, tức là đối với Phật bất kính, phải đối với tất cả chúng sanh cung kính, đây là hạnh Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền viên mãn nhất, Phương pháp tu hành thù thắng nhất.

Hai. Xưng tán Như Lai, câu thứ nhất Lễ kính Chư Phật, vì sao câu thứ hai Xưng tán Như Lai, không gọi là Xưng tán Chư Phật, cái dụng ý này rất sâu. Lễ kính Chư Phật là từ trên hình tượng mà nói, từ trên tướng mà nói nhất loạt phải cung kính, nhìn thấy người thiện cung kính, nhìn thấy người ác cũng phải cung kính, không phân biệt thiện ác, không phân biệt tà chánh, cung kính chánh pháp, cũng cung kính tà pháp. Xưng tán Như Lai, là từ trên tánh mà nói, cái khác biệt ở chổ này, thiện thì chúng ta xưng tán họ, không thiện thì chúng ta không xưng tán họ, chỉ cung kính mà không xưng tán, chổ khác biệt ở tại đây.

Ba. Quảng tu cúng dường, đặc sắc của hạnh Phổ Hiền, là tâm lượng quảng đại như hư không pháp giới, tại trong Phật pháp đại thừa là tánh đức viên mãn khởi dụng… Cho nên tánh đức của Phổ Hiền Bồ Tát khởi dụng là viên mãn, nguyện nguyện đều là tận hư không biến pháp giới… Ngoài cúng dường, cúng dường một đức Phật tức là cúng dường tất cả chư Phật, không những cúng dường tất cả chư Phật đã thành Phật, cũng cúng dường Tình và Vô Tình chúng sanh chưa thành Phật, cho nên một là tất cả, tất cả là một, đây là phương pháp tu học của Bồ Tát, cũng tức là cảnh giới của Hoa Nghiêm.

Bốn. Sám hối nghiệp chướng, tất cả chúng sanh đều có nghiệp chướng, khi khởi tâm động niệm thì là tạo nghiệp, nhất định sanh ra chướng ngại. Chướng cái gì? Là chướng bản tánh của chúng ta, trong bản tánh chân tâm của chúng ta, có vô lượng trí huệ, có vô lượng đức năng, hiện tại trí huệ, đức năng, thần thông vì sao không thể khởi tác dụng… Vì có nghiệp chướng, tu hành khó thành tựu, nếu muốn nghiệp chướng sám trừ, chỉ cần thật sự phát nguyện sữa lỗi, chí thành niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh độ, thì nghiệp chướng sẽ tiêu trừ. Pháp sư Từ Vân có nói: Tất cả kinh chú khó mà tiêu nghiệp chướng, chỉ có một câu A Di Đà Phật này mới có thể tiêu nghiệp chướng. Đây là sự thật… Muốn sám hối nghiệp chướng, chỉ có niệm Phật mới là chân thật sám hối… Chân thật niệm Phật thì tiêu trừ tất cả tội chướng.

Năm. Tuỳ hỷ công đức, là đối trị cái phiền não nặng nhất của người phàm phu, đó là cái tâm ganh ghét, cái tâm ganh ghét là sẳn có khi sanh ra, có cái tâm ganh ghét này, đối với sự tu học là một chướng ngại rất lớn. Cho nên Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta phải tu tùy hỷ công đức, chẳng những không ganh ghét người ta, mà còn tùy hỷ, khi nhìn thấy người ta làm việc thiện, làm việc tốt, mà có thể sanh lòng vui mừng, tận tâm tận lực đi giúp đỡ cho họ được thành tựu, nhà Nho nói: Thành nhân chi mỹ, thành nhân chi thiện. Nên biết thành tựu cho người khác, tức là thành tựu cho mình, cái phương pháp tùy hỷ công đức này rất thù thắng.

Sáu. Thỉnh chuyển pháp luân, chúng ta là đệ tử Phật, chịu sự giáo dục của Phật, đạt được sự lợi ích chân thật, chúng ta phải dùng phương pháp gì để báo ơn Phật? Nên biết tâm nguyện của Phật, là hy vọng tất cả chúng sanh có thể nghe được chánh pháp, y theo Phật pháp tu học, sớm được viên thành Phật đạo… Cho nên muốn thật sự báo ơn của Phật, tức là Thỉnh chuyển pháp luân, dùng lời hiện nay mà nói, tức là lễ thỉnh Pháp sư đại đức đến giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh, đây là phước đức rất lớn, người đứng ra lễ thỉnh Pháp sư đến giảng kinh thuyết pháp, cái phước báo này rất lớn.

Bảy. Thỉnh Phật trụ thế, Thỉnh chuyển pháp luân mục đích chủ yếu là tuyên truyền Phật giáo, đem giáo pháp của Phật giới thiệu rộng rãi cho mọi người, trong đời này của chúng ta muốn tu học có được thật sự thành tựu. Thỉnh chuyển pháp luân vẫn chưa đủ… Cho nên nhất định phải Thỉnh Phật trụ thế, tức là phải lễ thỉnh vị Thầy có đức hạnh đến thường trú lâu dài, để chỉ dẫn cho chúng ta, chúng ta có thời gian lâu dài tiếp nhận huân tu, thì mới có thể thành tựu… Mọi người nếu muốn thành tựu, nhất định phải Thỉnh Phật trụ thế, nay Phật đã diệt độ, nhưng còn đệ tử của Phật, bất luận là xuất gia hoặc là tại gia cư sĩ, chỉ cần họ có tu, có học, có đức hạnh, có thể làm cái gương tốt cho chúng ta, có thể hướng dẫn cho chúng ta tu học, thì phải lễ thỉnh họ đến địa phương này thường trú, hoằng pháp lợi sanh, khiến cho địa phương này được họ chỉ dạy trường kỳ tu tập, như vậy mới có thể thật sự thành tựu. Cho nên muốn được thành tựu, thì nhất định phải thật sự phát tâm Thỉnh Phật trụ thế.

Tám. Thường tùy Phật học, Phật còn tại thế thì nương theo Phật tu học, Phật là tấm gương tốt nhất của chúng ta, là mô phạm của chúng ta, nay Phật không còn tại thế, nhưng kinh điển của Phật vẫn còn ở thế gian, chúng ta nương theo kinh điển mà tu hành, cũng là Thường tùy Phật học, đây là tiêu chuẩn tu học Phật pháp cao nhất.

Chín. Hằng thuận chúng sanh, đây là phải đối với pháp giới tất cả hữu tình chúng sanh, nhất định phải Thuận, Thuận là vô cùng khó làm, không dễ gì làm nổi, cho nên người Trung quốc nói Hiếu, tiếp theo là Thuận, tức là Hiếu Thuận, nếu không Thuận thì không có Hiếu, học Phật là hết lòng Đại Hiếu. Hằng thuận chúng sanh phải quán sát cơ duyên, khuyên nhủ chỉ dạy cho chúng sanh đoạn ác tu thiện, giúp cho họ phá mê khai ngộ, thì nhất định phải biết thời tiết nhân duyên, đến lúc nào thì ta phải làm, mới hợp với thời tiết nhân duyên, thì thu hoạch được hiệu quả viên mãn, cho nên phải có trí huệ, thiện xão phương tiện, mới có thể Hằng thuận chúng sanh.

Mười. Phổ giai hồi hướng, tức là đem tất cả công đức học tập tu hành của chúng ta, toàn bộ hồi hướng cho pháp giới tất cả chúng sanh, hồi hướng cho họ chứng bồ đề, hồi hướng cho họ thành Phật đạo, mở rộng tâm lượng của mình, cùng với tận hư không biến pháp giới thành một thể, đạt đến cảnh giới này mới là chân chánh cứu cánh đại viên mãn.

Nói tóm lại, chúng ta y cứ kinh điển tu học Tịnh Tông, tức là y theo Tịnh Độ Ngũ Kinh Nhất Luận, trong kinh luận chỉ dạy phương pháp tu hành, có năm điều khoa mục: Tam Phước, Lục Hòa Kính, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện Vương của Phổ Hiền Bồ Tát. Phương pháp vô cùng đơn giản, vô cùng dễ hiểu, một tí cũng không phức tạp. Chúng ta một đời tuân theo cái nguyên tắc này mà tu học, thì nhất định được thành tựu, như cổ đức có nói: vạn tu vạn người đi. Chúng ta đã có y cứ của kinh luận, đã có lý luận phương pháp tu hành, nhưng trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta dùng tâm thái gì, dùng thái độ gì, để đối người, đối sự, đối vật? Chúng ta cứ tuân theo năm điều khoa mục này, thì tuyệt đối không bao giờ sai, sau đó nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, tất cả mọi người đều được thành tựu viên mãn.

Lược trích trong Nhận Thức Phật Giáo do Pháp Sư Tịnh Không giảng tại Miami Mỹ Quốc năm 1991

238/254Đầu...10...237238239...250...Cuối