Loài Vật Cũng Có Cảm Xúc

Loài Vật Cũng Có Cảm Xúc

Khi một người gặp tai nạn, người khác vội vàng đến giúp đỡ. Vậy tại sao khi loài vật gần gũi nhất với con người gặp nạn, chẳng ai chạnh lòng đến cứu chúng? Ôi, từ bi tâm của chúng ta ở nơi đâu?

Tình bạn cảm động của hai chú chó

Trên con đường đông đúc xe cộ, một con chó không ngừng lay bạn của nó đang nằm bất động rồi chạy quanh cầu cứu mọi người giúp đỡ. Con chó bị xe đâm nằm bẹp giữa đường. Một con khác trông rất buồn thảm, dùng mõm và chân lay liên tục mong bạn nó hồi tỉnh. Sau đó, nó chạy quanh ngỏng cổ lên cầu khẩn người qua đường giúp đỡ.

Tại Sao Niệm A Mi Đà Phật?

Tại Sao Niệm A Mi Đà Phật?

Sáu chữ hồng danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc). Hai chữ đầu (Nam Mô) nguyên âm là Namo, ta quen đọc liền vần Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy y (về nương) và Quy mạng (đem thân mạng gởi về).

Chữ thứ sáu (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô), ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

Ba chữ giữa (A Mi Đà) là biệt danh của đấng Cực Lạc giáo chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong kinh, đức Bổn Sư tự giải thích rằng: “Đức Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở mười phương không bị cách ngại. Đức Phật ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên vô số kiếp “.

Trong Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng danh hiệu của Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp và được vãng sanh …”

Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe danh hiệu của Đức Phật đây mà chấp trì trong một ngày đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều thiện căn phước đức. Đức Phật ấy và Thánh chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp… “

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng danh hiệu thời đặng chứng Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.

Xem như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ phán trên đây, thời thấy rằng ba tiếng hồng danh của đức Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị. Muốn được kết quả to tát như lời trong kinh, hành nhơn phải chí tâm xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.

Ba chữ A- mi- Đà nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- mi- thô, và họ tụng xuôi là Á- mi -Thồ. Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho kinh sách Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó nên đọc là A-di-đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon (Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris (Pari).

Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa. Giá như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân thời thật là đáng buồn cười. Với A-di-đà để gọi đức Giáo chủ Cực Lạc cũng theo lệ đó.

Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận của sáu tiếng hồng danh. Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong sớ sao nói: “Hồng danh Nammô A-mi-đà Phật toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng với pháp trì chú của Mật tông đồng nhau”, lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.

Với vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự Điển.

Tôi đem ba chữ A-mi-đà ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-mi-thô.

Hai tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời quyết chắc đọc “di” là sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ ba, vì nếu dọc Amita như vần Anh, cùng A-mi-thô như người Tàu thời với tiếng Việt có hai điều bất tiện:

1. Nghe không nghiêm và không êm.

2. Khác với thông lệ từ xưa.

Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “đà” của tàu dùng phiên âm Phạn ngữ có hai giọng:

1. Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là “Bù Thồ”.

2. Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)

Với giọng “đa” để đọc chữ “thô”, nó mở đường cho tôi ghép 3 chữ lại: A-mi-đa và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền: A-mi-đà.

Ghép luôn cả sáu tiếng nam mô A-mi-đà Phật, tôi nhận thấy rằng tránh khỏi cái lỗi quá khác với nguyên Âm, dù vẫn chưa được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì trong sáu tiếng đây chỉ có đổi “di” thành “mi” mà thôi.

Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nammô A-mi-đà Phật, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả.

1. Sáu tiếng hồng danh đây nổi rõ nơi tai cũng như nơi tâm, khác hẳn sự mờ mờ lọt sót của tiếng “di” trong thời trước.

2. Khi niệm ra tiếng, từ năm ngàn câu mỗi thời trở lên, môi lưỡi càng lúc càng nhại, càng chuyên, càng lanh. Khác hẳn sự trệ môi cứng lưỡi của những ngày niệm khi xưa.

3. Niệm ra tiếng với A-mi khỏe hơi hơn niệm ra tiếng của A-di khi trước, nhờ vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.

Người chuyên niệm danh hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục. Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không nổi rõ nơi tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.

Biết rằng niệm A-mi-đà được nhiều phần đúng với nguyên âm, nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước đức giống như pháp trì chơn ngôn (thần chú) của Mật tông mà Tổ Vân Thê đã phán. Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi tâm. Nhất là niệm A-mi-đà được khỏe hơi, nhờ đó nên được niệm lâu và nhiều. Niệm Phật được thuần thục là nhờ niệm nhiều câu, nhiều giờ và tiếng niệm nhấn rõ nơi tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm vãng sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng niệm gần với nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh của Đức Giáo chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm thông với Phật. Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.

Nhưng trong kỳ kiết thất 49 ngày ở tịnh thất nơi chùa Linh Sơn Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng giới, và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-mi-đà Phật. Một người như thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc mắc:

1. Bàn quan sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.

2. Đem sự ngờ vực cho người đã niệm A-di khi những người này chưa hiểu thế nào là A-di và thế nào là A-mi. Và sự ngờ là điều rất chướng của pháp môn niệm Phật

Tôi tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần (tôi tự sửa đổi riêng tôi). Mình không có quan niệm lập phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàn quan”. Và với sự ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.

Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.

Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-mi nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..

Tối hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp. Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông người hòa: Nam mô A-mi-đà Phật! Tôi tự bảo: “Ủa lạ! Câu Nammô A-mi-đà Phật tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm. Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”. Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.

Do hai điềm trên đây (chữ A-mi hiện giữa trời và chiêm bao nghe xướng hòa nam mô A-mi-đà Phật), bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè…

Từ hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm A-di mà niệm A-mi. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người xuất gia cũng như hàng tại gia niệm A-mi-đà. Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.

Tôi viết bài này chỉ với mục đích giúp thêm sự nhận chơn về câu Nammô A-mi-đà Phật cùng lịch sử của nó, cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế. Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.

Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A-di-đà Phật, nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì mà họ có thể vướng phải.

Cố hòa thượng Thích Trí Tịnh

Sự Thật Cụ Quả Thảo Vãng Sanh Về Đâu?

Sự Thật Cụ Quả Thảo Vãng Sanh Về Đâu?

Đây là cuộc tiếp xúc với cô Quả Lạng, là con gái của bà cụ Quả Thảo. Bà tên Phạm Thị Cúc, pháp danh Quả Thảo, cư ngụ tại San Jose, CA, USA vãng sanh lúc 4 giờ 10 phút sáng ngày 28 tháng 12 năm 2003 âm lịch, hưởng thọ được 83 tuổi.

Bà Quả Thảo rất mạnh khỏe, ít có bệnh. Đến một ngày nọ, bà cảm thấy đau ở ngực. Các con đưa bà đi bác sĩ. Bác sĩ cho biết bà bị ung thư gan đợt cuối, bà sẽ không sống được bao lâu. Gia đình con cái đều giấu không cho bà biết, nên bà tưởng bệnh nhẹ thôi. Đến hai tuần sau, bà bị đau nặng, các con đưa bà vào nhà thương. Sau đó bốn ngày thì bà vãng sanh. Bà ra đi một cách nhẹ nhàng.

Những điềm lạ trong thời gian ở nhà thương

Các con đưa bà nhập viện khoảng bảy giờ chiều chủ nhật ngày 25 tháng 12 năm 2003 âm lịch. Bác sĩ truyền nước biển cho bà, bà ngủ cho tới sáng thứ hai, cả ngày thứ hai bà khỏe lại bình thường. Đến hai giờ sáng ngày thứ ba, bà lẩm bẩm như là đang nói chuyện với ai. Đến khoảng ba giờ sáng, các con thấy bà có vẻ sắp đi, nên mời Quý Thầy đến giúp đỡ tụng Kinh, trợ niệm. Quý thầy giúp tụng Kinh và trợ niệm một hồi, thấy bà chưa có dấu hiệu vãng sanh nên ra về. Sau khi quý Thầy ra về bà khỏe lại bình thường. Tới khoảng 9 giờ đến 10 giờ sáng, bà thấy sư phụ của bà là Hòa Thượng Tuyên Hóa ở chùa Vạn Phật tới rước bà hai lần, nhưng bà đều lạy sư phụ. Bà nói bà chưa muốn đi vì bà chưa gặp đủ mặt con cháu. Sau đó, bà thấy Phật hiện đến hai lần để rước bà đi.

Lần đầu Phật và Bồ Tát hiện đến không nhiều nhưng lần thứ hai thì đến rất đông. Mỗi lần gặp Phật bà đều bảo con cháu hãy mau lạy Phật và đỡ bà lên để bà lạy.

Hai lần gặp Phật, bà đều lạy Phật xin cho bà ở lại vì bà chưa gặp mặt người con gái thứ bảy tên Lan vì còn ở Los Angeles chưa về kịp. Sau đó Phật bỏ đi.

Qua ngày thứ tư, nghe lời bác sĩ khuyên nên các con đưa bà về nhà. Về nhà bà ngủ mê man. Đến khoảng 10 giờ tối, bà thức dậy tỉnh táo như người bình thường. Lúc này, con cháu thân nhân đều có mặt đầy đủ, luôn cả cô con gái tên Lan của bà cũng về kịp. Bà cười giỡn với con cháu và người thân, bà còn nhắc lại những chuyện năm xưa và tật xấu của mỗi người, khiến con cháu và người thân ở chung quanh bà đều cười vui nhộn. Trong lúc cười giỡn thì có một cháu của bà từ Úc gọi qua hỏi thăm.

Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, bà nói chuyện và dạy cháu niệm Phật hộ niệm cho bà. Sau khi nói chuyện xong, bà thấy hơi mệt, các con khuyên bà nên ngủ sớm. Bà bắt đầu nhắm mắt nhưng miệng luôn niệm Phật cho đến lúc đi sâu vào giấc ngủ. Các con cháu thấy bà đã ngủ yên, nên ai nấy cũng đi ngủ.

Khoảng 4 giờ 10 phút sáng, người cháu ngoại thức dậy để lo cho bà thì thấy bà không còn thở nên đánh thức cả nhà. Lúc đó, tướng mạo của bà vẫn còn đẹp và môi bà đỏ hồng, nên con cháu đều tin là bà đã vãng sanh. Vì vậy, con cháu bà không ai khóc.

Những điều kỳ lạ

Bệnh tình của bà đã làm cho các bác sĩ và y tá đều ngạc nhiên vì bình thường một người bệnh ung thư gan đợt cuối rất là đau đớn và khó coi, thêm vào đó là cục bướu lớn cỡ 7-8cm thì người bệnh sẽ chết. Nhưng cục bướu trong người bà đã lớn đến 12cm nhưng bà vẫn sống bình thường, không bị đau nhiều và sắc diện vẫn còn hồng hào, không bị vàng xanh. Còn một điều lạ nữa là, khi đưa bà về nhà, bác sĩ và y tá dặn dò con cháu của bà là “trước mấy ngày bà chết, bà sẽ bị những triệu chứng như là máu miệng hoặc máu mũi chảy ra. Bụng của bà sẽ bị sình to lên, nên khi chăm sóc cho bà phải luôn luôn đeo bao tay”.

Nhưng đến khi bà vãng sanh, những triệu chứng này hoàn toàn không có. Không những vậy mà vẻ mặt còn tươi sáng và đẹp hơn lúc bà còn sống.

Sau khi bà vãng sanh, Chư Tăng và con cháu trợ niệm cho bà đến 9 tiếng đồng hồ. Sau đó, bốn người con gái tắm rửa cho bà. Trong lúc tắm rửa, các con bà đều ngạc nhiên là ngực và đầu của bà vẫn còn ấm. Sau khi tắm rửa xong, các con kêu người tới khiêng nhục thân của bà đi. Những người đến khiêng, họ đều ngạc nhiên nói: “họ đã thấy nhiều xác chết, nhưng chưa thấy xác chết đẹp như bà, giống như một người đang nằm ngủ.

Các con vì thương bà nên không chịu hỏa thiêu, thêm vào vì bà vãng sanh gần ngày tết (tết tây) nên xác bà phải để trong phòng lạnh hết chín ngày, nhưng nhục thân của bà vẫn còn đẹp đẽ và nét mặt an nhiên tự tại.

Cụ Quả Thảo vãng sanh

Bà Quả Thảo rất là có phước, bà đã được nhiều Chư Tăng, con cháu và bạn bè cùng nhau trợ niệm trong khoảng thời gian nhập viện cho đến khi bà vãng sanh. Sau khi vãng sanh, con cháu bà tiếp tục mời chư Tăng đến giúp đỡ tụng Kinh và trợ niệm cho đến đến 49 ngày.

Sau khi vãng sanh, bà đã về cho con cháu bạn bè người thân của bà thấy được nhiều điềm lạ. Một ngày sau khi vãng sanh (ngày 29 tháng 12 năm 2003), bà về gặp người bạn đó là bác Phước. Bác Phước là người xưa nay tu Thiền.

Hôm đó khoảng 4 giờ sáng, bác Phước đang xả thiền. Tự nhiên bác nghe giọng nói của bà Quả Thảo, đứng ở đằng sau bên phía tay phải của bác. Bà nói: “Chị Phước! Nhắn dùm mấy đứa con của tôi lấy những bộ đồ tôi thích, cắt hết nút cho tôi!”.

Bác Phước vừa quay ra sau vừa hỏi cắt hết nút hả thì bỗng nhiên bác thấy bà Quả Thảo và sáu chư Tiên trong y phục màu trắng, họ chia ra làm ba cặp rồi bay lên trời.

Sau đó, đứa cháu của bà là cô nha sĩ Phượng nằm mơ thấy bà rất trẻ đẹp trong y phục nhà tu, bà đi giữa, hai bên có nhiều chư Tăng đi hai bên, trong một cảnh chùa rất đẹp.

Một người cháu khác của bà tên Ngân ở San Francisco, thấy bà rất trẻ đẹp trong y phục nhà tu, chung quanh bà có rất nhiều Chư Tăng. Bà ở trong một ngôi chùa rất lớn và rất đẹp. Ngôi chùa được gọi là Cửu Huyền Thất Tổ.

Bà về cho con cháu, bạn bè, người thân thấy rất nhiều điềm lạ. Các lần hiện về, bà đều mặc y phục Tiên hoặc y phục nhà tu. Chung quanh bà lúc nào cũng có chư Tiên, chư Tăng cùng đi và trong cảnh chùa rất đẹp.

Cả đời bà thích làm phước, bà hay đi chùa và siêng năng tụng Kinh niệm Phật. Đến phút cuối, dù trong lúc bị cơn bệnh ung thư hành hạ, bà vẫn còn đầy đủ lý trí giữ câu niệm Phật và luôn luôn nhắc nhở con cháu, người thân và bạn bè nên lo tu niệm Phật, bố thí và không được cúng mặn. Bà dạy con cháu phải làm theo hạnh nguyện của bà.

(Bài này do nữ cư sĩ Diệu Âm – San Jose ghi lại)

Lời Tịnh Hải:

Trường hợp của bà cụ Quả Thảo thật khó phân giải. Nếu nói rằng bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật A Di Đà thì, đúng mà cũng là không đúng.

Tại sao đúng?

Theo lời Kinh, thì bất cứ ai chuyên tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật thì lâm chung Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Thế là được vãng sanh Cực Lạc. Theo lời kể của cô Quả Lạng, thì bà cụ Quả Thảo đã thấy Phật A Di Đà đến rước hai lần.

Chẳng những bà thấy Phật, nói chuyện với Phật, còn bảo con cháu lạy Phật.

Như vậy chắc chắn bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc Thế Giới. Xin lưu ý, ở đây chúng tôi dùng chữ vãng sanh Cực Lạc Thế Giới.

Tại sao không đúng?

Đây là một nghi vấn lớn lao, chúng tôi cần phải phân rõ ràng để làm một bài học kinh nghiệm chung.

Trước khi Phật A Di Đà đến, bà Quả Thảo thấy Hòa Thượng Tuyên Hóa. Chắc Đại Sư ở trong hàng Thánh chúng, Ngài đến trước để báo tin cho cụ bà, vì bà là đệ tử của Ngài. Bà lạy Sư phụ tỏ ý chưa muốn đi vì còn chờ gặp con cháu. Đại sư Tuyên Hóa trở lui và sau đó đến lần thứ hai. Bà cụ vẫn khư khư chưa muốn đi.

Mọi việc trên đây xảy ra ở nhà thương.

Nói đúng ra, bà cụ đã vấp vào điều cấm kị của nhà Phật. Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật và Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đều dạy, khi lâm chung nếu người sắp chết mà quá nặng về tình thì không thể bay lên các cõi cao, mà phải kẹt lại.

Hiểu như vậy, chúng ta mới thấy rõ, Đức Phật A Di Đà thật vô cùng đại từ bi. Mặc dù bà Quả Thảo khăng khăng từ chối với Đại sư Tuyên Hóa, Phật A Di Đà vẫn hiện đến cùng với Thánh chúng.

Đọc đến đây, chúng ta càng thấy rõ hơn. Phật là tối cao, một lời Ngài nói thì không có gì thay đổi. Phật A Di Đà đã nói, Ngài sẽ tiếp dẫn thì chắc chắn Ngài đến. Dù bà cụ Quả Thảo quá nặng tình con cái, đó là phần lỗi của bà. Phật A Di Đà sở dĩ thành Phật được là do bỏ tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thì Ngài đâu câu chấp về hành động thô thiển của bà cụ, một phàm phu mê muội.

Trong sách này, chúng tôi có trích đăng một bài trong băng giảng của Hòa Thượng Thiền sư Thích Thanh Từ, nói về chuyện vãng sanh của bà cụ thân mẫu của cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa. Lúc lâm chung, bà cụ cũng thất Phật A Di Đà đến tiếp dẫn.

Trở lại bà cụ Quả Thảo. Sau lần đầu xin cho bà được nán lại chờ đứa con gái thứ bảy, Phật A Di Đà và Thánh chúng trở lại đón lần thứ hai. Lần này số Thánh chúng cùng đi với Phật A Di Đà đông hơn. Nhưng cô Lan, người con gái thứ bảy của cụ vẫn chưa về tới.

Bà Quả Thảo quả nặng tình với con cái, vẫn khư khư xin Phật cho ở lại chờ con.

Phật và Thánh chúng bỏ đi, không trở lại nữa.

Bởi sự kiện này, chúng tôi không dám khẳng định bà cụ đã vãng sanh Cực Lạc. Vì bà Quả Thảo đã bỏ mất dịp ngàn năm một thưở.

Nhưng bà Quả Thảo vẫn vãng sanh.

Chúng ta nên hiểu thêm một điều. Mỗi con người đều có thọ mạng, tức là đến ngày giờ, thọ mạng chấm dứt thì Phật, Bồ Tát muốn cứu cũng không làm sao được.

Cho nên, chúng tôi mới nói bà Quả Thảo đã bỏ mất dịp ngàn năm một thưở.

Nhưng theo chúng tôi, bà Quả Thảo vẫn vãng sanh. Không vãng sanh Cực Lạc, bà Quả Thảo vẫn vãng sanh lên một cõi Trời nào đó.

Nhờ niệm Phật, bà Quả Thảo được nhẹ nghiệp. Nhờ nhẹ nghiệp, những người khác bị bệnh giống bà đều phải đau đớn để trả quả báo. Nhưng, trong mạng số bà phải bị ung thư, thì bà phải thọ bệnh. Song nhờ nhẹ nghiệp, bà không bị đau đớn như bao nhiêu người khác.

Đây là thành tựu kết quả của người tu niệm Phật. Hòa Thượng Đức Niệm, bà Diệu Âm ở Úc cũng cùng căn bệnh, tất cả đều không đau đớn, nhờ thành tâm niệm Phật.

Thay vì bà được Phật A Di Đà tiếp dẫn, nghiệp chướng của bà sẽ giảm nhiều hơn. Nhưng, bà không vãng sanh Cực Lạc, thì bà được vãng sanh lên một cõi Trời.

Lúc đầu, một thân hữu thấy bà hiện về, có chư Tiên đi theo. Vị thuật lại là người tu Thiền nên chúng ta có thể tin được. Có lẽ bà Quả Thảo muốn độ bà bạn này, nên chọn đúng người đến nhắn tin. Thật sự thì bà có thể báo tin thẳng cho con cháu. Con cháu của bà Quả Thảo thì thấy bà xuất hiện bên cạnh chư Tăng và ở trong ngôi chùa rất lớn và đẹp. Tóm lại, cụ bà Quả Thảo chắc chắn không còn ở Ta Bà này nữa, mà bà đã vãng sanh lên một trong các cõi Trời. Con cháu của cụ đều nghĩ như chúng tôi. Và sung sướng khi biết mẹ và mình đã lên được cõi Trời.

Với chúng tôi, dù bà Quả Thảo, vì quá nặng tình mà chẳng vãng sanh về cõi Cực Lạc Tây Phương Thế Giới. Nhưng cụ sẽ độ rất nhiều người. Bởi, sau khi chúng ta bỏ báo thân này thì vợ chồng, con cháu đều không còn sự liện hệ nào nữa. Sự thương nhớ càng làm trở ngại cho việc chuyển kiếp. Đã bỏ thân này thì không mang theo được gì cả, trừ những nghiệp quả. Nếu là người biết tu và biết niệm Phật hy vọng sẽ diệt bớt được nghiệp, khi lâm chung được Phật A Di Đà đến phóng quang tiếp dẫn, thì nghiệp của chúng ta được diệt dứt. Vì nơi cõi Cực Lạc, chúng sanh nơi đó không còn có nghiệp. Cho nên nơi Cực Lạc không có 3 đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, nếu con cháu của bà cụ Quả Thảo thật sự thương bà cụ, cũng có thể ngay trong đời nay, giúp cụ chuyển quả được vãng sanh Cực Lạc ngay.

Trên đây chúng tôi dùng chữ “thật sự thương”.

Nếu tất cả vợ chồng, cha mẹ, con cháu đều yêu thương nhau thật sự và hiểu đúng theo pháp môn niệm Phật vãng sanh của Phật, thì tất cả đều có thể giúp cho thân nhân, ông bà cha mẹ từ muôn kiếp của mình siêu thoát khỏi ba đường dữ. Đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Từ ngày chúng tôi viết sách, chúng tôi thấy có nhiều thứ tình thương. Khi cha mẹ vừa mất, nhiều người khóc lăn lộn tưởng chừng như người ấy có thể chết ngay theo người đã chết. Những đó chỉ là lối biểu diễn, thường tình của thế gian. Những người thật sự thương họ không biểu diễn, mà họ hành động thật sự, không một gian khổ nào mà họ từ chối. Họ kiên trì hành động không cần ai biết. Đây mới thật sự thương, như hành động của mẹ con cháu Ái Thu, mà chúng tôi có đề cập trong sách này.

Có nhiều người ỷ vào tiền bạc, tốn bao nhiêu tiền họ chẳng từ gian nan, nhưng bảo họ chịu một chút cực khổ, họ từ chối ngay. Đó không phải là tình thương thật sự.

Trường hợp bà cụ Quả Thảo, bà đã vãng sanh lên một cõi Trời. Tuy rằng lên được cõi Trời hưởng rất nhiều phước báu. Tuy nhiên, đối với Phật, đó vẫn là luân hồi trong sáu nẻo. Vì phước báu nào hưởng rồi cũng phải hết. Khi hết rồi, vẫn phải rớt xuống. Phật muốn tất cả đều phải siêu thoát, phải vượt khỏi Tam giới.

Muốn vượt khỏi Tam giới, thời Mạt pháp này chỉ có tu Niệm Phật cầu vãng sanh thì mới đạt được. Sỡ dĩ chư Phật mười phương đều tán thán Phật A Di Đà vì ngoài Ngài không có một vị Phật nào có thể giúp cho chúng sanh được vậy.

Phật Thích Ca, Phật Dược Sư và tất cả các vị Phật khác đều không thể làm được; bởi tất cả các cõi Phật đều có ba đường dữ. Chúng sanh chết đi sống lại, lộn lên rớt xuống đều cũng lẩn quẩn trong luân hồi. Luân hồi thật là đáng sợ, chính vì vậy mà chúng tôi kêu gọi mọi người ráng tu để vượt khỏi tam giới. Người không biết thương yêu, thật sự lo cho chúng sanh đều là ác độc. Những người này sống với tâm ma. Họ khoát lên người bộ áo rất đẹp, rất sặc sỡ, che giấu tâm ma ở bên trong.

Trường hợp bà cụ Quả Thảo, bà đang sung sướng thật sự. Con cháu cụ đang sống ở kiếp này đều biết cụ đang ở cõi Trời. Nhưng hết những thế hệ con cháu này, sau này có ai còn nhớ biết cụ đang ở đâu nữa không? (Chắc chắn không!).

Do đó, nếu ngay trong hiện tại, có thể chuyển quả vãng sanh cõi Trời của cụ, khiến cụ vãng sanh lên Tây Phương Cực Lạc Thế Giới vậy.

Trích Những Chuyện Niệm Phật Lưu Xá Lợi
Tác giả: cố cư sĩ Tịnh Hải

Tịnh Độ Nghi Biện

Tịnh Độ Nghi Biện

Khách hỏi: Pháp môn Tịnh độ chỉ chuyên sự tướng, người trí Tuệ y Thiền tông Tu tập một niệm liễu ngộ, liền siêu “thập địa”, sao lại riêng tán dương Tịnh độ? Há đó chẳng phải là trước tướng, không hiểu rõ lý tánh sao?

Liên Trì Đại Sư đáp: “Quy nguyên vốn không hai, phương tiện có nhiều cửa.” Hiểu được ý này thì Thiền tông và Tịnh độ, tông tuy khác nẻo mà đồng quy. Nay ông đã có lòng nghi, tôi sẽ vì ông giải thích.

Pháp môn Tịnh độ từ xưa đến nay, Thánh hiền nối nhau xiển dương không phải một. Ngài Trung Phong đại sư dạy: “Thiền tức là Tịnh độ, Tịnh độ chính là Thiền. Tuy nhiên, khi Tu tập điều thiết yếu, y một môn thâm nhập.” Lời này dù ngàn đời vẫn không thay đổi.

Ngài Đại Thế Chí Bồ-tát khi Tu nhân, chứng niệm Phật tam muội dạy rằng: “Dùng tâm niệm Phật mà chứng vô sanh.” Phổ Hiền Bồ-tát nhập Hoa Nghiêm Bất khả tư nghì cảnh giới nói: “Nguyện con lâm chung, vãng sanh An Dưỡng.” Hai vị đại sĩ, một làm thị giả Đức Thích Ca ở cõi Ta-bà, một làm thị giả đấng từ phụ cõi Liên Bang. Mỗi vị các cứ mỗi phương, nhưng đồng giáo hoá chúng sanh quy về An Dưỡng. Mỗi người lập một chí mà vẫn hằng dung thông, chưa từng chướng ngại, đó là tùy căn cơ sở thích Tu tập, há là thiên chấp hay sao?

Ông nói: “Niệm Phật là chấp tướng” Vậy lẽ nào Phật tổ các Ngài không biết “Tịnh tâm tức là Tịnh độ.” hay sao lại nói thất bảo thế giới làm gì? Cũng như nói: “Thiện tâm tức là thiên đường” sao còn trời Dạ Ma, Đao Lợi. Ác tâm tức địa ngục, sao còn đao kiếm, chảo dầu sôi? Tâm ngu si tức súc sanh, sao còn thêm đeo lông đội sừng? Nay ông ưa nói lý tánh, chán ghét sự tướng, chẳng qua là muốn cho mọi người biết, ta đây là hạng thượng căn thượng trí và sợ người ta nói mình không thông lý tánh vậy.

Than ôi, nếu thật thông lý tánh, phải biết ngoài sự không có lý, ngoài tướng chẳng có tánh. Tánh tướng, sự lý hổ tương cho nhau, cần chi bỏ sự cầu lý, bỏ tướng tìm tánh? Huống chi, Tịnh độ phân làm bốn tầng, nói như ông thì chỉ có Thường Tịch Quang mà không có Thật Báo Trang Nghiêm, Phương Tiện Hữu Dư và Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh độ sao ?

Nếu khăng khăng bảo, không có tướng mới cao. Tư chất hơi có chút lanh lợi, xem hết hai tạng Kinh Luận, nhớ hết một ngàn bảy trăm công án, những việc ấy có chi đáng gọi là khó?! Nếu ông quả thật đã thấu triệt tự tâm, nơi nơi đều là Tịnh độ.

Vậy, xin hỏi ông có thể ở nơi nhà xí, dơ dáy hỗn tạp tự mình làm chủ không? Lại có thể ở chuồng trâu, ngựa và chó, cùng máng ăn chăng? Lại có thể ở gò mã, cùng thi hài rã nát hôi thối ngủ không? Lại có thể nhận cơm bú mớn từ những người bị bệnh già-ma-la (có lẽ bệnh cùi?) đầy máu mũ, nước tiểu v.v… ăn được không? Lại có thể ở nơi ấy, lắm tháng nhiều năm không? Nếu có thể ở những nơi ấy, tâm thật an nhiên tự tại, không chút phiền lòng thì ngươi có thể nói non cao, vực thẳm, gò mã, nhà xí, cũng như đất bằng chỗ nào cũng là Tây Phương.

Bằng không như vậy, nghĩa là đối cảnh bên ngoài phải cố nhẫn, trong tâm thì khởi lòng oán ghét và không vừa ý. Nơi cảnh tịnh- uế, sanh tâm phân biệt, thương ghét còn để trong lòng mà mở miệng luận thánh cảnh, phí báng cho rằng không có Tịnh độ, khinh thường vãng sanh, dối mình gạt người, cam lòng mê muội, đáng thương, đáng thương!

Nếu như ông thật có đại lực, đại thệ nguyện, nguyện vào trong sanh tử, lên xuống sáu đường, hành Bồ-tát hạnh, tâm không chút sợ hãi, thì cõi Tịnh độ có vãng sanh hay không cũng chẳng ngại. Nếu sợ sống trong cõi này, trong cảnh nóng lạnh, không thể tự chủ, lại sợ chư Phật ra đời không gặp và đường Tu khó tiến.

Lại ngại đạo lực chưa kiên cố, không thể ở trong tam giới, tự tại hoá độ chúng sanh, mãn báo thân này chưa thể vĩnh viễn thoát ly sanh tử, phải chịu vào ra thai bào, lên xuống sáu nẻo. Khi xả thân thọ thân, đường trước mờ mịt, chẳng biết về đâu, mà muốn phế bỏ Tịnh độ, không cầu vãng sanh thì chỉ mất đi lợi ích lớn vậy!

Pháp môn Tịnh độ tợ như cạn mà thật rất sâu, tợ gần mà xa, tợ như khó mà thật rất dễ, tợ dễ mà thật khó. Ngày nào đó, ngươi chứng niệm Phật tam muội sẽ tự biết! Ngươi nay Tham Thiền hay niệm Phật tùy ý chọn lấy một môn, Tu cho đến khi thâm nhập chẳng nên nhận sắc là vàng, được ít cho là đủ, nhìn trời qua miệng giếng, tùy ý vọng đàm, phỉ báng Tịnh độ.

Như đứa con ngu chửi mắng, phỉ báng cha mẹ, cha mẹ thương xót tuy không trách mắng nhưng thiên lý quyết chẳng dung tha! Vương Pháp há không trị phạt sao? Ngươi nay vọng bàn luống dối, quả báo kia cũng lại như vậy, lẽ nào không sợ sao? Ta thật xót thương lắm lắm vậy!

Liên Trì Đại Sư

Giữ Trẻ

Giữ Trẻ

“Cần người baby sit ở tại nhà ,trông 3 đứa trẻ 7, 6, và 5 tuổi, làm vài công việc vặt. Có phòng riêng, lương hậu hỉ . Xin mời ”

Đọc hàng loạt mục cần người đến nhà giữ trẻ, tôi dừng lại ở đây, sao mà thích hợp với tôi đến thế, tôi đang tìm một nhà có đông trẻ con để đến giúp việc, vì tôi cô đơn quá đổi. Cái nghề baby sit này tôi đã nghĩ tới với rất nhiều hứng thú sau những tháng năm dài mấy lần vấp ngã trong cuộc đời.

Tôi gọi phone ngay:

– Hello, chào chị, tôi có đủ điều kiện để xin làm baby sit cho nhà chị đây.

Giọng hớn hở bên kia đầu dây :

– Chị trẻ không? khoẻ không? Em có 3 thằng con trai quậy dữ lắm, đến nỗi bác Ba hiện thời đang baby sit tụi nó chịu không thấu, bác quá mệt đòi thôi việc nên em mới đăng báo kiếm người thế vô, bác Ba làm nốt 2 tuần nữa cho tròn tháng rồi mới ra….

Chị ta nói dài quá tôi phải ngắt lời :

– Tôi hiểu rồi, năm nay tôi 40 tuổi, sức khoẻ tốt. Được không?

– Vậy thì tốt quá, coi như em nhận lời mướn chị, bữa nào mời chị đến nhà, coi những công việc bác Ba làm sao chị làm vậy.

Tôi đồng ý, Hai tuần nữa tôi lại có một cuộc sống khác.

Một cuốn tiểu thuyết có bao nhiêu trang buồn vui thì cuộc đời tôi cũng có bấy nhiêu trang. Tôi là một đứa trẻ không có cha ngay từ trong bụng mẹ, nghèo khổ và lam lũ tôi sống với mẹ bữa đói bữa no trong một xóm lao động ở Việt Nam, năm tôi 12 tuổi mẹ tôi bị bệnh chết, không thân bằng quyến thuộc. Tôi bơ vơ.

Tôi được một bà hàng xóm tốt bụng mang tôi đến một gia đình họ hàng của bà. Đó là chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương, Sài Gòn, để tôi làm việc vặt gì thì làm, mục đích chính là họ nuôi tôi làm phước.

Ông bà chủ có hai người con gái tuổi mười tám đôi mươi, đa số tôi làm việc vặt cho hai cô. Biết thân phận mình tôi làm việc rất chăm và ngoan ngoãn nên cả ông bà và hai cô đều thương. Được sống ở thành phố, bên cạnh hai cô chủ, tôi phổng phao khoẻ mạnh và đầu óc khôn ra, những sinh hoạt của họ cũng cho tôi nhiều kiến thức. Lúc nào rảnh hai cô thay phiên nhau dạy tôi học chữ.

Tôi quý mến ông bà chủ hãng nước mắm lắm, tôi hay nói với ông bà con mong mau lớn con sẽ khuân nước mắm từ kho ra xe, ông bà đỡ phải mướn người ta. Nhưng chưa đến cái ngày tôi được làm công việc đó để đền ơn đáp nghĩa chủ, thì năm 1980 cả nhà ông bà tổ chức vượt biên, và tôi nghiễm nhiên đã là một thành viên của gia đình họ nên cũng được đi theo. Năm đó tôi 18 tuổi.

Sang đến Mỹ tôi vẫn tiếp tục làm người giúp việc cho họ. Vài năm sau hai cô học hành xong và lập gia đình, cuộc sống của tôi vẫn êm đềm theo gia đình chủ, nhưng hai cô nói tôi không thể suốt đời làm thuê làm mướn cho nhà cô mãi được, tôi đã trưởng thành cấn có một cuộc sống riêng, có vợ có chồng như người ta. Hai cô thương tôi mà nói thế, chia tay hai cô tôi buồn lắm và không tự tin chút nào, vừa xấu vừa không trình độ thì ai dám lấy tôi?

Thế mà có người thương tôi, lấy tôi, làm tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên, anh quê ở Long Đất, Vũng Tàu, làm tài công chở người vượt biên từ ghe nhỏ ra ghe lớn, một hôm anh liều mình lên ghe lớn đi luôn, qua đây tứ cố vô thân. Anh cũng bơ vơ.

Gia đình ông chủ hãng nước mắm ở California, còn tôi và chồng rủ nhau về tiểu bang Texas, nghe nói cũng đông người Việt Nam và nhà cửa thì rất rẻ so với Calif.

Sau này tôi hỏi chồng tôi với vẻ cảm động và vô vàn biết ơn rằng em xấu, em quê mùa thế tại sao anh lấy em, anh yêu em ở điểm nào ?? Anh đáp thản nhiên thời điểm đó ít người Việt Nam, đàn ông thì thừa , đàn bà thì thiếu, thà lấy em còn hơn ở giá, chứ có yêu thương gì đâu.

Sự thật mất lòng, nhưng chứng tỏ là anh thành thật, thôi thì “ bèo dạt mây trôi” gặp nhau, cho đời bớt buồn, bớt khổ. Chúng tôi an phận sống bên nhau và mong muốn có một đứa con, nhưng chờ hoài hết năm nọ, năm kia, hai vợ chồng tôi mới đi bác sĩ để biết một sự thật đau lòng tôi không có khả năng sinh con. Chồng tôi thất vọng, chán nản sinh ra nhậu nhẹt say sưa, một hôm tôi biết được anh đã ăn ở với một cô gái, và cô đang mang bầu, tôi hiểu phận mình thua thiệt, tự nguyện rút lui, trả anh cho cuộc đời mới đang mở ra cho anh.

Vài năm sau tôi lập gia đình với một ông lớn tuổi, bị vợ bỏ, ông chấp nhận hoàn cảnh tôi, không cần con cái, hình như ông dị ứng với vấn đề này, ông nói con cái ở Mỹ chỉ là một lũ mất dạy. Tôi an lòng sống với ông, tưởng sẽ được hạnh phúc cho đến tuổi già. Nhưng ông bị chết đột ngột vì bệnh tim, không kịp một lời trăn trối, nhưng cũng kịp để lại cho tôi một món tiền khá lớn….phải trả nợ cho credit card, không biết ông đã vay mượn từ lúc nào, mang tên hai vợ chồng , chỉ để đánh cá football (sau này tôi mới biết đó chính là nguyên nhân ông bị vợ bỏ, con khinh, và vất va vất vưởng như lục bình trôi sông rồi tấp vào đời tôi, để tôi phải trả một giá rất đắt cho cái hạnh phúc mà tôi chưa hề được hưởng).Tôi đã cần cù đi làm lương vài đồng một giờ trong vài năm để trả món nợ đó, tôi suy luận theo thuyết nhà Phật, có lẽ kiếp trước mình mắc nợ ông ta ? Bây giờ nợ trả hết rồi, tôi không oán hận gì ông đâu, ông hãy thanh thản giấc ngàn thu, chỉ mong rằng kiếp sau nếu có tái sinh , dù lấy ai cũng xin ông chừa thói cờ bạc, chừa đánh cá football cho vợ con ông nhờ.

Vừa xấu người, vừa xấu số, qua hai đời chồng mà chẳng được gì ngoài thất vọng khổ đau.Tôi quyết tâm an hưởng cuộc sống độc thân, tưởng rằng sẽ thanh thản mà sao buồn thế! đơn độc thế! Đôi lúc tôi muốn quay về tìm hai cô chủ cũ đang sống ở California, nhưng lại tự ái, và phụ lòng tin tưởng của người ta nên đành thôi. Tôi cũng là một người đàn bà như bao nhiêu người đàn bà khác, cũng thèm khát một mái gia đình, những đứa trẻ thơ, để được săn sóc chúng, thương yêu chúng. Thế là tôi nghĩ đến nghề baby sit, tôi muốn được ở tại nhà chủ, sống hàng ngày với họ, để hưởng lây không khí gia đình, để gần gũi những đứa trẻ mà đáng lẽ tôi cũng có.

******

Tôi đã đến nhà cô chủ mới để quan sát tình hình, vợ chồng chú An giới thiệu tôi với bà Ba và 3 đứa trẻ rồi họ vội vã rời khỏi nhà, họ đang kinh doanh một nhà hàng lớn rất đông khách nên bận túi bụi, việc nhà cửa, con cái giao phó hết cho người baby sit.

Lần đầu nhìn 3 thằng ranh tôi đã thích, còn chúng nhìn tôi với vẻ tò mò .Hôm nay ngày nghỉ nên chúng ở nhà đủ, bà Ba vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi, bà hơn 65 tuổi, nhưng chưa có quốc tịch nên chưa được hưởng tiền già. Ôi, ở cái tuổi này mà phải quản lý 3 thằng vừa ăn khoẻ vừa nghịch ngợm như thế kia thì mệt thật ! Tôi bỗng thấy mình còn trẻ quá, sẽ đủ sức làm nữ tướng điều khiển 3 thằng lính quèn đó.

Tôi tiếp tục công việc của bà Ba không khó khăn gì, sáng dạy lo cho 3 đứa đi học, trưa lần lượt đón về, chiều nấu cơm, tắm rửa cho chúng, rồi dọn dẹp nhà cửa…Tôi vừa nghiêm vừa thân thiện để chúng không ăn hiếp và không quá sợ tôi. Ai như bà Ba muốn làm cái gì cũng phải năn nỉ nào ăn cơm đi, nào tắm đi, nào thay đồ đi.v..v..rồi bà thương, chúng nó đâu cần cái tình thương hứa hẹn của bà để phải đánh đổi những trò chơi hứng thú của chúng. Mỗi lần cho lũ trẻ tắm là một cuộc chơi “trốn tìm” và “đuổi bắt” đầy ngoạn mục, quần áo dơ thay ra, chúng không để vào rổ trong phòng tắm mà cố tình quẳng vào kẹt tủ, gầm giường, hay góc bếp cho bà Ba tìm mệt nghỉ, bà Ba đi khắp nhà tìm quần áo dơ của chúng như tìm chiến lợi phẩm sau một cuộc giao tranh. Xong, thì 3 thằng lại xổng mất, bà phải chạy từ phòng nọ đến phòng kia, từ tầng lầu xuống tầng dưới, và ngược từ tầng dưới lên tầng lầu để tóm chúng lôi vào phòng tắm…Bà mệt và căng thẳng đến nỗi có đêm bà thấy ác mộng, 3 đứa chạy nhảy bừa bộn trong phòng tắm, nước văng tung toé, nước tràn lan lênh láng, trôi bà đi khắp nhà…Giật mình tỉnh dậy người bà còn đẫm mồ hôi, bà không tin là mình vừa ngủ mê, lò dò bật đèn ra phòng tắm, thấy mọi sự yên tịnh bình thường bà mới yên tâm vào ngủ tiếp.

Khi bố mẹ chúng ra khỏi nhà, căn nhà rộng 4,000 sqft, đẹp đẽ sang trọng, trên khu đất rộng, vườn tược xinh tươi, hàng tháng có người đến làm vườn cắt cỏ này là của tôi, tôi tha hồ ra mà đi trên cỏ non xanh mướt, ngắm hoa lá, nhìn chim bay…Những giây phút thú vị đó, tôi tin chắc rằng vợ chồng cô chủ chưa bao giờ biết đến.

Vào nhà tủ lạnh đầy ngập đồ ăn, tôi muốn ăn, muốn bày món gì có mà trời biết.Tôi đã làm những món ăn, bánh trái khiến lũ trẻ thích mê, tôi kể cho chúng nghe những đứa trẻ bằng tuổi chúng đang ở Việt Nam, đang thiếu ăn, thiếu mặc, hay không được học hành gì cả…tôi kể về tuổi thơ nghèo khổ của tôi, chúng cảm động nghe tôi kể như nghe chuyện cổ tích, tôi dạy chúng phải biết quan tâm và giúp đỡ người khác, biết nhường nhịn thương yêu nhau. Dần dần 3 đứa đều quý mến tôi, ngoan ngoãn nghe lời tôi, chúng không nghịch phá nữa, tự mình làm những gì có thể được, tôi không phải hầu hạ chúng như bà Ba, trái lại tôi còn sai chúng làm được khối việc vặt, khi quần áo đã xấy khô, chúng gấp lại, của đứa nào đứa nấy mang về phòng, chúng vui thích vì được tự tay xếp quần áo vào tủ theo ý mình, tôi sai chúng nó lấy báo cho tôi đọc hay rót nước cho tôi uống là chuyện thường tình ở nhà, không biết bố mẹ chúng nhìn thấy có xót ruột không? chứ chúng làm với tất cả lòng hăng hái, mà tôi cũng thương yêu chúng biết bao nhiêu, không phải là nhiệm vụ của một baby sit đâu, mà bằng tấm lòng của một người mẹ.

Tôi và 3 đứa trẻ đã có những ngày êm đềm hạnh phúc, những bữa cơm chiều đầm ấm, những buổi trưa 3 đứa thì ngủ, còn tôi nằm khểnh nghe nhạc, thảnh thơi như một kẻ vô công rỗi nghề, tôi mở máy nghe Chế Linh và Tuấn Vũ, hai giọng ca mùi mẫn là thần tượng của tôi, họ hát bài gì tôi cũng thuộc dù tôi không nhớ tên tác giả, nhưng chắc chắn là không có nhạc Trịnh công Sơn, dù ai cũng khen nhạc ông ta, có nhiều câu nhạc của Trịnh công Sơn nghe “mơ hồ” quá tôi không hiểu nổi: “tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống thành hồ nước lênh đênh.” Hay “ Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…” thà cứ cụ thể, huỵch toẹt như “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…” hay “Đêm đêm một mùi hưong, mùi hoa sứ nhà nàng…” nghe mà thấm tới tim tới phổi, nghe mà rơi lệ.

Nằm nghe nhạc đã, tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy 3 đứa trẻ vẫn nằm ngủ bên tôi trong căn nhà sạch sẽ thơm tho, chẳng có chuyện gì phải làm, tôi vẩn vơ nghĩ tới vợ chồng cô An, không biết ngay giây phút này họ đang làm gì nhỉ ? Tội nghiệp ! chắc chú An đang bù đầu trong khói bếp mịt mù, trước kia chú có thuê đầu bếp, nhưng đứa thì làm mình làm mẩy, đi trễ về sớm, đứa thì chuyên môn ăn cắp mang về nhà toàn những món đồ biển đắt tiền .Thế là chú vừa là ông chủ vừa kiêm luôn chức đầu bếp cho chắc ăn, khỏi phải trả tiền công đầu bếp mà lại quản lý được cả đám nhân viên dưới bếp, không thất thoát hao phí đồ ăn, thực phẩm. Còn cô An cũng bù đầu không kém, như tất cả những người Châu Á làm kinh doanh, khâu tiền nong thì chỉ có ngưòi nhà hay chính chủ nhân quản lý, cô An ngồi trong quầy thu tiền, mỗi ngày phải mỉm cuời không biết bao nhiêu lần, phải Hello, Thankyou với không biết bao nhiêu người, kể cả những người có bộ mặt đáng ghét nhất.

Chín mười giớ tối cô chú An mới về tới nhà, tắm rửa và hỏi thăm con cái qua loa xong là lăn vào phòng ngủ, nếu có động đất hay trời xập chắc họ cũng không biết.

Làm gì cô chú An dám mơ tới một giấc ngủ trưa thanh bình nhàn hạ như tôi? nằm nghe nhạc lâm ly sướt mướt như tôi?

Làm chủ nhà hàng, khách tới ăn tấp nập, nhưng cô chú An thường không ăn nổi những món ăn của mình, ngày nào cũng ngửi, cũng nhìn thấy, họ ngán quá rồi, cô An thường mang đồ ăn do tôi nấu ở nhà , tôi làm món dưa cải muối chua với củ hành đỏ thật thơm ngon, cô An rất thích.

Từ ngày làm baby sit, ăn, ở, chủ bao nên đồng lương tôi hầu như không dùng tới, dư được bộn tiền, tôi không có họ hàng gần xa ở Việt Nam để mà giúp họ. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo-như tôi ngày xưa- và muốn đồng tiền của tôi được hữu ích tôi liên lạc với một ngôi chùa ở Việt Nam, thông qua đó, hàng tháng tôi gởi tiền về để chùa mang đến những cô nhi viện, những nhà nuôi trẻ em khuyết tật, cho các em được thêm manh áo mới, thêm miếng ăn ngon. Nếu quả thật kiếp này làm điều lành kiếp sau được hưởng thì tôi mong sẽ có một mái gia đình và những đứa con như 3 thằng mà tôi đang baby sit là đủ rồi, chẳng mong giàu có sang trọng gì.

Một hôm cô An mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam, do người bạn cô mới đi chơi Việt Nam và mang về. Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm, hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo.

Cô An chặc lưỡi:

– Làm điều thiện mà dấu tên, ngu thật. Người ta đâu biết mình là ai, thì hãnh diện với ai đây?

Rồi cô so sánh, nửa đùa nửa thật:

– Chắc bà này giàu lắm mới chi ra như thế. Mà có giàu hơn tôi được không?

Mỗi ngày nhìn vợ chồng cô An ra đi, lao vào cuộc sống, tôi biết họ kiếm ra rất nhiều tiền, bằng sức lực mồ hôi và bằng cả sự khôn ngoan sống ở đời như cô An đã từng hãnh diện khoe với tôi, chị biết không, buôn bán kiếm lời là chuyện dĩ nhiên, ngoài ra phải biết kiếm thêm, mỗi bill tính tiền ăn của khách đều cộng thuế, nhưng tôi đâu có ngu mà khai thật lợi tức của mình với sở thuế, nên hầu hết tiền lời, tiền thuế của người ta trả đều vô túi mình.

Còn tôi, lương tháng 1,200 đồng, không kiếm thêm được đồng nào như vợ chồng cô chủ. Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn ? Thì …tôi chứ ai! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác.Và ai sướng hơn? Thì….cũng tôi chứ ai ! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác.,.

Nguyễn thị Thanh Dương

238/250Đầu...10...237238239...250...Cuối