Cô Hồ Thị Quyến sống cùng gia đình ở một vùng quê yên ắng tỉnh Trà Vinh, sống bằng nghề làm ruộng, cuộc sống khá khổ cực. Khi đến tuổi trưởng thành, cô kết hôn với một người cùng quê là anh Trần Văn Thuận. Hai người sống với nhau có hai con gái và một trai. Cô mưu sinh bằng nghề mua bán heo. Mua bán heo vài năm kiếm được nhiều tiền khấm khá nên hai vợ chồng cô kiêm luôn vừa mua heo, vừa mổ thịt và bán tại chợ. Mọi thứ đều suông sẻ nên hai người mở luôn một lò sát sinh, một phần giết mổ lấy thịt giao sỉ một phần đem đến sạp tại chợ bán lẻ. Cuộc sống cứ như vậy được vài năm.
Nghiệp báo đầu tiên xuất hiện đó là lúc cô đang mang thai đứa bé gái, cổ cô nổi một cục bướu. Gia đình đưa cô lên Sài gòn để mổ, may cho cô là bướu lành tính, bấy giờ cô vẫn chưa hiểu gì về quả báo. Sau đó về lại Trà Vinh cô vẫn tiếp tục làm heo và bán, vẫn không hề giảm giết chóc. Cô lại có thai đứa bé trai và sinh khó phải mổ, sức khỏe càng lúc càng yếu. Ba tháng sau đó tự nhiên máu trong người cô đổ ra rất nhiều như bị băng huyết, cô ngất xỉu nên người nhà phải đưa đi bệnh viện cấp cứu tưởng chừng như không thể qua khỏi. Bác sĩ đã truyền máu và mổ cho cô lấy một khối u khác nữa đem ra ngoài và may vết thương lại. Trong khi con trai cô bệnh liên tục, một tháng bị động kinh 3-4 lần, sức khỏe không tốt.
Kể từ thời gian này trở đi gia đình cô luôn xảy ra chuyện, vợ chồng bất hòa, con cái bệnh hoạn. Chồng cô có tiền sinh ra ăn chơi, nhậu nhẹt, có nhiều đêm không về nhà nên gánh nặng công việc và gia đình đổ dồn vào cô. Càng ngày tinh thần và thể xác cô càng lúc càng sa sút.
Nhân duyên đầu tiên giúp cô biết về Phật pháp là vào năm 2004 cô đến chùa gần nhà thỉnh sư cô về tụng kinh, tẩn liệm cho tang lễ của mẹ cô. Sư cô thấy gia đình giết mổ heo như vậy mới hướng dẫn cho cô về việc không nên sát sanh hại vật trong tang lễ. Cô nghe qua mà hết hồn vì cô sát hại tới 5 con heo để những người đến phụ đám được ăn và cũng thể hiện sự “có hiếu” lần cuối với mẹ, không ngờ lại là bất hiếu chứ không phải có hiếu.
Sư cô giải thích với cô rằng nếu giết mổ như vậy người mất rất đau khổ, sẽ bị đầu thai làm kiếp súc sinh để trả nợ, người sống cũng bị quả báo rất nặng. Cô sợ hãi nên nhờ sư cô tổ chức cúng trai Tăng hồi hướng cho mẹ, sau đó trong 49 ngày thường xuyên đến chùa để tụng niệm và nghe Phật pháp. Cô quy y Tam bảo pháp danh Diệu Minh, nhưng cô vẫn chưa từ bỏ được nghề. Lúc này là chồng cô hoàn toàn giao phó việc mổ giết heo, bán heo cho cô quản lý.
Đầu năm 2005, cô nằm mộng một giấc mộng rất kỳ lạ. Cô thấy mấy người làm đem con heo lên bàn thọc huyết rồi quăng xuống, nhìn kỹ thì hóa ra con trai cô. Khi cô giật mình dậy hết sức lo sợ, nhưng vẫn không nghĩ rằng điềm chiêm bao sẽ có ý nghĩa gì đối với nghiệp báo.

Một thời gian sau nữa thấy trong người khó chịu, cô đi khám và phát hiện bị u nang, là u ác tính, phải mổ và vô thuốc xạ trị, người ốm tóc không mọc nổi. Do sức khỏe cô kém quá, lại thiếu máu trầm trọng nên bác sĩ cho cô tạm về nhà nghỉ dưỡng một tuần rồi vào điều trị tiếp. Cô cứ hết bị mổ thiếu máu rồi tiếp tục bệnh, khối u, lại mổ…cho nên hễ nghe đến từ mổ là cô sợ khiếp vía.

Trong lúc về nhà nghỉ dưỡng thì cô nằm mộng. Trong giấc mộng cô thấy con heo to trong vườn nhà đang nuôi (kể từ sau đám tang mẹ thì nhà cô lúc đó chỉ còn nuôi duy nhất mình con heo này), nó nói với cô rằng: “Con ơi lại tấn mùng cho mẹ đi con, muỗi cắn mẹ dữ lắm”. Cô nghe rõ ràng tiếng của mẹ cô thì mới đến gần con heo, heo lại nói tiếp: “ Tấn mùng cho mẹ đi con, bữa giờ không có mùng muỗi cắn mẹ quá con à, mẹ đã thành heo rồi”. Cô sợ hãi giật mình tỉnh giấc lúc đó là 12 giờ đêm.
Sáng hôm sau cô nói chồng cô chở cô lên vườn mà nuôi con heo. Cô vừa lên thấy con heo to đã đẻ 6 con. Con heo nằm y hệt như lúc cô nằm mộng. Cô đến vuốt ve heo niệm Phật mà rơi nước mắt, chợt nghĩ đến đám tang sư cô có nói giết heo cúng tế thế này người chết phải đầu thai làm heo để trả nợ. Cô hết sức đau lòng.
Mấy hôm sau trong lúc cô ngồi niệm Phật thì nghe con gái báo rằng con heo đã bỏ ăn và chết. Cô buồn bã, lo lắng, khủng hoảng và chính yếu tố này đã giúp cô quyết định bỏ hẳn nghề làm heo.

Sau đó cô lên Sài gòn điều trị tiếp. Sự đau đớn do bệnh tật hành hạ cô. Có một bữa thay vì nằm trong phòng lưu bệnh thì cô xách giỏ đi lang thang tìm một ngôi chùa. Tự dưng có một cái gì đó vô hình đưa đẩy cô bước vào một ngôi chùa ở Quận 10 xin vào lạy Phật, cô vào gặp ngay thầy trụ trì. Không biết duyên cớ sao cô kể hết cuộc đời mình cho thầy nghe. Thầy bảo:
“Con có thấy gieo Nhân nào gặt Quả nấy không con? Chỉ đến khi bị ung thư đau đớn, mổ xẻ liên tục rên la mới biết nỗi khổ đau của chúng sanh hàng ngày bị con hành hạ giết chóc. Nghiệp báo đến không thể trách ai, tự mình làm tự mình chịu, làm khổ lây đến con cái, ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Khi con giết con vật nó đau đớn cùng cực. Con sợ chết nó cũng sợ chết vậy. Nó oán, hận tràn ngập và thần thức của nó cứ lãng vãng xung quanh con chờ báo oán. Chỉ có tu hành, niệm Phật, ăn chay, phóng sanh hồi hướng cho các chúng sanh đó thì may ra có chút lợi ích”.
Nghe thầy giảng chi tiết cô bắt đầu hiểu rõ lý do vì sao mình bịnh ung thư, vì sao con cái mình thường ốm đau bệnh tật, gia đình không hạnh phúc. Cô bắt đầu chấp nhận quả báo và không rên la nữa như những bạn bệnh cùng phòng nữa mà lo chăm chỉ niệm Phật. Khoảng thời gian vô thuốc người nóng nảy bức rức rất đau đớn khổ sở nhưng hiểu rồi nên cô nghe lời thầy dạy cố niệm Phật nhiều hơn.
Sau đó bác sĩ lại cho cô về nhà dưỡng tiếp. Lần này, cô thường qua ngôi chùa cô quy y lúc mẹ cô mất để tụng kinh, duyên đưa đến cô gặp quyển Kinh Nhân Quả ba đời, tự dưng đọc đến trang 26 thấy có kể những con heo nó kể cho một vị Tăng nghe người ta giết nó làm thịt đâm trói làm nó đau đớn, uất hận, rên la, van xin như thế nào, cô khóc và mang về cho cả gia đình xem.
Trước khi lên bàn mổ lần thứ 5 cô khấn Quan Âm Bồ tát giúp cô có cơ hội quay trở về lại làm một con người tốt, không sát sanh hại vật, lo tinh tấn tu hành lấy công đức để hồi hướng cho những chúng sanh từng bị cô giết hại.
Sau khi vô đủ toa thuốc lần thứ 8, về nhà từ đó trở đi cô quyết định ăn chay trường, từ bỏ việc giết chóc chúng sanh, tinh tấn tu hành niệm Phật.

Từ khi bỏ hẳn nghề làm heo và lo tinh tấn tu hành, tâm cô không còn lo sợ, không gặp ác mộng. Chồng cô hồi trước ngang tàng thì bây giờ lại chuyển đổi đi chùa tụng kinh niệm Phật, giúp đỡ người khác.
Đầu năm 2007 trên mũi cô nổi một cái mụt đau nhức và to dần, cô lên bệnh viện Hòa Hảo xét nghiệm thì được báo là nang, bác sĩ cho uống thuốc 15 ngày lên mổ lấy nang ra. Cô nghe nói nang là thấy mệt rồi nhưng đã tu hành hiểu quả báo nên chấp nhận mà về nhà niệm Phật, mỗi lần niệm cô đều lấy tay vuốt vuốt cái nang đó (cô xem quyển niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư của Pháp sư Đạo Chứng). Chưa đầy 15 ngày sau, có một buổi sáng 4 giờ cô dậy công phu niệm Phật thì không nhìn thấy cái nang trên mũi nữa.
Sự nhiệm mầu Phật pháp này đã làm chuyển hóa cả gia đình cô. Cả nhà giờ đều quy y Tam Bảo, tu hành niệm Phật, thân tâm bình an, cuộc sống ổn định.
Cô có đôi lời nhắn gởi đến những người đang làm những nghề nghiệp sát sinh hại vật: “Xin chân thành sám hối những tội lỗi đã gây ra cho nhiều chúng sanh. Xin mọi người hãy chuyển nghề khác, đừng làm những nghề giết hại chúng sanh, không chỉ có hại cho bản thân mình mà còn cho những người thân bên cạnh mình nữa. Nhân quả không sai đâu các vị ạ”
Truyện kể người thật việc thật từ Phật Pháp nhiệm màu kỳ 12






Pháp môn Tịnh Độ rất đặc biệt vì nó cho phép người tu ôm theo nghiệp cũ mà vãng sang, tức đới nghiệp vãng sanh. Khi đến Thế Giới Cực Lạc chỉ hưởng toàn niềm vui chớ không hề thọ khổ. Vậy có phải người tu Tịnh Độ được vãng sanh là không phải trả nghiệp đã gieo ư? Nói bình dân là kiểu quịt nợ xấu họ đã làm ở cõi Ta Bà. Sang Cực Lạc là nợ tự tiêu hết sao? Điều này hiểu theo luật nhân quả thì tôi thấy nó lấn cấn làm sao. Xin quý vị chỉ giáo giùm cho.
Anh Bảo hỏi câu này thiệt tình làm Bốn Lúa tui phải gãi đầu. Gãi hồi một lát thấy chưa ra, tui tính chạy qua hỏi anh Hai Lúa, mà nghĩ bụng thôi, hai ông hàng xóm mà ngồi lại luận chuyện “đới nghiệp vãng sanh” thì chưa chắc thành Phật, nhưng chắc chắn thành… chuyện cho cả xóm nghe. Bởi nghe câu “đới nghiệp vãng sanh” mà hiểu theo kiểu bình dân quá thì nó dễ bị hiểu thành: “Hồi ở Ta Bà làm ăn thất đức, thiếu nợ tùm lum, tới cuối đời niệm Phật rồi cuốn gói qua Cực Lạc, đóng cửa lại, chủ nợ ở dưới này muốn kiếm thì kiếm.” Nếu vậy thì đúng là “trời cao có mắt”, mà cái mắt này chắc bị bụi bay vô nên mới để cho mình quỵt nợ.
Anh Bảo nói “sang Cực Lạc là nợ tự tiêu hết sao?” thì Bốn Lúa tui xin thưa ngay: Không phải vậy đâu anh. Nhân quả đâu phải cái tiệm tạp hóa muốn mua thì mua, thiếu thì ghi sổ, tới cuối tháng nói: “Chú ơi, con đổi địa chỉ rồi, chú khỏi tính.” Không có cửa đó. Ông bà mình nói “gieo gió thì gặt bão”, “ở hiền gặp lành”, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Phật pháp nói nhân quả còn sâu xa, vi tế hơn nữa. Nhân đã gieo thì không phải cứ niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật” là lấy cục tẩy chà một phát sạch bong như bảng học trò.
Chữ “đới nghiệp” phải hiểu là người cầu sanh Tịnh Độ chưa đoạn hết nghiệp chướng, chưa chứng quả A-la-hán, chưa thành Phật, nhưng vẫn có thể nương đại nguyện của Phật A Di Đà mà vãng sanh. Nói nôm na là cái “ba lô nghiệp” vẫn còn đeo trên lưng, chớ không phải tới cửa Cực Lạc thì có nhân viên bảo vệ chạy ra nói: “Xin quý khách vui lòng bỏ nghiệp vào thùng rác trước khi vào.” Nếu có cái thùng đó thiệt chắc Bốn Lúa tui đứng xếp hàng từ sáng tới tối, vì nghiệp của tui chắc phải thuê xe ba gác chở tới.
Cái đặc biệt là sau khi vãng sanh, người ấy không còn bị nghiệp dẫn dắt đi lang thang trong sáu nẻo như trước. Cũng như con cá đang mắc câu mà gặp người câu cá thương tình tháo lưỡi câu ra, đem bỏ vô hồ sen. Cái con cá vẫn là con cá, chưa biến thành cá chép hóa rồng, nhưng ít nhất nó không còn nằm trên chảo dầu. Nói vậy cho nó dễ hình dung.
Chớ nếu đới nghiệp có nghĩa là nghiệp bị xóa sạch thì anh Bảo thử nghĩ coi, chắc thiên hạ hiểu lầm dữ lắm. Hôm nay tui lỡ nói xấu hàng xóm, mai tui niệm Phật. Mốt tui nổi sân với người ta, tui lại niệm Phật. Bữa kia tui tham tiền, tui niệm Phật. Rồi tối tới tui ngồi chống nạnh tuyên bố: “Không sao, tui tu Tịnh Độ, tui được đới nghiệp.” Trời đất ơi, nếu tu kiểu đó thì Bốn Lúa tui không dám gọi là “đới nghiệp vãng sanh”, tui gọi là “đới nghiệp… gây thêm”.
Ông bà mình có câu “ăn cây nào, rào cây nấy”. Mình gieo nhân gì thì phải biết cái nhân đó có ngày trổ quả. Pháp môn Tịnh Độ không dạy mình coi thường nhân quả. Trái lại, người chân thật niệm Phật càng phải biết sợ nhân quả, càng phải ráng sửa mình. Bớt nói lời độc địa, bớt sân si, bớt tham lam, bớt làm chuyện khiến người khác tối về nằm ôm gối khóc. Chớ ban ngày mình làm người ta khóc, ban đêm mình chắp tay niệm Phật rồi tưởng vậy là huề vốn thì chưa chắc.
Anh Bảo biết cái cảnh ở Ta Bà nó khổ cỡ nào rồi đó. Mình mới phát tâm tu được ba bữa thì có người chọc một câu. Thế là tâm thanh tịnh đi đâu mất tiêu. Đang niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, nghe ai nói mình một câu là trong đầu lập tức chuyển sang “Nam Mô… tức muốn chết”. Niệm Phật chưa được mười phút, sân hận đã niệm mình trước.
Rồi chuyện đời nó cũng lạ. Sáng mở mắt ra là điện thoại. Điện thoại mở ra là tin nhắn. Tin nhắn mở ra là chuyện. Chuyện mở ra là bực. Bực mở ra là sân. Sân mở ra là khẩu nghiệp. Khẩu nghiệp mở ra là cãi nhau. Cãi nhau xong lại hối hận. Hối hận xong lại thề “từ nay tôi tu”. Tới chiều gặp chuyện khác, đâu lại hoàn đó. Đúng là “con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào”. Cứ quay tới quay lui hoài.
Cho nên cái hay của Cực Lạc là ở chỗ môi trường tu hành quá thuận lợi. Người vãng sanh được gần Phật, gần thiện tri thức, nghe pháp, niệm Phật, không có những duyên ác như Ta Bà lôi kéo mình chạy tới chạy lui. Ở Ta Bà có khi mình muốn ăn chay mà bạn rủ: “Đi ăn chút thôi.” Mình nói: “Tui tu.” Người ta nói: “Ăn một miếng có sao đâu.” Một miếng thành hai miếng, hai miếng thành ba miếng, cuối cùng cái miệng làm việc năng suất hơn cái tâm.
Còn ở Cực Lạc thì cái hoàn cảnh chung quanh đều thuận cho việc tu. Nói theo kiểu nhà quê mình là: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Mình ở gần Phật, gần Bồ Tát, gần người tu, nghe pháp ngày đêm, thì cái tâm có điều kiện tiến lên. Chớ ở Ta Bà nhiều lúc mình đang niệm Phật mà bên cạnh có người nói chuyện thị phi, nghe một hồi mình quên mất Phật, nhớ luôn chuyện hàng xóm.
Nhưng anh Bảo nhớ kỹ nghen: nghiệp cũ chưa phải biến mất. Nó giống như hạt giống nằm trong kho. Hạt giống vẫn còn, nhưng không có đủ duyên thì chưa mọc. Cũng như hột xoài nằm trong lu, không có đất, không có nước, không có nắng thì nó cứ nằm đó. Chớ không phải nó nghe mình niệm Phật rồi tự nhiên mắc cỡ quá, nói: “Thôi tui đi luôn.” Nghiệp không biết mắc cỡ đâu anh. Mình mới mắc cỡ thôi.
Vì vậy, vãng sanh Cực Lạc không phải là “trốn nhân quả”, mà là thoát khỏi vòng sanh tử để tiếp tục tu hành trong một hoàn cảnh thù thắng. Nói cho dễ nhớ: “Nghiệp chưa sạch mà được vãng sanh; vãng sanh rồi tiếp tục tu; tu đến khi trí tuệ viên mãn thì nghiệp chướng và vô minh mới rốt ráo được giải quyết.”
Chuyện này cũng giống như người mắc bệnh. Bệnh còn đó không có nghĩa là bệnh nhân phải nằm ngoài đường chịu mưa chịu nắng cho tới khi bệnh tự hết. Người ta đưa vô bệnh viện, cho thuốc, cho bác sĩ, cho môi trường chữa trị tốt. Bệnh chưa biến mất ngay, nhưng điều kiện chữa bệnh đã thay đổi. Cực Lạc cũng có thể hiểu theo hướng như vậy: không phải “nghiệp tiêu cái rẹt”, mà là người tu được đưa vào môi trường thù thắng để không còn bị nghiệp dẫn đi vòng vòng như trước.
Cho nên anh Bảo hỏi “có phải nợ tự tiêu hết không?” thì Bốn Lúa tui xin trả lời bằng một câu cho dễ nhớ: “Nợ không tự tiêu, nhưng người mắc nợ được đưa ra khỏi cái cảnh cứ vay thêm nợ mới.”
Chớ còn nếu mình nghĩ vãng sanh là khỏi trả nghiệp thì nguy hiểm lắm. Nó giống như ông nọ đi vay tiền khắp xóm, tới cuối năm chủ nợ kéo tới, ổng nói: “Mấy anh thông cảm, tôi đang tu Tịnh Độ.” Chủ nợ hỏi: “Vậy tiền tôi đâu?” Ổng đáp: “Đới nghiệp rồi anh.” Chủ nợ nghe xong chắc đới luôn cây chổi ra quét ông đó khỏi cửa.
Bởi vậy mới nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu.” Còn trong Tịnh Độ, niệm Phật phải đi đôi với sửa mình. Người niệm Phật chân thật sẽ càng ngày càng bớt tham, bớt sân, bớt si, biết thương người, biết sám hối, biết giữ khẩu nghiệp. Chớ miệng niệm Phật mà cái miệng vẫn chuyên môn làm hàng xóm nổi nóng thì Bốn Lúa tui thấy cái miệng đó cần được “niệm” lại trước.
Ông bà mình còn nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” Người tu Tịnh Độ cũng vậy. Một câu nói lành có thể làm người ta ấm lòng; một câu nói độc có thể khiến người ta mất ngủ cả đêm. Nhân quả đôi khi không cần đợi đời sau. Có cái quả tới nhanh lắm. Mình nói người ta một câu, người ta nói lại hai câu. Mình về nhà tức. Vợ hỏi: “Có chuyện gì vậy?” Mình nói: “Không có gì.” Vợ nhìn mặt một cái: “Có chuyện rồi.” Thế là từ một câu ngoài đường, về nhà thành nguyên một bộ phim dài tập. Đó, nghiệp nó làm việc nhanh như vậy đó.
Cho nên người tu Tịnh Độ không phải là người tìm cách né nhân quả, mà là người biết mình nghiệp chướng sâu dày nên tìm một con đường chắc chắn để thoát khỏi vòng luân hồi. Nương nguyện lực Phật A Di Đà, mình có thể vãng sanh dù chưa đoạn sạch nghiệp. Nhưng sau khi vãng sanh, mình vẫn tiếp tục tu hành cho đến khi thành tựu.
Bốn Lúa tui xin mượn câu “Có công mài sắt, có ngày nên kim” mà nói thêm: Có niệm Phật, có sửa mình, có giữ nhân quả, có lòng tin và phát nguyện chân thật thì con đường tu mới đi tới nơi. Chớ đừng hiểu “đới nghiệp” thành “để nghiệp”. Hai chữ chỉ khác nhau một chút mà ý nghĩa khác nhau dữ lắm. Đới nghiệp là mang nghiệp mà vãng sanh; còn “để nghiệp” là mặc kệ nghiệp, cái đó thì Bốn Lúa tui xin phép… đứng xa xa cho an toàn.
Rốt cuộc, anh Bảo cứ nhớ câu này là được: “Vãng sanh không phải quỵt nợ nhân quả; vãng sanh là thoát khỏi vòng luân hồi để có môi trường tu hành thù thắng. Nghiệp chưa sạch nên gọi là đới nghiệp; nghiệp được giải quyết rốt ráo là chuyện của con đường tu tiếp theo.”
Nói tới đây Bốn Lúa tui xin chốt một câu thiệt quê mà thiệt dễ nhớ: Có vay thì có trả, có gieo thì có gặt; niệm Phật cầu vãng sanh không phải để quỵt nợ, mà để tìm đường thoát khỏi cái cảnh trả hoài không hết rồi lại vay thêm. Qua Cực Lạc không phải chủ nợ biến mất, mà là mình đã tìm được con đường tu cho tới ngày hết nợ.
Còn nếu anh Bảo vẫn còn thắc mắc: “Ủa, vậy rốt cuộc nghiệp ở Cực Lạc có trổ quả hay không, và tại sao nói sanh về đó không còn chịu khổ báo?” thì cái này Bốn Lúa tui xin để dành một nồi cháo nữa. Chuyện đó mới là chỗ dễ lộn xộn nhất, vì phải phân biệt giữa “nghiệp còn” với “nghiệp có cơ hội hiện hành”, chứ không khéo mình lại tưởng Cực Lạc là cái ngân hàng chuyên… khoanh nợ nghiệp cho bà con.
Qua sự giải đáp tận tình của anh Bốn thì tôi hiểu được thế này. Khi người đã tạo nghiệp ở thế gian Ta Bà này được vãng sanh sang Cực Lạc, nghiệp đã tạo từ trước do không có duyên ở môi trường Cực Lạc nên vẫn còn nằm nguyên trong… ba lô. Vì vậy nghiệp không thể trổ quả ra được ở bên ấy. Tôi thắc mắc tiếp rằng vậy sau này khi tu hành bên Cực Lạc thành tựu, người ấy trở lại thế gian Ta Bà để độ sinh, lúc ấy nghiệp cũ sẽ trở lại đòi cho đủ không thiếu một xu. Tôi hiểu vậy có trật đường rầy không anh Bốn?
Anh Bảo hiểu tới khúc này là khá sát rồi đó, nhưng còn một cái “ổ gà” nhỏ xíu mà nếu cán qua thì chiếc xe giáo lý có thể… văng luôn cái bánh. Cái chỗ cần chỉnh lại là: “Sau này tu hành thành tựu ở Cực Lạc, trở lại Ta Bà độ sinh thì nghiệp cũ sẽ quay lại đòi cho đủ, không thiếu một xu.” Cái này thì Bốn Lúa tui xin thưa thiệt tình: Không phải vậy đâu anh!
Nếu quả thiệt thành Phật, thành Bồ Tát rồi mà nghiệp cũ còn xách sổ đỏ, cầm giấy nợ chạy theo đòi từng đồng từng cắc thì chắc chư Phật Bồ Tát đi đâu cũng có một đám chủ nợ chạy theo phía sau. Ngài vừa bước ra cứu độ chúng sanh, phía sau đã có người la lớn: “Khoan đã! Ngài còn thiếu tui một cái nghiệp hồi đời trước!” Nghe vậy chắc Bồ Tát cũng phải quay lại hỏi: “Ủa, tui thành tựu rồi mà ông còn tính sổ kiểu gì nữa?” Thành ra hiểu vậy thì hơi… căng cho mấy vị Bồ Tát quá!
Anh Bảo cần phân biệt hai chuyện: một là “bị nghiệp dẫn đi tái sanh”, hai là “do nguyện lực mà trở lại Ta Bà độ sinh”. Hai cái nhìn bên ngoài có vẻ giống nhau, đều là “đến một thế giới nào đó”, nhưng bên trong khác nhau một trời một vực.
Người phàm mình chưa giải thoát, chết rồi theo nghiệp mà thọ sanh. Nghiệp nào mạnh, duyên nào đủ, thì nó kéo mình đi. Nói bình dân là mình chưa làm chủ được tay lái, xe nghiệp chạy tới đâu thì mình ngồi trên xe tới đó. Có khi xe chạy vô đường tốt, có khi chạy vô đường ổ gà, có khi chạy luôn xuống… mương. Bởi vậy mới gọi là luân hồi, cứ quay tới quay lui, muốn nghỉ mà chưa nghỉ được.
Còn người đã vãng sanh Cực Lạc, tu hành thành tựu, chứng được địa vị Bồ Tát, rồi phát nguyện trở lại Ta Bà độ chúng sanh thì chuyện đó không còn giống một chúng sanh phàm phu bị nghiệp lôi đi nữa. Người ấy trở lại vì nguyện lực, vì lòng đại bi, vì muốn cứu độ chúng sanh. Nói theo kiểu miệt vườn là hồi trước mình đi đâu vì… người ta kéo mình đi; còn bây giờ mình đi đâu là do chính mình muốn đi.
Cũng giống như chiếc ghe vậy đó anh Bảo. Hồi còn nhỏ, nước lớn nước ròng cuốn chiếc ghe trôi tới đâu thì nó trôi tới đó. Nhưng sau này người chủ đã biết chèo, biết lái, biết nhìn con nước rồi thì chiếc ghe vẫn ở trên sông, nhưng không còn bị dòng nước muốn đẩy đâu thì đẩy. Nó đi hướng nào là do người chèo quyết định. Nghiệp lực đối với phàm phu giống như dòng nước mạnh; còn đối với bậc đã giải thoát, đã tự tại thì nguyện lực và trí tuệ mới là điều chủ động.
Cho nên câu “trở lại Ta Bà” cũng phải hiểu cho kỹ. Không phải là người ấy bị nghiệp cũ túm cổ kéo ngược trở lại. Nếu bị nghiệp kéo trở lại thì còn gì gọi là giải thoát nữa! Mình mới vừa mừng: “Hoan hỷ quá, đã thoát luân hồi rồi”, quay qua cái nghiệp cũ nói: “Đi, theo tui về Ta Bà làm lại từ đầu.” Vậy thì khác gì mình vừa ra khỏi nhà tù, đi được vài bước rồi cai ngục chạy theo nói: “Ê, quay vô đây, còn thiếu một án nữa!” Nghe mà hết muốn vãng sanh!
Bởi vậy, chữ “trở lại” trong trường hợp Bồ Tát trở lại Ta Bà phải đặt trong tinh thần của đại nguyện độ sinh, chớ không nên hiểu giống như phàm phu chết rồi tái sanh do nghiệp lực.
Anh Bảo lại hỏi: “Nhưng nghiệp cũ vẫn còn trong ba lô mà, vậy nó đi đâu?” Đây mới là chỗ phải nói cho ngay ngắn. Trong cách diễn đạt ví dụ của mình trước đó, tui nói “nghiệp nằm trong ba lô” để giúp dễ hình dung rằng người vãng sanh chưa phải vì đoạn sạch tất cả nghiệp mà mới được sanh về Cực Lạc. Nhưng mình không nên hiểu cái “ba lô nghiệp” đó như một món nợ ngân hàng được niêm phong, chờ tới ngày trở lại Ta Bà thì mở ra tính sổ từng khoản.
Phật pháp không phải cái kế toán kiểu: “Đời trước anh làm chuyện A, bây giờ trả món A; làm chuyện B, lát nữa trả món B; thiếu một xu cũng không được.” Nhân quả rất sâu xa, phức tạp và tùy thuộc rất nhiều điều kiện. Một nghiệp có thể có nhân nhưng chưa chắc có đủ duyên để hiện hành theo cách mình tưởng. Hơn nữa, người đã chuyển hóa tâm thức, đã đạt thành tựu giải thoát, thì không thể lấy mô hình nghiệp báo của một phàm phu chưa giải thoát để áp y nguyên lên vị ấy.
Nói nôm na cho dễ hiểu: hạt giống có thể còn đó, nhưng người trồng đã thay đổi cả khu vườn rồi. Mình đừng tưởng cứ có hạt giống là nhất định phải mọc thành đúng cái cây cũ, đúng ngày cũ, đúng trái cũ. Muốn hạt nảy mầm còn phải có đất, nước, ánh sáng, thời tiết và vô số điều kiện khác. Nhân quả không phải cái máy bán nước ngọt bỏ đồng xu vô là lập tức rớt ra đúng chai mình chọn.
Đặc biệt, khi nói đến các bậc Bồ Tát trở lại Ta Bà, mình còn phải hiểu đây là sự thị hiện để độ sinh. Các Ngài có thể xuất hiện giữa cuộc đời, sống giữa chúng sanh, chịu những hoàn cảnh mà chúng sanh thấy giống như khổ nạn, nhưng không nên vội kết luận đó là “nghiệp cũ quay lại đòi nợ”.
Có khi một vị Bồ Tát thị hiện bệnh tật để chúng sanh hiểu vô thường. Có khi thị hiện nghèo khó để giáo hóa người đời. Có khi thị hiện gặp nghịch cảnh để làm gương cho chúng sanh. Có khi phải chịu một hoàn cảnh mà người đời nhìn vô tưởng là “quả báo”, nhưng bên trong lại là phương tiện độ sinh. Nếu cứ thấy người tu gặp khổ liền phán: “À, nghiệp cũ nó tới đòi đó!” thì nhiều khi mình phán oan cho người ta mà còn tưởng mình hiểu nhân quả. Ông bà mình có câu “thấy vậy mà không phải vậy”. Câu này đem vô chuyện tu hành cũng xài được dữ lắm. Hơn nữa, anh Bảo nhớ cho một chuyện rất quan trọng: người sanh Cực Lạc không phải đi tới đó để hưởng phước như người đi nghỉ dưỡng. Nếu chỉ hiểu Cực Lạc là chỗ “không có khổ, ăn ngon, cảnh đẹp, rồi nằm đó hưởng phước” thì mình mới hiểu có một nửa. Mục đích sâu xa của vãng sanh là thoát khỏi vòng luân hồi, được gần Phật, nghe pháp, tu hành, chứng ngộ và cuối cùng có khả năng trở lại các cõi để độ chúng sanh.
Cho nên con đường này không phải: “Tôi mang nghiệp qua Cực Lạc, cất vô kho, tu thành Phật, rồi đem cái kho đó về Ta Bà trả nợ.” Không phải vậy.
Mà nên hiểu là: “Tôi chưa đoạn hết nghiệp nhưng nhờ nguyện lực Phật A Di Đà mà được vãng sanh. Ở Cực Lạc tôi tiếp tục tu hành, không bị hoàn cảnh ác duyên của Ta Bà kéo lôi như trước. Khi đã có trí tuệ và năng lực độ sinh, tôi trở lại các cõi theo đại nguyện, chớ không còn bị nghiệp lực vô minh cưỡng bách.”
Nói tới đây Bốn Lúa tui lại nhớ câu: “Đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam.” Nhưng trường hợp này phải sửa lại thành: “Đi đâu Bồ Tát nguyện đi,
Chúng sanh khổ mấy, sá gì gian nguy.” Chớ Bồ Tát trở lại Ta Bà không phải vì bị nghiệp bắt về, mà vì thương chúng sanh còn đang lặn hụp trong biển khổ.
Nếu nói cho thiệt bình dân thì hồi còn phàm phu, mình giống người đang bị nước lũ cuốn. Nước muốn đẩy đâu thì mình bị đẩy đó. Đến khi đã tu thành tựu, mình giống người đã đứng vững trên bờ, biết bơi, biết chèo ghe. Lúc ấy mình quay xuống dòng nước không phải vì nước kéo mình xuống, mà vì thấy bà con còn đang chìm nên mình chủ động xuống cứu. Hai chuyện đó khác nhau dữ lắm.
Vậy câu “nghiệp cũ sẽ trở lại đòi cho đủ không thiếu một xu” thì Bốn Lúa tui xin phép sửa lại cho anh Bảo một chút: Không nên nói như vậy. Đúng hơn là, nghiệp của chúng sanh phàm phu có sức mạnh chi phối sự thọ sanh và quả báo trong luân hồi; còn người đã thành tựu giải thoát, khi trở lại độ sinh thì sự trở lại ấy không phải là một lần tái sinh bị nghiệp cũ cưỡng bách kéo đi, mà là sự hiện thân theo nguyện lực và trí tuệ.
Chớ nếu cứ hiểu “có nghiệp thì nhất định phải trả từng món cho sạch rồi mới được tự tại”, vậy thì cái chữ “giải thoát” nghe nó… hơi khó xử. Thành Phật rồi mà vẫn phải ngồi kiểm tra sổ nghiệp: “Ủa hồi năm đó tui lỡ nói một câu nặng với ông kia, giờ tính lãi chưa?” Rồi Ngài mở sổ: “Khoan, để tui coi… cái này đã trả chưa?” Thôi, Bốn Lúa tui nghe tới đó là muốn đi tu… thiệt!
Nhưng anh Bảo cũng đừng vì vậy mà hiểu ngược lại rằng “thành tựu rồi thì nhân quả vô hiệu”. Không phải. Nhân quả không bị phá bỏ. Cái thay đổi là người ấy đã vượt khỏi tình trạng bị vô minh và nghiệp lực chi phối như một phàm phu. Cũng như người biết luật giao thông không phải là người phá luật giao thông; họ chỉ không còn chạy xe theo kiểu nhắm mắt phóng đại nữa.
Cho nên câu hỏi của anh rất hay, vì nó đụng đúng cái chỗ mà người học Tịnh Độ rất dễ lẫn lộn: “còn nghiệp” không đồng nghĩa với “còn bị nghiệp chi phối như phàm phu”; “trở lại Ta Bà” không đồng nghĩa với “bị nghiệp kéo trở lại”; và “độ sinh trong Ta Bà” không đồng nghĩa với “quay về để trả nợ nghiệp cũ”.
Bốn Lúa tui xin chốt lại bằng mấy câu cho anh Bảo dễ nhớ:
Phàm phu theo nghiệp mà đi,
Bồ Tát theo nguyện cứu người khổ đau.
Một bên nghiệp lực dẫn đầu,
Một bên nguyện lực chèo mau giữa dòng.
Cho nên anh Bảo hiểu tới đây thì chỉ cần chỉnh một chút thôi: Người vãng sanh không phải mang một “cuốn sổ nợ” qua Cực Lạc rồi đợi ngày thành tựu quay về trả từng khoản. Vãng sanh là ra khỏi vòng luân hồi bị nghiệp lực dẫn dắt; tu hành thành tựu rồi nếu trở lại Ta Bà thì là vì đại nguyện độ sinh. Nói gọn một câu thiệt quê mà thiệt trúng: Ngày xưa nghiệp dẫn dắt mình đi; ngày sau mình phát nguyện dắt chúng sanh về.
Còn chuyện nghiệp cũ rốt cuộc có bị tiêu mất hay không, và một người đã vãng sanh rồi thì những nghiệp đời trước được giải quyết rốt ráo bằng cách nào? Cái này chắc phải nấu nồi cháo kế tiếp. Mà nồi này Bốn Lúa tui phải nấu cho kỹ, chớ nấu sơ sơ rồi anh Bảo ăn vô nghẹn… ngay chữ “nhân quả” thì tội nghiệp cái bụng lắm!
Vậy chắc là phải làm phiền anh Bốn nấu thêm nồi cháo nữa về cái vụ nghiệp cũ rốt cuộc có bị tiêu mất hay không? Một người đã vãng sanh rồi thì những nghiệp đời trước được giải quyết rốt ráo bằng cách nào? Cám ơn anh Bốn nhiều.
Anh chị, quý đồng tu cho em hỏi một thắc mắc. Trước đây có một cư sĩ minh đạo trả lời trên này có nói về nên tu cả tiểu thừa và đại thừa, và hay dùng Tiểu Thừa để giải thích một số cái trong Đại Thừa. Như vậy cư sĩ này có bị tạp tu không ạ.
Hôm nay em đọc về Hòa thượng Hải Hiền, ngài cả đời đến khi viên tịch chỉ chân thật trì niệm sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật và làm ruộng, vãng sanh tự tại.
Thì mình nên theo như nào ạ. Mong anh chị đồng tu giải đáp giúp em về cái này ạ.
Nam Mô A Di Đà Phật
Chị Linh thân mến ơi:
Cô Ba thấy câu hỏi của chị rất dễ thương, vì rõ ràng chị đang muốn tìm một con đường tu cho thật chắc, sợ mình học nhiều quá rồi cuối cùng tâm lại bị phân tán. Mà chuyện này trong pháp môn Tịnh Độ, mình chỉ cần nắm một chữ “chuyên” là tự nhiên nhẹ lòng hà chị.
Theo Cô Ba, một người tu Tịnh Độ có thể học giáo lý Tiểu Thừa, Đại Thừa, có thể đọc kinh luận nhiều tông phái để hiểu Phật pháp sâu hơn. Chuyện đó tự nó chưa gọi là tạp tu. Tạp tu hay không, quan trọng là ở chỗ mình có đem nhiều pháp môn ra tu xen kẽ, khiến tín nguyện không chuyên nhất hay không. Ví dụ mình niệm Phật cầu sanh Tây Phương làm chính, nhưng đọc giáo lý Thiền, Giáo, Luật, hay học những lời dạy của các bậc cổ đức để hiểu thêm thì đâu có gì sai. Giống như chị đi một con đường về nhà, mình có thể tìm hiểu bản đồ của cả thành phố, nhưng không có nghĩa là mình phải đi hết mọi con đường mới được về nhà nghen.
Còn nếu đã xác định lấy Tịnh Độ làm pháp môn chính, mà hôm nay niệm Phật, mai tu Thiền, mốt trì chú, ngày kia lại đổi sang một pháp khác, mỗi pháp đều muốn tu một chút, rồi tâm cứ phân vân không biết cuối cùng mình nương vào đâu để vãng sanh, thì lúc đó mới đáng lo. Không phải vì Tiểu Thừa hay Đại Thừa mà thành tạp, mà vì tâm mình không có chỗ quy hướng rõ ràng đó chị.
Cô Ba rất thích câu chuyện của Hòa thượng Hải Hiền. Ngài cả đời chân thật niệm một câu “Nam mô A Di Đà Phật”, làm ruộng, sống giản dị, âm thầm tu hành. Nhưng mình cũng đừng hiểu lầm rằng tất cả mọi người đều phải bắt chước đúng từng chi tiết đời sống của Ngài mới gọi là tu đúng. Cái đáng học nhất nơi Ngài chính là lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, hành trì bền bỉ, một câu Phật hiệu không rời tâm. Ngài không cần làm cho con đường của mình trở nên phức tạp.
Còn nếu chị hỏi Cô Ba: “Vậy mình nên theo như thế nào?” thì Cô Ba xin thưa nhỏ nhỏ thôi nè: Nếu chị đã chọn Tịnh Độ, thì cứ lấy “Tín – Nguyện – Niệm Phật” làm căn bản. Học kinh luận vừa đủ để củng cố chánh kiến, hiểu rõ vì sao mình niệm Phật, vì sao phát nguyện vãng sanh, vì sao tin vào đại nguyện của Đức A Di Đà. Học xong thì quay về niệm Phật, chứ đừng học càng nhiều rồi càng sinh thêm một bụng nghi ngờ. Học mà tâm càng thanh tịnh, tín nguyện càng kiên cố, câu Phật hiệu càng tha thiết thì đó là học có lợi cho việc tu.
Cô Ba xin mượn chút thơ ca cho nó có hương vị Sài Gòn mình một chút nha chị:
Đường xa muôn nẻo quanh co
Một câu Phật hiệu đưa đò sang sông
Tin sâu, nguyện thiết một lòng
Niệm Nam mô Phật, thong dong đường về. 🌸
Cho nên chị Linh đừng quá bận tâm chuyện cư sĩ Minh Đạo dùng giáo lý Tiểu Thừa để giải thích một số vấn đề Đại Thừa rồi vội kết luận người ấy có tạp tu hay không. Mình không biết đầy đủ hành trì của vị ấy thì không nên phán đoán. Còn phần mình, cứ nhìn vào con đường mình đang đi. Nếu đã phát nguyện sanh Tây Phương, thì cứ vững vàng mà niệm Phật. Những giáo lý khác, nếu gặp thì học để hiểu, để bổ trợ chánh kiến; nhưng đừng để chúng làm mình mất phương hướng.
Nói thiệt nghen chị, người tu Tịnh Độ đôi khi không phải thiếu pháp để tu, mà là có quá nhiều thứ để lựa chọn nên cái tâm cứ “đứng núi này trông núi nọ”. Cô Ba thấy vậy mới mệt á! Mình cứ thành thật niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, giữ lòng tin, giữ nguyện vãng sanh, sống tử tế, làm lành, sửa lỗi, rồi ngày ngày đem câu Phật hiệu mà tưới tâm mình. Hoa sen đâu có cần mình kéo nó lên, mình chỉ cần chăm cái gốc cho tốt, đến thời thì hoa tự nhiên nở thôi chị.
Nam mô A Di Đà Phật. 🌷
Gửi anh Trần Bảo: Ối trời ơi, anh Bảo nói một tiếng “nấu thêm nồi cháo” mà Bốn Lúa tui nghe xong phải lật đật đi kiếm cái nồi bự hơn nồi trước. Nồi này mà nấu sơ sài là dễ bị khét chữ “nghiệp”, còn nêm không khéo là người ăn lại nghẹn ngay chữ “đới nghiệp”. Nhưng thôi, hàng xóm với nhau, anh đã hỏi thì Bốn Lúa tui ráng nhóm bếp nấu cho tới nơi tới chốn.
Trước hết, Bốn Lúa tui xin đính chính một chút cái hình ảnh “ba lô nghiệp” ở trên. Cái ba lô đó chỉ là ví dụ cho dễ hình dung rằng người vãng sanh chưa phải đã đoạn sạch tất cả nghiệp chướng như một vị Phật. Chớ mình đừng ôm luôn cái ba lô đó mà tưởng tượng rằng nghiệp nào cũng còn nguyên xi, nằm trong đó chờ ngày mình thành Phật rồi đem ra trả từng món. Nếu hiểu vậy thì hơi… thiệt thà quá mức!
Anh Bảo hỏi: “Vậy nghiệp cũ rốt cuộc có bị tiêu mất hay không?” Bốn Lúa tui xin nói vầy: Không nên hiểu nghiệp theo kiểu một món nợ vật chất, đã ghi sổ rồi thì nhất định phải trả đúng từng đồng, từng cắc, từng món, bất kể người tạo nghiệp sau đó tu hành tới đâu. Phật pháp nói nghiệp là nhân duyên dẫn đến quả báo, mà nhân muốn trổ quả còn phải có duyên. Duyên thay đổi thì quả báo cũng có thể thay đổi theo. Bởi vậy mới có chuyện tu hành, sám hối, chuyển nghiệp, cải ác hướng thiện.
Chớ nếu nghiệp đã gieo rồi thì nhất định phải chịu y chang, không cách nào chuyển được, vậy tu hành để làm chi nữa anh Bảo? Sám hối để làm chi? Niệm Phật để làm chi? Ăn chay, giữ giới, làm lành, phóng sanh, bố thí, giúp người để làm chi? Gieo một hạt giống rồi bắt buộc nó phải mọc đúng cây, đúng trái, đúng ngày, không cách nào thay đổi thì coi như người tu mình chỉ còn nước ngồi chống cằm chờ nghiệp tới.
Ông bà mình nói “người trồng cây đức, người ăn quả lành”. Nhưng cái cây muốn lớn còn phải coi đất, nước, nắng, gió. Cũng một hạt giống mà đem bỏ vô đất tốt thì khác với quăng xuống cục đá. Cùng một nhân nghiệp nhưng những duyên chung quanh đã thay đổi thì cách nó hiện hành cũng có thể thay đổi. Thành ra nhân quả không phải cái máy bán hàng tự động: bỏ một đồng xu vô là đúng ba giây sau nó rớt ra một lon “quả báo”!
Pháp môn Tịnh Độ đặc biệt chính là ở chỗ đó. Người tu chưa đoạn tận nghiệp hoặc chưa chứng đắc giải thoát rốt ráo vẫn có thể nương nguyện lực của Phật A Di Đà mà vãng sanh. Nhưng sau khi vãng sanh, người ấy không còn ở trong cái hoàn cảnh dễ bị nghiệp lực và các duyên ác lôi kéo như ở Ta Bà nữa. Được gần Phật, gần Bồ Tát, gần thiện tri thức, thường xuyên nghe pháp, tu hành liên tục; những duyên khiến mình tạo thêm nghiệp ác cũng không còn giống như trước.
Nói thiệt kiểu Bốn Lúa tui là: Ở Ta Bà, cái nghiệp cũ chưa kịp tới đòi thì mình đã tranh thủ… làm thêm mấy món mới. Sáng nóng giận một lần, trưa nói người ta một câu, chiều tham thêm chút lợi, tối nằm suy nghĩ rồi nổi sân tiếp. Thành ra cái sổ nghiệp chưa kịp đóng, mình đã ngồi hí hoáy viết thêm. Còn sanh về Cực Lạc thì cái môi trường tu hành không thuận cho mình gây nghiệp mới. Mình có thời giờ, có hoàn cảnh, có thiện duyên để chuyển hóa tận gốc cái tâm tạo nghiệp.
Bởi vậy, điều đáng nói không phải là “nghiệp bị xóa sạch hay còn nguyên trong kho”, mà là cái gốc tạo nghiệp — tức vô minh, tham, sân, si và những tâm niệm mê lầm — được chuyển hóa ngày càng sâu. Khi tâm đã chuyển thì nghiệp cũng không còn hoạt động theo cách cũ nữa.
Anh Bảo thử nghĩ đơn giản vầy: Một người trước kia nóng tính, ai đụng tới là nổi sân, hễ nổi sân là nói lời độc, rồi từ lời độc tạo thêm oán kết. Sau một thời gian tu hành, người đó hết sân, tâm đã khác, cách sống đã khác, không còn tạo những nhân mới như trước. Vậy mình có thể nói người ấy vẫn còn nguyên “con người cũ” chỉ vì những chuyện quá khứ từng xảy ra hay không? Không. Con người đã chuyển rồi.
Cho nên tu hành không phải chỉ là “trả nợ”. Tu hành sâu xa hơn là làm cho cái tâm vốn chuyên đi vay nợ trở thành cái tâm không còn muốn vay nữa!
Cái này mới là chỗ Bốn Lúa tui thấy Tịnh Độ hay dữ thần. Nếu chỉ lo trả từng món nghiệp mà không chuyển cái tâm, thì trả xong món này mình lại gây món khác. Giống ông kia sáng ra trả tiền cho tiệm gạo, trưa chạy qua tiệm thịt ghi sổ, chiều ghé quán cà phê thiếu thêm, tối về mượn hàng xóm năm chục. Hỏi: “Ông trả nợ chưa?” Ổng nói: “Trả rồi!” Hỏi tiếp: “Hết nợ chưa?” Ổng nói: “Chưa, tại tui vừa vay thêm!” Trời đất ơi, cái này gọi là trả nợ có… chiến lược!
Cho nên mục tiêu của người tu không phải là cứ ngồi đếm coi mình còn bao nhiêu nghiệp. Mà phải lo niệm Phật, phát nguyện vãng sanh, sửa đổi thân khẩu ý, sám hối lỗi lầm, làm lành lánh dữ và nhất tâm hướng về Phật. Khi tâm ngày càng thanh tịnh, trí tuệ ngày càng sáng, thì những nghiệp duyên từng trói buộc mình cũng dần mất sức chi phối.
Anh Bảo hỏi thêm: “Nhưng nếu một người đã vãng sanh rồi, sau đó tu hành thành tựu, thì những nghiệp đời trước được giải quyết rốt ráo bằng cách nào?”
Bốn Lúa tui xin nói một câu rất quan trọng: Không phải đợi đến lúc trở lại Ta Bà rồi mới giải quyết nghiệp cũ.
Người ấy tu hành ngay tại Cực Lạc. Tu cho đến khi trí tuệ giác ngộ viên mãn, đoạn trừ vô minh, chứng thành Phật quả. Khi đã thành Phật thì còn đâu cái tình trạng một phàm phu bị nghiệp lực vô minh lôi kéo nữa? Bởi vậy không thể nói: “Thành Phật xong rồi quay về Ta Bà để trả nghiệp.” Nói vậy là mình đem cái cơ chế của phàm phu áp lên cảnh giới giải thoát.
Cái nghiệp đối với một người còn mê khác với nghiệp đối với một người đã giác ngộ. Cũng giống như sợi dây trói một người đang ngủ mê thì khác với sợi dây trước mặt một người đã tỉnh và biết cách tháo. Người đang mê có thể bị trói mà không biết mình bị trói. Người đã tỉnh thì thấy rõ sợi dây, biết cách tháo, không còn bị nó làm chủ.
Cho nên Bồ Tát trở lại Ta Bà không phải để trả “hóa đơn nghiệp cũ”. Ngài trở lại vì đại nguyện độ sinh. Nếu gặp cảnh khổ, Ngài có thể thị hiện chịu khổ để giáo hóa chúng sanh, nhưng không nên thấy cảnh ấy rồi phán ngay: “À, nghiệp đời trước tới đòi!” Cái đó mình chưa đủ trí tuệ để kết luận đâu anh Bảo.
Có khi người ta thấy một vị Bồ Tát thị hiện bệnh mà tưởng là bệnh nghiệp; thấy Ngài gặp nghịch cảnh mà tưởng là nghiệp báo; thấy Ngài chịu khổ mà tưởng là bị nghiệp kéo. Nhưng có khi đó chính là phương tiện giáo hóa. Người phàm mình nhìn cái bóng rồi đoán cái người, nhiều khi đoán trật đường rầy còn tưởng mình là trưởng ga!
Bốn Lúa tui xin lấy một chuyện đời thường cho dễ hiểu. Một ông thầy thuốc giỏi đi vô khu bệnh nhân đang bị dịch. Ổng mặc áo bảo hộ, mang thuốc vào chữa bệnh cho người ta. Nếu thấy ổng ở trong phòng bệnh mà mình nói: “Ông này chắc cũng mắc bệnh giống bệnh nhân nên mới vô đây”, thì chưa chắc đúng. Ổng vô đó vì cứu người.
Bồ Tát trở lại Ta Bà cũng có phần tương tự như vậy. Các Ngài vào chỗ khổ không phải vì bị cái khổ bắt buộc phải vào, mà vì thương chúng sanh đang ở trong đó.
Còn chuyện “nghiệp có tiêu hay không” thì Bốn Lúa tui xin dùng chữ cho cẩn thận: Đừng hiểu “tiêu nghiệp” là một cục tẩy thần kỳ xóa sạch lịch sử, biến chuyện đã làm thành chuyện chưa từng làm. Đã tạo nhân thì nhân quả vẫn là đạo lý không thể coi thường. Nhưng người tu có thể nhờ tu hành, sám hối, công đức, trí tuệ, nguyện lực và các duyên thiện mà chuyển hóa nghiệp, khiến nghiệp không còn đủ điều kiện để chi phối theo cách cũ. Đến khi đạt quả vị giải thoát rốt ráo thì cái gốc vô minh tạo nghiệp đã được đoạn tận. Nói cách khác, cái đáng sợ nhất không phải là “mình từng có nghiệp”, mà là “mình vẫn còn cái tâm tiếp tục tạo nghiệp”.
Một người từng nóng giận nhưng nay biết nhẫn nhịn, từng tham lam nhưng nay biết bố thí, từng làm tổn thương người khác nhưng nay biết sám hối và sửa mình, đó là người đang chuyển nghiệp. Chớ nếu miệng niệm Phật mà trong bụng vẫn tính chuyện hại người, thì cái miệng có niệm bao nhiêu câu cũng chưa chắc cái tâm chịu nghe.
Bởi vậy Bốn Lúa tui rất thích hai chữ “chuyển hóa”. Tu Tịnh Độ không phải là xin Phật cho mình một cái giấy miễn nợ nhân quả. Mà là nương đại nguyện của Phật để thoát khỏi vòng luân hồi, đồng thời nhờ niệm Phật mà chuyển tâm, chuyển nghiệp, chuyển hướng cuộc đời. Từ chỗ tâm tán loạn thành tâm chuyên nhất; từ chỗ tham sân si thành tâm từ bi; từ chỗ tạo nghiệp thành tu thiện; từ chỗ mê lầm thành giác ngộ.
Anh Bảo hỏi vậy là hỏi tới tận gốc rồi đó. Nếu gom hết ba nồi cháo lại, Bốn Lúa tui xin nói gọn thế này:
Đới nghiệp vãng sanh không có nghĩa là đem nguyên một kho nghiệp qua Cực Lạc rồi cất vô kho lạnh. Cũng không có nghĩa là niệm Phật một câu thì mọi việc ác đã làm trong quá khứ coi như chưa từng xảy ra. Người vãng sanh là người chưa đoạn sạch nghiệp mà được nương nguyện lực Phật A Di Đà sanh về Cực Lạc. Tại đó tiếp tục tu hành trong môi trường thù thắng, chuyển hóa phiền não, tăng trưởng trí tuệ, cho đến khi thành tựu giải thoát.
Khi đã thành tựu, nếu trở lại Ta Bà thì không phải vì nghiệp cũ kéo cổ lôi về để trả nợ, mà vì nguyện lực và lòng đại bi muốn độ chúng sanh. Cho nên anh Bảo đừng lo chuyện “mai mốt thành Phật rồi chủ nợ nghiệp chạy theo đòi”. Nếu còn bị nghiệp kéo đi thì chưa gọi là giải thoát; còn đã giác ngộ viên mãn thì không thể lấy cái tâm trạng của phàm phu mà đo cảnh giới của Phật.
Mà Bốn Lúa tui nghĩ cái chuyện đáng lo nhất đối với tụi mình hiện giờ không phải là “nghiệp cũ sau này có đòi đủ hay không”, mà là: Cái nghiệp cũ chưa biết khi nào tới, còn nghiệp mới thì ngày nào mình cũng siêng năng… sản xuất!
Cho nên thay vì ngồi canh cửa chờ nghiệp tới đòi, mình lo niệm Phật. Thay vì hỏi “bao giờ tôi hết nghiệp?”, mình hỏi “hôm nay tôi bớt tham chưa, bớt sân chưa, bớt làm người khác đau chưa?” Thay vì lo mình có đủ công đức để được Phật rước hay không, mình lo cho cái tâm mình có thật lòng tin Phật, thật lòng nguyện sanh Cực Lạc và thật lòng muốn sửa mình hay chưa.
Ông bà mình có câu “quay đầu là bờ”. Bốn Lúa tui xin thêm một câu cho hợp pháp môn Tịnh Độ: “Quay đầu niệm Phật, một đời về Tây.”
Bốn Lúa tui với anh Bảo nói chuyện đạo lý tới lui, rốt cuộc cũng chỉ mong giữ được một điều rất giản dị: mình cùng nhau nhắc nhau niệm Phật, nhắc nhau làm lành, nhắc nhau sống tử tế; để đến một ngày tóc bạc, lưng còng, nhìn lại quãng đường đã đi, mình có thể mỉm cười mà nói: “Ừ, đời này mình tuy còn nhiều thiếu sót, nhưng cũng ráng sống cho đàng hoàng, ráng giữ một câu Phật hiệu trong lòng.”
Rồi mai này, nếu có ngày nào anh Bảo nghe tiếng ai đó gọi ngoài hàng rào: “Anh Bảo ơi, ra đây Bốn Lúa tui nói chuyện chút coi!”, thì biết đâu lúc đó Bốn Lúa tui chẳng còn đứng ngoài hàng rào nữa… mà đang ngồi đâu đó bên một bờ sen, chờ anh qua, hai anh em mình lại tiếp tục câu chuyện niệm Phật còn dang dở.
Thôi, hôm nay tới đây là Bốn Lúa tui xin phép khép lại. Chuyện đời còn dài, đường tu còn xa, nhưng chỉ cần trong lòng còn có Phật, dưới chân còn chịu bước, thì mình cứ thong thả mà đi tiếp nhen.
Cảm ơn anh Bốn rất nhiều đã cặm cụi nhúm lửa nấu cháo thật nhừ những ngày qua. Nhờ 3 nồi cháo bự của anh Bốn đã giải tỏa hết mấy cái lấn cấn trong tâm tôi. Mà tôi nghĩ có thể tôi không phải là người duy nhất, nên biết đâu mấy nồi cháo của anh có thể giúp được ai đó trên đường học đạo sau này. Kính chúc anh Bốn nhiều sức khỏe và hẹn gặp lại anh nơi chốn Liên thành. A Di Đà Phật.
Kính chị Linh Đỗ,
Em nghĩ như ri chị ạ. Thực ra, người mới tập niệm Phật thì tín tâm chưa được vững, nên thời gian đầu cần phải học hỏi, đọc nhiều để hiểu cho rõ về Phật pháp và pháp môn mình tu.
Nhưng một khi mình đã hiểu rõ, đã xác định và có tín tâm vững vàng về pháp môn của mình rồi, thì nên chuyên tâm niệm Phật, không cần đọc quá nhiều thứ nữa. Đọc nhiều quá đôi khi lại làm cho tâm mình phân tán, cái ni muốn theo, cái tê cũng muốn học, rốt cuộc thành ra tu pháp nào cũng biết chút chút mà cái chính thì chưa sâu.
Nói gọn lại, sau khi tín tâm đã vững rồi thì mình nên chuyên đọc, chuyên hành theo pháp môn Tịnh Độ mà thôi.
Cũng giống như hồi còn học phổ thông, học sinh tụi mình phải học đủ thứ môn: Văn, Toán, Lý, Hóa… Môn mô cũng phải biết một ít. Nhưng khi lên đại học, rồi học cao hơn nữa, thì mình bắt đầu đi vào chuyên ngành của mình, chứ không còn học dàn trải như trước nữa.
Tu hành cũng rứa. Lúc mới học thì cần mở rộng để hiểu cho đúng. Đến khi đã xác định được con đường rồi thì nên thu nhiếp lại, một lòng một hướng mà đi. Như rứa tâm mới dễ định, công phu mới dễ sâu và việc niệm Phật mới có thể đi đến chỗ chuyên nhất.
Người Chân Thật Niệm Phật Là Người Không Tò Mò Tìm Hiểu Nhiều Thứ
https://www.duongvecoitinh.com/2016/08/nguoi-chan-that-niem-phat-la-nguoi-khong-to-mo-tim-hieu-nhieu-thu/