Chuyện niệm Phật, ước về mặt được lợi ích ngay trong đời này thì cần phải chí thành khẩn thiết thường niệm. Nếu [chỉ để] gieo thiện căn, dẫu đùa bỡn niệm một câu cũng nhất định sẽ trong đời sau nhờ vào thiện căn ấy phát khởi mà tu trì. Vì thế, cổ nhân dựng nhiều tháp miếu to lớn là vì muốn cho hết thảy mọi người trông thấy đều gieo thiện căn. Một câu Phật hiệu này đã gieo vào trong tám thức điền sẽ vĩnh cửu chẳng diệt.
Lúc đức Phật tại thế, một cụ già muốn xuất gia đầu Phật, 500 vị thánh chúng quán sát, thấy từ tám vạn kiếp đến nay, ông cụ trọn chẳng có một mảy may thiện căn nào, bèn cự tuyệt chẳng thâu nhận. Ông cụ liền gào khóc ở phía ngoài Kỳ Viên, Phật cho gọi vào, thuyết pháp cho ông cụ, cụ liền chứng đạo quả. Năm trăm vị thánh chúng đều chẳng hiểu được nguyên nhân, hỏi Phật, Phật dạy: “Người này trong vô lượng kiếp trước, do bị hổ đuổi phải trèo lên cây, niệm một câu “Nam Mô Phật”, gặp ta bèn đắc đạo. Đạo nhãn của hàng Thanh Văn các ông chẳng thể thấy được!” Do vậy biết rằng: Chịu niệm Phật cố nhiên là tốt. Nếu [người ta] không chịu niệm, hãy bảo người ấy: “Chịu nghe niệm Phật hiệu cũng gieo được thiện căn, nghe lâu ngày cũng có công đức lớn lao”.

Vô tình niệm một câu “Nam mô Phật” ngàn vạn kiếp sau gặp Phật chứng quả.
Gần đây, ở Vô Tích người niệm Phật rất đông. Có một người biết nấu món chay, hễ mở Phật thất đều gọi người ấy đến nấu. Người ấy hằng ngày nghe tiếng niệm Phật.
Về sau đứa con ông ta sắp chết, liền nói: “Con sắp chết, nhưng chẳng thể đến được chỗ tốt lành. Cha hãy cho con Phật của cha, con sẽ đến được chỗ tốt lành”.
Người cha nói: “Cha chẳng niệm Phật, làm sao có Phật được?”
Đứa con nói: “Phật của cha nhiều lắm. Chỉ cần cha nói một tiếng, con sẽ chết an lành”.
Người cha nói: “Vậy thì tùy con, muốn bao nhiêu cứ lấy bấy nhiêu”.
Đứa con liền chết. Ông ta tự nhủ: “Mình chẳng hề niệm Phật, sao lại có Phật?” Người hiểu biết bảo: “Lúc ông nấu cỗ chay ở trong căn nhà gần chỗ niệm Phật, hằng ngày thường nghe mọi người niệm Phật. Cho nên cũng có công đức lớn”.

Vô tình nghe câu Phật hiệu cũng có công đức chẳng thể nghĩ bàn.
Đấy là kẻ vô tâm nghe, chứ nếu lưu tâm nghe thì công đức càng lớn hơn! Niệm kinh thì không có câu văn được lập lại, chẳng thể [nghe] từng câu rõ ràng, minh bạch được. Dẫu lưu tâm lắng nghe cũng khó thể nghe cho rõ ràng, huống là kẻ vô tâm ư? Đủ biết công đức niệm Phật thù thắng!
Trích Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên – Quyển 2 – Phần 6
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang







Trong Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục có kể về đại sư Trí Giả. Trước khi ngài vãng sanh, các đệ tử hỏi ngài đã chứng địa vị nào. Ngài đã trả lời rằng vì ngài bận rộn việc lãnh chúng, xả thân vì người nên sáu căn chưa được thanh tịnh hoàn toàn và chỉ đạt đến địa vị Ngũ Phẩm. Con đoán rằng địa vị Ngũ Phẩm tức là địa vị thứ năm trong cửu phẩm, thuộc vào Trung Phẩm Trung Sanh. Con hiểu nông cạn như vậy có đúng không thưa các quý liên hữu? A Di Đà Phật.
Anh Kẻ Dốt Học Phật thân mến,
Nghe anh hỏi mà tui khoái cái bụng dữ lắm. Người biết mình dốt mới có cơ hội thành người sáng, còn người dốt mà tưởng mình hay thì giống con vịt lội giữa sông cứ tưởng mình là tàu thủy. Cổ nhân có câu: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã”, nghĩa là biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, đó mới là cái biết chân thật.
Nhưng chỗ này anh đoán hơi bị… lạc qua ruộng hàng xóm rồi nghen. Ngũ Phẩm mà Đại sư Trí Giả nói không phải là phẩm vị trong Cửu Phẩm Vãng Sanh ở cõi Cực Lạc đâu. Hai cái này tên nghe na ná nên nhiều người mới lộn tùm lum như đem hột giống lúa đi gieo xuống ao cá vậy.
Ngũ Phẩm là Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị hay Ngũ Phẩm Quán Hạnh Vị trong giáo pháp của ngài Trí Giả, thuộc hệ thống tu chứng của Thiên Thai Tông khi còn ở cõi Ta Bà, chứ không phải Trung Phẩm Trung Sanh hay Hạ Phẩm gì của Cực Lạc. Còn Cửu Phẩm Vãng Sanh là phẩm vị của người được sanh về Tây Phương, căn cứ vào công phu, tín nguyện và công đức lúc lâm chung. Hai hệ thống khác nhau, không thể lấy phẩm thứ năm của Cửu Phẩm để đối chiếu với Ngũ Phẩm được.
Điều làm người đời sau kính phục Đại sư Trí Giả không phải chỉ vì đạo hạnh cao sâu, mà còn vì đức khiêm cung. Với chỗ chứng ngộ của một bậc Đại Tổ Sư, nếu muốn nói mình cao hơn thì ai kiểm chứng nổi? Vậy mà ngài chỉ tự nhận mình chứng Ngũ Phẩm. Chính cái tâm thành thật ấy mới là điều đáng học. Đức Phật dạy người tu phải xa lìa ngã mạn, còn Đại sư thì dùng cả cuộc đời để làm gương cho câu dạy đó.
Mà thiệt tình, mình là dân niệm Phật thì nghe chuyện này cũng đừng để cái đầu chạy đua coi ai chứng cao, ai chứng thấp. Người ta đang lo kiếm chiếc xuồng qua sông, mình ngồi cãi màu sơn của chiếc xuồng thì nước lớn cuốn trôi hồi nào không hay. Ấn Quang Đại sư suốt đời khuyên chúng ta lấy tín, nguyện, trì danh làm chánh hạnh. Chừng nào còn tha thiết cầu sanh Tây Phương, còn thật thà niệm một câu A Di Đà Phật thì con đường mình đi vẫn đúng hướng.
Tui xin mượn lời của Ấn Quang Đại sư để kết lại ý này: “Đừng học đòi làm bậc đại thông gia, chỉ nên làm ông già bà cả thật thà niệm Phật.” Người thật thà niệm Phật có khi còn về Cực Lạc trước người suốt ngày lo phân biệt danh tướng. Cho nên anh cứ tiếp tục tìm hiểu kinh luận, nhưng nếu có điều chưa rõ thì cứ hỏi như bữa nay là quý lắm. Hỏi để hiểu, hiểu để thêm lòng tin, rồi đem cái hiểu đó đổi lấy một câu “Nam Mô A Di Đà Phật” cho thiệt chí thành. Vậy là khỏi sợ lạc đường, khỏi sợ quên đường về quê Cực Lạc luôn. A Di Đà Phật.
Con có đọc các bài viết Tịnh Độ, tương truyền đại sư Thiên Thai Trí Giả chính là hoá thân Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện. Không biết có đúng không ạ?
Tong nghe câu hỏi của anh mà chỉ biết cười. Cái vụ này giống như đi chợ nổi Cái Răng nghe người ta đồn có con cá to bằng chiếc xuồng ba lá. Nghe thì khoái lỗ tai, mà muốn tin thì phải coi tận mắt, tận nguồn.
Chuyện Đại sư Thiên Thai Trí Giả là hóa thân của Phật Thích Ca Mâu Ni quả thật có lưu truyền trong Phật giáo, nhất là trong các sách ghi chép về các bậc cao tăng. Nhưng mình cũng nên hiểu cho đúng. Chữ “tương truyền” nghĩa là truyền lại, chứ không phải là lời Phật xác nhận trong kinh điển. Cho nên mình có thể kính tin, cũng có thể giữ lòng tôn trọng, nhưng đừng đem chuyện đó làm tiêu chuẩn để phán định đúng sai của Phật pháp.
Theo Tong thì điều đáng quý nhất không phải là Ngài có phải hóa thân của Phật hay không, mà là giáo pháp Ngài để lại có đưa người ta lìa khổ được hay không. Giống như trái xoài vậy, đâu cần biết ai trồng mới dám ăn, chỉ cần ăn vô thấy ngọt là biết cây tốt. Đại sư Trí Giả khai sáng Thiên Thai Tông, trước tác đồ sộ, giảng giải kinh Pháp Hoa sâu xa, ảnh hưởng cả ngàn năm, công đức đó đã đủ khiến hậu học cúi đầu kính phục rồi.
Trong pháp môn Tịnh Độ mình càng phải nhớ lời Ấn Quang Đại Sư thường dạy: đừng ham chạy theo chuyện thần kỳ, cảm ứng hay thân phận của các bậc thánh, mà hãy thật thà niệm Phật, giữ luân thường, trọn bổn phận, dứt ác làm lành. Nếu ngày nào cũng ngồi đoán ông này là Bồ Tát, bà kia là Phật tái lai mà miệng quên niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì khác nào chèo xuồng lo ngắm mây, tới chiều mới hay nước cuốn mất cái dầm.
Cổ nhân có câu: “Y pháp bất y nhân.” Nghĩa là nương theo Chánh pháp chứ đừng nương theo người. Người có thể được truyền tụng đủ điều, nhưng Chánh pháp thì không biết nói dối. Một vị có phải Phật thị hiện hay không, mình chưa đủ trí để biết; còn lời dạy có đúng với kinh điển, giúp mình bớt tham, bớt sân, bớt si, tăng lòng tin, tăng nguyện lực và chuyên niệm A Di Đà Phật thì đó là điều mình có thể tự kiểm chứng ngay trong cuộc sống.
Tong xin mượn một câu của cổ nhân để kết lại: “Đản tận phàm tâm, biệt vô thánh giải.” Nghĩa là chỉ cần dốc hết cái tâm phàm phu của mình để tu hành, đừng khởi thêm những sự hiểu biết cao siêu ngoài sức mình. Mình là hạng phàm phu thì cứ ngoan ngoãn niệm một câu A Di Đà Phật cho chắc ăn. Chừng nào về tới Cực Lạc rồi, gặp các bậc Thượng Thiện Nhân, muốn hỏi Đại sư Trí Giả có phải Phật Thích Ca thị hiện hay không thì lúc đó hỏi tận nơi, khỏi sợ ai “đồn bậy”. Còn bây giờ, lo niệm Phật đi nghen, kẻo Diêm Vương chưa kịp hỏi mình biết bao nhiêu vị hóa thân, mà hỏi: “Một ngày ngươi niệm được mấy câu A Di Đà Phật?” Lúc đó đứng gãi đầu cười trừ thì… quắt cần câu thiệt à!