Vào triều nhà Đường, có một thiếu phụ họ Tổ, là vợ của quan Thứ Sử ở Phủ Châu, đã có lòng quy kính đức Địa Tạng đại sĩ rất chí thành, dầu mọi việc phiền phức cách mấy thì cũng không xao lãng tâm niệm. Cha mẹ của nàng lại khác, có tính khinh Tăng, báng Phật, cho rằng đám tăng ni hủ bại, truyền nhiễm sự mê tín cho dân, ngăn cản con đường tiến hóa của nhân loại. Nàng thấy vậy cũng buồn, song không biết làm sao mà giải phá tấm lòng cố chấp của cha mẹ được, nên đánh tiếng làm thinh, để cho cha mẹ được vui lòng trong khi tuổi già sức yếu. Nàng bớt ăn nhín mặc mỗi ngày một ít, cất để được một số tiền khá nhiều rồi mướn tay thợ thật khéo, đúc một pho tượng Địa Tạng, bề cao ba thước, rồi thiếp vàng để lễ bái cúng dường, cho cha mẹ về sau được phần phước lạc.
Một khi nọ, vì có việc, nên cha nàng phải đi xa, để một mình mẹ của nàng ở nhà mà cai quản gia vụ. Đám bất lương ở xóm đó dọ biết trong gia đình ấy không có đàn ông, nên đêm nọ chúng đến rình nhà, toan trộm lấy áo quần đồ đạc, song khi dòm vô lỗ vách, chúng kinh ngạc thấy đức Địa Tạng ngồi nghiễm nhiên trên bàn, hào quang chói sáng như ban ngày, làm cho bọn ăn trộm đều hoảng kinh chạy về, không kịp vào lấy vật chi cả.
Qua ngày sau, chúng giả dạng đi chơi, ghé nhà bà ấy hỏi thăm các việc, thì thấy bà ngồi trên ván, vui vẻ nói cười, thì lấy làm lạ và ân hận trong lòng, bèn đem bao nhiêu sự tội ác của mình với chuyện thấy Phật hiện hình, mà thuật lại cho bà nghe và xin chịu tội. Bà ngồi suy nghĩ một hồi lâu, cũng không hiểu nguyên nhân vì đâu có điều kì dị dường ấy, rồi bất giác sợ rùng mình, thầm lo ăn năn các việc hồi trước và nói với bọn ăn trộm rằng:
– Các ngươi thấy tôi già yếu ở nhà có một mình, muốn thừa dịp trời tối, vào nhà lấy đồ của tôi cho dễ, song phần tôi chưa mất của, nên Phật không cho. Vậy thì các ngươi có lòng quấy, chớ không tội trạng gì, và cũng chưa làm thiệt hại cho tôi, nên tôi có thể không câu chấp.

Bọn ấy nghe bà nói vậy cũng ngỏ lời cám ơn, rồi từ giã ra về, không dám đi ăn trộm nữa. Việc đó xảy ra chưa được bao lâu, kế có việc khác nữa. Cha của nàng ấy đương lúc thân hành qua Phủ Châu thì gặp kẻ thù đón đường mà chém. Ông lính quýnh không biết đường nào lánh nạn, bỗng thấy một vị sa môn mặc đồ vàng xuất hiện và can thiệp, vị ấy bị chém ba phát vào đầu, rồi ngã nằm dãy dụa trên máu. Bọn hung thủ thấy có người chết nên mạnh ai nấy co giò chạy trốn hết. Ông thấy sự lạ lùng nên cố nhớ trong lòng, khi trở về nhà bèn tường thuật cho con gái nghe việc mình bị chúng đón đường chém và làm sao thoát chết, sau đó bảo con dẫn mình đến trước pho tượng đức Địa Tạng bằng vàng, đặng lạy tạ ơn lành, sám hối bao nhiêu tội phước.
Khi đến gần ông thấy trên đầu tượng ấy có ba vết thương dường như có máu chảy, nên trong lòng ông phát tin Phật thâm thiết. Nàng họ Tô thấy vậy biết rằng nhờ đức Địa Tạng chịu thế mấy dao cho cha, nên trong tâm trí nàng khoan khoái vô cùng, vì tin Phật có oai linh màu nhiệm và nỗi mừng cha khỏi bị sự tai ngay, khiến cho một gia quyến có thể quay đầu về Phật Pháp và được nhờ phần siêu thoát về sau.

Qua ngày khác, nàng bèn sai gia nhân đi rước mẹ về nhà rồi cả ba đều phát nguyện trước tượng Bồ tát Địa Tạng mà giữ giới tại gia, sớm tối lo cúng dường lễ bái luôn luôn, không dám lười biếng.

Đến năm nọ, thì thân phụ của nàng được bảy mươi chín tuổi mà cũng quên sự mệt mỏi, cứ chuyên tâm niệm Phật tụng kinh, rồi một ngày kia tự nhiên không bệnh gì cả mà tạ thế. Lo chôn cất thân xác của cha xong, nàng còn lo niệm hồng danh của đức Địa Tạng mà cầu cho vong linh của cha được tiêu diêu nơi Thiên Quốc.
Đúng ba mươi lăm ngày, thì nàng chiêm bao thấy thân phụ ngao du nơi cõi hư không, toàn thân đều có hào quang ánh sáng, nàng bèn sanh lòng hy hữu, cúi đầu đãnh lễ hỏi rằng:
– Thân phụ sanh về cõi nào?
Ông đáp rằng:
– Nhờ từ bi oai lực của đức Địa Tạng bồ tát gia bị, nên cha đã sanh lên cõi Trời thứ tư mà phụng sự đức Di Lặc. Những người sanh về cõi đó, phần nhiều được nhờ sức dẫn đạo của đức Địa Tạng Bồ Tát cả, và mười ba năm sau, mẹ của con cũng được sanh về đó nữa. Còn con thì hai mươi lăm năm, chồng con lối hai mươi tám năm nửa, nhơn duyên kết thúc rồi cũng sẽ được vãng sanh về cõi Trời thứ tư mà đồng sự đức Di Lặc như cha vậy.
Ông nói dứt lời thì ẩn thân, nàng giật mình thức dậy, nhưng vẫn giữ kín việc ấy trong lòng, chưa đem ra mà tỏ thuật cho ai nghe, chỉ để trong bụng mà xem điềm chiêm bao ấy có đúng hay không, rồi sẽ tuyên bố cho nhiều người biết cũng chẳng muộn màng.
Quả y như điềm mộng, cách mười ba năm sau, thân mẫu của nàng vẫn không có bịnh mà ly trần, nên nàng tường thuật cho chồng nàng cùng bao nhiêu người ở xóm nghe, ai ai cũng sanh lòng tin thiệt cả.
Mãi đến hai mươi lăm năm thì nàng ly trần, và hai mươi tám năm thì chồng của nàng cũng theo nàng. Công chúng trong châu ấy thấy vậy thì đều đem lòng tin Phật bội phần, đua nhau vẽ tượng đức Địa Tạng mà phụng thờ và trì niệm hồng danh của ngài cũng được nhiều sự cảm ứng.
Trích: Những mẩu chuyện linh ứng Địa Tạng Vương Bồ Tát






Tôi thỉnh thoảng bắt gặp những từ này khi tìm đọc các bài pháp về Phật học như: sớ, sao, văn sao, sớ sao… mà tôi không thể hiểu rõ nghĩa là gì.
Trước giờ trong dân gian tôi thường nghe nói đến SỚ táo quân dài lê thê như quét đất của ông Táo cầm lên tâu Ngọc Hoàng khi cỡi cá chép lên trời hôm 23 tết, hay là tờ cúng SAO giải hạn của mấy thầy phong thuỷ giúp người giải vận xui. Nay học Phật thì tôi bắt gặp những quyển như Ấn Quang Văn SAO, Kinh A Di Đà SỚ SAO, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh SỚ SAO diễn nghĩa…. Tôi đọc tựa đề mà cứ như thấy sao là sao chẳng thể hiểu ất giáp gì cả. Có phải đó là âm Hán Việt và dịch nghĩa là gì? Sao các chư cổ đức đã dịch kinh sang Việt ngữ rồi mà không dịch đơn giản dễ hiểu hơn để tôi khỏi phải đi tìm từ điển nhỉ? 🙂
Chào anh Danh:
Đọc câu hỏi của anh mà Tong đang ngồi ăn chè hạt sen cũng suýt phun nguyên hột sen qua hàng rào nhà anh Hai Lúa! Thiệt tình cái chữ “sớ”, chữ “sao” này nó có tài làm người mới học Phật rối như gà mắc tóc. Hồi nhỏ tới lớn mình nghe “sớ” là nhớ ông Táo, cuối năm ôm nguyên tờ dài thượt, cưỡi cá chép bay lên trời báo cáo chuyện dưới bếp; còn nghe “sao” là nhớ sao Thái Bạch, La Hầu, Kế Đô, rồi mấy tờ cúng sao giải hạn. Bây giờ mở sách Phật ra thấy nào là Ấn Quang Văn Sao, A Di Đà Kinh Sớ Sao, Quán Kinh Sớ Sao… trời đất quỷ thần ơi, người ta vô cửa Phật kiếm đường về Cực Lạc mà nhìn tựa sách cứ tưởng lạc vô… đài thiên văn kiêm văn phòng ông Táo!
Thiệt ra “sớ” trong sách Phật là âm Hán-Việt của chữ 疏. Trong văn Phật giáo, mình hiểu đơn giản là phần giải thích, chú giải, khai thông nghĩa lý của kinh. Kinh Phật có chỗ một câu mà nghĩa sâu như cái giếng làng đào ba đời chưa tới đáy, người sau đọc vô nhiều khi hai con mắt mở tròn mà đầu óc đứng hình như con trâu thấy xe Honda chạy ngang. Bởi vậy các vị Tổ, các bậc cổ đức mới viết “sớ”, đem từng đoạn kinh ra phân tích, giải nghĩa, chỉ cho mình câu này nói gì, ý sâu nằm đâu, trước sau liên hệ thế nào. Nói kiểu nông dân miền Tây của Tong thì kinh giống con kinh lớn dẫn nước vô ruộng, còn “sớ” giống người cầm cuốc khai mương, vét cỏ, dọn bùn cho nước chảy tới tận gốc lúa. Chớ “sớ” này không phải ông Táo cầm lên trời méc Ngọc Hoàng rằng nhà anh Danh năm nay ăn hết bao nhiêu ký gạo nghen!
Còn chữ “sao” trong “Sớ Sao” thường là chữ 鈔. Cái “sao” này tuyệt nhiên không phải ngôi sao lấp lánh trên trời, cũng không phải sao Thái Bạch chiếu mạng làm mình lo quá mất ngủ rồi sáng hôm sau chạy đi kiếm thầy cúng. Trong truyền thống chú giải, “sao” thường là phần giải thích thêm cho “sớ”. Nghĩa là kinh có sớ giải kinh; mà sớ của các bậc Tổ nhiều khi uyên áo quá, mình đọc xong cái đầu vẫn quay như chong chóng gặp gió chướng miền Tây, nên lại có thêm phần “sao” để giải rộng, giải kỹ cái “sớ” đó nữa. Nhớ mẹo này là khỏi lộn: kinh là chánh văn, sớ giải kinh, sao giải thêm sớ. Nếu còn chưa hiểu thì thôi, anh Danh đem cái võng ra mắc giữa hai cây dừa, rót bình trà, niệm mười câu A Di Đà Phật cho tâm nó yên rồi đọc lại; chớ đọc lúc cái đầu nóng quá, chừng lát nữa “Sớ Sao” biến thành “sao sớ”, rồi mình hỏi “sao sao hoài vậy trời”, tới đó Tong cũng hết cứu!
Thí dụ như Kinh A Di Đà Sớ Sao. Kinh A Di Đà là kinh. Phần “sớ” là giải thích kinh ấy. Phần “sao” lại triển khai và giải thích rộng thêm phần sớ. Anh Danh cứ tưởng tượng Đức Phật chỉ cho mình con đường; vị Tổ đứng kế bên giảng cái bản đồ; thấy mình cầm bản đồ xoay tới xoay lui, Bắc chỉ xuống Nam, Tây Phương quay qua hướng chuồng gà, Ngài thương quá bèn giảng luôn cách đọc bản đồ. Đại khái “sớ sao” có công dụng như vậy. Cho nên thấy hai chữ đó đừng sợ, không có ngôi sao nào sắp rớt trúng đầu mình hết!
Riêng “Ấn Quang Văn Sao” thì mình phải hiểu theo ngữ cảnh khác một chút. “Văn” là văn chương, thư từ, trước tác; “sao” ở đây gắn với tên một tập văn thư được ghi chép, tuyển tập và lưu truyền lại. Ấn Quang Văn Sao chủ yếu là những thư từ, lời khai thị, bài viết của Ấn Quang đại sư được tập hợp thành sách. Thành ra đừng hiểu “Văn Sao” là “văn giải thích cho sớ”, rồi lật tới lật lui kiếm cuốn “Ấn Quang Văn Sớ” đứng đằng trước. Kiếm kiểu đó có khi tới ngày ngài Di Lặc hạ sanh cũng chưa thấy! Nói nôm na để dễ nhớ, Ấn Quang Văn Sao là bộ sưu tập văn thư và lời dạy của Ấn Quang đại sư. Một chữ Hán nhiều khi vô hoàn cảnh này nghĩa hơi khác hoàn cảnh kia; nó giống ông hàng xóm của Tong, ở nhà thì vợ kêu “ông Tám”, ra chợ người ta kêu “chú Tám”, vô chùa lại thành “Phật tử Tám”, vẫn một người mà đứng chỗ khác nghe danh xưng khác liền.
Còn cái tựa dài như “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa”, nhìn lần đầu ai yếu bóng vía có thể đóng sách lại đi nấu cơm. Nhưng đừng hoảng. Cứ tháo từng cục ra: “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh” là tên kinh; “sớ” là chú giải kinh; “sao” là phần giải rộng thêm lời sớ; “diễn nghĩa” là đem nghĩa lý ấy trình bày, giảng giải ra cho rõ ràng hơn. Vậy thôi. Cái tựa nhìn dài như đoàn xe kẹt trên cầu Mỹ Thuận ngày lễ, nhưng hiểu từng chữ rồi thì nó chạy thông re, không có gì huyền bí hết.
Còn anh Danh hỏi: “Ủa, đã dịch kinh sang tiếng Việt rồi, sao mấy ông dịch giả không dịch luôn cho thiệt bình dân, để tôi khỏi ôm từ điển chạy vòng vòng?” Câu này hỏi nghe có lý à nghen! Nhưng có nguyên do. Những chữ như “sớ”, “sao”, “luận”, “ký”, “văn sao” đã được dùng lâu đời trong Phật học Đông Á, gần như thành thuật ngữ chuyên môn và một phần của tên riêng tác phẩm. Nếu dịch hết ra tiếng Việt bình dân thì người mới đọc dễ hiểu thiệt, nhưng lúc muốn tra bản Hán, tra mục lục Đại Tạng, tìm đúng tên sách, đối chiếu với lời các vị Tổ thì lại có khi đứng giữa chợ không biết hỏi ai. Thí dụ Kinh A Di Đà Sớ Sao mà dịch luôn thành “Bản chú giải Kinh A Di Đà và bản giải thích thêm cho bản chú giải ấy”, nghe cũng rõ ràng, nhưng tên sách dài thêm một khúc nữa, đọc tới cuối cái tựa có khi cơm dưới bếp khét hồi nào không hay!
Cho nên cách hay nhất không phải là bỏ hết chữ Hán-Việt, mà lần đầu gặp thì giải thích cho rõ. “Sớ: chú giải kinh. Sao: giải rộng thêm phần sớ.” Chỉ cần biết hai câu đó thì lần sau thấy “Sớ Sao” mình tỉnh bơ, không cần ngước lên trời coi đêm nay có mấy ngôi sao, cũng không cần chạy qua hỏi ông Táo nhà hàng xóm coi ổng có giữ bản sao nào không.
Tong nói thêm chút đạo vị nghen anh Danh. Học những chữ này là tốt, vì hiểu được thuật ngữ thì mình đọc lời Tổ bớt vướng. Nhưng đừng để chuyện học chữ làm mình quên mục đích chính. Trong pháp môn Tịnh Độ, đọc kinh, đọc sớ, đọc sao, đọc Văn Sao của Tổ Ấn Quang, cuối cùng cũng là để mình hiểu sâu hơn mà sanh tín, phát nguyện, giữ câu Phật hiệu cho chắc. Chớ thuộc một bụng nào “sớ, sao, luận, ký, huyền nghĩa, diễn nghĩa”, gặp ai cũng xổ ra như máy bắp rang, mà tối tới kêu niệm mười câu Nam-mô A-di-đà Phật thì miệng cứng như cái khóa chuồng vịt, vậy là mình ôm cái bảng chỉ đường mà hổng chịu bước chân đi.
Người xưa có câu: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” — biết thì nói biết, không biết thì nhận không biết, đó mới là biết. Thành thử anh Danh gặp chữ không hiểu mà hỏi là đúng bài rồi, đâu có gì mắc cỡ. Tong chỉ sợ người không hiểu mà cứ gật gù “ừ, sâu sắc quá”, gật tới chừng ngủ quên té khỏi ghế mới là nguy! Phật pháp không bắt mình giả bộ hiểu. Cứ học từng chút, hiểu từng chút, rồi đem cái hiểu đó về nuôi lớn tín-nguyện-hạnh. Mình quê cũng được, Hán tự không rành cũng được, miễn lòng chân thật, tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật chí thành. Tây Phương đâu có dựng cái bàn ở cổng bắt mình thi chính tả chữ “sớ” với chữ “sao” mới cho vô!
Vậy từ nay anh Danh nhớ nghen: gặp ông Táo thì “sớ” có thể là tờ trình; gặp sách Phật thì “sớ” thường là chú giải; gặp “sớ sao” thì “sao” thường là giải thêm cho sớ; gặp “Ấn Quang Văn Sao” thì hiểu là tập văn thư, trước tác của Tổ. Còn tối ra sân mà thấy sao sáng đầy trời thì cứ để nó sáng, đừng đứng đó la lên: “Trời ơi, nguyên bộ Sớ Sao ai rải hết lên trời vậy!” Hàng xóm nghe được họ tưởng anh Danh học Phật riết… giác ngộ hơi quá tay!
Nam-mô A-di-đà Phật.